Tải bản đầy đủ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH đào tạo, bồi DƯỠNG cán bộ, CÔNG CHỨC từ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Đoàn Thanh Trung

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH
THẠNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI


Đoàn Thanh Trung

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH THẠNH,
THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC

: Cán bộ, công chức

ĐTBD

: Đào tạo, bồi dưỡng

HĐND

: Hội đồng nhân dân

LLCT

: Lý luận chính trị

QLHCNN

: Quản lý hành chính nhà nước

QLNN



: Quản lý nhà nước

UBND

: Ủy ban nhân dân


Bảng 2.1. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC theo trình độ chuyên môn
Bảng 2.2. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu giới tính CBCC
Bảng 2.3. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC theo độ tuổi
Bảng 2.4. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC theo trình độ lý luận chính trị
Bảng 2.5. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC về trình độ tin học
Bảng 2.6. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC về trình độ ngoại ngữ
Bảng 2.7. Từ năm 2015 - 2017, CBCC đã tham gia các lớp ĐTBD
Bảng 2.8. Đánh giá của CBCC về các khóa ĐTBD CBCC đã tham dự
Bảng 2.9. Khó khăn mà CBCC các cơ quan, đơn vị thuộc quận gặp khi tham gia các
khóa ĐTBD
Bảng 2.10. Đánh giá tác động của các khóa ĐTBD CBCC các cơ quan, đơn vị thuộc
quận đến chuyển biến năng lực thực thi công vụ
Bảng 2.11. Nhu cầu tham gia các khóa ĐTBD CBCC trong các cơ quan, đơn vị
thuộc quận trong thời gian tới


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước, từng bước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục đề ra
định hướng hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới; Nghị quyết số 06-NQ/TW của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) khẳng định tầm quan trọng trong thực hiện có
hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong
bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Bối cảnh trong
nước và quốc tế cùng với yêu cầu nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế đặt ra những
yêu cầu mới đối với đội ngũ CBCC từ trung ương đến địa phương. CBCC có vai trò
quan trọng trong hoạt động công vụ, trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước;
xây dựng đội ngũ CBCC vững vàng về lập trường, vì nước, vì dân, gương mẫu về đạo
đức, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương và chính sách lớn trong nội dung
công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước ta.
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã trải qua hơn 30 năm với sự nỗ lực vượt bậc của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo sự thay đổi cơ bản và toàn diện, làm cho thế và lực,
uy tín của nước ta càng tăng trên trường quốc tế. Có thể khẳng định hiệu lực, hiệu quả
hoạt động của bộ máy nhà nước nói riêng, toàn bộ hệ thống chính trị nói chung được
quyết định bởi phẩm chất, năng lực công tác của đội ngũ CBCC. Do đó, kiện toàn và
nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cả về năng lực chuyên môn lẫn phẩm chất chính trị,
đạo đức cách mạng trong giai đoạn hiện nay trở thành khâu then chốt và cấp thiết.
Qua quá trình phát triển, đội ngũ CBCC đã có những bước phát triển về cả số
lượng và chất lượng. Tuy nhiên, số lượng CBCC có đầy đủ năng lực, trình độ chuyên
môn, khả năng ngoại ngữ, tin học và kinh nghiệm thực tiễn để tham gia hiệu quả, trực
tiếp vào quản lý nhà nước còn chưa nhiều, một bộ phận không nhỏ đội ngũ CBCC chưa
5


được ĐTBD một cách hệ thống, chuyên nghiệp về các kiến thức và kỹ năng cơ bản,
thiếu kinh nghiệm thực tiễn. Bên cạnh những hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực mình phụ
trách, việc bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng cơ bản về các ngành, các lĩnh vực khác cho
CBCC là điều rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Xây dựng và nâng cao chất lượng
đội ngũ CBCC có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có kiến thức và năng
lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân, có nhân cách và lối sống
trong sáng, mẫu mực, hoàn thành tốt chức trách và nhiệm vụ được giao; có ý thức tổ
chức kỷ luật cao thông qua các hình thức ĐTBD phù hợp, hiệu quả, gắn ĐTBD với quy
hoạch và theo nhu cầu thực tế của tổ chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng đã
được Đảng, Nhà nước ta xác định trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà
nước giai đoạn 2011 - 2020 và liên tiếp được khẳng định qua các kỳ Đại hội của Đảng.
Đây c òn là một trong những nội dung quan trọng của công tác cải cách hành chính,
nhằm xây dựng đội ngũ CBCC phù hợp với yêu cầu của nền hành chính dân chủ, hiện
đại; là khâu có tính chất quyết định trong công tác cán bộ nhằm nâng cao trình độ quản
lý, năng lực điều hành, phẩm chất đạo đức của đội ngũ CBCC.
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng bộ và chính quyền quận Bình
Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, đội ngũ CBCC đã từng bước trưởng thành hơn. Tuy
nhiên, CBCC quận do được hình thành từ nhiều nguồn, trưởng thành chủ yếu thông qua
thực tiễn, chưa được đào tạo cơ bản, thiếu vốn kiến thức chuyên môn, kiến thức lý luận
chính trị. Vì vậy, trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn, một số CBCC mắc phải bệnh
kinh nghiệm, điều hành công tác lãnh đạo, quản lý cũng như xử lý công việc một cách
máy móc, kém hiệu quả. Từ thực tế trên đòi hỏi đội ngũ CBCC quận Bình Thạnh phải
không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt.
Với những ý nghĩa đó, đề tài luận văn “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng CBCC từ thực tiễn quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh” là đề tài có
tính cấp thiết, có nhiều ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhất là đối với quận Bình Thạnh,
thành phố Hồ Chí Minh.

6


Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách
ĐTBD đội ngũ CBCC, đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục
trong công tác ĐTBD tại quận Bình Thạnh. Từ một số đề xuất nhằm hoàn thiện thêm
trong quá trình thực hiện chính sách đối với công tác ĐTBD CBCC quận Bình Thạnh
nhằm tạo ra đội ngũ CBCC của quận có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng yêu cầu
công tác trong tình hình hiện nay.
2. Tình hình nghiên đề tài
Trong thời gian qua có rất nhiều công trình nghiên cứu, đề tài của các tác giả về
công tác ĐTBD CBCC như:
Nguyễn Thị La, ĐTBD CBCC trong quá trình cải cách hành chính, Trang thông
tin điện tử Tạp chí Cộng sản www.tapchicongsan.org.vn ngày 04/9/2015. Tác giả khẳng
định để xây dựng được đội ngũ CBCCVC có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính
trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân, bên cạnh các khía
cạnh khác nhau của công tác tổ chức cán bộ còn cần phải có các hình thức ĐTBD phù
hợp, hiệu quả. Tác giả phân tích một số hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng; đào
tạo chưa gắn kết chặt chẽ với bố trí, sử dụng... Tác giả đề xuất hướng đổi mới, nâng cao
chất lượng ĐTBD trên nhiều phương diện.
Phạm Cao Việt Linh (2007), Hoàn thiện QLNN về công tác ĐTBD CBCC hành
chính ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, luận văn Thạc sĩ quản lý hành
chính công, Học viện hành chính Quốc gia. Trên cơ sở khái quát chung một số lý luận
về QLNN về ĐTBD CBCC hành chính, tác giả phân tích sâu về thực trạng, bất cập, hạn
chế trong QLNN về ĐTBD CBCC hành chính tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và
đưa ra các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về ĐTBD CBCC hành chính trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Hoàn Hải (2012), Nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC - từ thực tiễn tỉnh
Hậu Giang, luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia.
Tác giả của luận văn đã khái quát lý luận chung về nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC,
làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTBD CBCC. Trên cơ sở lý luận, tác
7


giả phân tích, đánh giá thực trạng công tác ĐTBD CBCC tại tỉnh Hậu Giang làm cơ sở
đề xuất 8 giải pháp nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC tại tỉnh này.
Nguyễn Thị Huyền (2012), ĐTBD công chức các cơ quan hành chính nhà nước
cấp tỉnh (từ thực tiễn tỉnh Đăk Nông), luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công, Học
viện Hành chính Quốc gia. Tác giả phân tích, đánh giá thực trạng ĐTBD công chức tỉnh
Đăk Nông trên một số khía cạnh về xây dựng thể chế về ĐTBD gồm các quy định của
Nhà nước về ĐTBD, các biện pháp triển khai thực hiện quy định của Nhà nước, chính
sách của địa phương. Từ đó, đề xuất ba nhóm giải pháp đối với cơ quan QLNN; cơ sở
đào tạo và với công chức nhằm góp phần nâng cao chất lượng QLNN về ĐTBD tại địa
phương.
Nguyễn Tuấn Anh (2013), ĐTBD công chức ngành hải quan từ thực tiễn tại Cục
Hải quan thành phố Hồ Chí Minh, luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện
Hành chính Quốc gia. Tác giả hệ thống một số lý luận chung về ĐTBD công chức
ngành hải quan; kinh nghiệm của một số nước về ĐTBD công chức (Pháp, Nhật bản,
Singapore). Tác giả phân tích, đánh giá thực trạng ĐTBD công chức ngành hải quan tại
Cục Hải quan thành phố Hồ
Chí Minh về chương trình, giáo trình; tổ chức, phương thức ĐTBD; đội ngũ giảng viên
để đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng ĐTBD như: hoàn thiện hệ thống văn
bản; tổ chức bộ máy ĐTBD; hệ thống chương trình, giáo trình, tài liệu ĐTBD; chú
trọng đánh giá sau ĐTBD.
Nguyễn Vũ Lâm (2015), Nâng cao chất lượng ĐTBD đội ngũ công chức Sở
Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh, luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công,
Học viện Hành chính Quốc gia. Tác giá phân tích thực trạng ĐTBD công chức tại Sở
Giao thông vận tải qua công tác xác định nhu cầu ĐTBD, xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện, đánh giá kết quả ĐTBD và đề xuất 8 giải pháp về nhận thức, quan tâm thực
hiện xác định nhu cầu ĐTBD, xây dựng và thực hiện kế hoạch trên cơ sở vị trí việc làm,
nhu cầu thực tiễn tại đơn vị, chế độ chính sách hỗ trợ, đổi mới chương trình ĐTBD, xây

8


dựng đội ngũ giảng viên ... nhằm góp phần nâng cao chất lượng ĐTBD tại Sở Giao
thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra cũng có nhiều công trình nghiên cứu, những đề tài đã tập trung nghiên
cứu về CBCC và công tác ĐTBD CBCC ở nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung, các
công trình nghiên cứu, đề tài đã đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả ĐTBD
CBCC và khẳng định vai trò to lớn của đội ngũ CBCC và tầm quan trọng của công tác
ĐTBD CBCC. Các công trình nghiên cứu đã tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau từ
phương diện lý luận, pháp lý, thực tiễn. Tuy nhiên, việc nghiên cứu nội dung về công
tác ĐTBD CBCC cấp quận, huyện cần nghiên cứu từ thực tiễn vùng, miền; khả năng,
điều kiện của mỗi địa phương để áp dụng thực hiện chính sách ĐTBD CBCC hợp lý,
đưa ra những giải pháp phù hợp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ĐTBD CBCC và đánh giá thực trạng
thực hiện chính sách ĐTBD CBCC của quận Bình Thạnh để đề xuất các giải pháp tổ
chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Xác lập cơ sở lý luận về thực hiện chính ĐTBD CBCC.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ĐTBD CBCC trên địa bàn quận
Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây.
- Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC từ của quận
Bình Thạnh trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp thực hiện chính sách ĐTBD CBCC quận Bình Thạnh, thành phố Hồ
Chí Minh.

9


4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách ĐTBD
CBCC quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2015 - 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp với nghiên
cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế với cách tiếp cận liên ngành, đa ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập phân tích
và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, các bài viết,
các văn kiện, tài liệu, nghị quyết Đảng, nghị định, thông tư của Nhà nước, bộ ngành ở
Trung ương và địa phương để làm rõ
những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ĐTBD CBCC.
Đề tài vận dụng phương pháp thống kê, thu thập số liệu từ các báo cáo, tài liệu
thống kê của chính quyền cấp quận, Trung tâm bồi dưỡng Chính trị; kết hợp với phương
pháp khái quát thực tiễn, phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải nhằm phân tích
thực trạng việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC quận Bình Thạnh trong những năm
gần đây; từ đó, đưa ra định hướng, quan điểm, giải pháp cho chính sách ĐTBD CBCC
quận Bình Thạnh trong những năm tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận của tổ chức thực hiện chính sách
ĐTBD CBCC.

Ý nghĩa thực tiễn:
Trong Luận văn đã đánh giá thực trạng thực hiện chính ĐTBD CBCC trên địa
bàn quận ở Thành phố Hồ Chí Minh; chỉ ra những ưu điểm và bất cập trong việc thực
hiện chính sách trên để từ đó đề xuất một số giải pháp tổ chức thực hiện chính sách
ĐTBD CBCC cho phù hợp với bối cảnh mới của đất nước và Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Cơ cấu
1
0


Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn được bố cục như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ĐTBD CBCC.
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách ĐTBD CBCC quận Bình Thạnh,
thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Giải pháp thực hiện chính sách ĐTBD CBCC quận Bình Thạnh, TP.
Hồ Chí Minh.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO
TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm chính sách
Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một
mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề raa ’.
[32]
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện
đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên
những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy
thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa...”[29]
Theo Vũ Cam Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà
một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc
một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục
tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”[17]
Như vậy, phân tích khái niệm “chính sách” đã cho thấy có những đặc điểm cơ
bản sau:
- Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;
- Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình
thực tế;

1
1


- Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định;
nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính
toán và chủ đích rõ ràng.
1.1.2. Khái niệm về chính sách công
Trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về chính sách công. Tuy nhiên,
Birkland (2005) đã giúp thu thập và tổng hợp những quan điểm phổ biến về chính sách
công, theo ông, có 3 cách hiểu cơ bản:
- “Chính sách công nhằm chỉ các hành động của chính phủ và các mục tiêu cân
nhắc các hành động này (Clarke E. Cochran vàmộtsốtácgiảkhác).
- “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị đối với các chương trình
đang thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu xã hội”(CharlesL. Cochran vàEloiseT. Malone).
- “Chính sách công là toàn bộ hoạt động của chính phủ, bất kể là hoạt động
trực tiếp hay thông qua các tổ chức nhà nước, có ảnh hưởng đến công dân” (B. Guy
Peters).
Có một định nghĩa gần đây cũng được thế giới chấp nhận một cách rộng rãi. Đó là định nghĩa của William
Jenkin, theoông,“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của
một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu
và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”.[35]
Còn ở Việt Nam, tác giả Lê Chi Mai của Học viện Hành chính quốc gia có một
số đúc kết quan trọng về nội hàm của chính sách công [31]. Đó là:
+ Nhà nước chính là chủ thể ban hành chính sách công. Nhà nước ở đây được
hiểu là bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương các cấp.
+ Chính sách công là những quyết định hành động, thể hiện dự định của nhà
hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó và những hành vi thực hiện các dự định đó.
+ Mục đích của chính sách công là giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời
sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định.
Kế thừa những tư duy và đúc kết của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Đỗ
Phú Hải của Học viện Khoa học xã hội đã đưa ra một khái niệm về chính sách công như
1
2


sau: “ Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có tính gắn kết của Nhà
nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội
theo mục tiêu tổng thể đã xác định”.
Như vậy, mỗi khái niệm có một cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, nội hàm của
chúng có một số điểm chung, cụ thể:
+ Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước;
+ Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau;
+ Chính sách công có mục tiêu, giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề xã hội
nhằm hướng tới một mục tiêu chung.
Chính sách công có các thuộc tính căn bản như: tính nhà nước, tính công cộng,
tính hành động thực tiễn, tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và gắn với một quốc gia cụ
thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhất định.
1.1.3. Khái niệm về đào tạo
Có nhiều cách định nghĩa về đào tạo.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam củaViện Từ điểnhọc vàBách khoathư Việt Nam thì “ đào tạo
là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo... một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi
với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần vào
việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người" [61]. Đào tạo còn
được hiểu là quá trình giáo dục, thực hiện những nhiệm vụ của giáo dục quốc dân (đào tạo các trình độ trung cấp, cao
đẳng,đạihọcvà sau đạihọc)[60].
Tại Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về
ĐTBD công chức giải thích: “ Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống
những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học’" [13]. Đào tạo giúp
CBCC tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng mới để đạt trình độ cao hơn trình độ
trước đó.
Như vậy, đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó
lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống;
1
3


là quá trình làm cho người ta có năng lực đáp ứng theo những tiêu chuẩn, đòi hỏi nhất
định, trang bị kiến thức, kỹ năng giúp họ có khả năng làm việc, nhận một sự phân công
lao động nhất định.
1.1.4.

Khái niệm về bồi dưỡng

Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về công tác ĐTBD
công chức giải thích: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức,
kỹ năng làm việc" [13]. Khái niệm bồi dưỡng được dùng với nghĩa là cập nhật, bổ sung
thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ
bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng. Có thể nói bồi
dưỡng là một hoạt động thường được tiến hành sau hoạt động đào tạo cho cá nhân, để
bổ sung, cập nhật thêm kiến thức chuyên môn, một số kiến thức mới cần được trang bị
trong thời gian ngắn hạn trên nền tảng kiến thức đã được đào tạo.
Như vậy, ĐTBD được thực hiện nhằm tạo điều kiện cho người ta học tập, để chỉ
một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc học
tập nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình thông qua tăng cường năng lực, làm
gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản là con người, làm họ có thể làm việc tốt hơn, cho
phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ. Về mặt thời gian, đào
tạo có thời gian thực hiện dài hơn, thông thường là từ hai năm trở lên, bồi dưỡng có thời
gian thực hiện ngắn hơn, thông thường là từ vài ngày đến vài tuần. Về cơ bản, đào tạo
được xem là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những
tiêu chuẩn nhất định"; bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng
thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Nhìn chung, cả đào tạo và bồi dưỡng đều là quá trình
làm cho người ta thông qua học tập, rèn luyện trau dồi, bổ sung nâng cao năng lực của
bản thân để họ làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn giúp họ phát huy tối đa năng lực của bản
thân đáp ứng nhu cầu của bản thân và yêu cầu của tổ chức [7].
1.2. Một số quan điểm về thực hiện chính sách ĐTBD CBCC

1
4


1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐTBD CBCC
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐTBD, trọng dụng nhân tài được tìm thấy ở trong
những tác phẩm lớn của Người: Đường Kách mệnh (1927), Tìm người tài đức (1946),
Sửa đổi lối làm việc (1947), Đào tạo cách mạng (1958), Nâng cao đạo đức cách mạng
quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969) ... Đặc biệt, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
vấn đề cán bộ, đào tạo cán bộ thể hiện ngay trong việc làm, tính gương mẫu, tấm gương
đạo đức, cách đối nhân xử thế của Người. Tư tưởng về vấn đề cán bộ, công tác cán bộ
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Chủ tịch Hồ
Chí Minh bằng lý luận và hoạt động thực tiễn đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh,
trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài, bao hàm cả
việc khai thác, phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ và trọng dụng nhân tài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [30, tr. 269], “Muôn
việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [30, tr. 240], việc “huấn luyện cán
bộ là công việc gốc của Đảng" [30, tr. 269], nội dung huấn luyện cần tập trung “Huấn luyện nghề
nghiệp, huấn luyện chính trị, huấn luyện văn hóa, huấn luyện lý luận. Học lý luận, phải
nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế" [35]. NgườichorằngcánbộlàvốncủaĐảng,có
vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì
hỏng việc, tức là lỗ vốn; “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ
giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời cán bộ là người đem tình hình
của dân chúng báo cáo lại cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho
đúng” [30, tr. 269]. Thực tế, mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ đều do
cán bộ nghiên cứu, đề xuất, đồng thời, do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực
hiện. “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận
của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế
của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn
nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình" [31, tr. 492]. Do đó, cần phải dạy bảo lý luận cho
cán bộ, “Lý luận phải đi đôi với thực tiễn” tức là “Lý luận phải liên hệ với thực tế" [32,
tr. 292]. Xác định cán bộ là gốc của mọi công việc, để thực hiện tốt nhiệm vụ, cán bộ
1
5


phải làm cho dân tin tưởng, nể phục và yêu quý. Bởi người cán bộ, nhất là cán bộ lãnh
đạo, quản lý mà nhân dân không tin tưởng, nể phục là cán bộ không có phẩm chất lãnh
đạo, không có uy tín công vụ.
Người nhấn mạnh đến trách nhiệm của Đảng đối với ĐTBD cán bộ, phải được
thực hiện nghiêm túc, hiệu quả: “Nếu cán bộ là cái gốc của mọi công việc thì huấn
luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Đó là việc mà Đảng phải bỏ nhiều công sức,
phải được tiến hành chu đáo, công phu, Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm
vườn vun trồng những cái cây quý báu” [30, tr. 269]. Muốn trồng cái gốc của mọi công
việc một cách vững chắc, tức cán bộ thì nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện cán bộ phải thực
hiện thật tốt, hiệu quả. Đây chính là một trong những vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về đào tạo, huấn luyện cán bộ. Phải tuyển chọn đúng người, đúng việc, kịp
thời phát hiện nhân tài để đưa ĐTBD cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý để bảo
đảm “gốc rễ” thật vững chắc; phải hướng cho cán bộ vào một nội dung chính trị đúng
đắn và nội dung chuyên môn sâu sắc.
Vấn đề đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài là yếu tố cơ bản để phát triển trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, dẫn đến sự chấn hưng đất nước. Sinh thời, Hồ
Chí Minh rất ít dùng thuật ngữ “phương pháp” mà thuật ngữ Người dùng là “cách” như
“cách quản lý”, “cách dùng người”. Hồ Chí Minh nhiều lần nói cái quý nhất là việc làm
tích cực của mỗi cá nhân, tổ chức. Giá trị đích thực của mỗi tổ chức, mỗi con người là ở
việc làm chứ không phải lời nói. Trong công tác cán bộ và trọng dụng nhân tài, thông
thường, người ta thường xét cả về quá khứ, hiện tại, tương lai. Theo Người, cái quan
trọng nhất là hiện tại, còn cái quá khứ chỉ để tham khảo. Người lãnh đạo không nên
định kiến với cái quá khứ mà nên xét thực chất cái hiện tại. Có nhìn thấu hiện tại mới có
thể đoán định được tương lai của người cán bộ đó, xem có thể bố trí được công việc gì
phù hợp.
Về phương pháp, cách thức ĐTBD CBCC, Hồ Chí Minh coi ĐTBD, huấn luyện
cán bộ là việc làm rất quan trọng, là “công việc gốc của Đảng”, phải được tiến hành
thường xuyên. Phải xác định rõ mục tiêu ĐTBD cán bộ với các yếu tố cơ bản: học thức,
1
6


đạo đức cách mạng, tác phong và năng lực công tác. Nhưng tùy từng giai đoạn cách
mạng, tùy vào tình hình cụ thể mà Người đặt ra mục đích, nhiệm vụ ĐTBD cán bộ. Đầu
tư cho công tác ĐTBD cán bộ phải có kinh phí tương xứng với yêu cầu, không nên bủn
xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện.
Những người lãnh đạo phải tham gia giảng dạy các lớp ĐTBD cán bộ Đảng,
việc giảng dạy cũng cần phải chú ý đến người thực hiện công tác này: Theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh, phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó.
Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc dạy. Nội dung ĐTBD cán bộ phải thiết
thực, cơ bản và toàn diện. Thời gian đào tạo dài hay ngắn, số lượng cán bộ nhiều hay ít,
phải xuất phát từ tình hình thực tế, từ yêu cầu sử dụng cán bộ mà định ra thời gian, nội
dung chương trình, sắp xếp cán bộ giảng dạy các lớp ĐTBD cán bộ.
Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh phải đào tạo một đội ngũ cán bộ có gan phụ trách,
có gan làm việc, ham làm việc, có thế Đảng mới thành công. Nếu đào tạo một mớ cán
bộ, nhát gan, dễ bảo, đập đi, hô đứng, không dám phụ trách, như thế là việc thất bại cho
Đảng, “Khi đã giao việc cho cán bộ phải để cho cán bộ có quyền tùy cơ ứng biến mới
có thể phát huy tài năng của họ, không nên sớm ra lệnh này, trưa đổi lệnh khác”. Vận
dụng quan điểm nêu trên của Hồ Chí Minh trong công tác cán bộ, chúng ta sẽ khắc phục
những sai lầm cơ bản trong đào tạo, sử dụng cán bộ và trọng dụng nhân tài.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐTBD đội ngũ cán bộ được áp dụng trong thời kỳ
mới sẽ là những nội dung cơ bản để cụ thể hóa những chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước đang tạo ra động lực to lớn trong ĐTBD nhằm phát triển đội ngũ CBCC đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2.2.

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về ĐTBD CBCC

Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp,
vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến
thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân dân, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương và chính sách lớn trong nội dung
công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước ta.
1
7


Nghịquyết số 225-NQ/TW ngày20/02/1973củaBộChínhtrịkhóaIIIvềcôngtáccánbộtronggiaiđoạnmới
nhận định:“Từ trước đến nay, Đảng ta vẫn coi công tác cán bộ là một trong những vấn đề
có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Đảng đã từng bước
xây dựng đội ngũ cán bộ gắn liền với phong trào quần chúng và việc thực hiện nhiệm
vụ chính trị của Đảng". Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng đều chú trọng ĐTBD cán
bộ, phát triển và phân bố lực lượng cán bộ phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ chính trị.
Nghị quyết cũng khẳng định nhiệm vụ công tác cán bộ là chú trọng lựa chọn, đào tạo
những cá nhân ưu tú từ công nhân, nông dân và nêu vấn đề mới “ Đảng và Nhà nước ta
cần chăm lo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ trí thức của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp
công nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho người trí thức phát huy tài năng, phục vụ được
nhiều nhất cho Tổ Quốc”. Điểm nhấn của Nghị quyết là đẩy mạnh giáo dục, bồi dưỡng
cán bộ; mở rộng sinh hoạt dân chủ để tìm ra cán bộ tốt; nâng cao chất lượng giảng dạy
ở các trường đào tạo cán bộ, nhất là các trường đảng; chú trọng phát hiện các tài năng
và sử dụng tốt những tài năng đó. Sau khi Nghị quyết này ra đời, Đảng và Nhà nước đã
cử nhiều cán bộ trẻ, có năng lực được đi đào tạo tại Liên Xô, Đức, Tiệp Khắc, Bungari,
Ba Lan... Nhiều người học xong, về nước đã phát huy tốt năng lực trở thành những
chuyên gia, nhà khoa học, lãnh đạo.
Nghị quyết số 03-NQ/HNTW ngày 29/6/1992 Hội nghị Trung ương 3 khóa VII
của Đảng về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng nhấn mạnh việc rà soát, sắp
xếp, điều chỉnh, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, bố trí cán bộ theo nguyên tắc “vì việc đặt
người”, “có lên có xuống”, “Trả lương thích đáng cho những chuyên gia giỏi, những
người thực sự có tài, công tác có hiệu quả, tạo ra bầu không khí thi đua trong cán bộ”.
Tháng 6/1996, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng tiếp tục khẳng định những quan điểm đã
được nêu trong Nghị quyết Đại hội VII và nhấn mạnh: "Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, kỹ năng
hành vi ứng xử nghề nghiệp cao, vừa giác ngộ về chính trị, vừa có đạo đức liêm khiết
khi thi hành công vụ được coi là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, của chính quyền
nhằm đáp ứng ngày càng cao đối với việc xây dựng Nhà nước ta trong thời kỷ đổi mới”.

1
8


Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ đã đề ra phương hướng chung của công
tác ĐTBD cán bộthời kỳđẩymạnh công nghiệphóa,hiệnđạihóađấtnước: “ĐTBD cán bộ toàn diện cả về
lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn. Quan
tâm ĐTBD cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp và các chuyên
gia, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị; coi trọng cả đức và
tài, đức là gốc. Việc học tập của cán bộ phải được quy định thành chế độ và phải được
thực hiện nghiêm ngặt. Mọi cán bộ phải thường xuyên nâng cao trình độ mọi mặt... ”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX về nâng cao chất lượng công tác ĐTBD CBCC đã nêu:
“Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế CBCC, coi trọng cả năng lực và đạo đức; bảo
đảm tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển CBCC. ĐTBD CBCC, trước hết là cán
bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý
hành chính nhà nước. Sắp xếp lại đội ngũ CBCC theo đúng chức danh, tiêu chuẩn.
Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng CBCC, kịp thời thay thế những CBCC yếu kém
và thoái hóa. Tăng cường cán bộ cho cơ sở. Có chế độ, chính sách ĐTBD đãi ngộ đối
với cán bộ xã, phường, thị trấn”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 đã nêu: “Đẩy mạnh ĐTBD CBCC với
chương trình, nội dung sát hợp, chú trọng đội ngũ cán bộ xã, phường. Đổi mới và đưa
vào nền nếp việc thực hiện quy chế tuyển chọn, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu.
Thực hiện nguyên tắc người phụ trách công việc có quyền hạn và trách nhiệm trong
việc tuyển chọn, sử dụng CBCC dưới quyền...”.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh:
“Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo
đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí... ”, “Nhiệm vụ quan
trọng nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và người đứng đầu tổ
chức các cấp, các ngành của hệ thống chính trị.”, “Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng
bộ các khâu: đánh giá, quy hoạch, ĐTBD, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và
thực hiện chính sách cán bộ.”, “Xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng
dụng nhân tài...''''.
1
9


Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã nêu: “Đảng tập trung lãnh đạo về đường lối, chủ
trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách cụ thể. Đẩy mạnh dân chủ hóa
công tác cán bộ, qui định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong
xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ năng lực
chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới”.
Văn kiệnĐạihộiXIcủaĐảngđặtvấnđề:“Trọng dụng người có đức, có tài. Nâng cao chất
lượng công tác ĐTBD cán bộ. Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu
chuẩn, quy trình đã được quy định, lấy hiệu quả công tác và sự tín nhiệm của nhân dân
làm thước đo chủ yếu' và khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ.
Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi
mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ.
Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, ĐTBD
cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài”. “Xây dựng và thực hiện nghiêm các
cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, ĐTBD cán bộ; trọng dụng những người có
đức, có tài. Nâng cao chất lượng công tác ĐTBD cán bộ; khắc phục tình trạng chạy
theo bằng cấp. Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, nữ,
dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến
lược. Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuan, quy trình đã được
bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm
thước đo chủ yếu. Không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa”.
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng chỉ rõ nhiệm vụ “tập trung xây dựng đội
ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và pham chất, ngang
tầm nhiệm vụ”. Phát hiện kịp thời các nhân tố mới, có triển vọng, bồi dưỡng và đào tạo
hợp lý, không để lãng phí cán bộ, không để chảy máu chất xám, sao cho ngày càng có
nhiều cán bộ chiến lược tốt, cán bộ chiến lược giỏi, trung thực, dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm, có bản lĩnh sáng tạo, đổi mới, bứt phá để phát triển. Cải cách căn bản
chính sách tiền lương, bảo đảm đãi ngộ xứng đáng với cống hiến của mỗi người, tạo cơ
hội, môi trường, điều kiện cho cán bộ phát triển.
2
0


Đảng ta thực hiện đúng đắn nguyên tắc thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và
quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng
đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Làm tốt công tác quy hoạch
và đào tạo nguồn cán bộ. Đánh giá, bồi dưỡng, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu
chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ
yếu. Đổi mới, trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm
tính liên tục, kế thừa và phát triển. Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo
và quản lý. Xây dựng, chỉnh đốn hệ thống các học viện, trường và trung tâm chính trị,
nâng cao chất lượng và hiệu quả ĐTBD CBCC.
Nói tóm lại, Đảng ta vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ,
trong đó có ĐTBD, thu hút nhân tài thể hiện ở nhiều văn bản của
Đảng và Nhà nước trong nhiều giai đoạn khác nhau trên thực tế đã thu được một số kết
quả. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề xoay quanh công tác cán bộ vẫn chưa được giải quyết
hiệu quả, nhất là vấn đề khai thác, phát hiện, ĐTBD, sử dụng cán bộ chưa làm được bao
nhiêu. Đặc biệt, vấn đề trọng dụng nhân tài hầu như chưa có giải pháp hữu hiệu [60].
1.3. Những vấn đề cơ bản về thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
1.3.1. Mục tiêu của thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Theo Điều 2 Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04/8/2003 của Thủ tướng
Chính phủ, mục tiêu của ĐTBD là trang bị kiến thức về lý luận chính trị; kiến thức, kỹ
năng quản lý nhà nước; chuyên môn nghiệp vụ; kiến thức ngoại ngữ, tin học và các kiến
thức bổ trợ khác nhằm xây dựng đội ngũ công chức thành thạo về chuyên môn nghiệp
vụ đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả của bộ máy Nhà nước, có phẩm chất đạo đức tốt,
trung thành với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo Điều 2 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ, mục
tiêu ĐTBD công chức nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm
vụ, công vụ cho công chức; Góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp có
đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.

2
1


Như vậy, mục tiêu của ĐTBD CBCC là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương
pháp thực hiện nhiệm vụ cả về kiến thức chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà
nước, ngoại ngữ, tin học ... góp phần xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp có đủ
năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.
1.3.2. Nội dung thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Theo Điều 4 Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04/8/2003 của Thủ tướng
Chính phủ, Điều 6 Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ, nội dung
ĐTBD công chức bao gồm:
- Nội dung ĐTBD ở trong nước về: Lý luận chính trị; Chuyên môn, nghiệp vụ;
Kiến thức pháp luật; quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành; Tin học, ngoại ngữ,
tiếng dân tộc và các kiến thức bổ trợ khác.
- Nội dung bồi dưỡng ở ngoài nước gồm: Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng
quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành; Kiến thức, kinh nghiệm hội
nhập quốc tế.
Khi xem xét ĐTBD CBCC cần chú ý đến một số nhóm yếu tố sau:
a) Xây dựng kế hoạch ĐTBD
Để thực hiện chính sách ĐTBD CBCC, các cơ quan từ Trung ương đến địa
phương đều phải xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách và xác định được chính xác,
cụ thể các nội dung, nhiệm vụ trong kế hoạch tổ chức điều hành; trong kế hoạch cung
cấp các nguồn vật lực (bao gồm cả nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật) cho
việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC. Cùng với xây dựng kế hoạch thực hiện chính
sách, phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách.
b) Xây dựng nội dung chương trình ĐTBD
Thiết kế nội dung khóa học: Nguyên tắc cơ bản là nội dung của chương trình
ĐTBD phải đáp ứng được nhu cầu của người học. Hay nói khác đi, mục tiêu để thiết kế
nội dung, chương trình ĐTBD phải dựa trên nhu cầu của người học. Thiết kế chương
trình phụ thuộc rất lớn vào tính chính xác của việc xác định nhu cầu ĐTBD.
c) Tổ chức tuyển sinh (kết hợp với xã, phường................cán bộ đương
2
2


chức và nguồn quy hoạch)
Xác định nhu cầu ĐTBD CBCC là điều kiện tiên quyết để hoạt động ĐTBD
CBCC đạt mục tiêu mong muốn. Xác định nhu cầu ĐTBD không phải tiến hành một lần
mà phải mang tính thường xuyên. Nhu cầu ĐTBD phải được xác định cho từng CBCC;
phải xác định cho nhóm CBCC lãnh đạo, quản lý; nhóm CBCC chuyên môn. Đồng thời,
nhu cầu ĐTBD phải được xác định dựa trên nhu cầu của từng CBCC trong đơn vị.
d) Tổ chức đào tạo
Đây là một khâu rất quan trọng tạo nên chất lượng công tác đào tạo. Bởi vì, dù
nội dung, chương trình đào tạo tốt, phương pháp giảng dạy mới, phù hợp, nhưng buông
lỏng công tác quản lý đào tạo thì chất lượng đào tạo cán bộ cũng thường không cao. Do
đó, công tác tổ chức ĐTBD phải xây dựng và ban hành nội quy, quy chế học tập cụ thể
để góp phần thực hiện tốt trong quá trình tổ chức ĐTBD.
đ) Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên tham gia đào tạo
Bồi dưỡng đội ngũ giảng dạy là vấn đề rất quan trọng tạo nên chất lượng giảng
dạy, chất lượng học tập, tạo nên chất lượng công tác ĐTBD CBCC trong hệ thống chính
trị. Chính vì vậy, đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải là những người có trình độ về lý luận
chính trị, có kiến thức sâu rộng trong thực tiễn cuộc sống, có ý thức tự giác nâng cao
trình độ cho bản thân. Tổ chức các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đội ngũ giảng
viên cũng chính là tạo nên chất lượng công tác ĐTBD.
e) Xây dựng cơ chế đãi ngộ, khen thưởng CBCC tham gia ĐTBD
Chế độ đãi ngộ về vật chất và động viên tinh thần là yếu tố quan trọng để
đoàn kết, tập hợp rộng rãi các loại cán bộ, trọng dụng những người có đức, có tài trong
quá trình tham gia các hoạt động ở cơ sở. Do đó, việc chăm lo, động viên tinh thần lẫn
vật chất cho đội ngũ CBCC chính là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong hệ
thống chính trị.
g) Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách ĐTBD
Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC giúp kịp thời bổ
sung hoàn thiện chính sách đồng thời chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách,
2
3


góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách. Để theo dõi, kiểm
tra việc thực hiện chính sách phát triển CBCC cần phải am hiểu sâu sắc mục tiêu của
chính sách này, đối tượng thụ hưởng của chính sách và các quy định, công cụ, giải pháp
thực hiện chính sách. Đồng thời, nắm chắc và chính xác các quy định trong kế hoạch
thực hiện chính sách, quy chế và nội quy thực hiện chính sách.
1.3.3. Hình thức tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
ĐTBD CBCC có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau. Có
nhiều cách để phân loại các hình thức ĐTBD CBCC, tùy điều kiện cụ thể có thể áp
dụng thích ứng các hình thức. Theo Điều 22 Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày
04/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ, các hình thức cơ bản tổ chức ĐTBD CBCC là tập
trung, bán tập trung và tại chức. Theo Điều 15 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày
05/3/2010 của Chính phủ, các hình thức tổ chức ĐTBD công chức gồm 04 hình thức:
Tập trung; Bán tập trung; Vừa làm vừa học; Từ xa.
Thứ nhất, hình thức đào tạo tập trung: đây là hình thức đào tạo mà người học
phải dành toàn bộ thời gian cho học tập và nghiên cứu theo quy định của chương trình
tại cơ sở đào tạo. Tùy từng bậc học mà quy định việc tập trung thời gian nhiều hay ít
nhằm bảo đảm việc học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo. Trong đó, tập trung bậc trung
học chuyên nghiệp là 2 năm, cao đẳng tập trung học 3 năm, đại học tùy theo khối ngành
đào tạo mà có thời gian tập trung học tập tại cơ sở đào tạo từ 4 năm trở lên; đào tạo sau
đại học, chương trình thạc sĩ phải có thời gian học tập trung 2 năm, thời gian đào tạo
tiến sĩ từ 2 đến 3 năm đối với người có bằng thạc sĩ và 4 năm đối với người có bằng đại
học.
Thứ hai, hình thức đào tạo bán tập trung: đây là hình thức đào tạo mà học viên
vừa công tác vừa theo học một số buổi trong tuần hoặc một số ngày trong tháng, học
viên được tạo điều kiện học tập xen kẽ với làm việc. Đối với hình thức đào tạo này,
người học được dành một phần thời gian làm việc khác, nhưng tổng thời gian dành cho
học tập và nghiên cứu tập trung tại cơ sở đào tạo phải bằng thời gian đào tạo theo hình
thức tập trung. Trong quá trình học, học viên sẽ có ngày học, ngày làm việc, hoặc tuần
2
4


học, tuần làm việc, giúp học viên không bị gián đoạn thời gian làm việc quá lâu, không
làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức và giải quyết công việc của công chức đảm
nhiệm tại cơ quan, đơn vị công tác.
Thứ ba, hình thức đào tạo vừa làm vừa học: đây là một hình thức đào tạo được
thực hiện phổ biến, học viên chủ yếu là những người đang đi làm. Mỗi chương trình
được xây dựng tương ứng cho từng ngành và chuyên ngành đào tạo cụ thể, đảm bảo các
yêu cầu về nội dung giống như nội dung chương trình hệ chính quy cùng trình độ đào
tạo. Thời gian hoàn thành một chương trình theo hình thức vừa làm vừa học phải dài
hơn so với chương trình đó ở cùng trình độ hệ chính quy từ nửa năm đến một năm.
Thứ tư, hình thức đào tạo từ xa: đây là hình thức học trên cơ sở phát huy khả
năng tự học, tự nghiên cứu của người học dưới sự hướng dẫn, tổ chức và cung ứng tài
liệu của các cơ sở đào tạo. Cùng với sự phát triển công nghệ thông tin, hình thức ĐTBD
từ xa thông qua sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn cũng được coi là một hình thức
ĐTBD đang được quan tâm. Mục đích của đào tạo từ xa là tạo cơ hội cho người đang
làm việc, những người không có cơ hội hoặc không có cơ hội đến lớp thường xuyên
được học tập, nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức. Người học theo hình thức này chủ
yếu là tự học, tự giác, kiên trì, quyết tâm qua giáo trình, băng hình, băng tiếng, phần
mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn cá nhân, phát thanh, truyền
hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng Internet...(có sự gián cách giữa
người dạy và người học về mặt không gian và thời gian) dưới sự tổ chức của cơ sở đào
tạo.
Tùy điều kiện thực tế của từng người, học viên sẽ chọn lựa hình thức ĐTBD
thích hợp giúp họ vừa có thể dễ dàng tham gia học tập trau dồi, rèn luyện kiến thức, vừa
có thể hoàn thành công việc đang phụ trách tại đơn vị.
1.3.4. Nguyên tắc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Theo Điều 3 Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04/8/2003 của Thủ tướng
Chính phủ, việc ĐTBD công chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn của từng chức vụ, tiêu
chuẩn nghiệp vụ của từng ngạch, chức danh công chức; quy hoạch, kế hoạch xây dựng
2
5


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×