Tải bản đầy đủ

Đề tài phân tích tác dộng của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà chính phủ việt nam sử dụng trong thời gian qua

NHÓM 4 - LỚP K8CK7B

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................................2
Chương I: Một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường..........................1
1.1

Khái niệm và các chính sách tiền tệ............................................................................................1

1.1.1 Khái niệm.....................................................................................................................................1
1.1.2 Mục tiêu.......................................................................................................................................1
1.2

Công cụ của chính sách tiền tệ....................................................................................................1

1.2.1.Nghiệp vụ thị trường mở.............................................................................................................1
1.2.2 Dự trữ bắt buộc............................................................................................................................2
1.2.3 Chính sách tái chiết khấu............................................................................................................2
1.2.4 Quản lý hạn mức tín dụng..........................................................................................................2
1.2.5 Quản lý lãi suất............................................................................................................................3
Chương 2: Tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ ở Việt Nam..............................4

2.1 Điều hành chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát các năm qua......................................................4
2.1.1. Giai đoạn năm 2008:...................................................................................................................4
2.1.2. Giai đoạn năm 2009:...................................................................................................................5
2.1.3. Giai đoạn năm 2010:...................................................................................................................7
2.1.4. Giai đoạn năm 2011:...................................................................................................................9
2.1.5. Giai đoạn năm 2012:.................................................................................................................10
2.2 Các chính sách tiền tệ ở Việt Nam................................................................................................11
2.2.1. Công cụ lãi suất:........................................................................................................................11
2.2.2. Dự trữ bắt buộc.........................................................................................................................12
2.2.3. Nghiệp vụ thị trường mở..........................................................................................................13
2.2.4. Hạn mức tín dụng.....................................................................................................................14
2.2.5. Lãi vay tái chiết khấu................................................................................................................14
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam........15
3.1. Định hướng cơ bản......................................................................................................................15
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền tệ..................................................................15
3.2.1 Nhằm tạo điều kiện thuận lợi....................................................................................................15
3.2.2 Hoàn thiện các chính sách tiền tệ...............................................................................................15
KẾT LUẬN..........................................................................................................................................1


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B

Đề tài: Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách
tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng trong thời gian qua.

LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước
trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm,
tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng
các công cụ của nó có vai trò cơ bản và quyết định.
Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó
đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế. Có thể nói,
trong chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước thì chính sách tiền tệ (CSTT) của ngân hàng trung
ương (NHTW) đóng vai trò rất quan trọng. Do nắm trong tay các công cụ để điều tiết khối lượng
tiền tệ trong lưu thông mà qua đó có thể tác động đến hầu hết mọi hoạt động kinh tế xã hội và
ảnh hưởng trực tiếp tới sự cân bằng ngân sách nhà nước (NSNN), cán cân thanh toán quốc tế và
sự ổn định của nền kinh tế quốc gia.
Trong nền kinh tế phát triển nhanh của nước ta hiện nay luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát
cao, do đó một công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như CSTT được tận dụng trước tiên với hiệu
suất cao cũng là điều tất yếu. Việc sử dụng CSTT như thế nào và hướng mục tiêu của CSTT ra


sao là một trong những vấn đề rất quan trọng mà NHTW cần hướng tới và những tác động của
CSTT ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta hiện nay.


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B

Chương I: Một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ trong
nền kinh tế thị trường
1.1 Khái niệm và các chính sách tiền tệ.
1.1.1 Khái niệm
Chính sách tiền tệ ( CSTT) là hệ thống các giải pháp và công cụ quản lý vi mô của nhà nước
về tiền do NHTW khởi thảo và thực thi nhằm ổn định giá trị đồng tiền hướng đến nền kinh tế đến
sản lượng và việc làm mong muốn.
1.1.2 Mục tiêu.
- Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc
hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định,
đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng. Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả
hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà.
- Ổn định giá cả: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng
tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của
đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng
tiền nước mình so với ngoại tệ).
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng
có hiệu qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất
nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát
tăng lên.
- Cân bằng cán cân hệ thống quốc tế: Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh địa vị kinh tế
của một quốc gia trên trường quốc tế. Địa vị này là kết quả tổng hợp của các hoạt động thương
mại, dịch vụ và các chính sách rút vốn ra khỏi nước khác.
1.2 Công cụ của chính sách tiền tệ.
1.2.1.Nghiệp vụ thị trường mở.
Khái niệm: Nghiệp vụ thị trường mở là thị trường tiền tệ của NHTW được sử dụng để
mua bán trái phiếu kho bạc nhà nước.
Cơ chế tác động: Khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho cơ số tiền tệ tăng
lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi). Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và
các NHTM thì hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ), nếu bao
gồm cả công chúng thì nó sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông (C).
Ưu điểm :
Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là một công cụ rất năng động,
hiệu quả, chính xác của CSTT. Ít tốn kém về chi phí nên ít gây xáo trộn của thị trường tiền tệ.
Nhược điểm:
Không thể phát huy nếu thị trường tiền tệ chưa phát triển.

1


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
1.2.2 Dự trữ bắt buộc.
Khái niệm: Dự trữ bắt buộc là lượng tiền mặt mà các NHTW phải ký gửi vào quỹ dự trữ
của NHTW.
Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền
tệ m trong cơ chế tạo tiền của các NHTM. Khi tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho
vay của các NHTM giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm) làm cho lượng cung ứng
tiền giảm (tăng).
Ưu điểm:
Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúp NHTW chủ động trong việc
điều chỉnh lượng tiền cung ứng.
Nhược điểm:
Gây xáo trộn hoạt động của NHTM.
1.2.3 Chính sách tái chiết khấu.
Khái niệm: Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối với các
NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu (đối với
thương phiếu) và hạn mức cho vay tái chiết khấu (cửa sổ chiết khấu).
Cơ chế tác động: Khi NHTW tăng (giảm) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế (khuyến
khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho vay của các NHTM giảm
(tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm (tăng). Mặt khác khi NHTW muốn
hạn chế NHTM vay chiết khấu của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại.
Ưu điểm:
Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối
với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanh toán. Công cụ này có thế kiểm soát
được hoạt động tín dụng của các NHTM đồng thời có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu
tư đối với nền kinh tế thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể.
Nhược điểm:
Hiệu qủa của cộng cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho vay của các NHTM, do vậy
khó điều tiết mức cung tiền.
1.2.4 Quản lý hạn mức tín dụng.
Khái niệm: là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không đươc vượt
quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền
của mình. Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh
tế vĩ mô sau đó các NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay quá hạn
mức do NHTW quy định.
Cơ chế tác động: Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp với lượng tiền cung
ứng, việc qui định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều
với qui mô lượng tiền cung ứng của NHTM.

2


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
Ưu điểm:
NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém
hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỉ
lệ lạm phát cao của nền kinh tế.
Nhược điểm:
Triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nền
kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW và kìm hãm nhu
cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên.
1.2.5 Quản lý lãi suất.
Khái niệm : NHTW ra một khung lãi suất hoặc ấn định một trần lãi suất cho vay để
hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của
nền kinh tế và NHTW có thể đạt mức cung tiền của mình.
Cơ chế tác động : việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng
trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi
theo.
Ưu điểm:
Giúp cho NHTW quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời kỳ, điều này
phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.
Nhược điểm:
Làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế. Việc thay đổi qui định điều
chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình.

3


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B

Chương 2: Tác động của một số biện pháp thuộc chính sách
tiền tệ ở Việt Nam
2.1 Điều hành chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát các năm qua.
2.1.1. Giai đoạn năm 2008:
1. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực cho vay có rủi ro cao
như đầu tư kinh doanh chứng khoán, bất động sản thông qua việc:
- Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay, chiết khấu
giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán không được vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ
chức tín dụng.
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay
bất động sản ở mức hợp lý so với tổng dư nợ và nguồn vốn cho vay.
- Ban hành mới cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng theo hướng chặt chẽ
hơn nhằm hạn chế cho vay đối với nhu cầu không nhất thiết phải sử dụng vốn ngoại tệ.
2. Sử dụng các công cụ của CSTT như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc (DTBB), thị trường mở để
điều tiết lượng vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM) và từ đó tác động lên khả
năng cung vốn ngân hàng ra thị trường theo mục đích đặt ra và thu hút mạnh tiền từ lưu thông
về, cụ thể:
- Tăng tỷ lệ DTBB (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các TCTD
hoạt động trên địa bàn nông thôn).
- Tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường mở và phát hành 20.300 tỷ
đồng tín phiếu bắt buộc đối với các TCTD có quy mô vốn huy động bằng VND trên 1.000 tỷ
đồng (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương).
- 6 tháng đầu năm 2008, NHNN đã 2 lần thay đổi các lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn,
lãi suất chiết khấu theo hướng tăng lên. Điều này được thực hiện nhằm tạo hành lang lãi suất phù
hợp với định hướng kiểm soát tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng và từng bước đảm bảo lãi suất
thực dương cho người gửi tiền, cụ thể :
+ Tăng lần 1: lãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 13%/năm, lãi suất
chiết khấu lên 11%/năm.
+ Tăng lần 2: Lãi suất cơ bản lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 15%/năm, lãi suất
chiết khấu lên 13%/năm.
Việc áp dụng đồng bộ, linh hoạt các giải pháp trên đã góp phần đưa các chỉ tiêu tiền tệ
biến động theo định hướng đề ra: (i) Tổng phương tiện thanh toán được kiểm soát ở mức thấp;
(ii) Tốc độ tăng trưởng đầu tư cho nền kinh tế chậm dần, từ đó tác động kiềm chế mức tăng tổng
cầu và giá tiêu dùng.
Lạm phát tuy có xu hướng giảm dần, nhưng vẫn ở mức cao và xu hướng giảm chưa rõ
nét, chưa ổn định (CPI các tháng là: tháng 1: 2,38%; tháng 2: 3,56%; tháng 3: 2,99%; tháng 4:
2,2%; tháng 5: 3,91%; tháng 6:2,14%; tháng 7: 1,13%; tháng 8:1,56%; tháng 9: 0,18%), trong

4


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
khi đó thì tăng trưởng kinh tế đã có sự suy giảm mạnh so với năm 2007 (6 tháng đầu năm 2008
tăng trưởng đạt 6,5%, giảm so với mức 7,9% cùng kỳ năm trước, giá trị sản suất công nghiệp 8
tháng đầu năm 2008 tăng 16,3%, giảm so với mức 17,1% của 8 tháng 2007). Tình hình này đòi
hỏi ngân hàng phải có những bước đi thận trọng nhằm tiếp tục kiểm soát lạm phát nhưng đồng
thời cũng góp phần tăng đầu tư sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Trong
bối cảnh này, NHNN đã thực hiện một loạt các giải pháp sau:
- Đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản từ 14%/năm xuống 13%/năm, 12%/năm,
10%/năm và 8,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm, 11%/năm
và 9,5%/năm; lãi suất chiết khấu từ 13%/năm xuống 12%/năm, 11%/năm, 9%/năm và 7,5%/năm,
lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt
trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng thương mại từ 15%/năm xuống
14%/năm, 13%/năm, 11%/năm và 9,5%/năm.
- Đã tăng lãi suất tiền gửi DTBB bằng đồng Việt Nam đối với các TCTD từ 5%/năm lên
10%/năm và giảm 1% tỷ lệ DTBB đối với tiền nội tệ và 2% tỷ lệ DTBB tiền gửi ngoại tệ áp
dụng cho các TCTD. Tiếp đến tháng 11 giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc xuống 7 % và hạ tỷ
lệ dự trữ bắt buộc xuống còn mức 5% đối với Việt Nam đồng.
- Thực hiện thanh toán trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN dưới hình thức bắt
buộc phát hành ngày 17/3/2008. Thực hiện trả trước hạn tín phiếu này theo yêu cầu của các
TCTD kể từ ngày 21/10/2008.
- Các động thái nới lỏng CSTT hơn mức đầu năm vào những tháng cuối năm 2008 là
nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế có thể xẩy ra trong năm 2009.
- Ngày 6/11/2008, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 2635/QĐ-NHNN cho
phép các TCTD được phép hoạt động ngoại hối ấn định tỷ giá mua, bán giao ngay giữa VND và
USD trong biên độ 3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tăng 1% so với mức 2%.
Như vậy, trong năm 2008, NHNN đã tập trung vào 2 mục tiêu chủ yếu là kiểm soát tổng
phương tiện thanh toán ở mức hợp lý và kiểm soát dư nợ tín dụng và tính đến hết tháng 10/ 2008
các chỉ tiêu này lần lượt đạt là 10,59% (cùng kỳ năm ngoái tăng 32%) và 19,6% (cùng kỳ năm
ngoái tăng 37%). Từ việc kiểm soát 2 chỉ tiêu chủ yếu này, NHNN đã rút về một lượng lớn tiền
mặt khỏi lưu thông và từ đó giảm bớt áp lực của sự tăng lạm phát. Việc rút bớt một lượng tiền
mặt khỏi lưu thông được thực hiện thông qua việc siết chặt các khoản vay không hiệu quả để tập
trung tăng trưởng tín dụng cho sản xuất, xuất khẩu, cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông
thôn, cho hộ chính sách và đặc biệt là đối với các dự án dang dở có hiệu quả phải đầu tư nhanh
để phát huy hiệu quả. Đồng thời NHNN đã linh hoạt kịp thời nới lỏng CSTT bằng cách hạ lãi
suất cơ bản, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc…
2.1.2. Giai đoạn năm 2009:
Một năm mà chính sách tiền tệ (CSTT) đã phải đối mặt với nhiều thách thức khó lường
phát sinh từ những bất cập của nền kinh tế và tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế. Nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy, lạm phát cao năm 2008, cùng với sự
đảo chiều của vốn đầu tư nước ngoài và thâm hụt mạnh cán cân thương mại (12,783 tỷ USD) đã

5


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
có tác động mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư trên thị trường ngoại hối, gây những biến động khó
lường đến tỷ giá. Thêm vào đó, giải pháp hỗ trợ lãi suất có tác động tích cực hỗ trợ doanh nghiệp
phục hồi sản xuất, làm khởi sắc TTCK, bất động sản và thị trường tín dụng, nhưng cũng gây sức
ép tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, tín dụng tăng trưởng cao và áp lực giảm giá VND.
Năm 2009 – Khó khăn đã vượt qua
Trước những tác động bất lợi như vậy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực thi CSTT
một cách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường. NHNN
đã hạ thấp lãi suất chỉ đạo từ 14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%. .
Thị trường tiền tệ từng bước được bình ổn, tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối
có những diễn biến không thuận lợi. Do áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại
rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ.
Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và việc điều
chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển
sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu
ngoại tệ trở nên căng thẳng.
Để tăng nguồn cung và ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN đã triển khai quyết liệt nhiều
giải pháp như mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND của các ngân hàng thương mại
từ +/-3% lên +/-5% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng cùng phối hợp với các biện pháp điều
tiết cung cầu ngoại tệ trên thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng
thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống; điều hòa ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trên
ngân hàng.
Các biện pháp chấn chỉnh hoạt động ngoại hối cũng được tăng cường như phối hợp với
các bộ, ngành kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các hành vi quảng cáo, niêm yết giá hàng hóa bằng
ngoại tệ, mua, bán ngoại tệ trái phép; tăng cường kiểm tra hoạt động mua bán ngoại tệ của các
ngân hàng thương mại và hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ, xử lý nghiêm các vi phạm.
Đặc biệt, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh
nghiệp và người dân như đẩy mạnh công tác tuyên truyền và công bố công khai, rộng rãi các
thông tin về tình hình ngoại hối, tỷ giá; yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và
huy động bằng ngoại tệ (lãi suất cho vay giảm từ mức 6 - 6,5%/năm xuống không quá 4%/năm
kể từ ngày 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức không quá 3%/năm kể từ ngày 01/6/2009, lãi suất
huy động giảm xuống mức không quá l,5%/năm kể từ ngày 01/6/2009)
Đồng thời đề nghị Hiệp hội Ngân hàng yêu cầu các NHTM cổ phần đồng thuận giảm lãi
suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ như các NHTM nhà nước kể từ ngày 8/6/2009. Các biện
pháp trên đã có tác động giảm áp lực thiếu cung ngoại tệ trên thị trường, giữ được thị trường ổn
định.
Tuy nhiên, diễn biến kinh tế những tháng cuối năm vẫn tiếp tục là thách thức cho thực thi
CSTT như thâm hụt cán cân thương mại không được cải thiện mà vẫn tiếp tục gia tăng (theo số
liệu của Tổng cục Hải quan 11 tháng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 113,6 tỷ USD,

6


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó, xuất khẩu là 51,33 tỷ USD, giảm 11,5% và nhập
khẩu là 62,28 tỷ USD, giảm 17%.
Cán cân thương mại hàng hóa 11 tháng thâm hụt 10,95 tỷ USD bằng 21,3% xuất khẩu),
nguồn bù đắp cho thâm hụt này suy giảm như nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm sút mạnh
so với năm 2008, đầu tư gián tiếp nước ngoài không tăng mà còn giảm; nguồn kiều hối cũng
giảm do khủng hoảng kinh tế toàn cầu... do vậy dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán, tình hình
này tiếp tục gây bất lợi cho việc ổn định tỷ giá.
Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009 mức thâm hụt ngân sách ở mức
6,5% GDP buộc ngân sách phải vay nợ nhiều, qua đó mà gây áp lực giảm giá VND. Trên thị
trường tiền tệ xuất hiện những hiện tượng bất cập, mâu thuẫn nhau: Tốc độ tăng trưởng tín dụng
cao, nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, VND vẫn khan hiếm. Sự khan
hiếm tiền đồng về mặt lý thuyết là làm cho VND lên giá. Nhưng chính sách điều tiết vĩ mô thì lãi
suất lại thấp (lãi suất cho vay hỗ trợ, trần lãi suất cho vay...) gây áp lực giảm giá VND, đồng thời
kích thích nhu cầu sử dụng tiền đồng, tăng nhu cầu tín dụng, gây ra vòng xoáy khan hiếm tiền
đồng, gây áp lực cho NHNN phải cung ứng thêm tiền đồng. Điều này tiếp tục gây áp lực giảm
giá VND. Đồng thời, sự biến động mạnh của giá vàng cũng có những tác động bất lợi đến tỷ giá.
Trước tình hình này, ngày 26/11, NHNN đã kịp thời điều chỉnh tỷ giá, nâng tỷ giá công
bố lên 17.980 đồng/usd, tăng 5,4% so với ngày trước đó, thu hẹp biên độ tỷ giá từ +/-5% xuống
còn +/-3%, đồng thời yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm biên độ tỷ giá.
Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trở xuống lại được
NHNN bán ngoại tệ hỗ trợ nhằm đảm bảo hệ thống ngân hàng cam kết cung cấp đủ ngoại tệ cho
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc biệt ưu tiên những mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất.
Đồng thời với điều chỉnh tỷ giá, NHNN đã thực hiện nâng các mức lãi suất chỉ đạo lên
thêm 1%. Đây là giải pháp có tính đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế, vừa có tác dụng tiếp
tục duy trì tăng trưởng của nền kinh tế đồng thời chủ động ngăn chặn nguy cơ lạm phát và trước
mắt ổn định thị trường ngoại hối.
2.1.3. Giai đoạn năm 2010:
Năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi sau khủng hoảng tài chính, tăng trưởng kinh tế 4,8%,
thương mại tăng 11,4%. Kinh tế trong nước tăng trưởng cao (6,78%) nhờ động lực đầu tư (vốn
đầu tư toàn xã hội tăng 12,9%), xuất khẩu (25,5%) và tiêu dùng (tổng mức bán lẻ hàng hóa và
dịch vụ tăng 24,5%); các cân đối lớn của nền kinh tế và an sinh xã hội cơ bản được đảm bảo.
Trong năm 2010, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng, phù
hợp với Nghị quyết Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và bám sát tình hình thực tế, góp phần
quan trọng để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô, thể hiện cụ thể là:
- Điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ (nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp
vốn, hoán đổi ngoại tệ, dự trữ bắt buộc) để tăng lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông, đáp
ứng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế với tốc độ tăng 23%; tỷ trọng tiền mặt lưu thông
trong tổng phương tiện thanh toán giảm so với các năm trước.

7


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
- Phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai Nghị định số 41/2010/NĐ-CP
ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong đó
quy định hộ sản xuất và hợp tác xã vay vốn từ 50-500 triệu đồng không phải thế chấp, cầm cố tài
sản; ban hành cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng cho vay vốn đối với
nông nghiệp và nông thôn với lãi suất thấp hơn lĩnh vực khác, thông qua giảm dự trữ bắt buộc,
cho vay tái cấp vốn, mở rộng mạng lưới TCTD. Bên cạnh đó, NHNN chỉ đạo các TCTD tập
trung vốn cho vay đối với xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khắc phục hậu quả thiên tai. Tín
dụng đối với nền kinh tế tăng 27,65% (giảm dần trong 3 tháng cuối năm); tín dụng đối với nông
nghiệp và nông thôn tăng 23,2%, cao hơn năm 2009 (18,8%).
- Trong 10 tháng đầu năm, lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn ổn định ở mức 8%/năm,
kết hợp với điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở và giám sát việc thực hiện các tỷ lệ an
toàn của TCTD, đã điều tiết lãi suất huy động và cho vay giảm dần theo chỉ đạo của Chính phủ
(đến cuối tháng 10, lãi suất huy động VND bình quân 10,44%/năm, cho vay 13,18%/năm). Hai
tháng cuối năm, NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản và tái cấp vốn tăng 1%/năm, kết hợp với điều
hành chặt chẽ lượng tiền cung ứng, quy định trần lãi suất huy động VND 14%/năm để ổn định
thị trường tiền tệ, đã làm tăng lãi suất thị trường và giảm cầu tín dụng (cuối tháng 12, lãi suất
huy động VND bình quân 12,44%/năm, cho vay 14,96%/năm, cho vay nông nghiệp nông thôn,
xuất khẩu 12-14%/năm; lãi suất thị trường nội tệ liên ngân hàng 9,5 - 12%/năm).
- Điều chỉnh tỷ giá mua - bán ngoại tệ của các TCTD tăng 5,52%; thực hiện các biện
pháp ổn định thị trường ngoại tệ, quy định trần lãi suất tiền gửi của tổ chức kinh tế bằng USD
1%/năm, bán ngoại tệ cho nhập khẩu mặt hàng thiết yếu, chỉ đạo các TCTD hạn chế cho vay
nhập khẩu mặt hàng không thiết yếu và không khuyến khích. Thị trường ngoại tệ và tỷ giá tương
đối ổn định trong hơn 9 tháng đầu năm; từ tháng 10, tỷ giá thị trường tăng phù hợp với điều kiện
kinh tế vĩ mô.
- Thực hiện các giải pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng ngay từ đầu năm. Đóng cửa
sàn giao dịch vàng và chấm dứt kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài; điều hành xuất nhập khẩu vàng phù hợp với nhu cầu thị trường. Giá vàng trong nước tăng bám sát giá thế giới,
hiện tượng tâm lý đám đông và đầu cơ có xu hướng giảm.
- Giám sát chặt chẽ diễn biến thị trường tiền tệ và thực hiện các giải pháp đảm bảo an
toàn hệ thống. Năm 2010, tài sản có của hệ thống TCTD tăng 28%, tỷ lệ an toàn kinh doanh phù
hợp với quy định của NHNN, tỷ lệ nợ xấu khoảng 2,5%; tình hình thanh khoản và lãi suất thị
trường tiền tệ trong nửa cuối tháng 12 tương đối ổn định.
- Tiếp tục hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay được giải ngân năm 2009, đến cuối tháng
12, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất khoảng 95.000 tỷ đồng, trong đó cho vay hỗ trợ lãi suất lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn 8.000 tỷ đồng, cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách 28.000 tỷ
đồng.
- Phối hợp giải pháp trong điều hành chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá, các ngân
hàng thương mại (NHTM) sử dụng số vốn dự trữ thanh toán để mua trái phiếu Chính phủ, ngân

8


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
sách Nhà nước có vốn để đầu tư phát triển, tăng tỷ lệ vốn hóa thị trường vốn và thanh khoản của
thị trường tiền tệ.
- Nâng cao tần suất, chất lượng và hiệu quả của công tác truyền thông về điều hành chính
sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
2.1.4. Giai đoạn năm 2011:
(1) Điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát lượng tiền cung ứng,
bảo đảm khả năng thanh toán, hỗ trợ tích cực vốn cho các TCTD, ổn định thị trường;
(2) Điều hành các mức lãi suất chính sách của NHNN phù hợp với diễn biến thị trường, kết
hợp với biện pháp hành chính;
(3) Thực hiện mạnh mẽ các biện pháp điều hành nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín
dụng dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15-16% và điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo
hướng tập trung cho sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh
nghiệp nhỏ và vừa; hạn chế cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất để đảm bảo tỷ trọng cho vay
đối với lĩnh vực phi sản xuất;
(4) Điều hành thị trường ngoại hối và tỷ giá phù hợp với tình hình cung - cầu ngoại tệ, tăng
tính thanh khoản của thị trường; Thực hiện các giải pháp nhằm ổn định giá vàng và thị trường
vàng trong nước;
(5) Các mặt công tác khác như thanh tra, giám sát ngân hàng, công tác thống kê, phân tích,
dự báo, thông tin, truyền thông…cũng được NHNN tập trung triển khai, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo
điều hành.
- Lượng tiền cung ứng được điều hành chặt chẽ từ đầu năm 2011, qua đó kiểm soát tăng
trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp. Ước cả năm, tổng phương tiện thanh
toán tăng khoảng 10%, tín dụng tăng khoảng 12%, góp phần đưa lạm phát tăng chậm lại (từ
tháng 8 đến nay, lạm phát tăng dưới 1%/tháng); đồng thời góp phần giảm mạnh nhập siêu, cải
thiện đáng kể cán cân thanh toán quốc tế.
- Tín dụng được kiểm soát chặt chẽ, tăng ở mức thấp nhưng cơ cấu tín dụng chuyển theo
hướng tích cực, tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu, giảm
cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất. Ước đến cuối năm, tín dụng tăng 12%, trong đó: VND
tăng 10,2%, tín dụng ngoại tệ tăng 18,7%, nhưng từ tháng 8/2011 tín dụng ngoại tệ đã có xu
hướng tăng chậm lại.
- Các mức lãi suất điều hành đã được điều chỉnh hợp lý hơn, phát huy công cụ điều hành
với vai trò Ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng; từ tháng 9, lãi suất tái cấp vốn
được điều chỉnh tăng lên 15%/năm và lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên
ngân hàng tăng lên 16%/năm; nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng linh hoạt hàng ngày phù
hợp với diễn biến vốn khả dụng của hệ thống và diễn biến lãi suất thị trường liên ngân hàng.
- Các mức lãi suất trên thị trường tiền tệ đã hợp lý hơn, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ
mô và chỉ đạo của Chính phủ: với việc tăng cường thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các
trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động và các giải pháp khơi thông vốn giữa vốn huy động từ

9


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
các tổ chức và dân cư và vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng đã tạo điều kiện giảm dần
mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trong những tháng cuối năm.
- Thanh khoản VND toàn hệ thống về cơ bản được đảm bảo. Từ tháng 10, một số TCTD có
khó khăn thanh khoản tạm thời do mất cân đối về kỳ hạn giữa huy động vốn ngắn hạn và cho
vay trung, dài hạn, do huy động vốn từ các tổ chức và dân cư giảm, huy động vốn trên thị trường
liên ngân hàng chưa đủ bù đắp, nhưng đã được NHNN hỗ trợ kịp thời thông qua tái cấp vốn và
nghiệp vụ thị trường mở. Thanh khoản ngoại tệ ở mức thấp trong 7 tháng đầu năm, từ tháng 8 đã
cải thiện sau khi NHNN thực hiện một số biện pháp kiểm soát tín dụng bằng ngoại tệ.
- Việc điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, kết hợp với việc thu hẹp đối tượng được vay
ngoại tệ trong nước, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, quy định mức lãi suất huy động vốn
tối đa bằng đô-la Mỹ của tổ chức và cá nhân tại TCTD đã góp phần giảm tình trạng đô la hóa,
tăng niềm tin vào đồng Việt Nam. Các biện pháp nhằm bình ổn thị trường ngoại hối đã góp phần
cải thiện thanh khoản ngoại tệ, tái lập thế cân bằng trên thị trường ngoại hối cũng như thúc đẩy
xuất khẩu.
- Việc triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm ổn định giá vàng và thị trường vàng trong
nước đã góp phần đưa giá vàng trong nước bám sát với giá vàng thế giới; giới đầu cơ đã không
còn khả năng thao túng thị trường; các ngân hàng đã bắt đầu mua được vàng từ thị trường trong
nước để bù đắp lại lượng vàng đã bán ra, giảm bớt áp lực nhập khẩu vàng, tiết kiệm ngoại tệ và
giảm bớt áp lực lên tỷ giá.
- Công tác thanh tra, giám sát về lãi suất và hoạt động huy động, cho vay của các TCTD
được thực hiện quyết liệt, lập lại kỷ cương thị trường, các chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng phản ánh đúng
bản chất; tạo ra sự phân hóa giữa nhóm TCTD hoạt động lành mạnh, có hiệu quả với nhóm các
TCTD hoạt động kém hiệu quả. Diễn biến này buộc các TCTD cần chú trọng quản trị rủi ro
trong hoạt động ngân hàng, khuyến khích các ngân hàng tự nguyện liên kết, hợp nhất, sáp nhập
để tăng cường sức cạnh tranh, qua đó góp phần từng bước lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng và
tiến tới cơ cấu lại hệ thống ngân hàng trong tương lai.
2.1.5. Giai đoạn năm 2012:
Kinh tế toàn cầu năm 2012 trải qua nhiều biến động và diễn biến phức tạp, lạm phát
tăng, tác động tiêu cực làm tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại. Bên cạnh đó, các chính sách
kinh tế vĩ mô thắt chặt quá mức đẩy một số quốc gia rơi vào tình trạng giảm phát hoặc các hoạt
động kinh tế suy yếu trong một thời gian dài; thất nghiệp tiếp tục tăng cao ở các nền kinh tế đang
phát triển tạo sức ép lên ổn định kinh tế xã hội.
Điều hành chủ động, chặt chẽ và linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ để kiềm chế
lạm phát, trong đó điều hành lãi suất theo hướng giảm dần với mục tiêu 9-10%/năm vào cuối
năm 2012 và trung bình mỗi quý giảm 1% năm; giữ tỷ giá ổn định, củng cố niềm tin vào đồng
tiền Việt Nam; và tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ việc cơ cấu lại các TCTD, xử lý tổng
thể nợ xấu, đảm bảo giữ vững an toàn hệ thống ngân hàng.
Các chỉ tiêu tiền tệ trong năm 2012 tăng trưởng hợp lý, phù hợp với mục tiêu vĩ mô.
Trước đây, để tăng trưởng kinh tế khoảng 7-7,5% tín dụng ngân hàng phải tăng tới 30%, thậm

10


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
chí có năm lên đến 50%; trong khi đó năm 2012 tăng trưởng kinh tế vẫn đạt khoảng 5,03% mà
tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 10%, thể hiện tín dụng ngân hàng đã hiệu quả hơn góp phần nâng
cao hiệu quả giá trị gia tăng của nền kinh tế và làm giảm đáng kể hệ số sử dụng vốn của Việt
Nam.
Can thiệp linh hoạt trên thị trường ngoại hối với khối lượng phù hợp khi cần thiết và tích
cực mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước khi thanh khoản thị trường được cải thiện. Thu
hẹp phạm vi hoạt động ngoại hối kết hợp với xử phạt nghiêm các vi phạm trong hoạt động ngoại
hối. Nhờ đó đã ổn định đươc tâm lý thị trường và định hình kì vọng về tỷ giá của công chúng. Tỷ
giá ổn định; tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế giảm dần và tăng cường dự trữ ngoại hối Nhà
nước, nâng cao niềm tin của thị trường đối với các giải pháp, chính sách của NHNN.
Năm 2012 là năm đánh dấu sư đột phá của công tác quản lý thị trường vàng thông qua
việc NHNN đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý để quản lý thị trường vàng, chấm dứt hoạt
động và cho vay vốn bằng vàng vào ngày 25/11 /2012. NHNN không cho phép nhập khẩu vàng,
không thực hiện bình ổn giá nhưng hầu như không diễn ra việc thu gom ngoại tệ trên thị trường
tự do để nhập lậu, nhờ đó tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, không bị tác động tiêu cực bởi sự
biến động của giá vàng.
Nợ xấu của hệ thống các TCTD là vấn đề kinh tế vĩ mô được Quốc hội, Chính phủ và
NHNN đặc biệt quan tâm và xem đây là cốt lõi của việc lành mạnh hóa khu vực tài chính - ngân
hàng. Nợ xấu lớn và có chiều hướng tăng nhanh trong hệ thống các TCTD đã có những tác động
tiêu cực đến điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và an toàn, hiệu quả kinh doanh của các
TCTD.
Do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu,
những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã làm cho chất lượng tín dụng suy giảm
và nợ xấu tăng nhanh hơn tác độ tăng trưởng tín dụng, thì nợ xấu lớn còn do những yếu tố nội tại
của các TCTD, như công tác quản trị, điều hành hoạt động tín dụng, quản trị rủi ro, giám sát vốn
vay còn bất cập; năng lực thanh tra, giám sát của NHNN trong một thời gian dài còn hạn chế,
chưa phát huy hiệu lực, hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm.
Nhờ sự triển khai quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị, có sự đóng góp rất lớn của
ngành Ngân hàng, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực. Kinh tế vĩ mô có
bước được cải thiện, lạm phát được kiềm chế ở mức một con số (6,81 %) và thấp hơn rất nhiều
so với mức lạm phát cao cùa năm 2011; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trên 18%, cán cân thanh
toán tổng thể thặng dư, Việt Nam đã đạt được xuất siêu sau gần 2 thập kỷ. Trong điều kiện kinh
tế toàn cầu suy giảm và khó khăn của kinh tế vĩ mô nhưng tổng sản phẩm trong nước (GDP) vẫn
tăng 5,03%.
2.2 Các chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
2.2.1. Công cụ lãi suất:
Năm 2008: Đầu năm là cuộc đua lãi suất bắt đầu bùng nổ, biểu hiện đầu tiên là sự leo
thang của lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng với các kỷ lục 20%, 25% liên tục bị đánh đổ và
đỉnh điểm là mức 27%/năm…

11


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
Năm 2009: Từ những ảnh hưởng khủng hoảng trên thế giới, sản xuất kinh doanh trong
nước rơi vào khó khăn. Đây là năm thứ hai trong quãng 8 năm qua lãi suất huy động VND tương
đối ổn định quanh 9%/năm, cũng là năm có chính sách cấp bù lãi suất kích cầu của Chính phủ.
Năm 2010: Những biến động nửa đầu năm đẩy lãi suất huy động VND lên quanh
11%/năm. Đồng thuận lãi suất là yêu cầu quen thuộc đặt ra giữa các ngân hàng trong năm
này.Trước xu hướng biến động mạnh vào cuối năm, Hiệp hội và Ngân hàng Nhà nước đã họp với
các thành viên, đồng thuận không quá 12%/năm được đưa ra vào ngày 5/11. Tuy nhiên, sau đó
nhiều thành viên “phá rào”, lãi suất lần lượt tăng lên 13%, 14%, 15%/năm…
Năm 2011: Nếu năm 2010, các đồng thuận lãi suất 11%, 12% rồi 14%/năm được đặt ra,
thì đến đầu 2011 nó tiếp tục bị phá vỡ. Và ngày 3/3, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số
02/2011/TT-NHNN, chính thức áp trần 14%/năm, và sau đó là những xáo trộn từ các thỏa thuận
ngầm, sự nở rộ của các giao dịch ủy thác…
Nửa cuối năm 2011, Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiêm quy định trần, một số ngân
hàng bị xử lý mà lần đầu tiên trong hệ thống có cụm từ “ngân hàng cài bẫy lẫn nhau”.
Năm 2012: Chỉ trong vòng chưa đầy ba tháng, Ngân hàng Nhà nước liên tiếp hạ trần lãi
suất huy động VND, từ 14%/năm xuống còn 9%/năm. Cơ chế áp trần cũng thay đổi, mở tự do
hóa lãi suất từ kỳ hạn 12 tháng trở lên. Phía sau loạt điều chỉnh này, đặc biệt là về cơ chế, đường
cong lãi suất bắt đầu định hình lại với lãi suất tại nhiều thành viên đã cao hơn ở các kỳ hạn dài.
2.2.2. Dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức
tín dụng hoạt động tại Việt Nam phải duy
trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại
Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ dự trữ bắt
buộc với tiền gửi VND tại hầu hết các tổ
chức tín dụng (trừ ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, NHTM nông
thôn, ngân hàng hợp tác, Quỹ tín dụng
nhân dân Trung ương) duy trì ở 3% với
tiền gửi không kỳ hạn và dưới 12 tháng, 1% với tiền gửi trên 12 tháng.

12


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
Trên cơ sở ổn định tỷ giá, Việt Nam đã tăng cường được nguồn dự trữ ngoại tệ một cách
ổn định: riêng năm 2012 mua ngoại tệ tăng thêm gần 10 tỷ$. Dự trữ ngoại tệ đạt mức cao nhất
trong ba năm qua.
Diễn biến trên gắn chặt với những điều chỉnh trong điều hành chính sách tiền tệ, cũng
như ở hoạt động đưa VND ra mua vào ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua.
Về huy động vốn, tốc độ tăng trưởng đã mạnh lên kể từ đầu tháng 3/2012, sau khi Ngân
hàng Nhà nước phát tín hiệu sẽ giảm dần trần lãi suất huy động với tốc độ khá nhanh về cuối
năm. Thực tế từ tháng 3 đến nay đã 3 lần điều chỉnh, trần lãi suất huy động VND từ 14%/năm đã
rút về còn 11%/năm chỉ trong chưa đầy ba tháng.
Tín hiệu và thực tế trên đã góp phần thúc đẩy dòng tiền gửi vào hệ thống, tranh thủ lãi
suất cao trước khi điều chỉnh, cũng như tạo cơ cấu thuận lợi hơn cho các ngân hàng ở các kỳ hạn
dài hơn.
2.2.3. Nghiệp vụ thị trường mở.
Các hoạt động giao dịch trên thị trường sơ cấp, tính đến cuối tháng 12/2012 đã được triển
khai hiệu quả với khối lượng huy động đạt gần 160.000 tỷ đồng (gần gấp 2 lần so với cả năm
2011), vượt chỉ tiêu kế hoạch huy động điều chỉnh năm 2012 là 135.000 tỷ đồng.
Trong tổng giá trị đấu thầu huy động được trong năm 2012, chỉ riêng Kho bạc Nhà nước
đã huy động được 106.884 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu giảm so với năm 2011 và thấp hơn lãi
suất huy động trên thị trường tiền tệ từ 1% - 2%.

Ngân hàng và các tổ chức tín dụng là khu vực cung cấp phần lớn các nguồn vốn cho đầu
tư của nền kinh tế và cũng là nguồn cầu chủ yếu đối với trái phiếu. Mục tiêu chủ yếu mua trái
phiếu, đặc biệt với trái phiếu chính phủ, của các ngân hàng thương mại là để đảm bảo khả năng
thanh khoản và làm công cụ trong giao dịch với Ngân hàng Nhà nước...
Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán cũng tham gia với mục đích đầu tư tài chính. Tính
tới thời điểm hiện tại, đã có 24 ngân hàng thương mại và 29 công ty chứng khoán là thành viên
của thị trường trái phiếu chính phủ.

13


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
2.2.4. Hạn mức tín dụng.

Tăng trưởng tín dụng từ năm 2001 tới nay

So với mức trung bình của 10 năm trở lại
đây (đạt 28%), thì tăng trưởng tín dụng năm
2012 chỉ bằng 15%. Nguyên nhân tín dụng tăng
thấp là cầu yếu, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó
khăn, hàng tồn kho cao nên nhiều DN không đủ
điều kiện vay vốn; các TCTD phải kiểm soát
chặt chẽ tín dụng nhằm ngăn chặn nợ xấu...
Trong cơ cấu tín dụng, dư nợ bất động sản
chiếm tới hơn một nửa, khoảng 1,5 triệu tỷ

đồng.
Trong khi tín dụng tăng trưởng thấp thì huy động vốn của các TCTD lại tăng mạnh.
Trong 11 tháng đầu năm, vốn huy động đã tăng 15,98% so với cuối năm 2011 và ước cả năm đạt
mức tăng trưởng 17%.
2.2.5. Lãi vay tái chiết khấu.
Với một tiền cơ sở nhất định, bằng cách quy định lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị
trường, ngân hàng trung ương có thể buộc các ngân hàng thương mại phải dự trữ tiền mặt bổ
sung khiến cho số nhân tiền tệ giảm xuống (vì bội số của tiền gửi so với tiền mặt giảm) để làm
giảm lượng cung tiền. Ngược lại, khi lãi suất chiết khấu giảm xuống thì các ngân hàng thương
mại có thể giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và do vậy số nhân tiền tệ tăng lên dẫn đến tăng lượng cung
tiền.

14


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện
chính sách tiền tệ ở Việt Nam
3.1. Định hướng cơ bản.
- Việc vận hành các công cụ của chính sách tiền tệ một mặt từng bước hòa nhập với quốc
tế, mặt khác cầu đảm bảo tính độc lập tự chủ theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước.
- Nhất quán quan điểm cơ bản là từng bước một chuyển đổi từ việc sử dụng các biện
pháp từ công cụ trực tiếp sang gián tiếp để quản lý mức cung tiền để có hiệu quả hơn.
- Việc áp dụng điều chỉnh các công cụ của chính sách tiền tệ phải chú ý đến thực tiễn đó
là thực trạng nền kinh tế Việt Nam và đặt trong mối quan hệ với các chính sách kinh tế vĩ mô
khác để đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế.
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền tệ.
3.2.1 Nhằm tạo điều kiện thuận lợi.
- Cần hoạch định chính sách tiền tệ (CSTT) trong một chỉnh thể thống nhất có sự linh
hoạt của thị trường. Chính sách tiền tệ cần được độc lập với chính sách tài chính và đảm bảo tính
thống nhất trong hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước.
- Thị trường tiền tệ và thị trường liên ngân hàng cần được tiếp tục được củng cố và phát
triển để một mặt tạo ra tín hiệu cho hoạch định CSTT mặt khác là cơ chế lan truyền tốt nhất để
phát huy có hiệu quả của các công cụ CSTT.
- Cần hoàn thiện hàng lang pháp lý về hệ thống ngân hàng tài chính để cơ chế thực thi
CSTT nói chung, các công cụ của CSTT nói riêng được nghiêm minh và có hiệu quả hơn.
- Cần có biện pháp khuyến khích phù hợp nhằm tạo những nếp thói quen mới trong tâm
lý các cá nhân, các cá nhân để việc thực hiện các công cụ của CSTT có hiệu quả hơn.
3.2.2 Hoàn thiện các chính sách tiền tệ.
a. Thực hiện điều chỉnh lãi suất
- Trong thời gian qua lãi suất cơ bản đã thực sự trở thành công cụ quan trọng trong điều
hành chính sách tiền tệ của thị trường tiền tệ . Mỗi thay đổi của công cụ này đã gần như ngay lập
tức có tác động điều tiết rõ rệt đối với thị trường, giữ lãi suất cơ bản cho thấy sự ổn định của thị
trường tiền tệ. Vì vậy, lãi suất cơ bản nên tiếp tục giữ ổn định như hiện nay.
- Xem xét thu hẹp phạm vi hỗ trợ lãi suất tiến tới dừng thực hiện hỗ trợ lãi suất. Duy trì
việc tự do hóa công cụ lãi suất, để NHNN là người cho vay cuối cùng trên thị trường liên ngân
hàng.
b. Kiểm soát tăng trưởng tín dụng.
- Giảm dư nợ và tỷ trọng tín dụng trung dài hạn để phù hợp với quy mô và thời hạn huy
dộng vốn.Tăng vòng quay vốn tín dụng sẽ giảm bớt khó khăn do thiếu vốn.
- Để vốn vào những dự án nhanh ra khối lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
xã hội, hạn chế đầu tư vào lĩnh vực không tạo ra hàng hóa tiêu dùng hoặc đầu cơ lòng vòng trong

15


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B
nội bộ thị trường tài chính, bởi chính khía cạnh này trong thời gian vừa qua đã tạo hiệu ứng đẩy
lạm phát lên cao cũng như gây không ít khó khăn cho NHTM.
c. Công cụ chiết khấu
Xác định rõ mục tiêu điều hành là cung ứng phương tiện thanh toán ngắn hạn, qua đó
tạo hành lang dao động cho lãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ,hạn chế tái cấp vốn theo mục
tiêu chỉ định với kỳ hạn dài, tạo tín hiệu cho thị trường.
d. Công cụ dự trữ bắt buộc.
Công cụ dự trữ bắt buộc cần được thực hiện theo hướng nâng cao khả năng kiểm soát
tiền tệ của NHNN và tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng sử dụng vốn linh hoạt, hiệu quả, tỷ
lệ dự trữ bắt buộc cần điều chỉnh linh hoạt, phối hợp đồng bộ và điều chỉnh các công cụ khác của
CSTT.
e. Điều chỉnh chính sách tỷ giá.
Kiểm soát được lạm phát, kích thích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam, không ảnh hưởng lớn đến việc doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ, tạo điều kiện quản
lý và thu hút nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, nâng cao quỹ dự trữ ngoại tệ của Nhà
nước.
- Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến cho các doanh nghiệp, áp dụng các công cụ phòng
ngừa bảo hiểm rủi ro tỷ giá.
- Phải ngăn chặn sự phát triển và tồn tại của thị trường ngoại tệ tự do, nhưng do cơ chế
quản lý, điều hành nên thị trường tự do vẫn tồn tại. Vấn đề đặt ra là cần thực hiện triệt để mục
tiêu trên đất nước Việt Nam chỉ sử dụng trên Việt Nam.
d. Nghiệp vụ thị trường mở.
- Để hoạt động trên thị trường thực sự sôi động thì một trong những điều kiện cần thiết là
phải bổ sung thêm các loại hàng hóa cho thị trường, vì vậy trong thời gian tới NHNN cần xem
xét bổ sung thêm các loại giấy tờ có giá được phép giao dịch trên thị trường mở.
- Cải tiến, nâng cấp và hoàn thiện hạ tầng công nghệ cho thị trường mở: bên cạnh việc cải
tiến, hoàn thiện các quy định thì NHNN cần thực hiện đồng bộ việc cải tiến, nâng cấp hạ tầng
công nghệ của thị trường mở.
- Nâng cao năng lực cán bộ xây dựng và điều hành nghiệp vụ thị trường mở, không chỉ ở
NHNN mà còn ở các tổ chức tín dụng thành viên.

16


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B

KẾT LUẬN
Như vậy, chính sách tiền tệ, đặc biệt là các công cụ của nó có vài trò rất quan trọng trong
nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Việc sử dụng các công cụ đó
như thế nào sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của nền kinh tế ở từng thời điểm cụ thể.
Ở Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì việc áp dụng
các công cụ của CSTT luôn đòi hỏi phải có sự phù hợp, hiệu quả. Trong những năm đầu của thời
kỳ đổi mới việc áp dụng các công cụ điều tiết trực tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
kiềm chế lạm phát và thúc đẩy trưởng kinh tế. Tuy vậy thời gian gần đây chúng đã bộc lộ rõ
những hạn chế khi nền kinh tế bước sang một giai đoạn phát triển mới. Trong khi đó các công cụ
điều chỉnh gián tiếp mới được đưa vào sử dụng và chưa thực sự phát huy hết, hoặc chưa thể hiện
rõ vai trò của nó do nhiều nguyên nhân gắn với thực lực của nền kinh tế.
Từ đó đòi hỏi chúng ta phải có những định hướng và giải pháp đúng trong việc hoàn
thiện các công cụ đó. Để có được điều này, bên cạnh sự định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, cần phải có sự phát triển đồng bộ về năng lực NHNN, hệ thống NHTM… và nhiều sự phối
hợp đồng bộ khác.
Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu về các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam phải
được coi là cả một quá trình lâu dài và cần được tiếp tục phát triển về sau.


NHÓM 4 - LỚP K8CK7B



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×