Tải bản đầy đủ

23 do an ngan hang thuong mai

Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

Chơng I :
những vấn đề cơ bản về
Ngân hàng thơng mại và vốn của ngân hàng
thơng mại
1.1 Ngân hàng thơng mại và các hoạt động chủ yếu
của NHTM.
1.1.1Khái niệm ngân hàng thơng mại.
Nh chúng ta đã biết, Ngân hàng xuất hiện rất sớm trong
lịch sử nhân loại.
Qua một quá trình phát triển lâu dài, ban đầu chỉ là
việc đổi tiền của các thơng nhân cho các nhà buôn, dần
dần có uy tín các thơng nhân này giữ hộ tiền, thanh toán
nội bộ và do tích lũy đợc nhiều tiền nên họ kiêm luôn cả cho
vay. Cuối thế kỉ thứ XVIII, ở các nớc Tây âu, các ngân hàng
dần dần đợc thành lập mới hoặc chuyển từ các ngân hàng
cho vay nặng lãi với sự phát triển kinh tế hàng hóa, đã thúc

đẩy sự hình thành ngân hàng phát hành tiền thống nhất
các tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ.
Theo luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định
nghĩa: Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận
tiền kí thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thơng mại và các
giá trị địa ốc, các phơng tiện tín dụng và hối phiếu, thực
hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm

Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

Năm 1986, ở nớc ta đã có sự chuyển biến nền kinh tế
thị trờng, có sự quản lí của nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Mọi ngời đợc tự do kinh doanh theo qui định của
pháp luật, xuất hiện nhiều hình thức sở hữu và đan xen lẫn
nhau và bình đẳng trớc pháp luật. Nền kinh tế hàng hóa
phát triển tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của nhiều loại hình
ngân hàng và tổ chức tin dụng.
Để quản lí và hớng dẫn hoạt động cho các Ngân hàng,
Tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế, bảo vệ lợi ích cá nhân và các thành phần kinh
tế, pháp lệnh số 38 ngày 24/5/1990 viết NHTM là tổ chức
kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là
nhận tiền gửi của các khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng nó để cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết khấu các
phơng tiện thanh toán. Mới đây, Nghị định do Thủ tớng
Chính phủ ban hành ngày12/9/2000, theo khoản 2 điều 1
quy định NHTM là ngân hàng thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan, vì mục
tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của
nhà nớc.
Tóm lại, dù định nghĩa thế nào cũng đều có chung
một nội dung và tính chất hoạt động là: Nhận tiền kí thác và
tiền gửi không kì hạn và có kì hạn để sử dụng vào các


nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh
khác của ngân hàng.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thơng mại:
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

1.1.2.1. Chức năng trung gian tín dụng
Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là cầu nối
giữa ngời có vốn (cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ) và ngời
cần vốn (doanh nghiệp, chính phủ, cá nhân). Thông qua việc
huy động các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, hình
thành quĩ cho vay, rồi đợc ngân hàng sử dụng để cho vay
đối với nền kinh tế gồm cả cho vay ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn. nhng chủ yếu là dùng để cho vay ngắn hạn .
Thực hiện chức năng này là xuất phát từ đặc điểm sự
tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình luân chuyển vốn của
xã hội chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn. Mặt
khác, nhu cầu tiết kiệm và đầu t trong xã hội cũng đòi hỏi
ngân hàng làm trung gian để chuyển vốn từ ngời tiết kiệm
sang ngời có nhu cầu đầu t.
Với chức năng trung gian tín dụng. Ngân hàng vừa
đóng vai trò là ngời đi vay, vừa đóng vai trò là ngời cho vay,
ngân hàng vay của cá nhân, doanh nghiệp có vốn tạm thời
nhàn rỗi nh tiền bán hàng hay tiền trích khấu hao TSCĐ cha
sử dụng, tiền tiết kiệm cá nhân và thực hiện cho vay đối
với những doanh nghiệp, các nhân cần tiền bổ sung cho các
hoạt động kinh doanh của mình nh cần mua nguyên vật liệu
nhng cha bán đợc hàng, cần mua TSCĐ nhng quỹ khấu hao cha đủ, cá nhân vay để tiêu dùng
NHTM làm đợc chức năng này do là cơ quan chuyên kinh
doanh tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết đợc tình
hình cung - cầu tín dụng, là nơi khách hàng có thể tin tởng
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

trong việc gửi tiền, thông qua việc thu hút tiền gửi với khối lợng lớn, ngân hàng giải quyết đợc mỗi quan hệ cung - cầu tín
dụng cả về khối lợng vốn vay và thời gian vay. Với chức năng
trung gian tín dụng, ngân hàng góp phần tạo lợi ích cho tất
cả các bên đó là ngời gửi tiền và ngời vay tiền cho ngân
hàng và nền kinh tế.
+ Với ngời gửi tiền: Thu đợc lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của
mình do ngân hàng trả lãi tiền gửi. Hơn nữa, ngân hàng
còn đảm bảo sự an toàn và cung cấp các phơng tiện thanh
toán.
+ Với ngời đi vay: Thoả mãn đợc nhu cầu về vốn để kinh
doanh, chi tiêu và thanh toán mà không phải tốn kém nhiều
về sức lực, thời gian cho việc cung ứng vốn tiện lợi và hợp
pháp.
+ Với NHTM : Thu đợc lợi nhuận qua chênh lệch lãi suất cho
vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng. Lợi nhuận thu đợc
chính là cơ sở để ngân hàng tồn tại và phát triển.
+ Với nền kinh tế: Thúc đẩy tăng trởng kinh tế vì nó
đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trinh tái sản xuất đợc
thực hiện liên tục và không ngừng mở rộng. Ngân hàng biến
vốn nhàn rỗi, không hoạt động thành vốn hoạt động, kích
thích quá trình luân chuyển vốn và thúc đẩy quá trình sản
xuất kinh doanh phát triển.
Chức năng trung gian tín dụng là chức năng quan trọng
nhất của NHTM, nó phản ánh bản chất của ngân hàng ngời
đi vay để cho vay, quyết định sự tồn tại và phát triển của
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

ngân hàng. Đồng thời, là cơ sở để ngân hàng thực hiện tốt
các chức năng khác.
1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán:
Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi
thực hiện chi trả theo yêu cầu của khách hàng trích tiền từ
tài khoản để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập
vào tài khoản của khách hàng và các khoản thu khác



đây, ngân hàng đóng vai trò là ngời thủ quỹ cho doanh
nghiệp, cá nhân vì nó giữ tài khoản và thực hiện thu - chi
hộ khách hàng.
Nền kinh tế phát triển, khối lợng thanh toán qua ngân
hàng càng đợc mở rộng. Chức năng trung gian thanh toán đợc
thực hiện trên cơ sở chức năng trung gian tín dụng. Thông
qua việc nhận tiền gửi của khách hàng, ngân hàng mở cho
họ tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu chi. Đây là
tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán và đặt ngân
hàng vào vị trí trung gian thanh toán. Mặt khác, việc thanh
toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có
nhiều hạn chế: Có thể xảy ra rủi ro trong vận chuyển tiền,
chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là đối với khách hàng ở xa.
NHTM thực hiện tốt chức năng này có ý nghĩa to lớn
đối với nền kinh tế. Ngân hàng cung cấp các công cụ thanh
toán khác nhau và thuận tiện nh uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi,
séc, thẻ rút tiền, thẻ tín dụng Nhờ vậy, khách hàng không
cần giữ tiền trong hay mang theo tiền để thanh toán với chủ
nợ ở xa, mà có thể sử dụng một phơng thức nào đó phù hợp
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

hơn để thanh toán. Do đó, tiết kiệm đợc chi phí lao động,
thời gian và đảm bảo an toàn. Qua đó, thúc đẩy lu thông
hàng hoá, đẩy nhanh việc tốc độ luân chuyển vốn góp
phần tăng trởng kinh tế. Đồng thơi việc thanh toán không
dùng tiền mặt qua ngân hàng sẽ làm giảm bớt lợng tiền mặt
trong lu thông, tiết kiệm đợc chi phí lu thông, chi phí in ấn,
bảo quản tiền với ngân hàng góp phần tăng thu nhập qua
thu lệ phí thanh toán và tăng nguồn vốn cho vay thể hiện
trên số d có tài khoản tiền gửi của khách hàng.
Chức năng thanh toán là cơ sở để hình thành chức
năng tạo tiền của NHTM. Nhìn vào hệ thống thanh toán ngời
ta có thể đánh giá đợc hoạt động của NHTM có hiệu quả hay
không. Vì vậy, chức năng này đợc hoàn thiện thì vai trò của
NHTM là ngời thủ quỹ của xã hội sẽ đợc nâng cao hơn.
1.1.2.3. Chức năng tạo tiền:
Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình
thành ngân hàng phát hành và ngân hàng trung gian, các
ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức năng phát
hành tiền nữa. Nhng với chức năng trung gian tín dụng và
chức năng trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra
tiền ghi sổ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng
tại Ngân hàng, đây là một lợng tiền giao dịch.
Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng sử dụng
vốn huy động đợc để cho vay. Số tiền này lại đợc khách
hàng sử dụng để mua hàng hoá và thanh toán dịch vụ. Khi
Ngân hàng nhận tiền gửi mà cha cho vay thì không tạo tiền,
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

chỉ khi thực hiện cho vay Ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền.
Nghĩa là chính từ việc cho vay đã tạo ra tiền gửi. Tuy nhiên,
để tạo ra tiền gửi thanh toán, NHTM phải làm đợc chức năng
trung gian thanh toán, tức là mở tài khoản tiền gửi thanh toán
cho khách hàng thì số tiền trên tài khoản này mới là một bộ
phận của lợng tiền giao dịch.
Từ khoản dự trữ tăng lên ban đầu, thông qua cho vay
chuyển khoản, NHTM đã tạo ra số tiền gửi gấp nhiều lần số
dự trữ ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số
mở rộng tiền gửi, hệ số này chịu tác động của nhiều yếu tố:
Tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tỉ lệ dự trữ d thừa và và tỉ lệ tiền
mặt so với tiền gửi thanh toán. Quá trình tạo tiền sẽ chấm dứt
nếu khách hàng vay bằng tiền mặt để chi tiêu hoặc khách
hàng xin rút một phần tiền mặt để thanh toán thì khả năng
tạo tiền cũng sẽ giảm. tơng tự nh trên, nếu ngân hàng không
cho vay hết số vốn có thể cho vay thì khả năng mở rộng tiền
gửi cũng giảm. Vì chỉ có phần cho vay và thanh toán bằng
chuyển khoản mới có khả năng tạo tiền.
Trờng hợp NHNN bơm thêm tiền vào lu thông thì các
NHTM sẽ tạo ra đợc lợng tiền gửi gấp nhiều lần lợng tiền trung ơng đó. Với chức năng này hệ thống NHTM đã làm tăng phơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu
thanh toán và chi trả của xã hội. Chức năng này chỉ ra mối
quan hệ giữa tín dụng Ngân hàng và lu thông tiền tệ. Một
khối lợng tín dụng mà NHTM cho vay ra làm tăng khả năng tạo
tiền, từ đó làm tăng lợng tiền cung ứng. Do đó, căn cứ vào
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

các yếu tố ảnh hởng đến khả năng tạo tiền, NHNN sẽ sử dụng
các công cụ cần thiết để kiểm soát quá trình tạo tiền và lợng
tiền cung ứng nh tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và
tái chiết khấu
Tóm lại, các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt
chẽ, bổ sung và hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung
gian tín dụng là cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện
các chức năng khác. Đồng thời, Ngân hàng thực hiện tốt các
chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền sẽ góp
phần làm tăng nguồn vốn để mở rộng hoạt động tín dụng.
1.1.3. Vai trò của NHTM đối với sự phát triển nền kinh
tế:
1.1.3.1 Ngân hàng thơng mại là nơi cung cấp vốn cho
nền kinh tế:
Vốn đợc tạo ra từ quá trình tích lũy và tiết kiệm cá
nhân, doanh nghiệp và Nhà nớc trong nền kinh tế. Do đó,
để tăng thu nhập quốc dân phải phát triển sản xuất, mở
rộng lu thông hàng hoá, tiết kiệm tiêu dùng. Mặt khác, khi
nền kinh tế phát triển sẽ tạo ra nguồn vốn, tác động tích cực
đến hoạt động Ngân hàng.
NHTM là ngời đứng ra huy động mọi nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi của mọi tổ chức, cá nhân

thuộc mọi thành

phần kinh tế. Bằng số vốn huy động đợc, thông qua hoạt
động tín dụng, Ngân hàng sẽ cung cấp vốn trở lại cho nền
kinh tế, đáp ứng kip thời vốn cho sản xuất, giúp các doanh
nghiệp mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc và công nghệ, sử
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

dụng nguyên vật liệu mới để sản xuất ra ra nhiều sản phẩm
mới vói mẫu mã đẹp, chất lợng tốt, giá cả hợp lí và hiệu
quả kinh doanh ngày càng cao, tạo cho doanh nghiệp có chỗ
đứng vững chắc trên thơng trờng.
1.1.3.2. NHTM là công cụ để nhà nớc điểu tiết vĩ mô
nền kinh tế:
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trờng, sự hoạt
động có hiệu quả của Ngân hàng sẽ là một công cụ hữu
hiệu để Nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, với hoạt động
tín dụng và thanh toán, các NHTM góp phần mở rộng khối lợng
tiền cung ứng trong lu thông. Trong trờng hợp cần áp dụng
chính sách tiền tệ chặt: NHNN giảm lợng cung tiền hay tăng
lãi suất chiết khấu. Ngợc lại, các NHTM sẽ đi vay ít đi, từ đó
làm giảm lợng tiền trong lu thông. Ngợc lại, khi áp dụng chính
sách tiền tệ lỏng, tức là tăng mức cung tiền hay giảm lãi suất
chiết khấu, các NHTM sẽ vay nhiều hơn, làm lợng tiền lu thông
tăng.
Với chức năng tạo tiền, NHTM là một trong các chủ thể
tham gia vào quá trình cung ứng tiền, tạo ra khối lợng thanh
toán lớn trng nền kinh tế. để điều tiết có hiệu quả nền kinh
tế, NHNN sử dụng các cộng cụ để điều tiết lợng tiền trong lu
thông nhằm đạt đựoc các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế
nh: ổn định giá trị tiền tệ, kiềm chế lạm phát Nhng các
công cụ này chỉ thực sự có hiệu quả khi các NHTM hợp tác
tích cực và có hiệu quả.

Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

1.1.3.3 NHTM là cầu nối nền kinh tế trong nớc với nền kinh
tế thế giới:
Trong điều kiện hội nhập hiện nay, nhu cầu giao lu
kinh tế xã hội giữa các nớc trên thế giới ngày càng trở nên
quan trọng và cần thiết. Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là
một bộ phận cấu thành của sự phát triển đó. Do đó, NHTM
với các hoạt động kinh doanh của mình nh nhận tiền gửi, cho
vay, thanh toán và các dịch vụ kinh doanh khác, sẽ thúc đẩy
ngoại thơng không ngừng mở rộng và phát triển.
Mặt khác, thông qua hoạt động tín dụng, thanh toán
quốc tế, kinh doanh ngoại tệ hoặ làm đại lí cho các Ngân
hàng, tổ chức tín dụng nớc ngoài, các Ngân hàng co điều
kiện tiếp thu các thành tựu khoa học kĩ thuật mới, nhập công
nghệ Ngân hàng với trình độ hiện đại, nâng cao trình độ
và chất lợng dịch vụ để nhanh chóng hội nhập với kinh tế thế
giới.
1.1.4. Các hoạt động chủ yếu của NHTM :
1.1.4.1. Nghiệp vụ tài sản nợ:
Nghiệp vụ tài sản nợ là loại nghiệp vụ này phản ánh quá
trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng, gồm các loại:
- Vốn tự có: Điều kiện trớc tiên để khởi nghiệp là trớc khi
đợc phép khai trơng Ngân hàng phải có đủ vốn theo qui
định. ở mỗi nớc, đòi hỏi về vốn cho việc thành lập Ngân
hàng là khác nhau.
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

Hiện nay ở nớc ta, theo luật các tổ chức tín dụng thì:
+ NHTM quôc doanh: vốn pháp định do nhà nớc cấp
100%
+ NHTM cổ phần: vốn pháp định do sự đóng góp của
các cổ đông.
+ NHTM liên doanh: vốn pháp định do sự đóng góp cổ
phần của các Ngân hàng tham gia.
+NHTM nớc ngoài: vốn pháp định là 100% vốn nớc ngoài.
- Nghiệp vụ tiền gửi: Phản ánh các khoản tiền gửi của
doanh nghiệp ở Ngân hàng để thanh toán hay an toàn tài
sản. NHTM còn huy động của cá nhân, hộ gia đình có tiền
nhàn rỗi gửi vào Ngân hàng với mục đích hởng lãi nguồn vốn
này không ngừng tăng lên và tỉ lệ thuận với sự phát triển kinh
tế xã hội, chiếm tỉ trọng lớn nhất đẻ ngân hàng kinh doanh
phản ánh bản chất của Ngân hàng là ngời đi vay để cho
vay.
+ Tiền gửi không kì hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng
có thể rút ra bất cứ lúc nào, yêu cầu Ngân hàng trích tiền từ
tài khoản để trả cho ngời thụ hởng và chuyển số tiền đựoc
hởng vào tài khoản. mục đích của khách hàng là thực hiện
thanh toán qua Ngân hàng, gọi là tài khoản tiền gửi qua
thanh toán. ở nớc ta, tài khoản tiền gửi thanh toán có hai loại:
dùng cho doanh nghiệp và dùng cho các nhân.
+ Tiền gửi có kì hạn: Là tiền gửi khách hàng rút ra sau
một thời gian nhất định từ : 3 tháng, 6 tháng đến 36
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

tháng. Ngời gửi tiền một

đợc hởng lãi, còn Ngân hàng sử

dụng vốn này để kinh doanh. Lãi xuất cao hơn lãi xuất không
kì hạn và tuỳ thuộc vào thời hạn gửi tiền và mộ số yếu tố
khác trên thị trờng.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Là tiền để dành của dân c gửi
vào Ngân hàng để hởng lãi. Ngời gửi tiền đợc Ngân hàng
cấp cho cuốn sổ, dùng để ghi số tiền gửi vào và rút ra. Hiện
nay, việc huy động tiền gửi tiết kiệm đợc thực hiện dới các
hình thức sau:
Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn.
Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn.
Tiền gửi tiết kiệm có mục đích.
Tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm gọi chung là tiền
gửi phí giao dịch. Có chung đặc điểm là hởng lãi, chủ tài
khoản không đợc phát hành séc.
- Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM sử dụng
nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có thời hạn dài, để
đảm bảo khả năng đầu t dài hạn của Ngân hàng đối với nền
kinh tế. Đồng thời, giúp ổn định nguồn vốn trong hoạt động
kinh doanh của mình. Các NHTM hiện đang áp dụng phát
hành hai kì phiếu theo hai phơng thức:
+ Phát hành theo mệnh giá: Ngòi mua trả tiền theo mệnh
giá đợc ghi trên kì phiếu. Khi đáo hạn đợc Ngân hàng hoàn
trả cả gốc và lãi cho ngời trả lãi cho ngời sở hữu, gọi là hình
thức mua kì phiếu trả lãi sau.

Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

+ Phát hành dới hình thức chiết khấu: Ngời mua kì phiếu
phải trả số tiền bằng lãi trừ đi khoản lãi mà họ đợc hởng. Khi
đáo hạn Ngân hàng hoàn trả cho khách hàng theo mệnh giá
ghi trên kì phiếu, gọi là hình thức mua kì phiếu trả lãi trớc.
- Nghiệp vụ đi vay: Các NHTM huy động vốn bằng việc
vay tổ chức tín dụng trên thị trờng tiền tệ hoặc vay NHNN
dới hình thức tái chiết khâú, vay có đảm bảo để đảm bảo
co sự cân đối trong điều hành vốn khi không cân đối đợc.
+ Vay của NHNN: Bất kì NHTM nào khi đợc phép thành
lập đều có quyền vay tiền NHNN trong trờng hợp thiếu hụt
tiền mặt NHNN Việt Nam hiện đang áp dụng 3 hình thức tái
cấp vốn đó là:
Cho vay theo hồ sơ tín dụng.
Chiết khấu, tái chiết khấu thơng phiếu và giấy tờ có giá
ngắn hạn.
Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thơng phiếu và giấy
tờ có giá ngắn hạn.
NHNN đóng vai trò là ngời cho vay cuối cùng đối với NHTM
khi gặp khó khăn.
+ Vay các NHTM và các tổ chức tài chính khác: Mục
đích nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quy định của
NHNN. Trong quá trình hoạt động, một số NHTM cho vay quá
nhiều dẫn đến thiếu hụt tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Ngợc lại một
số NHTM cho vay quá ít nên dự trữ thừa. Thời gian vay của
loại này thờng rất ngắn, không quá một tuần.

Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

+ Vay nớc ngoài: Các NHTM có thể vay các tổ vay các tổ
nớc ngoài thông qua phát hành phiếu nợ ngoại tệ. Loại tiền vay
phổ biến là USD, do đó đợc sử dụng rộng rãi trong thanh toán
quốc tế.
- Nghiệp vụ huy động vốn khác: Các NHTM còn huy
động vốn thông qua việc nhân làm đại lý hoặc uỷ thác vốn
cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nớc. để đợc sử dụng
các phơng tiện thanh toán, khách hàng phải kí quỹ ở Ngân
hàng một số tiền và Ngân hàng có thể sử dụng để kinh
doanh.
1.1.4.2. Nghiệp vụ tài sản có:
Nghiệp vụ tài sản có là nghiệp vụ phản ánh quá trình
sử dụng vốn cho vay của NHTM. Sau khi đã tạo đợc nguồn
vốn, NHTM sử dụng vốn này để cho các tổ chức có nhu cầu
vay vốn với khả năng của Ngân hàng, hiệu quả của công tác
đầu t. Ngân hàng cho vay dựa trên các nguyên tác: vốn vay
phải sử dụng đúng mục đích, có tài sản đảm bảo và phải
trả cả gốc và lãi vay đúng thời hạn. Nghiệp vụ này mang lại
thu nhập cho Ngân hàng qua việc thu lãi cho vay, đầu t có
thể nói đem lại nhiều lợi nhận nhất và đảm bảo an toàn tài
sản cho Ngân hàng.
- Nghiệp vụ cho vay: Hoạt động cho vay của Ngân
hàng rất đa dạng và phong phú, tuỳ theo tiêu thức khác nhau,
ngời ta phân loại cho vay nh:
Cho vay vốn lu động: Nhằm mục đích bổ sung vốn lu
động bảo đảm cho hoạt động sản xuất của đơn vị đợc
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

bình thờng và liên tục. Đặc điểm của loại vay này là vốn
luân chuyển nhanh, thời hạn ngắn. Do vậy, nguồn vốn cho
vay vốn lu động là là nguồn vốn tiền gửi của các tổ chức
kinh tế và dân c.
Cho vay vốn cố định: Là để xây dựng mới, cải tạo và
mở rộng sản xuất, thay thế tài sản cố định, hợp lí hoá sản
xuất và dây chuyền công nghệ.. Loại này vốn luân chuyển
chậm, thời hạn vay dài. Do đó, nguồn vốn cho vay là tiền gửi
dài hạn.
+ Theo thời gian:
Tín dụng ngắn hạn: Là những khoản cho vay dới 1 năm.


Tín dụng trung hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn

từ 1 năm đến 3 năm.
Tín dụng dài hạn: Là những khoản cho vay trên 3 năm.
Trên thực tế, ngời ta không phân biệt tín dụng trung và
dài hạn, mà thờng gộp lại thành tín dụng trung dài hạn, tức
là những khoản vay có thời hạn trên 1 năm.
+ Theo thành phần kinh tế:
Cho vay doanh nghiệp quốc doanh.
Cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Cho vay hộ sản xuất tiêu dùng.
Hơn nữa còn các khoản vay: ứng trớc, vợt chi, tín dụng tiêu
dùng, tín dụng thuê mua


Cho vay ứng trớc: là cho vay thực hiện trên hợp đồng

tín dụng, ngời vay đợc sử dụng một mức cho vay trong thời
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

hạn nhất định. NHTM mở cho khách hàng tài khoản cho vay
và chuyển số tiền vay vào tài khoản để họ sử dụng, gồm 2
loại:
Cho vay ứng trớc có bảo đảm : Đợc thực hiện trên cơ sở
khách hàng có hàng hoá, tài sản hay các chứng từ có giá làm
bảo đảm.
Cho vay ứng trớc không có bảo đảm: Là cho vay không có
hàng hoá hay tài sản làm đảm bảo, mà dựa vào sự tín nhiệm
của Ngân hàng đối với ngời vay.


Cho vay vợt chi: Là hình thức đặc biệt của tín dụng

ứng trớc, ngời vay đợc sử dụng d nợ trong một giới hạn và thời
hạn nhất định. Ngân hàng dựa vào số d trên tài khoản tiền
gửi thanh toán để sẵn sàng chi trả và chỉ đợc chi trong số
vốn của mình.


Cho vay thuê mua: Là hình thức tín dụng trung dài

hạn thực hiện thông qua cho thuê tài sản nh máy móc thiết
bị. Ngân hàng dung vốn của mình để mua tài sản theo yêu
cầu của ngời thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản
đó. Doanh nghiệp thuê phải trả tiền thuê trong suốt thời hạn
đó và không đợc huỷ bỏ hợp đồng trớc thời hạn. Khi hết thời
hạn thuê bên thuê có thể mua lại tài sản. Số tiền thuê phải bù
đắp đợc chi phí khấu hao, chi phí tài chính cho Ngân
hàng.


Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức cho vay để tài trợ

nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân. Ngân hàng cho vay trên
cơ sở khả năng tài chính và nhu cầu vay của khách hàng.
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

- Nghiệp vụ đầu t tài chính: NHTM thực hiện đầu t vốn
thông qua hoạt động hùn vốn, góp vốn liên doanh và kinh
doanh chứng khoán. Trong đó, kinh doanh chứng khoán là
hình thức phổ biến. Các NHTM còn đầu t vào trái phiếu
Chính phủ, chứng khoán của công ty để thu lợi.
- Nghiệp vụ ngân quỹ: Phản ánh vốn của Ngân hàng đợc
dùng để đảm bảo an toàn khả năng thanh toán và thực hiện
quy định dự trữ bắt buộc do NHNN đề ra. Khoản mục vốn
này gồm có:
+ Tiền mặt tại quỹ: Là tiền giấy, tiền kim loại hiện có tại
kho của NHTM. Nhu cầu dự trữ tiền mặt cao hay thấp tuỳ
thuộc vào quy mô hoạt động của Ngân hàng, nhu cầu rút
tiền của khách hàng và mang tính chất thời vụ.
+ Tiền gửi ở NHNN: Khoản tiền dự trữ bắt buộc, tiền gửi
thanh toán tại NHNN và là quy định bắt buộc, nó không tạo
ra lợi nhuận cho Ngân hàng.
+ Tiền mặt trong quá trình thu: Là khoản tiền phát sinh
do quan hệ thanh toán vẵng lai giữa các Ngân hàng. Nó xuất
hiện khi Ngân hàng đã hạch toán vào bên nợ nhng cha đợc
nhận tiền.
+ Tiền gửi ở các Ngân hàng khác: Các Ngân hàng gửi tiền
lẫn nhau để đổi lấy các dịch vụ thanh toán, giao dịch ngoại
tệ hay mua chứng khoán
1.1.4.3. Nghiệp vụ ngoại bảng
Đồng thời với việc quản lý tài sản có và tài sản nợ là rất
quan trọng, các NHTM còn mở rộng các dịch vụ:
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

+ Dịch vụ thanh toán cung ứng các phơng tiện thanh
toán, thực hiện thanh toán trong nớc nh thu chi hộ và các
dịch vụ thanh toán khác do NHNN quy định.
+ Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trờng trong nớc và
quốc tế khi đợc NHNN cho phép.
+ Các dịch vụ khác có liên quan đến hoạt động Ngân
hàng nh bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cầm đồ và
các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
+ Các Ngân hàng còn đợc phép thành lập công ty bảo
hiểm để kinh doanh bảo hiểm và cung ứng các dịch vụ theo
quy định.
Các hoạt động trên đều tác động đến thu nhập và lợi
nhuận của Ngân hàng nhng không thể hiện trên bảng tổng
kết tài sản.
1.2. Vốn và các hình thức huy động của NHTM.
NHTM có thể tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau:
Ngân hàng quốc doanh, Ngân hàng cổ phần, Ngân hàng
liên doanh. Nhng dù dới hình thức nào, các Ngân hàng luôn
đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Để đạt đợc điều đó,
công cụ duy nhất phải có là vốn. ở Ngân hàng, vốn là các
nguồn tiền khác nhau, nguồn tiền này đợc hình thành dới
nhiều hình thức.
1.2.1. Khái niệm vốn của NHTM.

Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng
tạo lập hoặc huy động đợc, dùng để cho vay, đầu t hoặc
thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Thực chất, vốn của Ngân hàng là một bộ phận của thu
nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất,
phân phối và tiêu dùng, ngời chủ sở hữu của chúng gửi vào
Ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu t.
Nói cách khác, họ chuyển nhợng quyền dử dụng vốn cho
Ngân hàng, để Ngân hàng trả lại cho họ một khoản thu
nhập.
Nh vậy, Ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn
và phân phối lại vốn dới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh
quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh
tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết
định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng.
1.2.2. Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh
Ngân hàng.
1.2.2.1. Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình
thành NHTM
Bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh
đợc đều phải có vốn vốn phản ánh năng lực chủ yếu để
quyết định khả năng kinh doanh. Với

Ngân hàng, vốn là

điều kiện quyết định thành lập và là cơ sở để tổ chức
mọi hoạt động kinh doanh, không có vốn thì không thể thực
hiện đợc các hoạt động kinh doanh.
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

Từ đặc trng kinh doanh của Ngân hàng, vốn vừa là phơng tiện kinh doanh, vừa là đối tợng kinh doanh. Các NHTM
thực hiện kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt tiền tệ trên
thị trờng tiền tệ (thị trờng vốn ngắn hạn) và thị trờng chứng
khoán (thị trờng vốn dài hạn). Vì vậy, ngoài vốn ban đầu khi
thành lập theo qui định của pháp luật, các Ngân hàng phải
thờng xuyên tìm mọi biện pháp để tăng trởng vốn trong quá
trình hoạt động kinh doanh.
1.2.2.2. Vốn quyết định khả năng thanh toán và năng lực
cạch tranh của Ngân hàng:
Trong nền kinh tế thị trờng, uy tín của Ngân hàng thể
hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả cho khách hàng.
Khả năng thanh toán càng cao, thì vốn khả dụng của Ngân
hàng càng lớn hay nói cách khác là khả năng thanh toán tỷ lệ
thuận với vốn nói chung và vốn kinh doanh nói riêng.
Thật vậy, quy mô về vốn lớn, trình độ nghiệp vụ và phơng tiện kĩ thuật hiện đại là tiền đề quan trọng để thu hút
nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội. Đồng thời, qua đó có điều kiện
mở rộng quan hệ tín dụng vói các doanh nghiệp, thành phần
kinh tế, chủ động về quy mô, khối lợng tin dụng, thời hạn trả
nợ, thậm chí quyết định mức lãi xuất hợp lý đối với khách
hàng. Vì vậy, sẽ giúp Ngân hàng thu hút đợc nhiều khách
hàng hơn và quy mô hoạt động cũng tăng lên, nâng cao vị
thế cạnh tranh trên thị trờng.

Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

1.2.2.3. Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và
các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng:
Vốn của Ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu
hẹp khối lợng tín dụng. Thông thờng, các Ngân hàng nhỏ
phạm vi hoạt động kinh doanh, khoản mục đầu t, khối lợng
cho vay ít và kém đa dạng hơn. Do đó, ảnh hởng đến khả
năng thu hút vốn của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân c,
thậm chí không đáp ứng đợc nhu cầu vốn vay của doanh
nhiệp. Họ sẽ mất khách hàng và không tận dụng đợc cơ hội
kinh doanh. Nếu là Ngân hàng lớn, nguồn vốn dồi dào chắc
chắn họ sẽ đáp ứng đợc nhu cầu về vốn, có điều kiện để
mở rộng quan hệ tín dụng với nhiều doanh nghiệp và thị trờng tín dụng.
Nguồn vốn lớn còn giúp Ngân hàng hoạt động kinh
doanh với nhiều loại hình khác nhau nh: Liên doanh liên kết,
dịch vụ thuê mua tài chính, kinh doanh chứng khoán các
hình thức kinh doanh này nhằm phân tán rủi ro và tạo thêm
vốn cho Ngân hàng. đồng thời, nâng cao uy tín và tăng sức
cạnh tranh trên thị trờng. Vì vậy, vốn có vai trò quyết định
trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2.3. Các loại vốn trong Ngân hàng thơng mại.
1.2.3.1. Vốn tự có:
Vốn tự có là vốn thuộc sở hữu của NHTM. Vốn chiếm tỷ
trọng không lớn (khoảng 10%) trong tổng nguồn vốn, song là
điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập Ngân hàng.

Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

Do tính chất ổn định của nó, Ngân hàng có thể sử
dụng vào các mục đích khác nhau nh trang bị cơ sở vật
chất, mua tài sản cố định, dùng để đầu t hay góp vốn liên
doanh vốn tự có là căn cứ quyết định khả năng thanh toán
khi Ngân hàng gặp rủi ro. Sự tăng trởng của vốn tự có sẽ
quyết định năng lực và sự phát triển của NHTM. Vốn tự có
của Ngân hàng đợc hình thành căn cứ vào hình thức tổ
chức của NHTM là: NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần hay
NHTM liên doanh
Vốn tự có gồm các thành phần: vốn tự có cơ bản, vốn
tự có bổ sung.
+ Vốn tự có cơ bản: Là vốn điều lệ.


Vốn điều lệ: do các cổ đông đóng góp và đợc ghi vào

điều lệ hoạt động của Ngân hàng, theo quy định tối thiểu
phải bằng vốn pháp định.
+ Vốn tự có bổ sung: Là vốn tự có của Ngân hàng không
ngừng dợc tăng lên nhờ nguồn vốn bổ sung, gồm quỹ dự trữ
bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt và quỹ khác.


Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Là quỹ đợc dùng với

mục đích tăng cờng vốn tự có ban đầu. Lợi nhuận hàng năm
bổ sung vào quỹ này cho đến khi đạt 50% vốn tự có thì sẽ
chuyển thành vốn tự có.
Quỹ dự trữ đặc biệt: Là quỹ dùng để dự phòng bù đắp
rủi ro trong quá trình kinh doanh nhằm bảo toàn vốn.
Các quỹ khác: Gồm có lợi nhuận cha phân phối, quỹ phúc
lợi, quỹ khen thởng, quỹ khấu hao tài sản cố định.
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

1.2.3.2. Vốn huy động:
Vốn huy động là vốn do Ngân hàng huy động đợc từ
các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua việc
thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, nghiệp vụ kinh
doanh khác và đợc dùng để kinh doanh.
Nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu
khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có
quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng thời hạn cả
gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút. Nguồn vốn
huy động không ngừng tăng lên, tỷ lệ thuận với mọi thành
phần kinh tế trong xã hội. Do đó, các NHTM luôn quan tâm
khai thác để mở rộng tín dụng. Nhng nguồn vốn này chỉ đợc
sử dụng một phần để kinh doanh, còn phải dự trữ một tỷ lệ
hợp lí để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động gồm
có: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi mà khách hàng
có thể rút ra bất cứ lúc nào và Ngân hàng phải thoả mãn nhu
cầu đó. Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không đợc trả lãi, gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi không kỳ hạn
thuần tuý.


Tiền gửi thanh toán: Là khoản tiền gửi không kỳ hạn đợc

dùng để thanh toán, chi trả cho hàng hoá, dịch vụ, các chi
phí phát sinh trong quá trình kinh doanh.


Tài khoản tiền gửi thanh toán: Là tài khoản mà việc rút và

nộp tiền đợc thực hiện bằng séc hoặc chuyển khoản.
Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.



Tài khoản vãng lai: Là tài khoản lúc d nợ, lúc d có.
Tuy nhiên, ở Ngân hàng luôn có sự chênh lệch giữa xuất

và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh toán, thờng nhập lớn
hơn xuất. Từ đó, tạo nên một khoản tiền tạm thời nhàn rỗi và
Ngân hàng có thể sử dụng một phần để kinh doanh.


Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là khoản tiền kí gửi

với mục đích an toàn tài sản, không phải để thanh toán, khi
cần khách hàng có thể rút ra để chi tiêu và Ngân hàng phải
thoả mãn yêu cầu của họ. Ngân hàng có thể sử dụng phần d
thừa nếu đảm bảo đợc khả năng chi trả.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận
giữa khách hàng và Ngân hàng về thời gian rút tiền. Các
khoản tiền gửi có kỳ hạn không đợc dùng để thanh toán, thờng có lãi xuất cao và thời hạn dài hơn.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Là một phần thu nhập của ngời lao
động cha sử dụng đến, tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi vào Ngân
hàng với mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và hởng lãi.
Tiền gửi tiết kiệm có hai loại: tiết kiệm không kỳ hạn và tiết
kiệm có kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền có thể rút
ra bất kỳ lúc nào nhng không đợc dùng các phơng tiện thanh
toán để chi trả cho khách hàng.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả
thuận của khách hàng và Ngân hàng về thời hạn gửi và rút
tiền, có mức lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.

Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của chi
nhánh NHNo & PTNH
Tỉnh Lạng
Sơn.

+ Nguồn huy động khác: Bên cạch các phơng thức trên,
các NHTM còn phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và kỳ
phiếu. Thực chất là việc huy động vốn bằng việc phát hành
các giấy tờ có giá.
Các giấy tờ có giá đợc Ngân hàng phát hành từng đợt, tuỳ
theo mục đích với sự chấp thuận của NHNN, hình thức huy
động vốn này các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi
suất tiền gửi thông thờng.
Qua trình bày trên, vốn huy động là nguồn vốn giữ vị trí
quan trọng và chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của các
NHTM, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn (khoảng
80%). Các NHTM phải tôn trọng về mức vốn huy động theo
quy định của pháp luật.
1.2.3.3. Vốn đi vay:
Vốn đi vay là quan hệ vay vốn gia NHTM vơi NHNN
hoặc giữa các NHTM với nhau hay với các tổ chức tín dụng
khác. các NHTM vay để bổ sung vốn hoạt động, khi đã dùng
hết vốn khả định mà không đủ để hoạt động kinh doanh.
Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay, NHNN sẽ cho
vay vốn ngắn hạn bổ sung, vay để thanh toán hay vay để
tái cấp vốn.
+ Vốn ngắn hạn bổ sung: Là vay để bổ sung vốn ngắn
hạn của mình. Các NHTM chỉ đợc vay khi còn hạn mức tín
dụng và hạn mức đã thoả thuận.

Chuyên đề tốt nghiệp - Đàm Huy Hoàng - lớp TC3K6 - Đại học dân
lập Đông Đô - 2004


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×