Tải bản đầy đủ

du lịch quốc tế chuyên ngành du lịch

1. các quan điểm về du lịch.
Du lịch là hoạt động của con người diễn ra ngoài nơi cư trú của họ nhằm mục đích
nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao hiểu biết mà không nhằm mục đích kinh tế.
Theo WTO (World Tourist Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động
của những người du hành, tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải
nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề
và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên
ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các mục đích chính là kiếm tiền.
2. lý luận chung về du lịch quốc tế.
DL quốc tế là hình thức DL mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của cuộc hành
trình nằm ở các quốc gia khác nhau. Ở hình thức này, khách phải vượt qua biên giới và
tiêu ngoại tệ ở nơi đến DL. Từ cách nhìn nhận trên chúng ta có thể thấy rằng DL quốc tế
là những hình thức DL có dinh dáng tới yếu tố nước ngoài, điểm đi và điểm đến của hành
trình ở các quốc gia khác nhau, khách DL sử dụng ngoại tệ của nước mình đem tới nước
DL để chi tiêu cho nhu cầu DL của mình.
3. vai trò và vị trí của DLQT trong nền kinh tế của một quốc gia.
Biến đổi cán cân thu chi của đất nước
+ Mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm DL và ngược lại.
Ví dụ: Trong năm 2016, xuất siêu về dịch vụ DL gần 8.9 tỷ đô la.
+ Làm thay đổi hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hóa, nguồn vốn…
-


Giải quyết vấn đề việc làm
Ví dụ: 2014, lao động lĩnh vực DL gần 3 triệu người, chiếm gần 6% lao động cả

nước
-

Tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước

+ Tốc độ tăng trưởng hơn 14%/năm gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ
nền kinh tế
4. Vai trò của nhà nước trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh
dlqt


Tạo ra một môi trường và một cơ chế để có thể liên kết một cách chặt chẽ các
doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh tế trong các ngành hàng và để đảm bảo hiệu quả
lợi ích chung của các ngành. Nhà nước cần tạo sự đồng thuận của các thành viên, nâng
cao tính chuyên nghiệp trên cơ sở nắm vững luật lệ trong nước và quốc tế để có thể trợ
giúp cho các doanh nghiệp, hội viên một cách có hiệu quả.
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân và du khách quốc tế tham quan; tôn
trọng và đối xử bình đẳng đối với các khách DL từ tất cả thị trường.
Vai trò nhà nước là sự quản lý thống nhất của cả hệ thống chính trị, các cấp, các
ngành, toàn xã hội để tập trung nguồn lực quốc gia cho phát triển DL.
5. Sự cần thiết đổi mới cơ chế chính sách nhà nước việt nam về quản lý dlqt
giai đoạn 2005-2020
Chính sách cấp visa điện tử là khởi đầu cho những đột phá cũng như đề xuất phát
triển quỹ DL, đề xuất cho ô tô đưa khách DL nhập cảnh vào VN và có thể xuất cảnh ở các
cửa khẩu khác nhau.
Tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao nhận thức xã hội về phát triển
DL.
Tăng cường hợp tác công tư giữa cơ quan quản lý DL và các doanh nghiệp; nhấn
mạnh vai trò quan trọng của các địa phương và doanh nghiệp trong việc thực hiện hóa
các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực DL, DLQT nói riêng.
Thực hiện cơ cấu lại các ngành dịch vụ, duy trì tốc độ tăng trưởng các ngành dịch
vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Phối hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp của các bộ,
ngành để thực hiện phát triển chương trình DL quốc gia, đến 2020 DL cơ bản trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao tính chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ DL, khuyến
khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển DL, chú trọng phát triển DL rừng, biển, đảo.
Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực, thực thi pháo luật về môi trường;


khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường, quan tâm các khu vực trọng điểm để
giám sát và đối phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
6. Các giải pháp chiến lược
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh tham gia quá trình toàn cầu hóa;
nghiên cứu xu hướng nhu cầu của du khách để tạo ra những sản phẩm mới, hấp dẫn, đáp
ứng đúng nguyện vọng & mang lại sự hài lòng đến cho du khách.


Chú trọng phát triển DL địa phương: cần nâng cao chất lượng dịch vụ các khu,
tuyến, điểm DL đã khai thác. Khai thác những lợi thế khác đặc biệt tạo nên sản phẩm đặc
thù có tính hấp dẫn & cạnh tranh cao.
Các giải pháp trước mắt
Đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực DL trong đó tập trung
đào tạo kỹ năng nghề & thực hành Homestay..
Chú trọng bảo vệ môi trường & duy trì hệ sinh thái tự nhiên vốn có. Khai thác DL
phải theo quy hoạch các đề án, chiến lược…
Đẩy mạnh hoạt động quản bá, xúc tiến & liên kết DL theo phân khúc thị trường.
7. nguồn lực tài nguyên
Các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, quy hoạch và phát triển tài nguyên du lịch
thời gian qua đã có những bước phát triển đáng kể. Hiện nay, nhiều di sản vật thể, phi vật
thể được nghiên cứu, bảo tồn và được công nhận là di sản văn hóa các cấp từ Trung ương
đến địa phương. Nhiều danh thắng, tài nguyên thiên nhiên được công nhận là khu bảo tồn
và các vườn quốc gia, đang được quản lý và bảo vệ trên khắp cả nước. Gần 20 di sản
thiên nhiên và văn hóa đã được tổ chức UNESCO công nhận và vinh danh, có những giá
trị tài nguyên đã được phát hiện tại Việt Nam có giá trị đặc biệt, duy nhất trên phạm vi
toàn cầu. Bên cạnh đó, ngành Du lịch đã triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể phát
triển Du lịch của Việt Nam các giai đoạn 1995 đến 2000, giai đoạn 2001 đến 2010, và
quy hoạch tổng thể đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, trên cơ sở đó, ngành Du lịch
đã triển khai xây dựng quy hoạch phát triển du lịch theo đặc điểm tài nguyên của từng
vùng.
Huy động nguồn lực vốn
Ngành Du lịch Việt Nam đã có các cách thức huy động, khai thác và phát huy
nguồn lực vốn thông qua các phương thức cụ thể: tăng cường đầu tư theo phương thức
các chương trình hành động quốc gia, các năm du lịch, trong đó có việc tập trung đầu tư
đồng bộ quy hoạch phát triển, đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du
lịch và triển khai các hoạt động xúc tiến quảng bá cho vùng hoặc địa phương theo từng
chủ đề; thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua các nguồn đầu tư trực tiếp
FDI, các nguồn vốn viện trợ phát triển ODA. Nhiều khu du lịch, khách sạn cao cấp, khu
nghỉ dưỡng cao cấp (resorts), nhiều hãng lữ hành quốc tế được đầu tư và khai thác kinh
doanh hiệu quả. Một số thương hiệu du lịch lớn như Accor, Sheraton, Hilton, Prince,
Nikko… đến từ các cường quốc về du lịch đã đầu tư tại Việt Nam, qua đó, diện mạo của


cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại Việt Nam đã thay đổi. Nhiều cơ sở kinh doanh du lịch
có chất lượng đạt chuẩn quốc tế được vận hành và dần nâng cao chất lượng sản phẩm du
lịch của Việt Nam.
Ngoài ra, phương thức xã hội hóa trong huy động các nguồn lực tài chính đã được
triển khai trong giai đoạn vừa qua; các doanh nghiệp đã chủ động tham gia đầu tư quy
hoạch, phát triển tài nguyên, sản phẩm du lịch của ngành và địa phương, như trường hợp
tỉnh Ninh Bình đã triển khai rất tốt phương thức này.
Huy động nguồn lực khoa học công nghệ
Trong lĩnh vực du lịch, việc sử dụng công nghệ xanh - sạch phục vụ phát triển bền
vững bắt đầu được sử dụng phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Mô hình khách sạn xanh đang
và sẽ mở rộng trên phạm vi khắp cả nước. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong phát
triển du lịch, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ thông tin trong marketing, xúc tiến
quảng bá du lịch được sử dụng phổ biến thông qua các trang thông tin điện tử, các ấn
phẩm thông tin du lịch. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng e-marketing để tổ
chức kinh doanh và hình thức này đang triển khai rộng rãi ở Việt Nam.
Huy động nguồn lực con người
Nguồn nhân lực Du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số
lượng lẫn cơ cấu nguồn nhân lực, tính chuyên nghiệp được nâng cao, đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhu cầu phát triển ngành. Du lịch Việt Nam đã được thụ hưởng các nguồn lực từ
nhiều quốc gia trên thế giới thông qua những nguồn vốn viện trợ phát triển cho việc đào
tạo nhân lực chất lượng cao như Nhật Bản, Australia…, đầu tư cơ sở vật chất và nhân lực
như các Dự án Luxembourg, Dự án EU - ESRT, Dự án của Ngân hàng phát triển châu Á
(ADB)…
Huy động các nguồn lực mềm
Với chính sách ngoại giao rộng mở, Việt Nam tăng cường quan hệ ngoại giao song
và đa phương, thông qua đó để phát triển kinh tế văn hóa. Việt Nam cũng thực hiện và
tăng cường thực hiện các hoạt động ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa, góp phần
không nhỏ cho phát triển ngành Du lịch.
Ngành Du lịch Việt Nam, cũng như các địa phương đã coi trọng việc hợp tác liên
kết quốc tế trong phát triển du lịch, đã tham gia Tổ chức Du lịch thế giới của Liên Hợp
quốc vào năm 1981, đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế trên thế giới về du lịch như: Hiệp
hội Du lịch châu Á - Thái Bình Dương (PATA), Hiệp hội Du lịch các nước Đông Nam Á


(ASEANTA) và các tổ chức khác như: Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn
hợp tác Á - Âu (ASEM).
Theo Tổng cục Du lịch, Việt Nam đã ký các hiệp định hợp tác, liên kết song
phương với khoảng 43 quốc gia và có quan hệ hợp tác du lịch với các nước như Bỉ,
Luxemburg, New Zealand…; hợp tác đa phương với các quốc gia ASEAN, ký thỏa thuận
nghề chung ASEAN (MRA). Các địa phương cũng đã chủ động trong việc hợp tác với
các địa phương của các nước trên thế giới.
Ở cấp độ doanh nghiệp, đơn vị, nhiều hãng lữ hành quốc tế và các khách sạn lớn
của Việt Nam đã tham gia và là thành viên của các hiệp hội du lịch của các quốc gia như:
Hiệp hội Lữ hành Nhật Bản (JATA), Hiệp hội Lữ hành của Hoa Kỳ (ASTA)… Ngoài ra,
các doanh nghiệp du lịch, các cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam cũng đã chủ động có những
hoạt động hợp tác mang tính riêng biệt, ký kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận với các đối
tác là doanh nghiệp, hoặc các địa phương, các cơ sở đào tạo du lịch nước bạn, như
Vietravel đã ký thỏa thuận hợp tác với tỉnh Aichi của Nhật Bản, hợp tác giữa Trường Cao
đẳng nghề Du lịch Huế với đối tác vùng Poitou Charentes - Pháp, hợp tác giữa Trường
Cao đẳng Du lịch Hà Nội với các đối tác Luxembourg, Hungary, Đài Loan… Các doanh
nghiệp du lịch chủ động thu hút các nguồn lực vốn và kinh nghiệm theo phương thức liên
doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài hoặc thực hiện phương thức nhượng quyền
thương hiệu để triển khai tổ chức kinh doanh. Bước đầu, nhiều hoạt động liên doanh, liên
kết và nhượng quyền thương hiệu đã thu được hiệu quả nhất định.
8. Thực trạng hoạt động dlqt việt nam
Số liệu về sự đóng góp của ngành DL VN đối với sự phát triển đất nước tính đến
09/07/2017 nhân ngày kỷ niệm 57 năm ngày thành lập ngành:
Nam 2016 Đón & phục vụ hơn 10 lượt triệu khách DL Quốc tế, tăng 26% so với
2015
62 triệu lượt khách DL Nội địa
Tổng thu trực tiếp từ khách DL đạt 400.000 tỷ đồng. tăng 18,6% so với năm 2015
6 tháng đầu năm 2017 lại bức phá:
Đón 6,2 triệu lượt khách QT, tăng 30,2% so với cùng kỳ 2016
Khách DL nội địa đạt 40,7 triệu, tăng hơn 15%.
Tổng thu 6 tháng đầu năm đạt 255.000 tỷ đồng.


Năm 2017, đón 12.9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 30% và 74 triệu lượt khách du
lịch nội địa, tăng xấp xỉ 20% và tổng thu trực tiếp từ khách du lịch đạt trên 510.900 tỷ
đồng, tương đương với 23 tỷ USD và đóng góp khoảng 7,5% vào GDP của Việt Nam
năm 2017. Kết quả là, năm 2017, Việt Nam đã đón 12,9 triệu lượt khách quốc tế (tăng
hơn 2,9 triệu lượt khách so với năm 2016), phục vụ 73,2 triệu lượt khách nội địa; tổng thu
từ khách du lịch đạt hơn 510.900 tỷ đồng, tương đương 23 tỷ đô la Mỹ, tăng 25% so với
năm 2016.
Tính 11 tháng đầu năm 2015, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt trên 7 triệu
lượt, khách nội địa đạt 53,8 triệu lượt, tổng thu từ khách du lịch đạt gần 313 nghìn tỷ
đồng.
Năm 2018, Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, năm 2018, ngành du lịch sẽ tập
trung
vào
một
số
nhiệm
vụ
chính
sau:
Tập trung triển khai, thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp được nêu trong Nghị quyết số 08NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Phấn đấu năm 2018 đạt mục tiêu đón từ 15-17 triệu lượt khách quốc tế, khoảng 78 triệu
lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 620.000 tỷ đồng.

9. Mục tiêu & phương hướng phát triển dlqt từ nay đến 2020
16/1/2017 Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển DL trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Mục tiêu đến 2020 đón từ 17-20 triệu lượt khách DL Quốc tế; 82 triệu lượt khách
DL nội địa; đóng góp 10% GDP cho nền kinh tế đất nước.
Tăng cường hợp tác quốc tế, phối hợp liên ngành, liên kết vùng, liên kết côngtư trong việc huy động kinh phí đầu tư, xúc tiến, quảng bá và phát triển du lịch.
a) Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên
nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch
có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh
tranh được với các nước trong khu vực và thế giới.
Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển.
b) Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch bình quân thời kỳ 2011 - 2020 đạt 11,5 12%/năm.


- Năm 2015: Việt Nam đón 7 - 7,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 36 - 37 triệu
lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 10 - 11 tỷ USD, đóng góp 5,5 6% vào GDP cả nước; có tổng số 390.000 buồng lưu trú với 30 - 35% đạt chuẩn từ 3 đến
5 sao; tạo ra 2,2 triệu việc làm trong đó có 620.000 lao động trực tiếp du lịch.
- Năm 2020: Việt Nam đón 10 - 10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47 - 48
triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 18 - 19 tỷ USD, đóng góp
6,5 - 7% GDP cả nước; có tổng số 580.000 buồng lưu trú với 35 - 40% đạt chuẩn từ 3 đến
5; tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có 870.000 lao động trực tiếp du lịch.
- Năm 2030: Tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lần năm 2020.
Hợp tác quốc tế về du lịch
- Tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả các hiệp định hợp tác song phương và đa
phương đã ký kết.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về du lịch với các nước, các tổ chức quốc tế, gắn thị trường
du lịch Việt Nam với thị trường du lịch khu vực và thế giới.
- Mở rộng các quan hệ hợp tác song phương và đa phương, tranh thủ sự hỗ trợ của các
nước, các tổ chức quốc tế góp phần đẩy nhanh sự phát triển và hội nhập của du lịch Việt
Nam, nâng cao hình ảnh và vị thế du lịch Việt Nam trên trường quốc tế.
TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN KINH TẾ XÃ HỘI
1.Đối với du lịch nội địa :
– Du lịch tham gia tích cực vào qúa trình tạo nên thu nhập quốc dân( sản xuất ra đồ lưu
niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kĩ thuật…) làm tăng tổng sản
phẩm quốc nội.
– Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng.
– Bên cạnh đó, du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khỏe cho nhân dân lao động
và do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội. Ngoài ra du lịch nội địa giúp cho
việc sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch quốc tế được hiệu quả hơn.
2. Đối với du lịch quốc tê chủ động:
a – Du lịch tham gia tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại
tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Dịch vụ du lịch có giá trị xuất khẩu cao và hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong các
hoạt động xuất khẩu dịch vụ đặc biệt là theo góc độ thu ngoại tệ và thu hút lao động, tạo
công ăn việc làm. Xuất nhập khẩu dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến cán cân thanh toán của
toàn bộ nền kinh tế. Để đẩy mạnh xuất nhập khẩu dịch vụ nhằm giảm dần nhập siêu và
tiến tới cải thiện cán cân dịch vụ trong thập niên này.
Trong những năm qua, số lượng khách nước ngoài đến Việt Nam tăng cao, từ 250.000
lượt khách năm 1990 lên đến gần 3.6 triệu lượt người năm 2006, tăng trung bình 20%/
năm. Trong 9 tháng đầu năm 2007, lượng khách quốc tế ước tính là 3.171.763, tăng


18.5% so với cùng kỳ năm 2006. Doanh thu từ du lịch là 1.6 tỷ USD năm 2004, hơn 1.7
tỷ USD năm 2005, 3 tỷ USD năm 2006. Năm 2010, Việt Nam dự kiến sẽ có từ 6 – 6.5
triệu lượt khách quốc tế, nâng tổng doanh thu lên 4 – 5 tỷ USD. Thống kê của Tổng cục
Du lịch cho biết, trung bình mỗi khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chi tiêu hơn
900USD đã góp phần đẩy doanh thu « xuất khẩu tại chỗ » năm 2005 lên 3 tỷ USD
Tuy nhiên, hầu hết khách du lịch quốc tế vào Việt Nam chủ yếu qua đường tour, do các
công ty lữ hành trong nước tổ chức. Các công ty nước ngoài đảm nhận chi phí vé máy
bay hoặc chi phí vận tải khách đến Việt Nam. Các hãng điều hành tour của Việt Nam thu
chi phí các khoản dịch vụ liên quan đến đi lại, ăn ở, tham quan… tại Việt Nam. Nếu
chúng ta tổ chức các tour ngay từ nước ngoài thì phần thu ngoại tệ sẽ cao hơn nữa .
b – Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất
Tính hiệu quả trong kinh doanh du lịch được thể hiện ở chỗ, du lịch là một mặt hàng
“xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, đồ
cổ phục chế, nông lâm sản… theo giá bán lẻ cao hơn do người bán sẽ không tốn kém
nhiều chi phí giao hàng, vận chuyển, bảo hiểm, thuế xuất nhập khẩu, có khả năng thu hồi
vốn nhanh và lãi cao do nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp cần khả năng thanh toán.
“Kim ngạch” của ngành này mang lại chính là doanh thu hàng hoá và dịch vụ mà du
khách sử dụng khi đến Việt Nam. Năm 2000, Việt Nam đã thực hiện xuất khẩu tại chỗ
ước gần 800 triệu USD, tăng khoảng 150 triệu USD. Con số này trong năm 2004 là 1.6 tỷ
USD, tăng khoảng gần 25.000 tỷ. Do đó, hoạt động du lịch được đẩy mạnh sẽ đem lại
một hiệu quả thiết thực về mặt kinh tế.
c – Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Ngành du lịch Việt Nam ước tính đã thu hút được 190 đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài
với tổng số vốn là 4.64 tỷ USD. Năm 2006, ngành này thu hút được tổng số vốn đầu tư là
609 triệu USD, cao nhất trong giai đoạn 1999 – 2006. Trong quý I/2007, tổng vốn đầu tư
vào du lịch và khách sạn vào gần 406 triệu USD, chiếm khoảng 1/5 tổng vốn được cấp
của tất cả các ngành kinh tế (2.75 tỷ). Hàng loạt các dự án đầu tư xây dựng khách sạn,
khu du lịch có quy mô và chất lượng cao tại các trung tâm du lịch lớn của nước ta đã
được cấp phép như dự án khu nghỉ mát đa năng Đan Kia – Suối Vàng thuộc thành phố Đà
Lạt, Lâm Đồng do bốn tập đoàn đầu tư lớn của Nhật Bản là Mitsui, Mitsubishi,
Sumitomo và Limtec liên doanh đầu tư. Đây là dự án rất lớn với số vốn đầu tư lên tới 1,2
tỷ USD; dự án của tập đoàn Rockingham (Hoa Kỳ) đầu tư vào đảo Phú Quốc với tổng số
vốn đầu tư 1 tỷ USD; tập đoàn Keangnam (Hàn Quốc) triển khai thực hiện xây dựng tổ
hợp khách sạn 5 sao, trung tâm thương mại, văn phòng, căn hộ cao cấp trên diện tích
4.6ha tại khu Cầu Giấy; tập đoàn Riviera (Nhật Bản) đầu tư xây dựng khách sạn 5 sao tại
vị trí sát trung tâm Hội Nghị Quốc Gia. Tại khu vực miền Trung, tập đoàn Banyan Tree
(Singapo) đã nhận giấy phép đầu tư 276 triệu USD xây dựng khách sạn 5 sao, nhà hàng,
sân golf tại khu kinh tế Chân Mây ( Thừa Thiên Huế); tập đoàn Indochina Capital đầu tư
xây dựng khu du lịch biển 5 sao Ngũ Hành Sơn với 250 phòng, 150 căn hộ cao cấp và 40
biệt thự cùng nhiều dịch vụ giải trí cao cấp khác với tổng số vốn đầu tư 80 triệu USD trên


diện tích 20ha ; Tập đoàn Winvest LLC (Mỹ) cũng đã nhận giấy phép đầu tư khu du lịch
5 sao Saigon Atlantic tại Vũng Tàu với số vốn đầu tư 300 triệu USD. Cũng tại Vũng Tàu,
tập đoàn Plantium Dragon Empire đang khảo sát để đầu tư dự án khu du lịch vui chơi giải
trí với số vốn lên đến 550 triệu USD…Điều này đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu
phòng khách sạn cao cấp ở các trung tâm du lịch lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội, đặc
biệt vào mùa cao điểm trong năm (điển hình như năm APEC 2006). Năm 2006, Hà Nội
đã đón hơn 3 triệu lượt khách quốc tế, tăng hơn 100% so với năm 2000 nhưng số lượng
phòng khách sạn so với năm 2000 chỉ tăng 35% (9.207 phòng lên 12.425 phòng). Hiện
nay, Hà Nội còn 8 khách sạn 5 sao với 2.361 phòng, 6 khách sạn 4 sao với 992 phòng, 21
khách sạn 3 sao với 1.363 phòng.
Bên cạnh việc các tập đoàn nước ngoài đầu tư trực tiếp thì làn sóng đầu tư gián tiếp vào
lĩnh vực du lịch – dịch vụ cũng rất sôi động. Quĩ VinaLand đã mua 70% cổ phần của
Sofitel Metropole, khách sạn lâu đời, sang trọng và đắt khách nhất Hà Nội hiện nay. Còn
Quỹ VinaCapital cũng không chịu thua kém khi mua 52,5% cổ phần của khách sạn 5 sao
Hilton Hà Nội vào tháng 7/2006, nâng tổng số cổ phần của Quỹ tại khách sạn này lên tới
70%. Vinaland Fund cũng đầu tư thêm 43 triệu USD vào lĩnh vực khách sạn và du lịch
của Hà Nội, đầu tư 31 triệu USD vào sân golf và khu vực nghỉ mát rộng 260 hecta tại
thành phố Đà Nẵng. Vào tháng 4/2006, công ty xây dựng LaiSun đã vượt qua British
Virgin Islands trong cuộc đấu thầu mua 63% cổ phần tại khu nghỉ mát Furama – Đà
Nẵng.
Trong điều kiện lạc hậu nghèo nàn và thiếu vốn đầu tư, Việt Nam rất cần hiện đại hoá nền
kinh tế. Bên cạnh các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, các hình thức liên doanh,
liên kết với các nước ngoài trong kinh doanh du lịch cũng đã đem lại lợi nhuận kinh tế
cao. Hầu hết các khách sạn 5 sao ở Hà Nội đều là kết quả của hoạt động liên kết giữa Việt
Nam với một số nước châu Á. Ví dụ như : Khách sạn Sofitel Metroôle là liên kết giữa
Việt Nam và Singapo, Sheraton là của Việt Nam và Indonexia, Sofitel plaza là liên kết
giữa Việt Nam và Malaysia, Melia Hà Nội là liên kết giữa Việt Nam và Thái Lan.
d – Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế
giới.
Việt Nam đã ký 13 hiệp định hợp tác du lịch với các nước, có quan hệ bạn hàng với 800
hãng của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ. Nước ta đã thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác
du lịch với Trung Quốc và tất cả các nước thành viên ASEAN, trở thành thành viên chính
thức của hiệp hội Du lịch Đông Nam á ( ASEANTA ); khôi phục quan hệ hợp tác du lịch
truyền thống với liên bang Nga; phát triển quan hệ hợp tác du lịch với Pháp; bước đầu
xây dựng quan hệ hợp tác du lịch với Hoa Kỳ.
e – Du lịch quốc tế phát triển tạo nên sự phát triển đường lối giao thông quốc tế .
Một ngành kinh tế lớn, ngành du lịch, có liên quan trực tiếp tới văn hóa. Những di sản
văn hóa trên lãnh thổ một quốc gia là một chủ bài lớn để thu hút du khách nước ngoài, và
từ đó nảy nở những mối giao thương khác. Mặt khác, khi bạn bè hay đối tác nước ngoài


tới tìm hiểu đất nước ta, tìm hiểu con người, xã hội và các cơ hội làm ăn với Việt Nam, dĩ
nhiên điều tối thiểu là họ phải được tiếp đón với những chuẩn mực văn minh hiện đại.
Nhưng như thế chưa đủ. Những ứng xử, những sản phẩm có tính văn hóa cao ngoài việc
thu hút và giữ chân du khách, tranh thủ cảm tình của họ, còn góp phần quảng bá hình ảnh
Việt Nam tới những nhà đầu tư tiềm năng dù đôi khi miếng bánh lợi nhuận chưa đủ hấp
dẫn…
f – Du lịch như đầu mối “xuất nhập khẩu” ngoại tệ, phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế.
Hoạt động du lịch được đẩy mạnh và rộng khắp đã đem lại một hiệu quả thiết thực về
kinh tế. Chỉ tính riêng trong 9 tháng của năm 2000, Chương trình đã thực hiện xuất khẩu
tại chỗ ước đạt trên 800 triệu USD, tăng khoảng 150 triệu USD.
3. Đối với du lịch quốc tê thụ động.
Khác với du lịch quốc tế chủ động, du lịch quốc tế thụ động là một hình thức nhập khẩu
đối với đất nước có khách đi ra nước ngoài. Cái mà họ nhận được đó chính là các “lợi ích
vô hình”. Đó là nâng cao hiểu biết, học hỏi kỹ thuật mới, củng cố sức khỏe…của người
dân. Nhưng nếu đi với mục đích kinh doanh, du lịch quốc tế thụ động có tác động gián
tiếp đến nền kinh tế bởi nó là hình thức đem tiền đi tiêu nhưng họ có thể thu về là bản
hợp đồng đầu tư thu lợi nhuận ….
4. Các tác động khác về mặt kinh tê của việc phát triển hoạt động kinh doanh du lịch
nói chung :
a – Khu vực du lịch đã mang lại cho Việt nam cơ hội to lớn trong quá trình chuyển đổi từ
một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp chuyển sang một nền kinh tế dựa vào dịch
vụ :
Nhiều gia đình dân tộc nghèo khó trước kia chỉ sống bằng nông nghiệp nay đã được cải
thiện đời sống nhờ du lịch. Cụ thể như, người dân tộc Hmông Sapa trước đây là một đơn
vị kinh tế thuần nông. Cơ cấu kinh tế truyền thống của Hmông ở Sapa gồm 3 bộ phận cấu
thành là trồng trọt (lúa, ngô, thảo quả), hái lượm và nghề thủ công, trong đó chủ yếu là
trồng trọt. Hầu hết mức sống, nguồn thu nhập của người làm nhờ vào trồng trọt và chăn
nuôi, còn nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt nên cuộc
sống thiếu thốn nghèo khổ. Điều kiện trồng trọt lại khó khăn, đòi hỏi phải có nhiều lao
động. Sapa lại không có điều kiện để phát triển các ngành công nghiệp. Nhưng du lịch
phát triển, các làng Hmông có cảnh quan đẹp, giữ được bản sắc văn hóa trở thành những
điểm du lịch hấp dẫn. Do đó, đời sống kinh tế của người Hmông được cải thiện. Họ
chuyển sang sản xuất hàng thổ cẩm, đồ trang sức, dẫn khách du lịch…thay vì làm nông
nghiệp như trước đây. Hiện nay, tỉ lệ gia đình người Hmông tham gia hoạt động du lịch
chiếm hơn 90%. Hay như ở bản Lác, một bản của người dân tộc Thái ở Mai Châu – Hòa
Bình. Từ một làng dân tộc bình thường, do nhận thấy tiềm năng và có định hướng phát
triển đúng đắn nên giờ đây bản Lác và một số bản xung quanh đã trở thành làng du lịch.
Đời sống dân bản được nâng cao,giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn người lao
động tại đây. Khách du lịch đến đây được sống trong nhà sàn, ăn thịt thú rừng, học cách


dệt vải của người Thái… nét văn hóa truyền thống không chỉ được lưu giữ, bảo tồn mà
còn được giới thiệu cả trong và ngoài nước.
b – Du lịch làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch, tham
gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân và phân phối lại thu nhập quốc dân
giữa các vùng :
Hoạt động du lịch phát triển, tạo nguồn ngân sách cho các địa phương từ các khoản trích
nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý trực tiếp của địa phương và từ các
khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp du lịch kinh doanh trên địa bàn. Ở các địa
phương có làng nghề truyền thống, họ tận dụng thế mạnh của mình để phát triển kinh tế
bằng việc giới thiệu bán các sản phẩm thủ công. Không chỉ bán cho các du khách đến
thăm quan mà đây còn là cơ hội tăng thu nhập địa phương bằng hình thức xuất khẩu.
c – Du lịch phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo :
Trước hết, đây là hoạt động kinh doanh cần nhiều sự hỗ trợ liên ngành. Nhiều khu vực
khác cũng được hưởng lợi thông qua hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ các doanh
nghiệp du lịch, như xây dựng, in ấn và xuất bản, sản xuất, bảo hiểm, vận tải, lưu trú, bán
lẻ, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tài chính. Như vậy, có thể khái quát các vấn đề về chính sách
du lịch bao trùm một chuỗi lớn các lĩnh vực và lợi ích. Giá trị gia tăng của ngành dịch vụ
tăng cao hơn mức tăng GDP và cao hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ năm 2006, đã góp
phần nâng mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. Các ngành dịch vụ có giá trị cao như
ngân hàng, hàng không, bưu chính viễn thông, du lịch… được khai thác và đáp ứng tốt
hơn yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân.
d – Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa :
Như đã nói ở trên, du lịch giúp củng cố và phát triển quan hệ quốc tế, do đó đã mở rộng
thị trường, tăng thêm bạn hàng đối với các ngành tham gia vào hoạt động xuất khẩu. Việc
loại hình du lịch công vụ ngày càng phát triển góp phần đem về cho đất nước các khoản
đầu tư, hợp đồng liên kết kinh doanh,… Thị trường trong nước tiếp tục được mở rộng,
tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2006.
e – Tận dụng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác :
Hoạt động du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ của một số ngành sản xuất, do đó phát triển du lịch sẽ
mở mang và hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước. Bên cạnh đó còn tận dụng
nguồn lực, điều kiện vật chất kỹ thuật để bổ sung cho nhu cầu cần thiết nhưng chưa được
đáp ứng của ngành. Ở những vùng phát triển du lịch, do nhu cầu đi lại, ăn uống, nghỉ
ngơi vui chơi, thông tin liên lạc, vận chuyển nên mạng lưới giao thông, cầu cống, điện
nước được hoàn thiện phục vụ nhu cầu du lịch ngày càng tăng. Ví dụ: để thuận tiện cho
việc đi lại và mở thêm tuyến đường giao thông nối giữa các tỉnh, nhà nước đã đầu tư xây
dựng cầu Yên Lệnh nối giữa Hưng Yên và Hà Nam. Ngoài việc đảm bảo an toàn, nó còn
giúp cho sự giao lưu buôn bán dễ dàng hơn, đi lại thuận tiện giúp cho hoạt động du lịch
hai tỉnh ngày càng tăng bên cạnh sự phát triển ngành giao thông vận tải.


B. VỀ MẶT XÃ HỘI
1. Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân điạ phương:
Du lịch với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội
hóa cao, du lịch phát triển sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn mà
không cần phải đào tạo công phu, từ đó góp phần từng bước nâng cao tích lũy và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Hiện nay tỷ lệ hộ kinh tế làm dịch vụ trong nông thôn mới
chỉ chiếm 11,2%. Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông
thôn giải quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu
hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo
hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh, hiện đại phù hợp với sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một thực tế nữa là, ở nước ta trên 3/4 số các khu di tích văn hóa, lịch sử, khu du lịch sinh
thái, nghỉ dưỡng của đất nước đều nằm tại các vùng nông thôn, miền núi và vùng hải đảo.
Song thu nhập hiện từ du lịch mới tập trung chủ yếu ở hai thành phố du lịch lớn của đất
nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 62% tổng doanh thu), vì thế phát triển
du lịch ở các vùng miền nông thôn không những sẽ đánh thức những tiềm năng trên để
phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, mà còn làm tăng thêm thu nhập cho đông đảo người dân sống ở nông thôn.
Du lịch là ngành tạo ra nhiều việc làm thứ hai, sau nông nghiệp, ở các nước
đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Đến nay, ngành du lịch đã tạo việc làm cho
khoảng 150.000 lao động trực tiếp trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, chưa kể
đến 30 vạn lao động gián tiếp có thêm việc làm như sản xuất hàng lưu niệm, bán hàng,
các dịch vụ bổ trợ…Năm 1998 đã có trên 130 nghìn lao động, tăng trung bình hàng năm
khoảng 25% năm.Tuy nhiên, do phát triển nhanh, các doanh nghiệp du lịch, các khách
sạn, nhà hàng đã thu hút lực lượng lao động lớn nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu;
mới có 7% đạt trình độ đại học, 50% được đào tạo qua các trướng dạy nghề, các khoá bồi
dưỡng ngắn hạn, còn lại chưa qua đào tạo. Tỷ lệ lao động nữ trong ngành du lịch Việt
Nam chiếm 58%. Toàn ngành có khoảng trên 27.000 lao động nữ là cán bộ quản lý. Năng
lực làm việc cao, chất lượng và hiệu quả làm việc của lao động nữ đóng vai trò quyết
định đến chất lượng dịch vụ du lịch.
Du lịch là một ngành kinh tế không chỉ mang lại việc làm cho nhiều phụ nữ mà còn mang
lại nhiều cơ hội to lớn vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Ngành Du lịch Việt Nam có đặc thù là tỷ lệ lao động nữ chiếm đa số. Hiện tại, ngành Du
lịch có trên 235.000 lao động làm việc trực tiếp, trong đó lao động nữ chiếm 58%, tương
đương trên 136.300 người và số lượng lao động gián tiếp trên 600.000 người. Lao động
nữ tập trung đông vào các nghề như: phục vụ khách sạn, nhà hàng, đại lý du lịch, thông
tin, dịch vụ giải trí. Trong đó, tỷ lệ lao động nữ trong khối nhà hàng khách chiếm trên
71%; phục vụ buồng, chăm sóc sắc đẹp chiếm trên 95%. Tỷ lệ lao động nữ trong ngành
Du lịch giữ cương vị lãnh đạo ngày một tăng cao. Đến nay, toàn Ngành có khoảng trên
27.000 lao động nữ là cán bộ quản lý. Lãnh đạo điều hành từ cấp phòng trở lên cho tới
quản đốc, giám sát, giám đốc doanh nghiệp chiếm 11% trong tổng số lao động và chiếm


19% trong tổng số lao động nữ. Tỷ lệ lao động nữ là lãnh đạo trong các cơ quan quản lý
Nhà nước về Du lịch cũng dần được nâng lên. Phần đông lao động nữ trong Ngành ở độ
tuổi còn trẻ từ 25 – 35 tuổi. Đây được coi là một thế mạnh, tiềm năng lớn đối với sự phát
triển của ngành Du lịch. Có thể khẳng định, đối tượng lao động nữ trong ngành Du lịch
có trình độ chuyên môn, năng lực làm việc cao, chất lượng và hiệu quả làm việc của lao
động nữ đóng vai trò quyết định đến chất lượng dịch vụ du lịch” 1, một trong những biện
pháp cạnh tranh thu hút nguồn khách du lịch lớn để phát triển du lịch
2. Du lịch làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước có nền kinh tế phát triển:
Hiện nay tốc độ đô thị hóa tại các nước phát triển là rất lớn. Do công nghiệp là thế mạnh,
là ngành kinh tế đem lại hiệu quả cao nhất cho đất nước nên việc xây dựng các khu công
nghiệp, cơ sở hạ tàng hiện đại cho phù hợp với sự phát triển đó là điều tất yếu. Bên cạnh
những điểm tích cực, quá trình đô thị hóa đã đem lại nhiều hậu quả cho xã hội. Dân cư
tập trung đông dúc tại các thành phố lớn gây ra sự quá tải còn ở các vùng quê, miến núi
lại không đủ lực lượng lao động tham gia sản xuất. Chính vì thế mà gây ra sự mất cân đối
giữa các vùng kinh tế. Nhưng khi du lịch đã được sự quan tâm phát triển của địa phương
thì sự tập trung dân cư không đồng đều được giảm hẳn. Do tài nguyên du lịch thường tập
trung ở những vùng đồng quê hay miền núi, vì vậy để khai thác nguồn và phát triển hiệu
quả cần đầu tư về mọi mặt: giao thông, thông tin liên lạc, văn hóa, xã hội… Du lịch phát
triển làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội các vùng miền.
3. Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả
Không chỉ quảng cáo hàng hóa nội địa ra nước ngoài thông qua các du khách mà du lịch
còn là phương thức hiệu quả nhất, mang hình ảnh đất nước, con người, truyền thống, văn
hóa Việt Nam giới triệu với bạn bè năm châu. Đến Với Việt Nam, du khách được làm
quen với các mặt hàng công nghiệp, thủ công nghiệp nổi tiếng như gốm sứ, dệt thổ cẩm,
dệt lụa… Như vậy, du lịch đã góp phần đánh thức và bảo tồn các ngành nghề thủ công
mỹ nghệ cổ truyền
4. Du lịch làm tăng tầm hiểu biết chung về văn hóa – xã hội
Du lịch nội địa và quốc tế đến nay là một trong những phương tiện hàng đầu để trao đổi
văn hoá, tạo cơ hội cho mỗi con người được trải nghiệm. Du lịch ngày càng được thừa
nhận rộng rãi là một động lực tích cực cho việc bảo vệ di sản thiên nhiên văn hoá. Du lịch
có thể nắm bắt các đặc trưng về kinh tế của di sản và sử dụng chúng vào việc bảo vệ bằng
cách gây quỹ, giáo dục cộng đồng và tác động đến chính sách. Đây là một bộ phận chủ
yếu của nhiều nền kinh tế quốc gia và khu vực và có thể là một nhân tố quan trọng trong
phát triển, khi được quản lý hữu hiệu.
Thương mại hoá các di sản văn hoá. Du lịch là sự tìm kiếm của khánh du lịch đối với cái
đẹp của các giá trị vật chất và tinh thần. Hoạt động du lịch phải thật sự đạt tới mục tiêu
bền vững. Tác dụng tích cực của du lịch đối với môi trường thường gắn với công tác bảo
tồn. Việc Chính phủ thành lập các khu bảo tồn và bảo vệ động vật hoang dã, các khu du
lịch lịch sử văn hoá đã tạo nên những địa bàn quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên du
lịch. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những nước đang phát triển như nước ta. Ở


môi trường nông thôn ven biển, du lịch nông thôn có thể phát triển các trang trại, làng du
lịch sinh thái mang lại nhiều thu nhập hỗ trợ cho dân sẽ ngăn chặn được tình trạng hoang
hoá đất đai. Những du khách nhận thức được đa dạng sinh học và các giá trị của tự nhiên
và văn hoá cũng có thể thúc đẩy được nhận thức môi trường cho cộng đồng dân cư địa
phương.
Trong năm nay, ngành Du lịch đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo tại các tỉnh như: Điện Biên,
Đắk Lắk, Ninh Thuận, Trà Vinh về các chủ đề “Du lịch với xoá đói, giảm nghèo” và
“Phát triển du lịch cộng đồng” đã thu hút đông đảo các tầng lớp tham gia. Các cuộc hội
thảo này có mục tiêu nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về phát triển du lịch, một
trong những biện pháp quan trọng để xoá đói, giảm nghèo và mang lại những cơ hội phát
triển cho phụ nữ thông qua việc trực tiếp cũng như gián tiếp phục vụ khách du lịch.
Du lịch cũng tác động trở lại văn hóa thông qua việc xây dựng và cải tạo môi trường văn
hóa, xã hội, làm cho môi trường này khởi sắc, tươi mới, làm cho các hoạt động văn hóa
năng động và linh hoạt hơn trong cơ chế thị trường. Hoạt động du lịch góp phần khơi dậy
các tiềm năng văn hóa giàu có và phong phú đang còn ẩn chứa khắp nơi trên đất nước ta,
“đánh thức nàng tiên ngủ trong rừng” để cả xã hội chiêm ngưỡng, thưởng thức cái đẹp,
không để cái đẹp ấy bị che phủ, mai một và lãng quên. Nhờ có du lịch, hằng năm trung
bình từ hai đến ba triệu du khách quốc tế đến nước ta tham quan, họ được hiểu sâu hơn
về đất nước, con người Việt Nam, được tận mắt chứng kiến sự thay da, đổi thịt tươi mới
và tốt đẹp đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong đời sống xã hội Việt Nam.
Trong khi nguồn vốn của chương trình mục tiêu văn hóa dành cho việc bảo tồn, tôn tạo
các di tích lịch sử rất hạn hẹp, thì ngành Du lịch đã hỗ trợ kinh phí đầu tư, tu bổ, nâng cấp
một số di tích trọng điểm tại các địa phương, góp phần làm cho những di tích ấy trường
tồn với thời gian và trở thành “điểm sáng” văn hóa tại địa phương, được nhân dân mến
mộ, cảm kích. Ngoài ra, bằng các hoạt động của mình, du lịch đã góp phần hỗ trợ và mở
ra biên độ rộng lớn cho hoạt động giao lưu hợp tác kinh tế, văn hóa quốc tế; trong năm
2006, chúng ta đã cử 389 đoàn với 1.501 người ra nước ngoài và đón 168 đoàn nước
ngoài với 1.514 người vào nước ta làm việc theo các văn bản hợp tác.
Trong kinh tế thị trường, do điều kiện khách quan, hoạt động du lịch thích ứng nhanh hơn
và trong chừng mực nhất định, chính hoạt động du lịch đã đi trước một bước, đảm nhiệm
vai trò “kích cầu” các hoạt động văn hóa đi nhanh và mạnh hơn. Kinh doanh văn hóa du
lịch đã đem lại nguồn thu không nhỏ. Mấy năm trước, tại lễ hội 110 năm Sa Pa đã thu hút
năm vạn người tham dự và tổng doanh thu của lễ hội này đạt hơn năm tỷ đồng.
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, văn hóa ngày càng mở rộng, cả
hoạt động văn hóa và du lịch đều có tác dụng lớn và rất quan trọng trong sự nghiệp CNH,
HÐH đất nước. Văn hóa thể hiện vai trò là “mục tiêu và động lực” ở chỗ tập trung xây
dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, ở chỗ chăm lo vun đắp, bồi
dưỡng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm hồn, tình cảm, đồng thời


tạo lập môi trường văn hóa, xã hội vui tươi, lành mạnh, phục vụ đắc lực công việc sản
xuất, lao động, học tập của nhân dân. Tất nhiên, với ưu thế là các loại hình nghệ thuật
phong phú, đa dạng, các hoạt động văn hóa đã và đang góp phần không nhỏ đấu tranh với
tệ nạn xã hội, với lối sống và tập quán lạc hậu, phê phán bài trừ các khuynh hướng tư
tưởng và quan điểm sai trái.
Du lịch sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền
vững. Ở Cốsta Rica và Vênêxuêla, một số chủ trang trại chăn nuôi đã bảo vệ nhiều diện
tích rừng nhiệt đới quan trọng, và do bảo vệ rừng mà họ đã biến những nơi đó thành điểm
du lịch sinh thái hoạt động tốt, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra công
ăn việc làm mới cho dân địa phương. Ecuađo sử dụng khoản thu nhập từ du lịch sinh thái
tại đảo Galápagó để giúp duy trì toàn bộ mạng lưới vườn quốc gia. Tại Nam Phi, du lịch
sinh thái trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sống của người da đen ở
nông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động du lịch
sinh thái. Chính phủ Ba lan cũng tích cực khuyến khích du lịch sinh thái và gần đây đã
thiết lập một số vùng Thiên nhiên-và-Du lịch của quốc gia để tăng cường công tác bảo vệ
thiên nhiên và phát triển du lịch quốc gia.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mang nguồn thu cho ngân sách quốc gia, thu hút vốn đầu tư

xuất
khẩu
hàng
hoá
tại
chổ
- Thay đổi diện mạo và cải thiện dân sinh tại các vùng sâu, vùng xa…
- Thúc đẩy và bảo tồn, phát triển nền văn hoá VN đậm đà bản sắc dân tộc, là cầu nối giao
lưu
văn
hoá
giữa
các
dân
tộc,
các
nước
- Nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ tài nguyên môi trường…
Du lịch bình thuận
Kinh tế
Phát huy lợi thế về thiên nhiên ưu đãi, tỉnh Bình Thuận xác định du lịch là
một trong những ngành mũi nhọn mang tính đột phá của địa phương.
Bình Thuận có bờ biển dài gần 200 km với ngư trường rộng 52.000 km2, có đảo
Phú Quý ngoài khơi cách thành phố Phan Thiết 120 km. Hàng năm số lượt du khách đến
tham quan và nghỉ dưỡng tại Bình Thuận đều tăng cao.
Đặc biệt, các dịch vụ thể thao giải trí trên biển như: Lướt ván diều, lướt ván buồm,
đánh golf đã tạo sức hút và kéo dài thêm thời gian lưu trú của khách du lịch. Năm 2015,
Bình Thuận đón trên 4,2 triệu lượt du khách với doanh thu du lịch đạt 7.600 tỷ đồng.
Bình Thuận hiện đã trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia với các loại hình du
lịch nghỉ dưỡng, tham quan, du lịch kết hợp chơi thể thao, du lịch tín ngưỡng, du lịch hội
nghị… góp phần quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Bình Thuận.
GRDP (tổng sản phẩm nội tỉnh) du lịch tăng hàng năm 5,5%/năm, năm 2015
GRDP du lịch chiếm tỷ trọng khoảng 7,6% GRDP của tỉnh, giải quyết nhiều công ăn việc


làm, thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động ở địa phương, đặc biệt là lao động nông
thôn, lao động các vùng ven biển. Mặt khác, du lịch phát triển đã góp phần gìn giữ và
phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn.
Năm 2016, toàn tỉnh đón 4.521,8 ngàn lượt khách, đem lại doanh thu 9.046 tỷ
đồng.
Theo Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận, trong 3 tháng đầu năm
2017, ngành du lịch đã đón hơn 1,2 triệu lượt khách (đạt 23,65% kế hoạch), tăng gần
10% so với cùng kỳ năm 2016. Du khách quốc tế tiếp tục chọn Bình Thuận là điểm đến
an toàn, thân thiện và chất lượng. Gần 157.000 lượt khách từ các nước Nga, Đức, Trung
Quốc, Pháp… đến với Bình Thuận (tăng 20% so với cùng kỳ năm 2016). Tổng doanh thu
từ du lịch đạt gần 2.900 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2016.
Bình Thuận đặt quyết tâm cao phát triển du lịch, hiện lĩnh vực này đang chiếm tỷ
trọng 8,26% GRDP của Bình Thuận. Nhờ đó, số lượng du khách tăng bình quân
10,29%/năm, doanh thu từ du lịch tăng bình quân 24,65%/năm.
Xã hội
Hàng năm, nhờ duy trì tổ chức các lễ hội văn hóa truyền thống đã thu hút sự quan tâm của
du khách Quốc tế và trong nước. thời gian lưu trú dài hơn và mức tiêu dùng nhiều hơn

Việc phát triển du lịch kết hợp các thế mạnh của biển, gắn liền với
nét văn hóa truyền thống đang là hướng đi hiệu quả của tỉnh Bình Thuận
trong năm Mậu Tuất 2018.
Tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, trong sáng 17/2 (mùng 2 Tết
Nguyên đán) sẽ diễn ra lễ hội đua thuyền truyền thống, dự kiến thu hút hàng
chục nghìn du khách tham dự. Gần 30 thí sinh đến từ khắp thế giới đang tham
dự cuộc thi trang phục dân tộc Việt Nam tại khu du lịch Mũi Né, tỉnh Bình
Thuận. Đến với cuộc thi, không chỉ nhận được niềm vui, họ còn hiểu thêm về
những nét đặc trưng, sự khác nhau thú vị về 54 dân tộc ở Việt Nam.
Bên cạnh việc được mặc các loại trang phục truyền thống, du khách còn
được tham gia cuộc thi gói bánh chưng, chơi ném còn, chờ thầy đồ viết tặng
câu đối. Những nét văn hóa dân gian này đã góp phần làm cho du lịch của tỉnh
Bình Thuận có nét hấp dẫn riêng.
Từ hiệu quả của các hoạt động này, trong dịp Tết Mậu Tuất 2018,
ngành du lịch tỉnh Bình Thuận tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động truyền thống
như: lễ hội đua thuyền, lễ hội leo núi Tà Cú, cuộc thi chạy vượt đồi cát ở Phan
Thiết - Mũi Né... Bên cạnh đó, còn có các cuộc thi như lướt ván buồm, lướt ván


diều. Các hoạt động này sẽ diễn ra thường xuyên, hướng đến mục tiêu thu hút
5,8 triệu lượt du khách đến tỉnh Bình Thuận trong năm 2018.
Ngoài nghỉ dưỡng, các doanh nghiệp còn mạnh dạn đầu tư nhiều loại hình
dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu văn hóa, ẩm thực, vui chơi giải trí, mua
sắm cho tất cả đối tượng du khách. Đến nay, nhiều sản phẩm đã trở thành “đặc
sản” của du lịch Bình Thuận như lướt ván buồm, lướt ván diều, Công viên Tượng
cát, Fishermen Show - Huyền thoại Làng Chài trên sân khấu nhạc nước, dịch vụ
bay khinh khí cầu…
“Công nghiệp không khói” phát triển cũng kích thích các ngành nghề khác
vươn lên, góp phần làm đổi thay diện mạo đô thị lẫn vùng nông thôn ở các địa bàn
có tiềm năng, thế mạnh về du lịch trên địa bàn Bình Thuận. Theo số liệu thống kê,
hoạt động du lịch đã tham gia giải quyết việc làm với thu nhập ổn định cho hơn
43.000 lao động địa phương, tạo thị trường tiêu thụ và xuất khẩu tại chỗ một số sản
phẩm nông nghiệp và hải sản của tỉnh…
Du lịch phát triển đã tạo điều kiện giải quyết nhiều việc làm với thu nhập ổn định cho hàng
ngàn lao động ở địa phương, đặc biệt là lao động nông thôn, lao động các vùng ven biển. Mặt khác,
du lịch phát triển đã góp phần gìn giữ và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, các tài nguyên
thiên nhiên trên địa bàn tỉnh.
Tính đến tháng 10/2017, toàn tỉnh có 390 dự án du lịch được chấp thuận đầu tư còn hiệu
lực, với tổng diện tích đất 7.400 ha và tổng vốn đăng ký đầu tư là 63.500 tỷ đồng. Trong đó có một
số dự án có quy mô từ 200-500 ha. Cơ sở vật chất, dịch vụ phục vụ du lịch phát triển nhanh cả về
số lượng và chất lượng với hơn 300 cơ sở lưu trú, tổng số 11.000 phòng và hơn 500 căn hộ, biệt
thự cho khách du lịch thuê.
Nếu như năm 1995 cả tỉnh Bình Thuận mới đón 53.200 lượt khách, năm 2016 toàn tỉnh đã
đón 4.500.000 lượt khách, tăng gấp 80 lần so với năm 1995. Riêng khách quốc tế vào năm 1995 chỉ
có 5.300 lượt khách thì năm 2016 đạt 300.000 lượt khách, tăng 85 lần so với năm 1995.
Ông Nguyễn Đức Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận cho biết: Bình Thuận hiện đã
trở thành khu du lịch trọng điểm của quốc gia với các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, du
lịch kết hợp chơi thể thao, du lịch tín ngưỡng, du lịch MICE… Du lịch phát triển đã góp phần quan
trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Bình Thuận. Năm 2016, du lịch đóng khoảng 7%
GRDP của tỉnh.
Phat trien cac làng nghề truyen thống, lang gốm, tranh cát mỹ nghệ
Môi trường
Bình Thuận: Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường bền vững

Tỉnh tiến hành sắp xếp lại một số khu du lịch như: khu du lịch Đồi Dương, điểm tham
quan du lịch đồi cát Mũi Né, khu vực Hòn Rơm… Thành lập 6 Ban Quản lý khu du lịch để
quản lý các hoạt động bảo vệ  môi trường trong các khu du lịch, giữ gìn an ninh trật tự  và
các hoạt động kinh doanh để hạn chế các trường hợp gian lận, tăng giá quá cao đối với du
khách .


Tại các khu du lịch Phan Thiết – Mũi Né phần lớn điều có hệ thống xử lý nước thải đạt
tiêu chuẩn môi trường (Phú Hải resort, Novotel, Cát Trắng, Seahorse, Sài Gòn – Mũi Né…).
Bên cạnh đó, các cơ sở kinh doanh du lịch cũng có những hoạt động cụ  thể nhằm bảo vệ
môi trường như: thường xuyên cử nhân viên làm vệ sinh bờ biển, quét dọn và thu gom rác
trên bãi biển; tổ chức trồng cây xanh trong khuôn viên khu du lịch…
UBND TP. Phan Thiết cũng đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân không đổ
rác, phế thải ra đường, nơi công cộng; thành lập tổ thu gom rác tại cụm dân cư, thực hiện
tốt công tác tổng vệ sinh môi trường đảm bảo không để rác tồn đọng khu vực công cộng và
dọc bãi biển… tỷ lệ rác được thu gom đã đạt trên 80%. Đến nay, 100% ki ốt kinh doanh tại
các khu du lịch đều được trang bị thùng chứa rác, các chủ hộ kinh doanh thực hiện nghiêm
túc quy định việc đưa rác đến điểm tập trung từ 20 đến 24h hàng ngày.

Theo đại diện ngành du lịch Bình Thuận, bảo vệ môi trường không phải là
những khẩu hiệu chung chung, không chỉ dừng lại ở mỗi đợt cao điểm, hay
không chỉ là việc của mỗi doanh nghiệp, mỗi khu resort. Điều quan trọng nhất
là phải làm sao để từng người dân hiểu được ý nghĩa của bảo vệ môi trường là
phục vụ trực tiếp lợi ích của họ, để người dân tham gia một cách tự giác và có ý
thức.
Với các hoạt động giữ gìn bảo vệ môi trường, vẻ đẹp của bờ biển trải dài,
những con sóng đồng điệu với các bộ môn thể thao biển như lướt ván dù, lướt
ván diều, cũng đồi cát bay của những Mũi Né, Hòn Rơm sẽ được duy trì trong
mắt du khách như một cách làm để du lịch Bình Thuận phát triển bền vững.
Việc đảm bảo môi trường du lịch an toàn, thân thiện được tỉnh Bình Thuận xác định là nhiệm vụ
quan trọng cần thực hiện với quyết tâm và tinh thần trách nhiệm cao. Tại các địa điểm có đông khách du
lịch, ngành Du lịch chủ trì, phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố tăng cường kiểm tra tại các khu du
lịch trọng điểm như Mũi Né, Hòn Rơm, La Gi, Hàm Thuận Nam, Bắc Bình để đảm bảo an toàn thực
phẩm, an ninh trật tự mùa cao điểm, xây dựng môi trường du lịch chuyên nghiệp, xanh và bền vững.
Bình Thuận cũng quyết liệt chỉ đạo thường xuyên dọn dẹp vệ sinh, làm sạch bờ biển. Hiện Tổ kiểm
tra liên ngành thành phố Phan Thiết đang tổ chức tháo gỡ bẫy tôm hùm, nhằm bảo vệ môi trường và trả
lại màu xanh cho biển tại các khu du lịch. Tại các bãi biển như Hòn Rơm, Mũi Né, Kê Gà đã được tổ
chức tổng vệ sinh bờ biển, đặt thùng rác và biển báo hướng dẫn nơi để rác cho khách và hộ kinh doanh
dịch vụ; việc buôn bán hàng rong tại biển Hòn Rơm, Đồi Cát Bay cũng được bố trí, sắp xếp vào một khu
vực tập trung.
Kỷ niệm 22 năm Ngày Du lịch Bình Thuận (24/10/1995 - 24/10/2017), trong các ngày từ 18/10 24/10, tại thành phố Phan Thiết và một số địa phương trong tỉnh sẽ liên tục diễn ra các hoạt động văn
hóa, thể thao và du lịch sôi nổi và đầy ý nghĩa. Mở đầu là Liên hoan Tiếng hát ngành Du lịch Bình Thuận
mở rộng lần 6/2017 diễn ra từ ngày 18 - 19/10; hoạt động Văn hóa nghệ thuật dân gian Chăm chào
mừng Lễ hội Katê từ ngày 19 - 20/10 tại di tích tháp Pô Sah Inư - Phan Thiết. Với các sự kiện thể thao sẽ
có giải Billard Carom 3 băng Cúp Duy Sơn 2017 tại CLB Billard Duy Sơn và giải Bóng đá Thiếu niên nhi
đồng Cup BTV tại Nhà Thi đấu Thể dục thể thao tỉnh cùng diễn ra từ 20 - 22/10; riêng giải Golf chào
mừng Ngày Du lịch Bình Thuận diễn ra vào sáng ngày 22/10 tại sân Golf Sea Links - Phan Thiết.
Để tạo thêm nét hấp dẫn thu hút du khách, kỷ niệm 22 năm Ngày Du lịch còn có Liên hoan Ẩm
thực “Món ngon Bình Thuận năm 2017” diễn ra từ ngày 20 - 24/10 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành Phan Thiết, liên hoan sẽ giới thiệu 3 nhóm ẩm thực là ẩm thực dân gian Việt Nam, ẩm thực đường phố


và ẩm thực Âu - Á. Cũng tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, vào lúc 6h30 ngày 22/10 sẽ diễn ra lễ
phát động “Tuần lễ Du lịch xanh”, ra quân làm sạch môi trường tại khu du lịch Đồi Dương hoặc bãi biển
Hàm Tiến -Mũi Né. Khép lại chuỗi hoạt động sẽ là Lễ tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân du lịch tiêu biểu
năm 2017.
Do vậy, chúng tôi cũng đã xác định “bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp” là một trong những
hoạt động xuyên suốt và luôn ưu tiên thực hiện. Hiệp hội luôn đề ra các giải pháp như: coi trọng nhiệm
vụ bảo vệ, xây dựng môi trường an toàn, văn minh, thân thiện, mến khách; có kế hoạch tích cực bảo
vệ, tôn tạo cảnh quan thiên nhiên, tăng cường các biện pháp nhằm giữ gìn môi trường luôn an toàn,
thân thiện.
Hằng năm, Hiệp hội cũng như từng thành viên luôn hưởng ứng, tham gia tích cực các sự kiện
phát động bảo vệ môi trường của trung ương, địa phương, ngành du lịch, ngành tài nguyên môi trường
và của cả các ban ngành khác.
Hiệp hội còn luôn đồng hành với doanh nghiệp để tổ chức các hoạt động định kỳ ra quân làm
sạch môi trường khuôn viên, bãi tắm của từng khu du lịch, khách sạn, resort; duy trì cảnh quan thiên
nhiên, chăm sóc các thảm thực vật; đầu tư xây dựng các hệ thống xử lý nước thải, rác thải.
Ngoài ra, chúng tôi còn thể hiện vai trò tích cực trong việc phối hợp, hỗ trợ kinh phí để tổ chức
các hoạt động vì môi trường, nhất là môi trường văn hóa du lịch. Như tại Tuần lễ môi trường văn hóa du
lịch năm 2011, ngoài trực tiếp tham gia, một số doanh nghiệp còn tích cực hỗ trợ là Sea Horse Resort,
Pandanus, Làng Tre, Sea Lion Resort, Allezboo Resort, khách sạn Park Diamond, Sài Gòn – Suối Nhum,
Golden Coast, Khu du lịch Tà Cú, Saomaitour...



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×