Tải bản đầy đủ

Biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi tại góc tạo hình

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Quảng Bình cùng toàn thể các giảng
viên trong khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã trực tiếp hướng dẫn cho tôi trong
thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn đã tận tình
hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn tập thể cô và cháu trường Mầm non Hoa Hồng - Thành
phố Đồng Hới đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong công tác nghiên cứu.
Bước đầu làm công tác nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè để khoá
luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Sinh viên: Phạm Thị Hà


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ một công trình khác.

Quảng Bình, tháng 5 năm 2017
Tác giả khóa luận

Phạm Thị Hà


MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. ............................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................................2
5. Nhiệm vụ của đề tài .....................................................................................................2
6. Giả thuyết khoa học .....................................................................................................3
7. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................3
8. Những đóng góp mới của đề tài ..................................................................................4
9. Cấu trúc của đề tài .......................................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TẠI GÓC TẠO HÌNH ....................................................5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................5
1.1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trên thế giới......................................................................... 5
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam............................................................................................ 6
1.2. Cơ sở lý luận về sáng tạo ..........................................................................................7
1.2.1. Khái niệm sáng tạo ............................................................................................................... 7
1.2.2. Bản chất và đặc điểm của sáng tạo ...................................................................................... 8
1.2.3. Các cấp độ của sáng tạo ..................................................................................................... 11
1.3. Đặc điểm sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình .......................12
1.3.1. Bản chất hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi. ................................................. 12
1.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ tạo hình của trẻ thông qua sản phẩm. .............................................. 13
1.4. Tính sáng tạo của trẻ Mầm non ..............................................................................14
1.4.1. Đặc trưng trong hoạt động tạo hình của trẻ....................................................................... 14
1.4.2. Vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách trẻ mẫu giáo..... 15
1.5. Cơ sở lý luận về góc tạo hình .................................................................................16
1.5.1. Khái niệm góc tạo hình ...................................................................................................... 16
1.5.2. Các dạng góc tạo hình ........................................................................................................ 18
1.5.3. Các dạng hoạt động tạo hình của trẻ ở góc tạo hình......................................................... 19
1.5.4. Mối quan hệ giữa góc tạo hình và hoạt động sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi................. 21
Tiểu kết chương 1 ..........................................................................................................24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6
TUỔI TẠI GÓC TẠO HÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG ........................25


2.1. Vài nét về trường Mầm non Hoa Hồng - Tp Đồng Hới .........................................25
2.2. Thực trạng hoạt động sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình. ..............25


2.2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng ........................................................................................ 25
2.2.2. Khách thể khảo sát.............................................................................................................. 26
2.2.3. Nội dung khảo sát ............................................................................................................... 26
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu thực trạng ................................................................................. 26
2.2.5. Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng ........................................................................... 27
2.2.6. Thực trạng những biểu hiện sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình. ................ 34
Tiểu kết chương 2 ..........................................................................................................43
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TẠI GÓC TẠO HÌNH ..................................................44
3.1. Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng tạo hình cho trẻ. ............................44
3.1.1. Các nguyên tắc khi xây dựng biện pháp. .......................................................................... 44
3.1.2. Hệ thống các biện pháp giúp phát huy tính sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo
hình................................................................................................................................................. 45
3.2. Tổ chức thử nghiệm các biện pháp .........................................................................55
3.2.1. Mục đích thử nghiệm ......................................................................................................... 55
3.2.2. Quy trình thử nghiệm ......................................................................................................... 55
3.2.3. Điều kiện tiến hành TN ...................................................................................................... 56
3.2.4. Cách đánh giá kết quả TN .................................................................................................. 56
3.2.5. Kết quả TN.......................................................................................................................... 56
Tiểu kết chương 3 ..........................................................................................................64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM ....................................................................65
1. Kết luận chung ...........................................................................................................65
2. Kiến nghị sư phạm .....................................................................................................66
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................68


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Quan điểm của GVMN về sáng tạo tạo hình .......................................................27
Bảng 2.2: Quan điểm của GVMN về những biểu hiện sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi .....27
Bảng 2.3: Quan điểm của GVMN về góc tạo hình ...............................................................28
Bảng 2.4: Quan điểm của GVMN về mức độ trẻ tham gia các HĐTH tại góc tạo hình ....29
Bảng 2.5: Quan niệm của GVMN về việc xây dựng, thiết kế góc tạo hình ........................30
Bảng 2.6: Quan niệm của GVMN về việc chuẩn bị môi trường tâm lý tại góc tạo hình
nh m phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ ............................................................................33
Bảng 2.7: Kết quả mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi ...........................36
Bảng 2.8: Nhận thức của GVMN về biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5
- 6 tuổi tại góc tạo hình ở trường MN ....................................................................................39
Bảng 2.9: Nhận thức của GVMN về những khó khăn của việc phát triển khả năng sáng
tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình ..............................................................................41
Bảng 3.1: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ nhóm ĐC và TN trước khi TN Tính
theo t lệ . .............................................................................................................................57
Bảng 3.2: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ nhóm ĐC và TN trước khi TN Tính
theo nội dung ..........................................................................................................................58
Bảng 3.3: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi nhóm ĐC và TN sau khi
TN Tính theo t lệ .............................................................................................................60
Bảng 3.4: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi nhóm ĐC và TN sau khi
TN Tính theo nội dung .........................................................................................................61


DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3.1: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ nhóm ĐC và TN trước khi TN
Tính theo t lệ %)..........................................................................................................57
Biểu đồ 3.2: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ nhóm ĐC và TN trước khi TN Tính theo
nội dung) ................................................................................................................................... 58
Biểu đồ 3.3: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi nhóm ĐC và TN sau khi
TN Tính theo t lệ %) .............................................................................................................. 61
Biểu đồ 3.4: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi nhóm ĐC và TN sau khi
TN Tính theo nội dung)........................................................................................................... 62


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt

TT

Viết đầy đủ

1

GDMN

Giáo dục mầm non

2

GVMN

Giáo viên mầm non

3

HĐTH

Hoạt động tạo hình

4

MG

Mẫu giáo

5

MN

Mầm non

6

NVL

Nguyên vật liệu

7

GTH

Góc tạo hình

8

TN

Thực nghiệm

9

ĐC

Đối chứng


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động tạo hình HĐTH ở lứa tuổi mầm non là một nhu cầu mang tính sáng
tạo, phản ánh quá trình quan sát, tri giác, khám phá thế giới xung quanh. Nó có một vị
trí quan trọng trong việc phát triển nhân cách toàn diện ở trẻ em và được coi là một
trong những con đường cơ bản để tiến hành giáo dục thẩm mỹ, hình thành nhân cách
toàn diện cho trẻ.
Giáo dục mầm non GDMN là bước đầu tiên của quá trình đào tào nhân cách
con người mới Việt Nam. Theo điều 22 luật giáo dục năm 2005 của Việt Nam, mục
tiêu của giáo dục mầm non là “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp
một”.
Trong đó “Hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không ch đến sự tiến bộ khoa
học kỹ thuật, mà còn đến toàn xã hội nói chung, và dân tộc nào biết nhận ra được nhân
cách sáng tạo một cách tốt nhất, biết phát triển họ và biết tạo ra được một cách tốt nhất
cho họ những điều kiện thuận lợi nhất, thì dân tộc đó sẽ có những ưu thế lớn lao”. Do
đó, tính sáng tạo là một trong các phẩm chất rất quan trọng không thể thiếu được để
hình thành con người trong thời đại mới.
Chính vì vậy, phát triển tính sáng tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Tính sáng tạo không tự đến,
nó được hình thành từ quá trình nuôi dưỡng và phát triển dựa vào nhiều yếu tố. Vì thế,
việc hình thành và phát triển tính sáng tạo phải được bắt đầu từ khi trẻ còn nhỏ. Ở lứa
tuổi này, hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi. Trong khi chơi những tình huống,
những mối quan hệ, những điều kiện vật chất của hoàn cảnh xung quanh làm nảy sinh
ở trẻ những ý tưởng và thúc đẩy sự sáng tạo của chúng. Bất cứ góc chơi nào trẻ cũng
thích chơi và khi chơi bất kì góc chơi nào trẻ cũng có thể sáng tạo. Do vậy, góc chơi
của trẻ mẫu giáo MG cũng được coi là một phương tiện phát triển tính sáng tạo cho
trẻ em.
Những góc chơi sáng tạo nói chung và góc tạo hình GTH nói riêng luôn được
trẻ quan tâm và thích thú. Bởi khi tham gia góc tạo hình, trẻ sẽ có nhiều cơ hội thể hiện
tính sáng tạo của mình thông qua các dạng hoạt động tạo hình HĐTH từ nhiều
nguyên vật liệu NVL khác nhau, việc liên kết GTH với các góc hoạt động khác khác
và kết quả là sự hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh thêm mở rộng, tư duy, trí nhớ,
thể chất và ngôn ngữ của trẻ cũng được phát triển. Do đó, nếu góc tạo hình được xây
dựng và tổ chức một cách khoa học, hấp dẫn, linh hoạt và tạo điều kiện cho trẻ được tự
do hoạt động trên chính những NVL đa dạng... sẽ thúc đẩy làm nảy sinh ý tưởng sáng
tạo ở trẻ, giúp trẻ tham gia một cách tích cực, phát huy tính tự lập của trẻ như tự nghĩ
1


ra cách thực hiện, tự chọn NVL cho mình, tự giải quyết các tình huống nảy sinh trong
góc tạo hình...
Tuy nhiên, tính sáng tạo của trẻ sẽ hạn chế trong góc tạo hình khi chúng ch được
đặt trong phạm vi lớp học. Trẻ cần được nuôi dưỡng, tạo điều kiện, cơ hội thể hiện,
phát triển trong góc tạo hình - là môi trường sẽ giúp trẻ trải nghiệm nhiều hơn, tạo cơ
hội cho trẻ được thể hiện tính sáng tạo, tính tự chủ, nhanh nhẹn và tự lập hơn. Bên
cạnh đó, góc tạo hình sẽ tạo cơ hội trẻ được hoạt động trải nghiệm, được tự do khám
phá theo ý thích, được giao tiếp, được chia sẻ với bạn với cô theo hứng thú, nhu cầu và
khả năng của mình, giúp trẻ được sử dụng tối đa tính sáng tạo của mình ở mọi lúc, mọi
nơi, trong lớp lẫn ngoài trời và như vậy góc tạo hìnhchiếm một vị trí quan trọng trong
sự phát triển của trẻ em.
Qua quá trình quan sát và nghiên cứu của chúng tôi gần đây cho thấy, góc tạo
hình ở các trường mầm non đã được đầu tư các NVL, đồ chơi, nhưng phần lớn giáo
viên mầm non GVMN chưa quan tâm, chưa tận dụng tối đa góc tạo hình ở trong lớp
lẫn ngoài trời để phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mầm non, đặc biệt trẻ MG 5 - 6
tuổi.
Từ lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp phát triển khả năng
sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình” .
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo
cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu:
- Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi: 40 trẻ
+ 20 trẻ nhóm đối chứng ĐC
+ 20 trẻ nhóm thực nghiệm
- Giáo viên: 25 cô
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Tìm hiểu một số biện pháp phát triển tính sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc
tạo hình.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi
tại góc tạo hình ở trường Mầm non Hoa Hồng.
5. Nhiệm vụ của đề tài
- Thu thập tài liệu, phân tích, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan tới đề
tài nghiên cứu.
- Khảo sát thực trạng khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình ở
2


Trường Mầm non Hoa Hồng - Tp. Đồng Hới.
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ
MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xác định đúng thực trạng phát triển tính sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại
góc tạo hình ở các trường mầm non MN thì sẽ đề xuất một số biện pháp phù hợp với
lứa tuổi và mang tính thực tiễn cao.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp tổng hợp, phân tích và hệ thống hoá từ các tài liệu tâm lý
học, giáo dục tính sáng tạo, về hoạt động tạo hình của trẻ, nghiên cứu các tài liệu về
các vấn đề liên quan.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát HĐTH của trẻ MG 5 - 6 tuổi tại trường MN Hoa Hồng, Tp. Đồng Hới.
Quan sát hoạt động sáng tạo tại góc tạo hình nh m thu thập thông tin về biện pháp phát
triển sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi của GVMN tại góc tạo hình.
7.2.2. Phương pháp điều tra
- Đàm thoại với giáo viên
- Sử dụng phiếu điều tra để thu thập ý kiến của GVMN
- Mức độ sáng tạo của trẻ ở các góc hoạt động tạo hình
7.2.3. Phương pháp thực nghiệm
7.2.3.1. Thực nghiệm khảo sát
- Tiến hành chung ở cả hai nhóm trẻ với hình thức, phương pháp, biện pháp tổ
chức phương pháp dạy học, giáo dục đang hiện hành.
7.2.3.2. Thực nghiệm hình thành
- Chia trẻ thành hai nhóm đồng đều nhau về thể lực và khả năng: Nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm.
- Chọn hoạt động tạo hình ở các góc với các hình thức, phương pháp khác nhau
nhưng nội dung chương trình giống nhau.
+ Nhóm đối chứng: Tác động tự nhiên
+ Nhóm thực nghiệm: Sử dụng biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ
7.2.3.3. Thực nghiệm kiểm chứng
- Cho hai nhóm thực hiện chung ở các góc tạo hình. Nhận xét, phân tích, so sánh
kết quả sản phẩm của hai nhóm và đưa ra kết luận cụ thể.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ
Nghiên cứu các sản phẩm tạo hình của trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình nh m
3


đánh giá tính sáng tạo của trẻ.
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Ch ra thực trạng của việc phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại
góc tạo hình ở trường MN.
- Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại
góc tạo hình.
- Khẳng định vai trò của góc tạo hình trong việc phát triển khả năng sáng tạo ở
trẻ 5 - 6 tuổi.
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục các bảng
biểu và chữ viết tắt, cấu trúc của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi
tại góc tạo hình
- Chương 2: Thực trạng khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình
ở trường MN.
- Chương 3: Một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi
tại góc tạo hình.

4


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG
SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
TẠI GÓC TẠO HÌNH
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trên thế giới
Giữa thế kỷ XIX, những nhà xã hội học đã có những đóng góp đáng kể trong
việc giải quyết các vấn đề sáng tạo. Họ cho r ng, bản chất của hoạt động sáng tạo là
hoạt động tưởng tượng, nhờ hoạt động tưởng tượng mà kích thích khả năng sáng tạo.
Sang thế kỷ XX, đây là một thời điểm có tính chất bước ngoặt trong lịch sử phát
triển nhân loại, cùng với những tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực khoa học, nhiều
ngành khoa học ra đời, nhiều thành tựu khoa học được công bố và lĩnh vực sáng tạo
cũng bắt đầu được quan tâm nghiên cứu. Như một tất yếu, quốc gia nào càng có nền
khoa học kỹ thuật phát triển cao bao nhiêu thì càng tập trung nghiên cứu về lĩnh vực
sáng tạo bấy nhiêu.
Khi nói đến lĩnh vực sáng tạo, chúng ta không thể không kể đến các nghiên cứu
của nước Mỹ - một quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát triển cao nhất thế giới. Các
nhà nghiên cứu ở đây có những điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất để tiến hành
nghiên cứu. Vì vậy, cũng như nhiều lĩnh vực khoa học khác, việc nghiên cứu sáng tạo
có cường độ mạnh nhất là ở Mỹ.
Vào đầu những năm 1920, công trình nghiên cứu về sáng tạo của Lewis Terman
trên những học sinh giỏi có ch số IQ từ 140 trở lên đã được các nhà khoa học học
đánh giá cao. Sau đó, ông còn tiếp tục nhiều công trình nghiên cứu khác cũng về lĩnh
vực sáng tạo, rút ra nhiều kết luận về các vấn đề chung của sáng tạo như: môi trường
sáng tạo, vấn đề nhân cách sáng tạo, sản phẩm sáng tạo...
Vấn đề sáng tạo thực chất ch được nghiên cứu có hệ thống từ những năm 50 của
thế kỷ XX mà người có công lớn nhất là J.P.Guilfort – nguyên là giáo sư của một
trường đại học tổng hợp ở Miền nam California, được đề cử là Chủ tịch hội Tâm lý
học Mỹ năm 1950. Trong bài phát biểu tại buổi lễ nhận chức, ông đã dành rất nhiều
thời gian để nói về vấn đề sáng tạo. Ông cũng khuyến khích các nhà tâm lý học tham
gia nghiên cứu hoạt động sáng tạo. Từ đó vấn đề sáng tạo được đầu tư và cũng đạt
được nhiều thành tựu đáng kể. Một số các công trình nghiên cứu về sáng tạo đã được
xuất bản như: May 1961 , Mackinon 1962 , Yamamoto 1963 , P.Torance 1965 ...
Ngoài ra còn có nhiều tác giả khác ở Mỹ cũng nghiên cứu vấn đề sáng tạo như:
Barron, Blom, Helmholtz, Wallass. Getzels...
Vượt ra khỏi nước Mỹ, các nhà khoa học Liên Xô cũ đã có nhiều công nghiên
cứu về sáng tạo, đóng góp cho xã hội, nổi bật như: G.S.Altshuller, V.N. Puskin, B.N.
5


Kedrop, M.G. Iarosepxki, P.A.Rudich, X.L.Rubinstein, L.X. Vygotsky... Họ cũng đã tổ
chức cuộc hội nghị, hội thảo về sáng tạo vào những năm 1960 – 1980 tại Matxcơva,
Praha, Budapest...
Từ những năm 60 – 70 của thập kỷ 20 trở đi, không ch ở Mỹ, Liên xô mà Tây
Âu đặc biệt ở Đức, do nhận ra ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật
cũng như ý nghĩa phát triển cá nhân của sáng tạo mà vấn đề sáng tạo dưới góc nhìn
mới của Tâm lý học, Giáo dục học và Xã hội học đã được quan tâm nghiên cứu thích
đáng.
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến hoạt động sáng tạo và các tài
năng sáng tạo. Nhiều hoạt động thể hiện sự chăm lo, bồi dưỡng, khuyến khích những
tài năng sáng tạo được tổ chức hàng năm như: Hội thi sáng chế kỹ thuật, tổ chức hỗ trợ
sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Trung
tâm sáng chế khoa học kỹ thuật thuộc ĐHQG TPHCM và nhiều hội thi tài năng được
tổ chức trong các trường học.
Năm 1990, Viện khoa học giáo dục thuộc Bộ giáo dục và đào tạo là cơ quan khoa
học đầu tiên ở Việt Nam tiến hành nghiên cứu về “khả năng sáng tạo” của học sinh.
Các công trình nghiên cứu này quan tâm tới bản chất, cấu trúc tâm lý của sáng tạo,
phương pháp chẩn đoán, đánh giá khả năng sáng tạo và con đường giáo dục, phát huy
khả năng sáng tạo của người Việt Nam.
Mãi cho đến nay, chúng ta cũng đã có một số công trình nghiên cứu của các Tiến
sĩ, Thạc sĩ đóng góp cho hoạt động sáng tạo như:
• Luận án Tiến sĩ của Lê Thanh Thủy nghiên cứu “Ảnh hưởng của tri giác tới
tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ 5 - 6 tuổi”.
• Luận án Tiến sĩ của Trương Thị Bích Hà nghiên cứu về “Tưởng tượng sáng tạo
hành động của sinh viên trường Đại học sân khấu điện ảnh”.
• Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Thu Hương nghiên cứu “Tiềm năng sáng tạo và
biểu hiện của nó trong vận động theo nhạc của trẻ MG 5 - 6 tuổi”, của Trần Thị Nga,
Phạm Thị Thu Hoa nghiên cứu “Khả năng sáng tạo của trẻ MG và học sinh tiểu học
thông qua hoạt động vui chơi và qua môn kể chuyện”.
• Luận văn Thạc sĩ của Vũ Thị Kiều Trang nghiên cứu về “Phát huy tính sáng tạo
của trẻ MG 5 - 6 tuổi trong trò chơi lắp ghép xây dựng từ các NVL thiên nhiên và phế
liệu”...
Ngoài ra, một số tác giả như: PGS - TS Nguyễn Huy Tú, TS. Đức Uy, TS. Trần
Tuấn Lộ, TS. Vũ Kim Thanh... có bài giảng về Tâm lý học sáng tạo.
Và rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các khoa học, giáo trình của các
chuyên gia, nhà khoa học giảng viên và sinh viên tại các viện nghiên cứu, các trường
6


Đại học, Cao đẳng, các cơ sở giáo dục trên cả nước đã và đang nghiên cứu vấn đề sáng
tạo tạo hình ở trẻ Mầm non.
Do nguồn tư liệu tiếp cận còn hạn chế, sự hiểu biết của chúng tôi chưa đủ để đề
cập đến tất cả các công trình. Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung trong tương lai.
1.2. Cơ sở lý luận về sáng tạo
1.2.1. Khái niệm sáng tạo
Về mặt thuật ngữ: Sáng tạo theo tiếng Anh là “Creativity” - là hoạt động tạo ra
bất kì cái gì có đồng thời tính mới và tính lợi ích.
Theo S. Freud, “Sáng tạo cũng giống như giấc mơ hiện hành, là sự tiếp tục và sự
thay thế trò chơi trẻ con cũ”. [34, tr28].
Chu Quang Tiềm, giáo sư đại học Bắc Kinh, trong cuốn sách “Tâm lý văn
nghệ” đã định nghĩa sáng tạo là: “Căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn làm tài liệu rồi
cắt xén gạt bỏ chọn lọc tổng hợp để tạo thành một hình tượng mới”. [23, tr295].
Đối với L.X. Vygotsky hoạt động sáng tạo được coi là hoạt động cao nhất của
con người. Theo ông, “Bộ não không những là một cơ quan giữ lại và tái hiện kinh
nghiệm cũ của chúng ta, nó còn là cơ quan phối hợp, chỉnh lý một cách sáng tạo và
xây dựng nên những tình thế mới và hành vi mới bằng những yếu tố của kinh nghiệm
cũ đó” [38, tr8].
Thông thường chúng ta thường cho r ng sáng tạo là hoạt động ch có ở một số ít
những thiên tài, những tài năng xuất chúng như: Mozart, Newton, Einstein, Tolstoy...
đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại hoặc phát minh ra những cái mới về khoa học kỹ
thuật. Nhưng theo L.X. Vygotsky: “Sự sáng tạo thật ra không phải chỉ có ở nơi nó tạo
ra những tác phẩm vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến
đổi và tạo ra một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với những
sáng tạo của các thiên tài” [36, tr10].
Ông quan niệm r ng: “Sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra
được một cái gì mới, không kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật của thế giới bên
ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản
thân con người”. Như vậy, sáng tạo ở đây được hiểu là hoạt động và hoạt động này tạo
ra cái mới.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về sáng tạo. Trong từ điển
Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên : “Sáng tạo là tạo ra cái mới, cách giải quyết mới,
không bị phụ thuộc vào cái đã có”.
Từ điển Tiếng Việt của tác giả Như Ý: “Sáng tạo là tìm thấy và làm nên cái
mới”. PGS – TS Nguyễn Huy Tú định nghĩa: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng
trước hoàn cảnh có vấn đề. Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà
nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình, và bằng tư duy độc lập tạo ra
7


được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng
tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới, độc đáo
và thích hợp cho vấn đề đặt ra” [25, tr5].
Như vậy có thể thấy tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng hầu hết đều nhấn mạnh ý
nghĩa của hoạt động sáng tạo, sản phẩm của sáng tạo đối với sự phát triển của con
người và xã hội. Hay nói cách khác sáng tạo là tạo ra cái mới - đó là quá trình con
người vận dụng những kinh nghiệm bản thân, độc lập đưa ra ý tưởng mới lạ hoặc cải
tạo và biến đổi những sản phẩm mới nh m mục đích phục vụ lợi ích chính đáng của
bản thân và xã hội.
1.2.2. Bản chất và đặc điểm của sáng tạo
a Bản chất của sáng tạo
Khi tìm hiểu về hoạt động sáng tạo, các nhà nghiên cứu đã xác định bản chất của
hoạt động này ở mấy vấn đề đó là:
Thứ nhất, hoạt động sáng tạo của con người mang bản chất xã hội.
Một xã hội phát triển luôn là tiền đề và là cơ hội cho sáng tạo phát triển, có thể
nói sáng tạo được nảy sinh từ chính sự phát triển không ngừng đó của xã hội và góp
phần làm cho cuộc sống xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Như vậy, hoạt động sáng tạo
xuất phát từ chính nhu cầu của bản thân mỗi con người và nhu cầu xã hội nh m giải
quyết các tình huống đặt ra. Khi xã hội phát triển, các điều kiện thực tiễn không còn
đáp ứng một cách phù hợp cho nhu cầu xã hội thì buộc con người phải tìm ra cách giải
quyết mới, hướng đi mới hoặc cải biến cáí cũ để phục vụ cho nhu cầu ấy.
Khả năng sáng tạo của con người không phải do trời phú, thiên bẫm. Nó là sản
phẩm của việc lĩnh hội và biến đổi những kinh nghiệm xã hội lịch sử do loài người tạo
ra trước đó. Do đó, bất kỳ một sản phẩm, một cách thức nào được tạo ra cho dù là bởi
cá nhân, cũng đều mang bản chất xã hội. Goethe đã nhận định: “Đăng tơ là vĩ đại đối
với chúng ta, song ông có ở phía sau mình cả một nền văn hóa của nhiều thế kỷ” và
“Những con người như Raphael không sinh ra trên một chỗ trống rỗng, họ đều dựa
vào nghệ thuật cổ đại và tất cả những gì tốt đẹp đã được sử dụng trước họ. Nếu như
họ không biết sử dụng những ưu thế của thời đại mình thì về sau họ chẳng còn điều gì
để nói nữa” [16, tr338].
Như vậy có thể khẳng định, hoạt động sáng tạo của con người bao giờ cũng
mang bản chất xã hội. Sáng tạo xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của xã hội và
phục vụ cho chính nhu cầu của xã hội đó.
Thứ hai, bản chất của quá trình sáng tạo là do các yếu tố tâm lý tham gia.
Có nhiều quan điểm khác nhau bàn về vấn đề bản chất của quá trình sáng tạo là
do các yếu tố tâm lý tham gia. Tuy nhiên, để xác định yếu tố tâm lý nào là mắt xích
trung tâm của quá trình sáng tạo thì còn nhiều ý kiến khác nhau.
8


Một là, các nhà nghiên cứu như B.M. Kedrow, M.A. Blok, K. Chikomiop, V.N.
Puskin, L.A. Aponomation... cho r ng chính cảm hứng, linh cảm, vô cảm là những khả
năng đã giúp con người giải quyết đúng đắn trước một tình huống khó khăn hay nguy
cấp mà có khi con người lại không biết chính xác tại sao mình lại làm được như vậy.
Thực tế có nhiều nhà văn, nhà sáng tạo trong nhiều lĩnh vực khác nhau cũng đã
tạo ra các tác phẩm mà không cần đến sự nổ lực của lao động. Trong lịch sử đã chứng
kiến nhiều câu chuyện ly kỳ về những phát minh của các nhà khoa học nổi tiếng mà
trực giác đã đưa họ đến nhiều thành công vang dội như Acsimet Thế k 13 trước Công
nguyên với câu chuyện “Ơrêka” nổi tiếng. Hay A. Eintein nói r ng đã mơ thấy
“Thuyết tương đối”... đã chứng minh cho quan điểm này.
Thực tế, để có được những linh cảm, cảm hứng hay trực giác trong sáng tạo đó
chính là kết quả của sự lao động không mệt mỏi của bản thân mỗi con người. Sự bừng
sáng của tư duy ấy là kết quả của sự tích lũy kiến thức, của sự say mê, kiên trì suy nghĩ
sáng tạo. Phát minh không n m ngoài tầm hoạt động kiên trì với định hướng khoa học
nghiêm túc. Linh cảm, trực giác không đến với người lười biếng, đó ch là yếu tố bổ
sung tuyệt vời cho kinh nghiệm và hiểu biết.
Hai là, những ý kiến cho r ng tư duy, tưởng tượng mới là mắt xích trung tâm của
sáng tạo. Đại diện cho quan điểm này là các nhà nghiên cứu như: L.X.Vygotsky, A.N.
Leonchiev, X.L. Rubinstein, M. Arnauđôp... Hầu hết họ cho r ng hoạt động có ý thức
của con người có vai trò quan trọng trong hoạt động sáng tạo.
Theo L.X.Vygotsky “Hoạt động sáng tạo dựa trên năng lực, phối hợp của bộ não
chúng ta được khoa học tâm lý gọi là tưởng tượng”. Chúng ta thường quan niệm
tưởng tượng là những gì không có thực, không thực tế, nhưng ông đã khẳng định “Trí
tưởng tượng là cơ sở của bất cứ hoạt động sáng tạo nào, biểu hiện hoàn toàn như
nhau trong mọi phương diện của đời sống văn hóa, nó làm cho mọi sáng tạo nghệ
thuật, khoa học và kỹ thuật có khả năng thực hiện” [33, tr8 - 9].
A.N.Leonchiev cũng đã đề cập đến vấn đề này trong các nghiên cứu của mình,
ông cho r ng tư duy là vấn đề chính tham gia vào công việc sáng tạo chứ không phải là
linh cảm. Vậy có thể thấy r ng, cả hai quan niệm đưa ra ở trên đều đúng, nhưng chưa
trọn vẹn. Vì thực tế, các yếu tố như linh cảm, tư duy, tưởng tượng không thể tách rời
nhau trong hoạt động sáng tạo. Các yếu tố này thường có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Linh cảm cung cấp cho lý trí những dữ kiện quý giá để lý trí phân tích, sàng lọc,
thử nghiệm và khẳng định. Và ngược lại, sự nổ lực nghiêm túc, kiên trì tư duy và
tưởng tượng sẽ tạo điều kiện cho linh cảm xuất hiện.
Rõ ràng nếu chúng ta làm việc thực sự căng thẳng và nghiêm túc trong một thời
gian dài thì đến một thời điểm nào đó chúng ta sẽ giải quyết được nhiệm vụ một cách
tốt nhất như một sự lóe sáng như một cơ chế giải phóng năng lượng hay còn gọi là sự
9


thăng hoa.
Tóm lại, bản chất hoạt động sáng tạo của con người có nguồn gốc từ hiện thực
khách quan và mang bản chất xã hội. Sáng tạo là một hoạt động khó khăn, vất vả của
con người nh m cải thiện cuộc sống và thúc đẩy xã hội phát triển. Nó là hoạt động có
ý thức và có mục đích của con người chứ không phải là một hoạt động mang tính chất
huyền bí hay là sự may rủi nào đó.
b Đặc điểm của sáng tạo
Đặc điểm của tính sáng tạo được bộc lộ ở 3 thuộc tính cơ bản đó là: tính mới mẻ,
tính độc lập và tính hiện thực.
Thứ nhất, tính sáng tạo bộc lộ ở tính mới mẻ trong sản phẩm của tư duy hay hành
động, tính mới mẻ này có thể là đối với cá nhân hoặc đối với xã hội. Khi đề cập đến sự
sáng tạo của người trưởng thành, của nhà khoa học, nhà phát minh sáng chế, sáng tác...
là nói đến tính mới mẻ trên bình diện xã hội.
Ở trẻ, trong quá trình sáng tạo, cái mới được phát hiện không nhất thiết phải có ý
nghĩa toàn xã hội mà ch là đối với bản thân mình. Tuy nhiên, bản thân quá trình sáng
tạo đó có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với xã hội. Tâm lý học đã xác định được tính
tương tự giữa quá trình sáng tạo của trẻ và quá trình sáng tạo của các nhà khoa học,
sáng chế sáng tác. Sự khác nhau ở đây ch là vấn đề cần giải quyết ở trình độ tự lập
trong diễn tiến các giai đoạn của quá trình sáng tạo. Còn cơ chế dẫn đến cái mới về
nguyên tắc không có sự khác biệt nào giữa sáng tạo của học sinh và người lớn.
Do đó sự sáng tạo của trẻ thường không mang lại cái mới cho toàn xã hội, nhưng
hoạt động này thường có ý nghĩa xã hội rất lớn vì ở đó nhân cách trẻ được rèn luyện để
trở thành những người sáng tạo sau này cho xã hội.
Thứ hai, tính sáng tạo thể hiện ở tính độc lập trong tư duy và hành động. Tư duy
độc lập làm tiền đề để nảy sinh những ý tưởng mới, giải pháp và phương pháp mới. Ở
cả trẻ em và người lớn muốn phát triển tính độc lập tư duy, cần đặt cho họ trước những
vấn đề buộc họ đi đến đích b ng con đường giải quyết vấn đề đó. Khi đi vào giải quyết
vấn đề, nếu chúng ta thử nghiệm độc lập để tìm ra giải pháp và càng khác lạ với thông
thường thì càng được đánh giá là có tính sáng tạo.
Người sáng tạo có khuynh hướng tránh lập lại cách giải quyết cũ, họ hoài nghi,
muốn từ bỏ cái truyền thống, có khi từ bỏ cả mục đích truyền thống. Họ thường đưa ra
các ý tưởng mới, cách thực hiện mới để thực hiện ý tưởng độc đáo, mới lạ của mình.
Thứ ba là tính hiện thực, nó được thể hiện trong giá trị sản phẩm mới. Quá trình
sáng tạo ra sản phẩm mới luôn có mối liên quan đến hiện thực. Sáng tạo không phải là
sự đoạn tuyệt của hiện thực mà là sự phản ánh hiện thực tối đa nhưng trong tình huống
mới, chất lượng mới và mục đích mới.
Người ta thường quan niệm r ng: sáng tạo bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu của
10


hiện thực khách quan nh m vươn tới việc tạo ra cái mới, độc đáo, tốt hơn, có lợi hơn
cho sự phát triển của xã hội. Điều này có vẻ trái ngược khi người ta nghiên cứu các sản
phẩm sáng tạo của trẻ: không độc đáo hơn, không đẹp hơn, không có lợi hơn cho xã
hội. Các nhà khoa học cho r ng, nếu xem xét một cách nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn
của một sản phẩm sáng tạo thì trẻ nhỏ chưa có sáng tạo. Vì vậy có nhà khoa học đã đề
xuất bỏ thuật ngữ “sáng tạo của trẻ” thay b ng thuật ngữ “tiền sáng tạo”. Do đó, cần
phân biệt giá trị sáng tạo theo hai cấp độ:
- Sản phẩm sáng tạo có giá trị khách quan: những sản phẩm mới, độc đáo, có ý
nghĩa xã hội thực sự.
- Sản phẩm khoa học có giá trị chủ quan: đó là những sản phẩm chưa có ý nghĩa
xã hội thực sự, chưa mang đến cho xã hội cái mới, cái độc đáo nhưng nó có ý nghĩa
quan trọng trong phát triển nhân cách, đặc biệt là trong phát triển trí tuệ. Nó là cái mới
với chính người tạo ra nó. Đây là sản phẩm chủ yếu do trẻ nhỏ tạo ra trong quá trình
chơi và học tập. Chúng ta tập cho trẻ học cách sáng tạo, được thể hiện nhu cầu tự
nhiên vốn có ở trẻ, không bị phụ thuộc vào một công thức, một giải pháp, một đường
mòn có sẵn. Chúng ta giúp cho trẻ trở thành người sáng tạo. Lợi ích này chính bản
thân của trẻ cũng chưa ý thức được, nhưng nó mang một ý nghĩa xã hội to lớn.
Tóm lại, xét trên bình diện toàn xã hội thì hoạt động chơi và học tập là hoạt động
tái tạo, nhưng trên bình diện cá nhân thì hoạt động chơi và học tập là hoạt động sáng
tạo, sáng tạo cho bản thân mình. Vì vậy được gọi là sáng tạo đặc biệt. Do đó, chúng ta
phải động viên, ch dẫn và khuyến khích trẻ để trẻ tiếp tục sáng tạo và đó là điều kiện
rất tốt cho sự sáng tạo thực sự sau này của trẻ.
1.2.3. Các cấp độ của sáng tạo
Theo nhà tâm lý học người Mỹ C.W. Taylor, sáng tạo có thể phân ra 5 cấp độ
khác nhau như sau:
Cấp độ 1: Sáng tạo biểu hiện là dạng cơ bản nhất của sáng tạo, không đòi hỏi
tính độc đáo hay kỹ năng quan trọng nào. Đặc trưng của cấp độ sáng tạo này là tính
bộc phát “hứng khởi” và sự tự do khoáng đạt.
Cấp độ 2: Sáng tạo chế tạo là bậc cao hơn sáng tạo biểu hiện. Nó đòi hỏi kỹ năng
nhất định xử lý thông tin hoặc kỹ năng kỹ thuật... để thể hiện rõ ràng, chính xác các ý
kiến của cá nhân. Ở cấp độ này tính tự do, hứng khởi bộc phát đã nhường bước cho
các quy tắc trong khi thể hiện cái tôi của người sáng tạo.
Cấp độ 3: Sáng tạo phát kiến có đặc trưng là sự phát hiện hoặc “tìm ra” do “nhìn
thấy” các quan hệ mới giữa các thông tin trước đây. Đây chưa phải là cấp bậc sáng tạo
cao nhất mà ch là chế biến các thông tin cũ và sắp xếp lại chúng để đi đến các quan hệ
mới và đó chính là sự xuất hiện sáng kiến hay phát kiến.

11


Cấp độ 4: Sáng tạo cải tiến đổi mới, cải cách là cấp bậc sáng tạo cao. Nó thể
hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc nghệ thuật, kỹ thuật hay sản xuất,
tức đòi hỏi một trình độ trí tuệ nhất định. Từ đó xây dựng được các ý tưởng cải tạo, cải
cách có ý nghĩa xã hội và khoa học kỹ thuật. Lackben cho r ng dự án trong đầu càng
xa với ban đầu bao nhiêu thì sự sáng tạo càng lớn bấy nhiêu
Cấp độ 5: Sáng tạo bậc cao, tột đ nh của quá trình sáng tạo. Người ta đưa ra
những ý tưởng mới hoàn toàn, thậm chí nảy sinh những ngành nghề mới, trường phái
mới, chương trình mới... vượt qua trí tuệ đương thời. Đại diện cho những người đạt
cấp bậc này là Einstein trong vật lý học, Picasso trong hội họa, Chopin trong âm nhạc,
Darwin trong sinh vật học, K. Marx, Hồ Chí Minh trong xã hội và khoa học chính trị
[24, tr16].
Sáng tạo của trẻ em thường ở cấp bậc thấp nhất là sáng tạo biểu hiện, đây là bậc
quan trọng nhất của sáng tạo, vì không có nó thì chẳng có một chút sáng tạo nào cao
hơn. Đặc trưng của cấp độ một là tính bộc phát, hứng khởi và tự do khoáng đạt, nếu
như hai đặc tính này bị hạn chế, bị gò ép vào khuôn phép ngay từ lúc nẩy mầm thì rất
có hại cho sự sáng tạo.
Như vậy, nếu chúng ta làm hạn chế những biểu hiện sáng tạo của trẻ ngay từ tuổi
MN dần dần sẽ trở thành thói quen, ngấm dần vào trong tư duy của con người, đi đến
chỗ thụ động, máy móc.
1.3. Đặc điểm sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình
1.3.1. Bản chất hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Bản chất hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là hoạt động tự nhiên
theo nhu cầu hoạt động, nhu cầu tìm hiểu và bộc lộ hiểu biết của bản thân trẻ, cũng là
niềm say mê ham thích, sáng tạo của trẻ.
- Hoạt động tạo hình là một hoạt động tự nhiên theo nhu cầu của hoạt động. Quá
trình vận động với những sản phẩm được tạo ra từ những nét nguệch ngoạc và tô màu
xanh, đỏ, hay nhưng viền đất bị biến dạng làm cho trẻ thấy lạ mắt, thích thú vì đã có
kết quả và trẻ càng tích cực vận động hơn. Trẻ càng hoạt động tích cực thì các thao tác
càng thuần thục, dần dần trẻ có khả năng tạo ra những sản phẩm theo ý muốn.
- Hoạt động tạo hình là nhu cầu tìm hiểu và bộc lộ hiểu biết của bản thân trẻ.
Trong quá trình tiếp xúc, làm quen với môi trường xung quanh, trẻ nhìn thấy thế giới
xung quanh rất mới lạ và hấp dẫn. Trẻ tò mò tìm hiểu, muốn xem hết những gì nhìn
thấy. Đồng thời trẻ cũng muốn trình bày với người khác những điều mình nhìn thấy,
mình biết. Vì ngôn ngữ trẻ còn hạn chế nên trẻ dùng lời nói để miêu tả, diễn đạt rất
khó khăn. Chính vì vậy, trẻ vẽ hoặc nặn ra những sản phẩm thay cho lời nói. Sản phẩm
tạo hình của trẻ rất đơn giản nhưng đã giúp trẻ nói lên rất nhiều nhưng hiểu biết hay
hay tình cảm, cảm xúc của trẻ, lúc này hoạt động vẽ nặn không còn là hoạt động tự
12


nhiên nữa. Ở đây, đã có sự kết hợp, tác động bên ngoài với nhu cầu hiện tại. Lúc này,
ta nói trẻ đã vẽ, đã nặn đúng nghĩa và đúng với bản chất của nghệ thuật tạo hình.
- Hoạt động tạo hình là niềm say mê, ham thích sáng tạo của trẻ. Hoạt động tạo
hình có vai trò như một phương tiện truyền đạt, biểu lộ nhận thức của thế giới xung
quanh. Trẻ khó có thể truyền đạt hết những suy nghĩ, tất cả nguyện vọng của mình
b ng lời nói để người khác hiểu được. Thế nhưng hoạt động tạo hình đã giúp trẻ làm
được điều đó. Trẻ phấn khởi khi nói ra được suy nghĩ, những hiểu biết của mình thông
qua sản phẩm tạo hình. Trẻ càng phấn khởi và thích thú hơn khi thấy những người
khác đọc được đúng những điều mà trẻ định nói. Trong hoạt động tạo hình, trẻ phải
suy nghĩ tìm ra cách thức hoạt động nào đó mà giúp trẻ nói được điều hay nhất và
nhiều nhất. Đây chính là cơ sở cho sự say mê sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ.
Nhận thức cuả trẻ càng cao thì nhu cầu thể hiện càng nhiều, sản phẩm càng phong phú,
đa dạng và gần gủi với thế giới xung quanh. Sản phẩm tạo hình mang lại cho trẻ niềm
vui, sự ham thích và lòng tin, niềm tự hào và sự say mê sáng tạo.
1.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ tạo hình của trẻ thông qua sản phẩm.
 Đường nét
Đường nét, hình dạng là những dấu hiệu đầu tiên của hình vẽ giúp trẻ nhận ra và
hiểu được mối liên hệ giữa sự vật thật và hình ảnh biểu đạt sự vật lúc đó. Lúc đầu, do
khả năng thao tác để tạo ra các đường nét còn hạn chế nên hình vẽ của trẻ còn mang
tính sơ đồ, lắp ráp từ những hình học. Do sự phát triển nhanh về thể lực, cơ bắp và sư
khéo léo của vận động, trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng tạo nên đường nét với tính
chất khác nhau khá phức tạp. Với trình độ phát triển của năng lực nhận thức thẩm mỹ
và kỹ năng vận động, trẻ ở tuổi này có thể cảm nhận được tính nguyên thể của các
hình ảnh đối tượng miêu tả và biết dùng đường nét liền mạch, mềm mại, uyển chuyển
để truyền đạt hình dáng trọn vẹn của sự vật trong cấu trúc hợp lý, đồng thời thể hiện tư
thế vận động, hành động phù hợp với nội dung sáng tạo. Đặc biệt trẻ 5 - 6 tuổi đã có
vốn kinh nghiệm phong phú cho nên các biểu tượng hình thành khá đầy đủ về hình
dáng, cấu trúc và đặc điểm riêng biệt, khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp tính
chất của đường nét và hình để thể hiện vẽ độc đáo, rất riêng của mỗi hình tượng sự vật
cụ thể. Hình tượng của trẻ đến gần với hiện thực, mất dần tính chủ quan.
Đường nét trong sản phẩm tạo hình thường mang tính biểu cảm hồn nhiên, bất
ngờ, và rời rạc.
Đường nét phong phú dài, ngắn, to nhỏ, đậm nhạt được sắp xếp, kết hợp một
cách ngẫu hứng không tuân theo các nguyên tắc tạo hình hay nguyên lý thị sáng trong
sáng tạo. Xem hình 1.1
 Màu sắc
Trong tranh vẽ của trẻ, hình vẽ là dấu hiệu hàng đầu để tạo nên hình tượng của sự
13


vật, nhưng màu sắc mới là yếu tố mang lại hiệu quả thẩm mỹ cho hình tượng và gây
tác động thẩm mỹ nhất đến trẻ cũng như người xem tranh. Màu sắc chính là phương
tiện quan trọng thể hiện sự sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình.
Trẻ mẫu giáo thường sử dụng màu theo ý thích và theo cảm xúc, trẻ có khả năng
phân biệt và sử dụng được nhiều màu. Những màu có chung một góc thường được trẻ
quy lại thành một màu đại diện. Sang tuổi mẫu giáo lớn, trẻ tiếp tục sử dụng đồng thời
cả hai cách vẽ màu: “màu bắt chước” và “màu không bắt chước”. Trẻ có thể thuộc
lòng các màu quy định theo chuẩn mực như: đất thì màu nâu, bầu trời thì màu xanh
dương, cỏ thì màu xanh lá, trẻ có thể sử dụng màu tự do nhưng trình trạng vẽ màu kiểu
tự do, ngẫu nhiên không liên hệ với nội dung ý đồ mô tả vẫn còn phổ biến. Tuy nhiên,
một số trẻ đã có vốn hiểu biết phong phú về màu sắc, đã có khả năng độc lập quan sát
để thấy được vẻ linh hoạt trong sự thay đổi màu sắc của sự vật, hiện tượng trong hiện
thực và làm quen qua quá trình tri giác với một số cách phối hợp màu. Tính tích cực
quan sát, nhận thức chính là điều kiện giúp trẻ biết sử dụng màu sắc một cách sinh
động để thể hiện một cách sáng tạo nội dung tranh vẽ, qua đó mà biểu lộ suy nghĩ, tình
cảm, ước mơ của mình. Vì thế, giáo viên cần kích thích hứng thú về vẻ đẹp của sự vật
hiện tượng thông qua màu sắc, điều đó sẽ làm cho màu sắc và sự phối hợp màu trong
bài vẽ của trẻ sẽ rất truyền cảm. Xem hình 1.2
 Bố cục
Bố cục trong tranh, sản phẩm tạo hình thường theo tính ước lệ, liệt kê toàn đều trên
mặt phẳng tranh, xé dán hay không gian nặn, lắp ghép
Bố cục theo hướng ưu tiên sự vật yêu thích chính thì lớn các yếu tố khác thì nhỏ hơn.
(Xem hình 1.3)
1.4. Tính sáng tạo của trẻ Mầm non
1.4.1. Đặc trưng trong hoạt động tạo hình của trẻ
Mọi trẻ em đều tiềm ẩn năng lực sáng tạo, nhưng sự sáng tạo của trẻ em không
giống sự sáng tạo của người lớn. Sự sáng tạo của người lớn là việc tạo ra cái mới, cái
độc đáo, gắn với tính chủ đích, có tính bền vững và thường là kết quả của quá trình nổ
lực tìm tòi để phát minh, sáng kiến ra những sản phẩm hoàn toàn mới lạ và có ý nghĩa
nhất định trong đời sống xã hội. Nhưng ở một đứa trẻ thì tính sáng tạo lại chính là khi
trẻ bắt đầu tái tạo, bắt chước, mô phỏng một điều gì đó và thường không có tính chủ
đích. Sự sáng tạo của trẻ em phụ thuộc nhiều vào xúc cảm, vào tình huống và thường
kém bền vững.
Có thể nói, sáng tạo mỹ thuật của trẻ không có nghĩa là tạo ra một tác phẩm mới
mà ch cần trẻ có nhu cầu chơi, có ý định chơi và tìm cách để chơi là phản ánh thế giới
thông qua ngôn ngữ tạo hình trẻ đã có sáng tạo.
Trong quá trình sáng tạo của trẻ, sự bắt chước tự nhiên đóng vai trò quan trọng,
14


tuy nhiên sự tái hiện lại trong quá trình đó không hoàn toàn giống trong thực tế. Do đó,
sự sáng tạo của trẻ mang nhiều tính chủ quan.
- Sáng tạo của trẻ bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu khám phá và thể hiện. Trẻ
không bao giờ sáng tạo cái gì mà trẻ không biết, không hiểu và không có hứng thú.
- Sáng tạo của trẻ ít khi dừng lại để ngẫm nghĩ về tác phẩm của mình, phần lớn
trẻ sáng tác liền một mạch. Trẻ giải quyết nhu cầu sáng tạo của mình nhanh chóng và
triệt để những tình cảm đang tràn ngập trong lòng trẻ.
- Sáng tạo của trẻ cũng như trò chơi, về căn bản còn chưa tách rời khỏi hứng thú
và đời sống cá nhân. Sáng tạo của trẻ biểu hiện một cách tự phát, độc lập với ý muốn
của người lớn.
- Tầm nhìn về thế giới xung quanh của trẻ còn rất hạn chế, nên trẻ hầu như chưa
biết phân tích các mối liên hệ khác nhau, các sáng tác của trẻ còn mang tính ước lệ và
rất ngây thơ.
- Trong mọi hoạt động của mình trẻ luôn có cảm giác thắc mắc, tò mò cao độ và
một sự nổ lực tự phát nh m khám phá, thử nghiệm và thao tác theo kiểu độc đáo mang
tính trò chơi. Đó là biểu hiện mang tính sáng tạo của trẻ.
- Sáng tạo của trẻ mang tính chất tổng hợp các lĩnh vực trí tuệ, tình cảm, ý chí và
đặc biệt là tưởng tượng sáng tạo được hưng phấn với một sức mạnh trực tiếp của cuộc
sống.
- Chúng ta biết r ng so với người lớn, tri thức và kinh nghiệm của trẻ còn ít ỏi, trí
tưởng tượng còn chưa phong phú, hứng thú đơn giản và sơ đẳng hơn nhưng do sự dễ
dãi, sự mộc mạc của trí tưởng tượng nên trẻ sống trong thế giới tưởng tượng nhiều
hơn, tin vào sản phẩm của trí tưởng tượng nhiều hơn, kiểm tra những sản phẩm ít hơn
đo đó mà trẻ dễ có những biểu hiện sáng tạo hơn.
1.4.2. Vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách trẻ
mẫu giáo
Lứa tuổi MG là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm lý, do đó mọi tác
động đến trẻ lúc này đều có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển nhân cách về
sau của chính đứa trẻ. Cho nên việc phát hiện và bồi dưỡng tính sáng tạo cho trẻ cần
phải được quan tâm thích đáng bởi vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển toàn
diện của trẻ. Mặc dù những nghiên cứu về tính sáng tạo của trẻ còn ít, nhưng thông
qua các nghiên cứu của một số nhà tâm lý, giáo dục học thì chúng ta đã phần nào thấy
được vai trò của tính sáng tạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ. Điều này thể hiện ở một
số điểm:
Một là, hoạt động sáng tạo là một hình thức giúp trẻ tự do thể hiện cái tôi của
mình. Đề cặp đến vấn đề này, X.L.Rubinstein cho r ng: “Mặc dù vốn kiến thức kinh
nghiệm của trẻ còn hạn chế, nhưng trẻ có nhiều cơ hội để bộc lộ sự sáng tạo mang tính
15


chủ quan của mình. Điều quan trọng là phải xem cái gì là cái mới chủ quan của trẻ. Sứ
mệnh của sự sáng tạo với vị trí là bậc thang cao nhất ở hoạt động của con người, có
liên quan không ch những giá trị khách quan và sự phát triển xã hội mà còn có giá trị
chủ quan đối với sự phong phú đa dạng trong cuộc sống cá nhân” [25, tr22].
Như vậy, ý nghĩa sự sáng tạo của trẻ không ch được xem xét ở kết quả trong sản
phẩm sáng tạo mà còn được nhìn nhận trong bản thân quá trình sáng tạo. Điều quan
trọng không hẳn là ở cái mới mà trẻ tạo ra, mà là trẻ đang được sáng tạo, đang được
bộc lộ và rèn luyện trong hoạt động sáng tạo đó. Sáng tạo của trẻ như một trò chơi nảy
sinh từ một nhu cầu cấp bách tự nhiên. Trẻ tự mình khám phá, tìm tòi, nghĩ ra một cái
mới và thể hiện cái mới đó với niềm vui sướng vô biên.
Hai là, hoạt động sáng tạo giúp trẻ hình thành và phát triển những xúc cảm, tình
cảm khả năng phát triển thẩm mỹ ở trẻ. Khi trẻ sáng tạo, những xúc cảm ở trẻ lay
động, qua đây trẻ có thể nhìn thấy cái đẹp, yêu cái đẹp và cố gắng tạo ra cái đẹp trong
khuôn khổ vốn kinh nghiệm ít ỏi của mình. Cho dù những gì mà trẻ tạo ra không mang
giá trị xã hội lớn lao, không mang tính độc đáo hay mới đối với xã hội, nhưng khi
được hoạt động, được sáng tạo và trải nghiệm cảm xúc đã mang lại cho trẻ niềm vui
thích vô biên và cũng là món quà vô giá mà sáng tạo mang lại cho chúng.
Ba là, hoạt động sáng tạo giúp phát triển ngôn ngữ và trí tuệ cho trẻ. Với trẻ,
muốn cho trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ phát triển phải cho nó được tham gia vào
các hoạt động, trong đó hoạt động vui chơi là hoạt động cơ bản. Thông qua hoạt động
vui chơi, trẻ được tiếp xúc với thế giới xung quanh, xác lập được quan hệ của mình với
hoàn cảnh và với người khác. Trẻ được giao lưu, trao đổi, trình bày ý kiến của mình và
thỏa sức tưởng tượng. Do vậy có thể nói, thông qua những ý tưởng và sự tưởng tượng
sáng tạo của mình, đã giúp cho các nét tâm lý xã hội, những tri thức, kinh nghiệm và
ngôn ngữ của trẻ có nhiều cơ hội phát triển.
Bốn là, hoạt động tạo hình sẽ giúp phát triển thể chất và năng lực lao động ở trẻ
khả năng phối hợp, điều ch nh hoạt động của mắt và tay, rèn luyện sự khéo léo, linh
hoạt trong vận động của tay, từ đó giúp cho việc học viết của trẻ ở tiểu học sẽ đạt kết
quả tốt.
1.5. Cơ sở lý luận về góc tạo hình
1.5.1. Khái niệm góc tạo hình
Góc tạo hình: Theo tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN chu kỳ II 2004
- 2007 cho r ng: Góc hoạt động là khu vực riêng biệt trong lớp, nơi trẻ có thể tự làm
việc một mình hoặc trong nhóm nhỏ theo hứng thú và nhu cầu riêng để xem xét, tìm
hiểu và khám phá cái mới, hoạt động với đồ vật và rèn luyện kỹ năng [31]. Góc tạo
hình là một trong những góc hoạt động của trẻ MN, nó có quan hệ mật thiết và có tính
biện chứng với các hoạt động khác của trẻ.
16


Như vậy, dựa trên khái niệm về góc hoạt động chúng ta có thể hiểu: “Góc tạo
hình là môi trường hoạt động sáng tạo nghệ thuật riêng biệt trong lớp hay ngoài trời nơi trẻ có thể thực hiện các HĐTH khác nhau một mình hoặc trong nhóm nhỏ theo
hứng thú và nhu cầu riêng của mình. Trong khu vực này, trẻ mong muốn được thử
nghiệm, thể hiện sự sáng tạo qua các sản phẩm mà trẻ làm ra”.
Tùy vào mỗi giáo viên, góc tạo hình có nhiều tên gọi khác nhau: Bé làm hoạ sĩ,
Họa sĩ tí hon, Ai vẽ đẹp, Ai khéo tay... Tuy nhiên, chúng ta nên mở rộng khoảng không
gian, địa điểm không ch trong lớp mà còn có thể tổ chức ngoài hành lang, sảnh, sân
chơi..., NVL đa dạng và phong phú thì mới có thể phát huy hết khả năng sáng tạo, độc
lập cho trẻ, giúp cho trẻ được hoạt động một cách thoải mái hơn. Chính vì vậy, chúng
ta cần tổ chức cho trẻ góc tạo hình “mở”.
Góc tạo hình là một trong những môi trường hoạt động sáng tạo nghệ thuật và
tạo ra sản phẩm của trẻ MG, nên ngoài những điểm tương đồng với các hoạt động
khác thì hoạt động này cũng có những đặc điểm riêng:
Thứ nhất, góc tạo hình giúp cho trẻ phát triển tính sáng tạo cao. Khi tham gia góc
này, trẻ phải có khả năng tưởng tượng sáng tạo nhất định, trẻ tự nghĩ ra những gì cần
làm theo ý thích của mình. Trên cơ sở vốn kinh nghiệm và vốn biểu tượng đã có, trẻ
hình dung ra kết quả sản phẩm b ng việc sử dụng các kỹ năng tạo hình đã học được
cùng với sự tích cực tư duy, tưởng tượng, trẻ sẽ lựa chọn NVL sao cho phù hợp để tạo
ra sản phẩm mà mình mong muốn. Qua các sản phẩm tạo hình, sáng kiến của trẻ được
bộc lộ rõ rệt. Tùy theo hoàn cảnh sống, tùy theo vốn kiến thức tích lũy do quan sát
được, mỗi trẻ đều có những khả năng riêng biệt được biểu hiện trong các sản phẩm
độc đáo của mình.
Thứ hai, hoạt động tại góc tạo hình là một trong các hình thức của HĐTH. Có thể
nói, tại góc này trẻ biểu hiện tính tạo hình của mình nhiều nhất. Để tạo ra một sản
phẩm đẹp, trẻ phải có khả năng tri giác thẩm mỹ, tư duy hình tượng và đặc biệt là
tưởng tượng sáng tạo. Nếu khả năng tạo hình tốt sẽ giúp trẻ tiến hành tạo ra sản phẩm
thuận lợi. Trái lại, nếu trẻ được thực hiện nhiều sản phẩm khác nhau cũng sẽ kích thích
cho khả năng HĐTH phát triển tốt hơn. Mặt khác, góc tạo hình gắn liền với hoạt động
có kỹ thuật, khi tham gia trẻ phải thực hiện các thao tác kỹ thuật như vẽ, nặn,sắp xếp,
lắp ghép nên rất cần có những kiến thức về sắp xếp bố cục, màu sắc trong tạo hình.
Chính vì thế, hoạt động tại góc tạo hình vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính mỹ
thuật.
Thứ ba, hoạt động tại góc tạo hình bao giờ cũng có sản phẩm cụ thể. Chính sản
phẩm này là động lực kích thích sự say mê, sáng tạo và sự nỗ lực của trẻ để tạo ra sản
phẩm đẹp hơn. Vì thế, khi tham gia trẻ thường cố gắng tìm kiếm nhiều NVL khác nhau
để thể hiện. Hơn thế nữa, sau khi hoàn thành sản phẩm trẻ lại thích nhìn ngắm, chiêm
17


ngưỡng, sờ mó những sản phẩm tự tay mình làm ra nên trẻ thường tham gia góc chơi
này rất say mê và thích thú. Xem hình 1.4
1.5.2. Các dạng góc tạo hình
• Góc tạo hình cố định: Là góc trong lớp, góc dành riêng cho tạo hình bao gồm:
vẽ; nặn; xé, cắt và dán và các HĐTH khác.
Ở góc tạo hình cố định là giáo viên trưng bày những sản phẩm của trẻ về các đề
tài vẽ, nặn, xe, dán... trong chủ đề, ngoài ra ở góc tạo hình cố định còn có giá góc đựng
những đồ dùng cho trẻ như: bút sáp, giấy màu, kéo, hồ dán, đất nặn, bảng, giấy màu
hoạ báo,...
Ở góc tạo hình cố định là chuẩn bị tất cả những đồ dùng cho trẻ dưới dạng mở để
trẻ có thể thực hiện hoạt động tạo hình có hiệu quả.
Ví dụ: Tháng 3 với chủ đề: “Thế giới thực vật”. Giáo viên trang trí góc tạo hình
với những tranh ảnh về chủ đề thực vật và chuẩn bị tất cả các đồ dùng như: bút sáp,
giấy màu, đất nặn, hồ dán, tranh ảnh về thực vật để trẻ có thể hoạt động tạo hình làm
ra những sản phẩm sáng tạo với chủ đề thực vật. Xem hình 1.5
• Góc tạo hình trong hoạt động góc: Là một phần của tiết học .
Góc tạo hình trong hoạt động góc là góc mà trẻ tham gia các hoạt động tạo hình ở
tiết dạy của giáo viên. Nơi mà trẻ có thể tưởng tượng sáng tạo ra sản phẩm của riêng
mình và được trưng bày ở góc. Tuy nhiên những sản phẩm phải phù hợp với chủ điểm,
chủ đề của từng tuần và từng tháng.
Ví dụ: Chủ đề “Thế giới thực vật”. Khi tham gia hoạt động tạo hình thì trước tiên
giáo viên kéo giá ngăn góc, chuẩn bị bàn ghế cho trẻ, đồ dùng như giấy màu, hồ dán,
kéo, giấy A4, đất nặn, tranh ảnh liên quan đến chủ đề “Thế giới thực vật”. Để trẻ có
thể tạo ra những sản phẩm sáng tạo của mình, thông qua sự hướng dẫn của giáo viên
và NVL giáo viên đã chuẩn bị sẵn theo đề tài tiết học. Xem hình 1.6
• Góc tạo hình ngoài trời
Trẻ tham gia hoạt động tạo hình ngoài trời là nơi mà trẻ tự do sáng tạo theo ý
thích mình, giáo viên không bắt buộc trẻ mà cho trẻ quan sát thế giới xung quanh để
trẻ cảm nhận và tạo nên những sản phẩm trẻ tự mình sáng tạo nên.
Ngoài ra giáo viên còn có thể chuẩn bị những đồ dùng cần thiết ở ngoài góc tạo
hình ngoài trời để trẻ có thể thực hiện hoạt động tạo hình.
Ví dụ: Chủ đề “Thế giới thực vật” giáo viên chuẩn bị đồ dùng liên quan đến chủ
đề, cho trẻ đi quan sát các cây, vườn hoa xung quanh sân trường, lớp học và b ng sự
tưởng tượng của trẻ giáo viên cho trẻ vẽ lại những cây, hoa mà trẻ đã quan sát b ng
phấn trên sân, hoặc trải chiếu để trẻ quan sát cây bàng, nhặt lá khô và hướng dẫn trẻ
làm con trâu, châu chấu b ng lá mít, lá dừa... hay xé dán để tạo ra sản phẩm về chủ đề.
(Xem hình 1.7)
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×