Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của Oligochitosan đồng lên Phytophthora capsici trong điều kiện invitro.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Nông học

KHOÁ LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu ảnh hưởng của Oligochitosan
đồng lên Phytophthora capsici trong điều
kiện invitro.

Sinh viên thực hiện: Trần Sơn
Lớp: Bảo vệ thực vật 48A
Thời gian thực hiện: Tháng 7/2017 5/2018
Địa điểm thực hiện: Phòng nghiên cứu bệnh cây
Khoa Nông học, Trường Đại học Nông
Lâm Huế
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Vĩnh Trường
Bộ môn: Bảo vệ thực vật


NĂM 2018

Lời Cảm Ơn


Được sự phân công của quý thầy cô khoa Nông
học, Trường Đại học Nông lâm Huế, sau hơn 9 tháng
thực tập em đã hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp
“Nghiên cứu ảnh hưởng của Oligochitosan đồng lên
Phytophthora capsici trong điều kiện invitro”.
Trước hết, em chân thành cảm ơn thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Vĩnh Trường người đã tận tình hướng
dẫn và chỉ dạy cho em trong suốt thời gian thực tập.
Mặc dù có nhiều bận rộn trong công việc giảng dạy
nhưng thầy đã luôn luôn quan tâm theo dõi để chỉ
dẫn, định hướng đi cho em để em hoàn thành tốt
nhiệm vụ. Một lần nữa em chân thành cảm ơn thầy
và chúc thầy thật nhiều sức khoẻ.
Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy,
cô giáo Trường Đại Học Nông Lâm Huế. Đặc biệt là
các thầy cô Khoa Nông học đã giảng dạy cho em
trong suốt 4 học vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn đến gia đình và tất cả các
thành viên trong tập thể lớp Bảo Vệ Thực Vật 48A,
trường Đại Học Nông Lâm Huế đã chia sẻ, động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực
hiện đề tài của mình.
Trong quá trình thực hiện đề tài bản thân em đã
rất cố gắng học hỏi và thận trọng trong thực hiện
các nội dung của đề tài. Tuy nhiên vì kiến thức
chuyên môn còn hạn chế, bản thân còn thiếu
nhiều kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những
thiếu sót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm
từ quý thầy cô để đề tài hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin gửi đến quý thầy cô cùng bạn
bè lòng biết ơn sâu sắc và lời chào thân ái!
Huế, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Trần Sơn




DANH MỤC BẢNG BIỂU

NH

BVTV

: Bảo vệ thực vật

CDHPA

: Chitosan dihydroyphenyl acetamit

COS

: Chitosan oligosaccharide

DHPA

: Dihydroyphenyl acetamit

DP

: Degree of polymerization

EC50

: Half maximal effective concetration

LMWC

: Chitosan có khối lượng phân tử thấp

MBC

: Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu

MIC

: Nồng độ ức chế tối thiểu

NOEC

: No- observed- effectconcentrations

OCDHPA

: Oligochitosan dihydroyphenyl acetamit

OECD

: Organisation for Economic Co-Operation and Development

P. capsici

: Phytophthora capsici

P. citrophthora

: Phytophthora citrophthor

P. heveae

: Phytophthora heveae

P. megakarya

: Phytophthora megakarya

P. palmivora

: Phytophthora palmivora

P. tropicalis

: Phytophthora tropicalis


MỤC LỤC


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề

Cây ca cao (Theobroma cocoa L) thuộc họ Sterculiaceae chi Theobroma có
nguồn gốc từ lưu vực sông Amazon ở Nam, Trung Mỹ có ưu thế sinh thái tự
nhiên ở tầng thấp của những cánh rừng mưa nhiệt đới. Ngày nay ca cao được
trồng rộng rãi ở nhiều vùng Trung Mỹ, Đông Phi, Tây Phi cho đến các nước
Đông Nam Á [1] [2].
Cây ca cao hiêṇ là đối tượng chính trong các chương trình giữ gìn sinh thái,
tạo cảnh quan cho các vùng đất trống, đồi trọc, đem lại cơ hội tốt để cải thiện
đời sống, tăng thu nhập cho người nông dân sản xuất nhỏ và nghèo. Theo Ross
Jaaz, trưởng đại diện của Tổ chức hợp tác phát triển nông nghiệp và trợ giúp
quốc tế cho biết, hơn 80% ca cao trên thế giới được sản xuất từ mảnh đất nhỏ
dưới 1ha. Ca cao cho hạt làm nguyên liệu sử dụng trong ngành công nghiệp thực
phẩm, có thể kể đến một số sản phẩm có giá trị kinh tế cao như chocolate, bột
cao cao và một số thực phẩm khác như bánh, kem… Hạt ca cao còn là nguồn
giàu chất chống oxy hóa nhờ procyanidin (Gressner, O.A., 2012) cũng như có
lợi cho sức khỏe tim mạch với hàm lượng flavonoid cao, đặc biệt là epicatechin
(Schroeter, H., Heiss, C., Balzer J., 2006) [2] [32] [37].
Giá trị và nhu cầu của thế giới về ca cao và các sản phẩm từ ca cao ngày
càng tăng và tăng nhanh nhất ở thị trường châu Á. Theo Hiệp hội Ca cao Thế
giới (ICCO) tổng sản lượng hạt ca cao trên toàn thế giới năm 2017 đạt 4.748.000
tấn với tổng giá trị hơn 9,9 tỉ USD. Theo dự báo của Tập đoàn thực phẩm Mars
Icoporated (Mỹ) dự đoán năm 2020 toàn thế giới thiếu hụt khoảng 1 triệu tấn ca
cao [46] [47].
Ở nước ta, cây ca cao được du nhập và trồng thử từ những năm cuối những
năm 1950. Năm 2016, diện tích trồng cây ca cao của nước ta là 11.698 ha với
sản lượng hơn 6.000 tấn mỗi năm chủ yếu phục vụ cho việc xuất khẩu và một
phần cho công nghiệp thực phẩm trong nước. Các khu vực trồng và phát triển ca
cao ở Việt Nam bao gồm Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, miền Đông và Miền Tây
Nam Bộ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có kế hoạch đến năm 2020
sẽ tăng diện tích trồng ca cao lên 50.000 ha để đáp ứng một phần thiếu hụt sản
lượng ca cao trên thế giới trong thời gian tới. Năm 2013, ICCO đã đưa Việt Nam
vào danh sách những nước sản xuất ca cao hương vị tốt hàng đầu thế giới giúp
cho việc xuất khẩu ca cao Việt Nam thuận lợi hơn. Đó là những cơ hội lớn cho

5


sự hình thành và phát triển nên các vùng chuyên canh cây ca cao ở Việt Nam
[47] [48] [49].
Các loài dịch hại phát triển nhanh và gây hại nặng, làm sụt giảm năng suất,
chất lượng quả ca cao là một trong những vấn đề khó khăn tại các vùng trồng ca
cao. Bệnh thối đen quả ca cao (black pod) là bệnh chính gây hại nghiêm trọng
nhất ở các vùng trồng ca cao trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Một trong các
tác nhân gây ra bệnh thối đen quả ca cao là do loài Phytophthora capsici gây ra.
Bệnh gây hại không những trên quả từ giai đoạn còn non cho đến khi quả chín,
mà còn hại cả trên thân, cành và lá. Phytophthora capsici có thể gây hại mọi bộ
phận (lá, thân, hoa), qua các giai đoạn từ vườn ươm cho đến khi thu hoạch.
Chúng có khả năng tồn tại trong đất và hạn chế sự sinh trưởng của cây con được
trồng lại trên đất trồng ca cao trước đây đã bị bệnh. Muốn phát triển và sản xuất
ca cao có hiệu quả, bền vững cần phải có các biện pháp phòng trừ bệnh hại
nghiêm trọng này một cách kịp thời và hiệu quả nhất là khi Việt Nam đã gia
nhập WTO, đòi hỏi sản phẩm nông nghiệp phải an toàn, không có dư lượng
thuốc hóa học để đảm bảo cho nhu cầu nội tiêu và xuất khẩu.
Để phòng trừ bệnh thối đen quả ca cao hiện nay ở nước ta các biện pháp
chủ yếu vẫn là canh tác và biện pháp hóa học. Biện pháp hóa học vừa tác dụng
nhanh lại có hiệu quả kinh tế nhưng mặt khác chúng lại gây ô nhiễm môi trường
đất, nước, không khí và để lại tồn dư trên nông sản gây ảnh hưởng tới sức khỏe
con người. Biện pháp canh tác lại không quản lí triệt để được nguồn bệnh. Trong
các biện pháp phòng trừ đang được nghiên cứu để dần thay thế biện pháp hóa
học thì biện pháp sinh học là một hướng đi được các nhà khoa học của nhiều
nước trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm. Ứng dụng biện pháp sinh học
trong phòng trừ bệnh do Phytophthora capsici trên cây ca cao là một hướng đi
rất mới mẻ. Việc nghiên cứu các chế phẩm sinh học có tác dụng tiêu diệt nấm
gây bệnh là hết sức quan trọng, vừa có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng
đồng thời bảo vệ môi trường, tăng cường hệ sinh thái bền vững trong hệ thống
nông nghiệp. Một trong những hợp chất đã và được đang được nghiên cứu có
tiềm năng và ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp đó là hợp chất Oligochitosan
đồng. Nhằm đánh giá khả năng khấng nấm, kháng khuẩn và tìm ra những
phương hướng mới trong quản lí bệnh do nấm Phytophthora và nói chung
Phytophthora capsici nói riêng chúng tôi tiến hành đề tài: " Nghiên cứu ảnh
hưởng của Oligochitosan đồng đến sinh trưởng và sinh sản của
Phytophthora capsici trong điều kiện invitro"

6


1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu ảnh hưởng của Oligochitosan đồng đến sinh trưởng và sinh sản
của Phytophthora capsici trongđiều kiện invitro.
1.3 Yêu cầu đề tài

- Thu thập được nguồn Phytophthora capsici.
- Phân lập và nuôi cấy Phytophthora capsici trong điều kiện invitro.
- Biết cách làm thí nghiệm, bó trí thí nghiệm, đo đếm thu thập số liệu trong
điều kiện invitro.
- Biết cách tổng hợp, xử lí và phân tích số liệu, viết và trình bày báo cáo.
PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu về Phytophthora
Tên của giống Phytophthora xuất phát từ “phyto” có nghĩa là thực vật và
“phthora” có nghĩa là kẻ hủy diệt. Phytophthora là ‘kẻ hủy diệt thực vật” (Erwin
and Ribeiro 1996). Nấm Phytophthora là loại nấm khá phổ biến của lớp
Oomycetes trong giới Chromista. Chúng không phải nấm thực mà chỉ là vi sinh
vật giống nấm. Chúng sản sinh ra du động bào tử. Nhiệt độ tối thích cho nấm
sinh trưởng phát triển là 25-30 oC, pH là 6-7 [17]. Đăc điểm của Phytophthora
rất thích hợp trong điều kiện nóng ẩm. Do đó, mùa mưa ở nước ta là thời gian
Phytophthora tấn công gây hại và nguy hiểm hơn nữa là chúng còn có khả năng
phối hợp với nấm khác gây hại như là Pythium, Rhizoctonia và Fusarium làm
cho việc phòng trị trở nên phức tạp hơn và cây trồng cũng bị gây hại nghiêm
trọng hơn, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây trồng và nặng hơn
là gây chết cây trồng [5].
Nấm Phytophthora có phổ ký chủ rộng, chúng gây bệnh trên các loại cây
trồng và được xem là tác nhân nguy hiểm hàng đầu cho nền kinh tế nông nghiệp.
Đáng kể là Phytophthora infestans còn được biết là nấm gây nên nạn mất mùa
khoai tây ở Ailen. Chúng gây bệnh sương mai khoai gây nên nạn đói ở Ireland
năm 1845-1846 dẫn đến một phần tư của 8 triệu dân Ireland chết đói và di cư
sang nước khác (Lamour 2013). Sau đó vài thập kỉ, nó lại gây nên một cuộc
tranh cải lớn về bệnh tàn lụi muộn, Anton de Bary cũng như Rev, Miles Joseph
Berkely trước đó đã khẳng định: giống nấm này có thể là nguyên nhân gây nên
bệnh tàn lụi muộn. Và cho đến năm 1876 nó có tên là Phytophthora infestans
(Bary) [5].
7


Các nước Đông Nam Á, Phytophthora palmivora gây chết ngọn, cháy lá,
thối rễ, sùi cành và thối quả cây sầu riêng, gây thiệt hại từ 10-25% năng suất
(Drenth and Sendall, 2004). Phytophthora capsici gây bệnh thối gốc rễ hồ tiêu,
thường được gọi là bệnh chết nhanh thiệt hại gây trồng hằng năm ước tính 510% nhiều nơi như ở Sarawwak (Malaysia)… Ở Việt Nam, Phytophthora là
nguyên nhân gây ra rất nhiều bệnh trên cây ăn quả, rau màu và cây công nghiệp.
Các bệnh bao gồm thối rễ, thối thân và quả sầu riêng; thối rễ ớt; thối nõn dứa;
thối gốc (héo nhanh) hồ tiêu; mốc sương cà chua, khoai tây; thối rễ, thân và quả
đu đủ; tàn lụi cao su và cây trồng khác. Thiệt hại nặng nhất là hồ tiêu được ghi
nhận lên đến 100% ở Bình Phước, Đồng Nai, Gia Lai, Quảng Trị (Truong et al
2008). Bệnh Phytophthora là bệnh hại quan trọng nhất trên cây có múi, do số
loài liên quan và các bệnh hại khác nhau nên rất khó đánh giá thiệt hại. Thiệt hại
kinh tế bệnh được ước tính từ 6-12%. Bệnh sương mai khoai tây, cà chua do P.
infestans gây thiệt hại từ 15-20% năng suất cây trồng [5].
2.1.1 Cây tiến hóa của Phytophthora
Bảng 2.1. Cây tiến hóa của Phytophthora trong lớp Oomycetes (Andre Drenth, 2001)
Ngành

Lớp

Chromist
a

Oomycete
s

Bộ

Họ

Lagenidiales

Leptomitales

Saprolegniales

Saprolegniaceae

Giống

Achlya
Saprolegnia

Peronosporale
s

Pythiacea

Pythium
Phytophthor
a

Peronosporacea
e

Bremia

Albuginaceae

Albugo

Peronospora

2.1.2 Đặc điểm hình thái của Phytophthora
Ta có thể xác đinh giống Phytophthora thông qua một sô đặc điểm hình
thái sau (A. Drenth và B. Sendall, 2004);
- Túi bào tử:
+ Hình thái túi bào tử như hình dạng, kích thước, chiều dài, chiều rộng của
túi, tính rụng sớm của túi bào tử.
8


+ Chiều dài của cuống trên bào tử.
+ Sự tăng trưởng của túi bào tử.
+ Nhánh mang cuống túi bào tử mà trên đó túi bào tử sinh ra.
Một số loài Phytophthora tạo ra bào tử ngay trên môi trường agar, trong khi
nhiều loài khác cần được nuôi cấy ngay trong môi trường nước, dung dịch muối
khoáng và dịch trích từ đất pha loãng nước trước khi chúng tạo ra bào tử. Điều
cần chú ý là chúng tạo ra bào tử trên môi trường agar phụ thuộc vào điều kiện
ánh sáng [5].
- Chlamydospore và sự tương đồng sợi nấm: Chlamydospore là một bào tử
vách dày có chức năng như một bào tử nghỉ. Chúng chỉ là một đốt (nằm giữa sợi
nấm) hoặc ở tận cùng (nằm cuối sợi nấm). Hình thái của chlamydospore không
khác biệt giữa các loài. Tuy nhiên sự hiện diện (trên P. palmivora) hay sự vắng
mặt (trên P. hevae) của chlamydospore có thể xác định ở mức độ loài [5].
- Cấu trúc sinh sản hữu tính: Khoảng một nửa các loài Phytophthora ở
dạng đồng tản (homothallic) chúng sẽ tao ra bộ phận sinh dục đực, bộ phận sinh
dục cái và bào tử động trên cùng một môi trường. Phần còn lại là dạng dị tàn
(heterothallic) với hai kiểu A1 và A2. Dạng dị tản tạo ra túi giao tử (túi giao tử
đực và túi noãn) chỉ khi có sự hiện diện của một dòng phân lập mọc đối trên môi
trường. Việc xác định loài nấm thuộc nhóm đồng tản hay dị tản phụ thuộc vào
túi bào tử đực và túi bào tử đực của chúng là amphigynuos (túi giao tử đực nằm
quanh thân túi noãn) hay paragynos (túi giao tử đực nằm tiếp theo túi noãn) [5].
2.1.3 Đặc điểm sinh học của Phytophthora
Phytophthora là loài có thể sinh sản hữu tính hay vô tính. Ở nhiều loài, cấu
trúc sinh dục không được quan sát, hoặc chỉ được quan sát qua giao phối trong
phòng thí nghiệm. Trong cấu trúc của đồng tản loài, cấu trúc sinh dục xảy ra
trong cùng một môi trường thí nghiệm. Loài dị tản đã giao phối giống, chỉ định
là A1 và A2. Khi giao phối, đực giải phóng giao tử vào oogonia, hoặc bởi các
oogonium đi qua antheridium (amphigyny) hoặc bởi các antheridium gắn vào
đầu gần (thấp hơn) một nửa oogonium (paragyny), và sản xuất bào tử trứng.
Cũng giống như động vật, nhưng không phải như nấm thực nhất, giảm phân là
gametic, và các hạt nhân soma là dạng lưỡng bội. Sinh sản vô tính (phân bào)
các loại bào tử là bào tử hậu, và các túi bào tử sản xuất động bào tử. Bào tử hậu
thường có hình cầu và sắc tố, và có thể tế bào dày lên để hỗ trợ trong vai trò như
là một cấu trúc sống còn. Túi bào tử có thể được giữ lại bởi các sợi nấm
9


(noncaducous) hoặc được phóng thích dễ dàng nhờ gió hoặc dưới nước như sự
phân tán. Ngoài ra, các túi bào tử có thể sinh ra du động bào tử, chúng có hai roi
để bơi tìm kí chủ [5] [17].
Hình 2.1. Chu kì sống của Phytophthora
( Nguồn: Erwin và Ribero, 1996)
2.2 Nghiên cứu về tác nhân gây bệnh thối đen quả ca cao
2.2.1 Tình hình thiệt hại do bệnh thối đen quả ca cao gây nên
Ước tính thiệt hại hàng năm do loại bệnh thối đen quả ca cao gây ra trên thế
giới là rất lớn làm giảm năng suất ca cao từ 10% đến 30% và có thể lên đến 90 100%, phụ thuộc vào vị trí địa lý, giống trồng trọt, chủng gây bệnh và điều kiện
môi trường từng vùng (Keane, 1992). Một số quốc gia như Cameroon, Nigeria
hay Ghana bệnh đã làm giảm gần 30 % sản lượng với tỷ lệ quả bị bệnh từ 30 80% có khi lên tới 100%. Còn tại Malaysia bệnh đã làm giảm sản lượng từ 5 70%, có những năm có thể giảm tới hơn 80% sản lượng ca cao (Lee và Lum, 2004).
Tại Indonexia nấm Phytophthora đã tấn công trên 138 loài cây trồng, chỉ riêng
loài P. palmivora gây bệnh thối đen quả ca cao đã làm thiệt hại 26 - 56 % sản
lượng ca cao tại Java (Purwantara, 1987). Tại Samoa, thiệt hại do bệnh thối đen
quả ca cao cũng lên đến 60 - 80 %, tại Papua New Guinea là 5 - 39%
(Purwantara, 2003) [26][28][35][36].
Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh thối đen ở quả ca cao ở Đăk Lăk trung bình lên đến
25 – 30%, có những vườn tỷ lệ quả nhiễm bệnh chiếm 65 – 70% và hầu như
không cho thu hoạch (Trần Kim Loang, Vũ Văn Tố, Hà Thị Mão, 2001). Ở Bình
Phước tỷ lệ bệnh trung bình cũng chiếm khoảng 20 – 25 %, có nhiều vườn cũng
không cho thu hoạch (Kết quả điều tra sơ bộ của Viện Bảo vệ thực vật năm,
2010) [3][7].

10


2.2.2 Triệu chứng bệnh thối đen quả ca cao
Mặc dù các loài Phytophthora tấn công tất cả các bộ phận của cây ca cao,
sự thiệt hại kinh tế chính là do nhiễm trùng vỏ. Vỏ hoặc cherelles (vỏ chưa
trưởng thành) có thể bị nhiễm ở bất kỳ nơi nào trên bề mặt vở, nhưng vết bệnh
thường được bắt đầu ở cuống hoặc thân quả. Căn bệnh này gây ra thương tổn
cứng, lan rộng, màu nâu sô-cô-la và cuối cùng bao phủ toàn bộ vỏ. Các hạt trong
vỏ có thể vẫn không bị hư hại trong vài ngày sau khi nhiễm trùng trấu ban đầu,
do đó thu hoạch thường xuyên có thể ngăn ngừa mất nhiều năng suất. Trong thời
gian lâu hơn, Phytophthora xâm nhập vào các mô vỏ bên trong và gây ra sự biến
màu hạt cacao. Vỏ quả bị bệnh cuối cùng trở thành màu đen và ướp xác. Các tác
nhân gây bệnh cũng sẽ gây ra bệnh đốm cây ở các vườn ươm cacao do nhiễm
trùng thân và lá non (John H. B., 2001) [18].
2.2.3 Các loài Phytophthora sp. gây bệnh thối đen quả ca cao
Trước đây, phân lập Phytophthora từ ca cao được phân loại là P.
palmivora (Butl.) Butler (Brasier, CM. và Griffin, MJ., 1979). Loài này đã được
công nhận là một trong những mầm bệnh quan trọng nhất ở vùng nhiệt đới tấn
công nhiều loại cây trồng, bao gồm cacao, cao su, tiêu đen, dừa, dứa, đu đủ, cam
quýt, bơ và nhiều cây cảnh. Những nghiên cứu ban đầu về tác nhân gây bệnh
cho thấy một số biến đổi về hình thái và các loại tổn thương được tạo ra trên vỏ
ca cao trong số các chủng phân lập từ các quốc gia khác nhau. Năm 1976, các
chủng P. palmivora từ ca cao được xếp vào một trong bốn nhóm hình thái (MF1,
MF2, MF3 và MF4) (Griffen, MJ., 1977). Các nghiên cứu sâu hơn đã định nghĩa
lại các nhóm hình thái học. Dạng MF1 được coi là P. palmivora điển hình và
MF2 tạo thành một biến thể (không điển hình) của P. palmivora (Brasier, CM.
và Griffin, MJ., 1979). Dạng MF3 được mô tả là một loài mới, P.
megakarya Brasier và Griffin (Brasier, CM. và Griffin, MJ., 1979), và dạng
MF4 được coi là P. capsici Leonian (Tsao, PH., và Alizadeh, A., 1988.;
Zentmyer, GA., Kaosiri, T., Idosu, GO. và Kellam, MK., 1981). Gần đây, người
ta đã đề xuất rằng các chủng P. capsici khác biệt về các đặc điểm hình thái và
bệnh lý nên được gọi là P. tropicalis (Aragaki, M., và Uchida, JY,
2001). Phytophthora palmivora có mặt ở hầu hết các quốc gia và là một phần
quan trọng của phức hợp vỏ đen, trong khi P. megakarya chỉ có mặt ở một số
nước ở Tây Phi (Gregory, PH., và Maddison, AC., 1981). Tuy nhiên, P.
megakarya có vẻ nguy hiểm hơn P. palmivora và đang trở thành loài ưu thế ở
Tây Phi, chuyển từ Nigeria và Cameroon sang các quốc gia chưa được báo cáo
trước đây. Trong khu vực trồng cacao chính của Bahia, Brazil, ba loài đã được
11


liên quan: P. palmivora, P. capsici và P. citrophthora (Kellam, MK., và
Zentmyer, GA., 1986; Lawrence, JS., Luz, EDMN., và Resnik, FCZ., 1982; Luz,
EDMN., và Campelo, AMFL., 1984). P. capsici dường như là loài ưu thế và
quan trọng nhất tấn công cacao ở Brazil, và cũng đã được báo cáo xảy ra ở các
nước khác ở Trung và Nam Mỹ, cũng như ở Tây Ấn, Indonesia và Ấn Độ
(Erwin, DC., và Ribeiro, OK. 1996). P. citrophthora là loài phổ biến nhất được
tìm thấy ở Brazil, nhưng là loài độc nhất (Kellam, MK., và Zentmyer, GA.,
1986; Luz, EDMN., và Campelo, AMFL., 1984). P. heveae Thompson cũng đã
được tìm thấy gây ra vỏ màu đen ở một số nước (Erwin, DC., và Ribeiro, OK.
1996) [18].
2.2.4 Nghiên cứu về phòng trừ bệnh thối đen quả ca cao
2.2.4.1

Kiểm dịch thực vật, vệ sinh vườn ươm và vườn kinh doanh

Theo Broadley 1992, kiểm dịch thực vật là biện pháp duy nhất ngăn chặn
sự xâm nhập của một vật gây bệnh mới vào trong một vùng. Ngăn chặn các
động vật vào bằng cách dựng hàng rào, giảm thiểu sự di chuyển của các phương
tiện xe cộ và sự đi lại của con người trong khu vườn, rửa sạch đất ở xe cộ, ủng,
và các dụng cụ trước khi đem vào trong vườn, chỉ trồng những cây không bị
bệnh và những cây có tính kháng bệnh, và làm chuyển hướng dòng nước chảy
từ các khu vườn lân cận. (Bekele, F., End, MJ. và Eskes AB., 2003) [12].
Tại các vườn ươm, các hỗn hợp làm bầu cây được hấp để tiêu diệt nguồn
bệnh Phytophthora và chỉ những nguồn cây không bị nhiễm bệnh Phytophthora
mới được sử dụng. Các khu vườn cũng cần được làm sạch không còn những
mảnh vụn cây trồng bị thối nát là những vật rất dễ bị nhiễm bệnh Phytophthora
(Broadley, 1992) [13].
2.2.4.2

Hệ thống thoát nước và tưới tiêu

Quản lý nguồn tưới và tiêu thoát nước đối với bệnh Phytophthora là biện
pháp quan trọng trong việc giảm thiểu tác hại của bệnh. Việc tưới quá nhiều và
mưa nhiều là nhân tố quan trọng nhất làm tăng mức độ gây hại và lây lan của
các bệnh do nấm Phytophthora. Thời gian dư thừa nước, trong đất hoặc trên tán
lá hoặc trên hoa quả lại là môi trường cho bệnh phát triển vì chính trong khoảng
thời gian đó các chồi mầm mới sinh sôi nảy nở và nhiễm bệnh (Erwin và
Ribeiro, 1996). Ngoài ra, các du động bào tử, các túi bào tử và các hậu bào tử di
chuyển được trong đất nhờ nước tưới, nước mưa chảy và đất trôi đi theo. Vì
vậy, cần phải xây dựng các vườn cây trên khu đất có hệ thống thoát nước tốt và

12


không bị ngập lụt, đất cần được rút hết nước sâu tới 1,5m. Tạo thành các ụ đất
xung quanh cây có thể làm tăng khả năng thoát nước (Broadley, 1992) [13][17].
2.2.4.3

Các kỹ thuật về giống

Mục tiêu của chương trình chọn giống ca cao hiện nay là chọn giống
năng suất, kháng sâu bệnh, đồng nhất và ổn định về sản lượng, dễ quản lý,
cải tiến các tính trạng chất lượng và ít tốn kém (Bekele và cộng sự, 2003)
[12].
Chọn giống kháng bệnh là biện pháp được chú trọng nhất hiện nay và
được coi là mang lại hiệu quả cao (Lass, 1987) nhằm phòng trừ bệnh
Phytophthora. Ở Ghana để phòng chống bệnh Phytophthora người ta đã có
nhiều chương trình nghiên cứu để tạo ra những giống kháng hoặc chống
chịu với bệnh thành công (Abdul-Karimu & Bosompem, 1994)[9].
2.2.4.4 Các kỹ thuật về phân bón

Theo Ebon (1978) đã nghiên cứu và đưa ra lượng phân bón trong hai năm
đầu tiên được khuyến cáo như trong bảng 1.1[16].
Bảng 2.2. Lượng phân bón cho ca cao mới trồng trong 2 năm đầu tiên
Lượng phân bón cho mỗi cây(g)

Tuổi cây
(tháng)

N

P2 O5

K2 O

1

6,4

6,4

6,4

4

8,5

8,5

8,5

8

8,5

8,5

8,5

12

12,8

12,8

12,8

18

17,0

17,0

17,0

24

27,3

27,3

38,5
(Nguồn: Ebon 1978)

Một số loại sầu riêng trồng ở vùng Bắc Queensland cho thấy việc sử dụng
quá nhiều phân vô cơ đã làm tăng bệnh hại trên cây ca cao do Phytophthora
palmivora gây ra, trong khi đó phân chuồng hoai và rác phủ cải thiện được tình
trạng sạch bệnh của cây. Nghiên cứu về những tác động của phân vô cơ lỏng và
phân gà ủ hoai đối với sự phát triển của bệnh do Phytophthora palmivora gây
hại cây ca cao và sầu riêng. Nghiên cứu kết luận rằng việc sử dụng phân gà hoai
giảm đáng kể tác hại và mức độ gây hại của bệnh so với việc sử dụng phân vô
13


cơ. Tỷ lệ cây giống sầu riêng (12 tháng tuổi) trồng trên đất có nhiễm P.
palmivora nhưng được bổ sung hỗn hợp phân gà hoai đã sống sót là 100% và
đồng thời nguồn bệnh trong đất đã bị mất đi (Aryantha, IP., Cross, R. và Guest,
DI.,2000) [9].
Việc bổ sung thêm phân gà nguyên chất hoặc phân gà đã pha trộn vào hỗn
hợp bầu đã làm giảm đáng kể P. cinnanomi và ngăn chặn sự phát triển của bệnh
trong các cây đậu con. Tất cả các phân hữu cơ đều làm tăng chất hữu cơ ở trong
đất, kích thích hoạt động sinh học và làm gia tăng số lượng các xạ khuẩn đối
kháng, vi khuẩn huỳnh quang và nấm (Aryantha, IP., Cross, R. và Guest,
DI.,2000) [9].
2.2.4.5

Bổ sung chất hữu cơ và phủ đất

Việc phủ đất giúp kích thích sự phát triển của rễ cây, làm tăng khả năng
hấp thu chất dinh dưỡng, làm giảm hiện tượng bay hơi các chất dinh dưỡng của
đất, làm tăng khả năng giữ đất và nước, làm giảm việc nước chảy trên bề mặt,
tạo điều kiện thoát nước tốt, ổn định nhiệt độ của đất và cung cấp một lượng
chất dinh dưỡng lớn cho các vi khuẩn trong đất. Bổ sung các chất hữu cơ như:
bột cỏ linh lăng, xơ bông, bột đậu tương, cây lúa mì, phân gà và phân u rê vào
đất giúp kích thích sự phát triển của rễ cây, làm tăng khả năng hấp thu chất dinh
dưỡng, giảm hiện tượng bay hơi của đất, tăng khả năng giữ đất và nước, giảm
việc nước chảy trên bề mặt, tạo điều kiện thoát nước tốt, ổn định nhiệt độ của
đất và cung cấp một lượng chất dinh dưỡng lớn cho các vi khuẩn trong đất. Các
chất hữu cơ phân huỷ giải phóng ra amoniac và các axit hữu cơ dễ bay hơi có
thể diệt bệnh Phytophthora và chất hữu cơ còn lại kích thích các vi sinh vật
cạnh tranh đối kháng trong đất, vì vậy việc cung cấp thường xuyên chất hữu cơ
cho vườn cây có khả năng hạn chế bệnh do nấm Phytophthora gây nên
(Aryantha, IP., Cross, R. và Guest, DI.,2000) [9].
2.2.4.6

Biện pháp sử dụng thuốc hoá học phòng trừ Phytophthora

- Thuốc Boóc đô
Hỗn hợp boóc đô đã được sử dụng thành công để phòng trừ rất nhiều bệnh
do các loài Phytophthora khác nhau gây ra. Thuốc có tác dụng với bệnh trên tán
lá, nhưng các thành phần hoạt tính của nó dễ gây độc đối với một vài loại cây
trồng và một số sinh vật phi mục đích. Ngoài ra, Thuốc Boóc đô là một hỗn hợp
giữa đồng sun phát với vôi, phải đọc kỹ hướng dẫn khi pha chế loại thuốc này,
vì pha sai thuốc dễ bị kết tủa không có khả năng phòng trừ bệnh. Tại các khu

14


vực nhiệt đới có lượng mưa cao, thì thuốc dễ bị rửa trôi (Erwin, DC. và
Ribeiro, OK., 1996) [17].
- Phosphonates
Nhóm hoạt chất này có khả năng trừ bệnh do nấm Phytophthora. Từ
“phosphonates” dùng để chỉ muối và các este của axit phosphoric đã giải phóng
ra các Anion phosphonates, dạng đặc trưng của phosphonates là Fosety-Al. Trên
thị trường hợp chất này được biết đến với tên thương mại là Aliette, đó là một
hỗn hợp muối nhôm của Phosphonate (Cohen và Coffey, 1986) [15].
Tính hiệu quả của các thuốc Phosphonates đối với các cây trồng hay các
loài Phytophthora thì khác nhau, có thể là do sự khác nhau về dạng hoặc mức
độ tự phòng vệ của các vật chủ (Guest và cộng sự, 1995). Mặc dù tác dụng
kháng nấm của Phosphonates không bị giới hạn chỉ ở các noãn bào tử, nhưng sự
thay đổi về hiệu quả kháng nấm đối với một số loài Phytophthora của hoạt chất
này vẫn không thể giải thích được. Chẳng hạn như, chất fosetyl-Al rất có tác
dụng đối với bệnh thối củ do Phytophthora infestans gây ra, nhưng lại vô hiệu
trong việc phòng chống bệnh rụng lá muộn ở khoai tây (Erwin, DC. và Ribeiro,
OK.,1996) [17] [20].
2.3 Giới thiệu về Phytophthora capsici
Phytophthora capsici lần đầu tiên được phát hiện bởi Leon H. Leonian
vào năm 1922 trên cây ớt (Leonian, LH., 1992). Hiện nay nó đang được coi là
một trong 10 loại thuộc lớp nấm trứng oomycete gây bệnh quan trọng nhất
trong bệnh lý thực vật (Kamoun, S. và cộng sự., 2015). Loại nấm bệnh này có
sự phân bố toàn cầu và có thể lây nhiễm hơn 45 loài thực vật bao gồm cả cây
trồng và các loài cỏ dại (Erwin, DC. và Ribeiro, OK., 1996) [].
Trong những năm gần đây P. capsici được mô tả lại để thích ứng với sinh
cảnh rộng hơn và bao gồm cả các isolate của P. palmivora MF4 gây bệnh đen
vỏ ở cây ca cao và bệnh chết héo ở cây hồ tiêu (Tsao, PH. và Alizadeh, A.,
1988; Tsao PH., 1991) và một các cây ký chủ khác (Mchau, GRA. và Coffey,
MD., 1991). Phân tích enzim của 84 thể phân lập thu thập từ mẫu bệnh trên
thế giới đã chỉ ra rằng P. capsici là loài gồm 3 nhóm phụ (Oudemans, P. và
Coffey, MD., 1991). Nhóm phụ thứ nhất gọi là CAP1, bao gồm phần lớn các
thể phân lập được từ các ký chủ là cây trồng một năm thuộc họ cà và bí và một
vài thể phân lập từ cây hồ tiêu và ca cao, trước đây các isolate này được xếp
vào nhóm P. palmivora MF4 (Kaosiri, T. và Zentmyer, GA., 1980). Nhóm phụ
thứ hai gọi là CAP2 bao gồm các thể phân lập từ phần lớn các cây như hồ tiêu,
ca cao, đu đủ, macadamia, cao su và các thể phân lập từ Hawaii thử nghiệm
15


bằng P. tropicalis bởi (Uchida, JI. và Aragaki, M.,1989; Aragaki, M. và
Uchida, JI., 1992). Nhóm phụ thứ ba là CAP3 bao gồm các thể phân lập từ ca
cao của Brazil. Theo Mchau và Coffey (1995) cho rằng, quần thể P. capsici có
hai nhóm phụ là CAPA và CAPB, mỗi nhóm phụ bao gồm các thể phân lập từ
các loài cây ký chủ khác nhau và cách ly địa lý. Tuy nhiên, trong mỗi nhóm
phụ cũng có sự khác nhau về hình thái. Hiện tại, P. capsici được sắp xếp vào
nhóm II trong khoá phân loại Phytophthora của (Stamps, DJ. và cộng sự,
1990) [4].
Tại Việt Nam việc ghi nhận Phytophthora capsici đầu tiên là trong năm 50
của thế kỷ 20 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu với 390 ha tiêu đen bị tàn phá (Ton, NT.,
Nam, TNT., Don, LD., Tri, MV., Hieu, NM. và Phuong, NB., 2005) [40].

Hình 2.2. Vị trí P. capsici trong cây phát sinh loài
(Nguồn: Stamps và cộng sự 1990)
Bảng 2.3. Các loài thực vật là phổ kí chủ của Phytophthora capsici
Tên khoa học

Tên
thường
gọi

Bệnh
hại

Trích dẫn

Abelmoschus esculentus
(L.) Moench.

Mướp tây

Thối rễ

Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967)
16


Allium cepa L.

Hành

Aloe sp.

Lô hội

Đài Loan (Leu và Kao
1981, Ho 1990)
Thối rễ

Anthurium andreanum
Linden

Đài Loan (Ho 1990)
Hawaii (Aragaki và
uchida 1980)

Brassica oleracea var.
botrytis L.

Cải hoa lơ

Thối rễ

Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967)

Bryonia dioica Jacq.

Nhăng

Thối rễ

Italia (Curzi 1927)

Capsicum annuum L.

Ớt chùm

Thối rễ
và quả,
thối
thân, …

Hoa Kỳ (Leonian
1922), Italia (Curzi
1927), Argentina
(Marchionatto 1938),
Venezuela (Katsura
và Tokura 1955),
Bolivia (Bell và
Alandia 1957), Tây
Ban Nha (Alfaro
Moreno và Vegh
1971), Iran (Ershad
1971), Đài Loan
(Chang 1978)

Thối rạp
cây con

Argentina (Godoy
1940), Hàn Quốc (Kim
và CTG 1975), Trung
Quốc (Ho

Capsicum annuum L.

Ớt chùm

và CTG 1983)

17


Bảng 2.3. Tiếp theo
Tên khoa học

Tên
thường
gọi

Capsicum annuum var.
Grossum
Carthamus tinctorius L.
Chenopodium
amaraticolor Coste and
Reyn.
Citrullus lanatus
(Thumb.) Matsum. và
Nakai
(C. vulgaris Schrad.)

Rum
nhuộm
Rau bina

Dưa hấu

Bệnh
hại

Trích dẫn

Thối rễ

Hoa Kỳ (Tompkins và
Tucker 1941)

Thối rễ

Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967)

Thối rễ

Thối nâu
trái, héo
lá…

Nhật Bản (Karsura và
Tokura 1954), Hoa Kỳ
(Kreutzer và CTG
1940), Argentina
(Pontis 1945), Italia
(Noviello và CTG
1977), Nhật Bản
(Kamjaipai và Ui
1978)

Citrullus Schrad. sp.

Dưa

Citrus spp.

Chanh

Thối rễ

Hoa Kỳ (Wiant và
Tucker 1940)

Cosmos Cav. sp.

Cúc
chuồn
chuồn

Chưa rõ
triệu

Đài Loan (Ho 1990)

Crataegus oxyacantha L.

Đào gai

Thối trái

Italia (Curzi 1927)

Cucumis

Dưa mật

Thối trái

Hoa Kỳ (Tompkins và
Tucker 1937)

melo

idonorus Naud.

var.

Thối cổ
rễ

Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967)

Pháp (Clerjeau 0973),
Tây Ban Nha (TusetBarrachina

chứng

18


Bảng 2.3. Tiếp theo
Tên khoa học

Tên
thường
gọi

Bệnh
hại

Trích dẫn

Cucumis sativus L.

Dưa leo

Thối trái

Hoa Kỳ (Kreutzer và
cs 1940), Hàn Quốc
(Kim và CTG 1975),
Đài Loan (Ho 1990)

Bí

Héo và
thối gốc
thân

Hoa Kỳ (Kreutzer và
CTG 1940), Argentina
(Pontis 1945), Italia
(Novieo và CTG
1977), Nhật Bản
(Kamjaipai và Ui
1978)

Cucurbita maxima Dene.

Cucurbita
var.
pepo Condens
BaileyL.

Bí ngô

Thối lá
và thân

Hoa Kỳ (Tucker 1936)

Datura stromonium L.

Cà độc
dược

Héo

Italia (Curzi 1927)

Daucus carota L. sativa
DC

Cà rốt

Thối rễ

Hoa Kỳ (Tompkins và
Tucker 1941)

Dianthus barbathus L.

Cẩm
chướng

Chưa rõ
triệu
chứng

Đài Loan (Lue và Kao
1981, Ho 1990)

Diospyros kaki L.

Hồng
vàng

Enkianthu quinquefolius
Lour.

Thối
quả

Italia (Curzi 1927)

Chưa
rõ triệu
chứng

Đài Loan (Lue và Kao
1981, Ho 1990)

Ficus carica L.

Vả

Thối
quả

Nhật Bản (Karsura và
Tokura 1955)

Gossypium hirsutum L.

Bông vải

Thối rễ

Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967; Garber và
CTG 1986)

19


Tên khoa học
Hevea brasiliensis
(H.B.K.) Mull và
Bompl.

Leucospermum R. Br.
Vicia faba L.
Linum sp.

Bảng 2.3. Tiếp theo
Tên
Bệnh hại
thường
gọi
Cao su
Thối
quả,
rụng lá,
khô cành
và thối
rễ
Tai lừa
Thối thân
và rễ
Đậu răng
ngựa
Lanh

Thối rễ
Thối rễ

Lycopersicon
esculentum Mill.

Cà chua

Macadamia integrifolia
Maiden and Betche

Cây
Macadami
a

Cháy
cành

Macadamia ternifolia
Muell.

Cây
Macadami
a
Táo tây

Cháy
cành

Cỏ linh
lăng
Thuốc lá

Thối rễ

Malus pumila Mill.
Medicago sativa L.
Nicotiana glutinosa L.

Thối quả,
thối rễ và
chồi,

Thối quả

Thối rễ

Trích dẫn
Liyanage NIS, Wheeler
BEJ (1989)

Hoa Kỳ (Hawaii)
(Aragaki và uchida
1979)
Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967)
Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967)
Hoa Kỳ (Kreutzer và
ctv 1940),Venezuela
(Katsura và Tokura
1950), Nhật Bản
(Karsura và Tokura
1955), Hàn Quốc
(Kim và CTG 1978),
Đài Loan (Ho 1990)
Hoa Kỳ (Hawaii)
(Hunter và ctv 1971;
Kunimoto
và CTG 1976)
Hoa Kỳ (Hawaii)
(Kunimoto và CTG
1976)
Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967)
Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967)
Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1937), Đài Loan
(Ho1990)

20


Bảng 2.3. Tiếp theo
Tên khoa học

Tên
thường
gọi

Bệnh
hại

Trích dẫn

Opuntia ficus-indica
Mill.

Đa lá tròn

Thối
cành

Italia (Curzi 1927)

Persea americana Mill.

Lê tàu

Thối rễ

Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1937)

Phaseolus sp.

Đậu

Phaseolus lunatus L.

Đậu bơ

Thối rễ

Argentina (Frezzi 1950)

Piper betle L.

Trầu
không

Thối rễ

Thái Lan (Tsao và
Tummakate 1977), Đài
Loan (Ho

Đài Loan (Ho 1990)

1990)
Piper nigrum L.

Hồ Tiêu

Thối rễ

Thái Lan (Tsao và
Tummakate 1977),
Indonesia (Tsao
và CTG 1985), Ấn Độ
(Sarma 1991)

Pisum sativum L.

Đậu

Thối rễ

Hoa Kỳ (Critopoulos
1955)

Prunus persica (L.)
Batsch

Hạnh đào

Héo cây
con,
loét
thân

Hoa Kỳ (Tompkins và
Tucker 1937)

Raphanus sativus L.

Cải củ

Thối rễ

Hoa Kỳ (Satour và
Butler 1967)

Thối
quả

Italia (Curzi 1927)

Solanum marginatum L.
Solanum melongena L.
var.
Esculentum Nees

Cà tím

Thối
quả,

Italia (Curzi 1927;
Tompkins và Tucker
1941); Argentina
(Frezzi 1950);
Venezuela (Pontis và
Rodriguez 1953); Nhật
bản (Katsura 1958)

21


Bảng 2.3. Tiếp theo
Tên khoa
học

Tên
thường
gọi

Theobroma
cacao L.

Ca cao

Vanilla
planifolia
Andr.

Va-ni-la

Bện
h
hại
Đen
vỏ

Thối
rễ

Trích dẫn

Brazil và Cameroun (Zentmyer và CTG
1977); Cameroun (Griffin 1977); Brazil
(Brasier và Medeiros 1978)
Pháp (Mu và Tsao 1987; Tsao và Mu
1987)
(Nguồn: Nguyễn Vĩnh Trường, 2013)

2.3.1 Đặc điểm của Phytophthora capsici
2.3.1.1 Đặc tính hình thái
- Sợi nấm không màu, không có vách ngăn. Phytophthora capsici mọc ở 10
đến 36 ° C (50 đến 97 ° F), với nhiệt độ tối ưu từ 24 đến 33 ° C (75-91 ° F). Tác
nhân gây bệnh này phát triển nhanh chóng trên thạch lima đậu, và đường kính
thuộc địa có thể đạt tới 8 cm (3 in.) Trong 5 ngày. Các mô hình tăng trưởng của
các khuẩn lạc có thể thay đổi từ bông vải, bông hồng, hình ngôi sao (Stamps,
D.J. 1985) [10]
2.3.1.2

Sinh sản vô tính

Sinh sản vô tính của chúng là sợi nấm phát sinh ra cành mang bọc bào tử,
bên trong chứa bào tử động, khi được phóng thích sẽ bơi trong nước đến xâm
nhiễm vào cây trồng. Sợi nấm cũng có thể được phân hóa ra bào tử hậu có vách
dày có sức sống cao (Nguyễn Vĩnh Trường, 2013) [6].
Bọc bào tử (sporangia)
-

-

Phần lớn bào tử chủ yếu là papillate, nhưng trong một số trường hợp, chúng xuất
hiện là semipapillate (độ dày đỉnh từ 1,4 đến 9,2 µm). Thỉnh thoảng bọc bào tử
có hai hoặc ba đỉnh (apices). Hình dạng bọc bào tử chịu ảnh hưởng của ánh sáng
và các điều kiện sinh thái khác (Tsao và Alizadeh 1988; Tsao 1991) và nằm
trong phạm vi từ hình cầu, hình trứng, obovoid, ellipsoid, fusiform, pyriform,
đến hình dạng méo [17].
Bọc bào tử chủ yếu nhỏ dần về chân đế và có nhiều cuống dài với độ dài từ 35
đến 138 µm (Mchau và Coffey 1995). Tỷ lệ chiều dài chiều rộng trong các báo
cáo khác nhau là 1,70: 1 (Frezzi 1950); 1,72: 1 (Ershad 1971); 1,57 đến 2,19,
trung bình 1,76: 1 trong thạch và 1,52 đến 2,10, trung bình 1,73: 1 trong nước
22


(Kröber 1985); trong ánh sáng 1,73 và trong bóng tối 1,27 (Tsao và Alizadeh
1988); và 1,4 đến 1,8 (khoảng 24 chủng được ủ trong nước dưới ánh sáng)
(Ristaino 1990). Kích thước (chiều rộng chiều dài) thay đổi từ 32,8 đến 65,8
17,4 đến 38,7 µm. Tỷ lệ bề rộng chiều dài thay đổi từ 1,3: 1 đến 2,1: 1. Hạt tiêu
đen và ca cao (tỷ lệ bề rộng chiều dài thay đổi từ 1,3: 1 đến 2,1: 1 (Erwin và
Ribeiro 1996) [17].
Bào tử hậu (Chlamydospores)
-

-

2.3.1.2

Bào tử hậu của P. capsici phân lập từ hạt tiêu (C. annuum) rất hiếm (Tucker
1931). Phân lập từ hạt tiêu hoặc bí ngô không hình thành bào tử hậu (Ristaino
1990); Tuy nhiên, bào tử hậu đã được báo cáo từ một số phân lập trên hạt tiêu từ
Iran (Ershad 1971). Bào tử hậu có nhiều trong phân lập từ hạt tiêu đen, ca cao và
macadamia (Alizadeh và Tsao 1985b; Uchida và Aragaki 1985; Tsao 1991)
[17].
Bào tử hậu có đường kính từ 28 đến 29 µm với độ dày từ 2,4 đến 2,7 µm với
vách dày từ 1,0 đến 1,5 µm (Tsao 1991). Khi tản nấm được nuôi trong 5 ngày
trên nước V8 đã được làm trung hòa với calcium carbonate và sau đó được
ngâm trong nước cất vô trùng trong 4 đến 8 tuần và ủ trong bóng tối, 20 trong số
29 chủng phân lập P. capsici sản xuất được bào tử hậu; tuy nhiên, các chủng
phân lập từ các cây họ cà, ngoại trừ ba chủng phân lập từ cà tím, không tạo ra
bào tử hậu (Uchida và Aragaki 1985) [17].
Sinh sản hữu tính
- Hình thức sinh sản hữu tính đóng vai trò quan trọng trong vòng đời của
Phytophthora. Sinh sản hữu tính cho phép kết hợp lại những cặp gen tương ứng
ở trường hợp của những loài Phytophthora mang tính dị tản. Bào tử trứng có thể
hoạt động như một cấu trúc cho phép tồn tại trong một thời gian dài khi không
có sự hiện diện của cây ký chủ và có thể duy trì sự nhiễm bệnh vào mô cây chủ
trong điều kiện khí hậu nóng và khô [4].
- Quá trình sinh sản hữu tính Phytophthora liên quan đến sự hình thành bao
cái (Oogonium) và bao đực (Antheridium), cả hai cơ quan này được tạo ra từ
đỉnh sợi nấm khi có sự tiếp xúc của hai sợi nấm đối nghịch về giới tính. Sự dung
hợp của bao cái và bao đực sẽ tạo ra bào từ noãn, hay là bào tử trứng, trên cơ sở
có sự trao đổi về vật chất di truyền của hai cơ quan sinh sản khác giới. Ngoài ra,
bào tử noãn nằm bên trong bao cái có vách dày, là cơ quan bảo tồn của
Phytophthora trong các điều kiện bất lợi (ví dụ qua đông và qua hè). Kueh và
Khew (1982) cho biết bào tử trứng P. capsici có thể sống trong hệ tiêu hóa của
ốc sên, và ốc sên là động vật có thể phát tán bào tử trứng theo phân của chúng.
23


P. capsici được biết đến là sinh sản hữu tính theo kiểu dị tản (heterothalic), tính
dị tản A1 và A2 cũng được phát hiện ở nhiều nước trồng tiêu như Indonesia, Ấn
Độ, Malai và Thái Lan. Theo Monohara (2004) thì các isolate A1 có tính độc lớn
hơn nhiều so với isolate A2. Sự hình thành bào tử trứng của Phytophthora bị tác
động bởi các yếu tố môi trường khác nhau như là ánh sáng và nhiệt độ. Ánh
sáng kìm hãm sự hình thành của bào tử trứng nhưng lại kích thích bọc bào tử
(sporangia) hình thành (Harnish, 1965 và Brasier, 1969). Sản xuất bào tử trứng
cũng bị ảnh hưởng bởi ánh sáng, nhiệt độ, enzyme và hóa chất (Ribero, 1983).
Bào tử trứng rất quan trọng trong dịch tể học thực vật và là mầm bệnh của
Phytophthora bởi vì chúng có khả năng tồn tại trong những điều kiện môi
trường khắc nghiệt. Bào tử trứng cũng là một giai đoạn hay là một thời kỳ mà
gen tái tổ hợp được tìm thấy, nó có thể tạo ra một cá thể mới với khả năng gây
bệnh mạnh hơn bố mẹ của nó (Hausbeck và Lamour 2004) [4].
2.3.2

Chu kì bệnh

P.capsici là tác nhân gây bệnh đa chu kì có nguồn gốc từ đất. Các tác nhân
gây bệnh cho phép nó lây lan trên các loại cây trồng như là bào tử hoặc sợi nấm
trong mô bị nhiễm bệnh. Bào tử trứng có vách dày là hình thức sinh sản hữu
tính được hình thành khi sợi nấm của hai loại giao phối ngược lại (tương tự như
đực và cái) cùng nhau phát triển. Bào tử trứng có khả năng chốn chịu khô hạn,
nhiệt độ lạnh và môi trường khắc nghiệt khác và có thể tồn tại trong đất khi
không có cây chủ trong nhiều năm. Một khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi,
bào tử trứng nảy mầm sản xuất ra bọc bào tử và bào tử động (bào tử vô tính).
Lượng mưa, độ bão hòa đất và nhiệt độ từ 24 0C đến 290C là cần thiết cho sự
phát triển của P. capsici. Bào tử động được giải phóng và bơi lội trong nước tìm
cách tiếp xúc và lây nhiễm với mô chủ. Sau khi xâm nhiễm, tổn thương được
hình thành ở gốc cây gần đường đất. Bọc bào tử được sản xuất trên bề mặt tổn
thương và lây lan theo nước mưa bắn tung tóe. Khi lây nhiễm trên một cây tiêu,
bào tử phát hành bắt đầu xâm nhiễm. Quá trình sản xuất và lây lan của sporangia
được lặp đi lặp lại trong suốt mùa vụ. Thực vật cuối cùng chết và bào tử hình
thành trong các mô tổn thương được giải phóng vào đất khi cây bị phân hủy.
Bào tử trứng sẽ tồn tại trong đất cho đến khi một cây trồng mẫn cảm khác được
trồng [10].
- Đã có một vài báo cáo về sự bảo tồn và cư trú của P. capsici Leonian. P.
capsici có thể tồn tại khoảng 5 tháng ở trong đất ẩm và sợi nấm vẫn có khả năng
xâm nhiễm gây bệnh. P. capsici tồn tại ở điều kiện ngoài trời qua mùa đông bình
thường chỉ trong một năm. Nhưng sự phát tán phụ thuộc vào số lượng và dạng
24


tồn tại được của tác nhân gây bệnh. Bào tử trứng có khả năng xâm nhiễm trong
khoảng 6 – 10 tháng trong điều kiện đồng ruộng ở Mexico nhưng sợi nấm thì
không có khă năng xâm nhiễm. Từ đó có thể kết luận tác nhân gây bệnh P.
capsici tồn tại từ một năm sang năm tiếp theo bằng bào tử trứng. Tuy nhiên sự
tồn tại không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc vào tác động của
điều kiện môi trường ở trên đồng ruộng. Những nghiên cứu ở Brazil đã xác định
ảnh hưởng của ẩm độ và độ sâu của đất đối với sự tồn tại và phát tán của P.
capsici. Bào tử động không thể tìm thấy sau 60 ngày từ 3 mẫu đất xác định bằng
phương pháp bẫy bào tử bằng lá và P. capsici không thể tồn tại, phát tán xâm
nhiễm vào mô thực vật sau khi nằm trong đất 120 ngày. Ở nghiên cứu khác, xác
định bằng thử nghiệm bào tử trứng tồn dư ở trong đất tồn tại được 210 – 240
ngày (Bowers, Papavizas và Johnston, 1990) [4].
- Điều kiện độ ẩm đất rất quan trọng đối với sự phát triển của bệnh. Bọc
bào tử hình thành khi các lỗ chân không trong đất thoát ra, và chúng giải phóng
các bào tử khi đất bị bão hòa (các lỗ chân lông đất chứa đầy nước). Bệnh thường
liên quan đến lượng mưa lớn, tưới tiêu quá mức, hoặc đất thoát nước kém. Thủy
lợi thường xuyên làm tăng tỷ lệ mắc bệnh Điều kiện ấm áp thuận lợi cho phát
triển bệnh (Babadoost, M., 2005). Nhiệt độ thấp nhất đối với sinh trưởng của P.
capsici là 100C, thích hợp nhất là 280C và lớn nhất là trên 350C (Stamps, DJ.,
1985) [10] [17].

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×