Tải bản đầy đủ

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG NUÔI LƯƠN ĐỒNG (Monopterus albus)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
YZ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG NUÔI LƯƠN ĐỒNG
(Monopterus albus)

NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
NIÊN KHOÁ: 2002 – 2006
SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐINH VIỆT HỒNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 09 - 2006


ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG NUÔI LƯƠN ĐỒNG
(Monopterus albus)

thực hiện bởi:

ĐINH VIỆT HỒNG

Luận văn được đệ trình để yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuô i trồng thủy sản

Giáo viên hướng dẫn: Phạm Văn Nhỏ

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 09-2006


TÓM TẮT
Đề tài được tiến hành từ tháng 2/2006 đến tháng 8/2006, nhằm: “Đánh giá
khả năng nuôi lươn đồng”, từ đó đưa ra những khó khăn và thuận lợi trong khi nuôi.
Thí nghiệm 1: nuôi lươn thương phẩm
Chúng tôi tiến hành thử nghiệm thức ăn để tìm loại thức ăn thích hợp cho
lươn và xem loại thức ăn nào cho lươn tăng trưởng nhanh nhất.
Nghiệm thức A: cho ăn cá rô phi cắt nhỏ.
Nghiệm thức B: cho ăn cá rô phi 50% cắt nhỏ và 50% thức ăn viên
Wosung 26% protein.
Thí nghiệm 2: thử nghiệm sinh sản
Sinh sản tự nhiên.
Sinh sản nhân tạo.
Kết qủa thu được thì lô A cho tăng trọng nhanh hơn lô B
Từ kết quả thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy lươn là đối tượng cần cho sinh
sản và bước đầu thực nghiệm chúng tôi chưa cho sinh sản thành công.

ii


ABSTRACT
“Evalution of rice-eel culture in Viet Nam”
Some trials conducted to evaluate the threaten and opportunity in rice-eel
culture.
Experiment 1: grow-out culture.
We design a trials with two kinds of feed: filleted tilapia and 50% filleted tilapia
plus 50% comercial feed.
Experiment 2: a reseach for propagation of rice-eel by natural and artificial
methods.


The result showed that:
Rice-eel fed with 100% filleted tilapia showed higher growth rate.
We think, rice-eel is an aquatic animal that must be furhter reseached on
propagation. Our priminary reseach on propagation of rice-eel did not success.

iii


MỤC LỤC
ĐỀ MỤC

TRANG

TÊN ĐỀ TÀI
TÓM TẮT TIẾNG VIỆT
TÓM TẮT TIẾNG ANH
CẢM TẠ
MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC BẢNG
DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH

i
ii
iii
iv
v
vi
vii

I.

GIỚI THIỆU

1

1.1
1.2

Đặt Vấn Đề
Mục Tiêu Đề Tài

1
1

II.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2

2.1
2.1.1
2.1.2
2.1.3
2.2
2.2.1
2.2.2
2.2.3
2.3
2.4
2.5

Đặc Điểm Sinh Học Của Lươn
Phân loại
Phân bố
Hình thái
Dinh Dưỡng và Sinh Trưởng
Dinh dưỡng
Sinh trưởng
Sinh sản
Tập Tính Sinh Sống
Một Số Bệnh Thường Gặp Của Lươn
Tình Hình Nuôi Lươn Ở Việt Nam

2
2
2
2
3
3
3
4
5
6
9

III.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

10

3.1
3.2
3.3
3.3.1
3.3.2
3.3.3

Thời Gian và Đòa Điểm Thực Hiện Đề Tài
Vật Liệu Thí Nghiệm
Phương Pháp Thí Nghiệm
Nguồn gốc lươn
Các chỉ tiêu theo dõi
Bố trí thí nghiệm

10
10
10
10
11
11

IV.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

15

4.1

Vấn Đề Con Giống

15

iv


4.1.1
4.1.2
4.1.3
4.2
4.2.1
4.2.2
4.2.3
4.2.4
4.3
4.3.1
4.3.2
4.4
4.4.1
4.4.2

Số lượng
Mùa vu
Chất lượng con giống
Vấn Đề Môi Trường Nuôi
Nguồn nước
Đất
Sục khí
Giá thể
Nuôi Lươn Thương Phẩm
Sức tăng trưởng theo thời gian
Tỉ lệ sống (khi đã ổn đònh về giống)
Thức n
Hệ số thức ăn
Sản xuất giốmg

15
16
18
18
18
19
19
20
20
21
23
23
26
27

V.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

29

5.1
5.2

Kết Luận
Đề Nghò

29
29

TÀI LIỆU THAM KHẢO

30

v


CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu Trường đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa Thuỷ Sản cùng toàn thể q thầy cô trong và ngoài
khoa đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức q báu cho chúng tôi
trong suốt quá trình học tập tại trường.
Lòng biết ơn sâu sắc nhất xin gửi đến
Thầy PHẠM VĂN NHỎ
Đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành tốt
luận văn tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn các anh Trần Văn Minh, Nguyễn Minh Hiếu đã tận
tình giúp đở.
Xin cảm ơn các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã giúp đỡ và động viên
chúng tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện đề tài.
Con xin chân thành biết ơn cha mẹ và gia đình đã dạy bảo lo lắng và động
viên con trong suốt cả cuộc đời.
Do thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế nên luận văn tốt nghiệp không
tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong được sự đóng góp của q thầy cô
và các bạn.

vi


DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ

Bảng 4.1: Nguồn gốc và số lượng lươn giống

15

Bảng 4.2: nguồn gốc vàtỉ lệ chết của lươn giống sau 7 ngày dưỡng

17

Bảng 4.3: trọng lượng lươn tăng trung bình theo thời gian

22

Bảng 4.4: tỉ lệ sống của lươn sau 8 tuần nuôi

23

Bảng 4.5: lượng thức ăn sau 8 tuần nuôi

26

Đồ thò 4.1: Tăng trưởng cua lươn theo thời giang

21

vii


DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH

trang

Hình 2.1: Lươn cái

4

Hình 2.2: Lươn đực

5

Hình 2.3: Lươn đang đu mình trên giá thể

6

Hình 2.4: Lươn nuôi sạch với mật độ cao

9

Hình 3.1: Bể dùng trong bố trí sinh sản

10

Hình 3.2: Sàn cho lươn ăn

11

Hìng 3.3: Bể nuôi thương phẩm và lươn sau 8 tuần nuôi

12

Hình 3.4: Bể bố trí sinh sản tự nhiên

13

Hình 3.5: Bể bố trí sinh sản nhân tạo

14

Hình 4.1:Lươn cái Phú Yên và buồn trứng

15

Hình 4.2: Lươn giống

16

Hình 4.3: Lươn ngoi lên thở không cần sục khí

19

Hình 4.4: Giá thể cho sinh sản và nuôi thương phẩm

20

Hình 4.5: Lươn bệnh khoanh tròn.

21

Hình 4.6: Ốc Bưu Vàng đập vỏ và cắt nhỏ

23

Hình 4.7: Cá rô Phi phi lê cắt nhỏ

24

Hình 4.8: Thức ăn viên

25

Hình 4.9: Lươn sau khi thay nước

26

Hình 4.10: Lươn bố mẹ chuẩn bò cho sinh sản

27

viii


1

I. GIỚI THIỆU
1.1

Đặt Vấn Đề

Khi nền kinh tế phát triển, mức sống của người dân được cải thiện và nâng
cao thì nhu cầu thực phẩm cũng phải đáp ứng theo nhu cầu của xã hội, vì thế ngoài
thòt của gia súc, gia cầm thì thòt cá được mọi người ưa chuộng như là nguồn đạm giàu
protein. Thòt lươn rất được người dân ưa thích, đặc biệt trong nhà hàng, quán nhậu
....Cho nên lươn được sử dụng với tỉ lệ ngày càng tăng. Lươn cũng đã trở thành mặt
hàng xuất khẩu có giá trò, tuy nhiên nguồn lợi thủy sản ngày càng giảm do đánh bắt
quá nhiều, không có bảo vệ, để duy trì nguồn cung cấp thủy sản dồi dào thì việc
thuần hoá các giống loài mới là điều quan trọng.
Trong các loài cá thuộc thủy vực nước ngọt vùng Đông Nam Á, và trong các
giống loài thuỷ sản có tiềm năng thì lươn đồng là loài được các nhà nghiên cứu quan
tâm do chúng có giá trò về mặt kinh tế cao, tăng trưởng tương đối nhanh, thòt ngon và
bổ dưỡng, lươn là một trong những loài được ưa chuộng.
Lươn đồng giống được bắt từ tự nhiên và được người dân nuôi với những điều
kiện phù hợp với từng gia đình.Vậy đâu là mô hình nuôi thích hợp nhất và đem lại
hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên thì việc nghiên cứu đưa ra mô hình nuôi
lươn thích hợp nhất là một nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu, do đó, được sự đồng ý
của Khoa Thuỷ sản, trường Đại học Nông Lâm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Đánh giá khả năng nuôi lươn đồng (Monopterus albus).
1.2

Mục Tiêu Đề Tài

Đề tài thực hiện với mục tiêu là: Từ thực nghiệm tìm hiểu những khó khăn và
thuận lợi trong nuôi lươn thương phẩm.


2

II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1

Đặt Điểm Sinh Học của lươn đồng
Phân loại – Phân bố – Hình thái

2.1.1 Phân loại
Theo các tác giả Vương Dó Khang, Mai Đình Yên, Nguyễn Viết Trường, Trần
Thò Túy Hoa, lươn đồng Việt Nam được phân loại như sau
Ngành: Chordata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Symbranchiformes
Họ: Symbranchidac
Giống: Monopterus Bloch
Loài: Monopterus albus
2.1.2 Phân bố
Lươn đồng Monopterus albus phân bố ở các thủy vực nước ngọt thuộc vùng
Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam… ở Việt Nam lươn sinh sống
nhiều nhất ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long như Long An, Tiền Giang, An Giang,
Đồng Tháp, Cà Mau, Bạc Liêu… Lươn sinh sống ở các ao, hồ, đầm, ruộng, mương
…(Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Đẩu -1982)
2.1.3 Hình thái
Thân lươn có hình ống dài, về cuối đuôi dẹp bên. Đầu hơi tròn, chiều cao đầu
cao nhất so với toàn thân. Mõm ngắn, miệng bé, rạch miệng hơi cong. Môi trên trùm
cả hàm trên, môi dưới dày, có nếp gấp. Mũi mỗi bên gồm hai lổ ở cách xa nhau, lổ
mũi trước ở đầu mõm, lổ mũi sau ở trên viền trước mắt. Mắt nhỏ, có màng mỏng che
lại. Khe mang bé dạng chữ V nằm ở mặt dưới của mặt đầu, mang có ba đôi đã bò tiêu
giảm. Đường bên có dạng rãnh lõm chạy liên tục từ sau nắp mang đến cuốn đuôi.
Thân lươn không có vảy, da trơn được bao phủ bởi một lớp nhớt. Phía lưng có
màu nâu sẩm đến đen, lườn bụng màu vàng nhạt đến cam. Ở một số cá thể, lườn


3

bụng có nhiều chấm đen phân bố trên nền trắng đến vàng nhạt, tạo màu loang lổ.
Tùy vào màu sắc mà người dân chia làm hai loại: lươn bông và lươn vàng (theo Lê
Gia Tư ).
Lươn bông mình có chấm hoa, thường ở ao, hồ tương đối sâu.
Lươn vàng toàn thân màu vàng sẫm, thường ở chổ nước nông hơn lươn bông.
2.2

Dinh Dưỡng và Sinh Trưởng

2.2.1 Dinh dưỡng
Theo nghiên cứu của Mai Đình Yên và Đoàn Văn Đẩu (1982), thì thành phần
thức ăn trong dạ dày lươn gồm:
Thức ăn động vật: giun đất, cua, ấu trùng côn trùng, tôm, ốc, cá con …
Thức ăn thực vật: lá, rể cây
Ngoài ra còn gặp mùn bã hữu cơ, đất cát, bùn.
Hai tác giả đã đi đến kết luận lươn là loài ăn tạp thiên về động vật. Khi còn
nhỏ, lươn ăn sinh vật phù du, giai đoạn tiếp ăn côn trùng bọ gậy, ấu trùng chuồn
chuồn, đôi khi ăn các cá thể hữu cơ vụn nhỏ (rễ lúa, tảo sợi…).
Lươn lớn ăn: giun, ốc, tôm, tép, cá con, nòng nọc và những động vật trên cạn
gần mép nước như: giun, dế…
Khi thiếu thức ăn lươn có thể ăn thòt lẫn nhau, lươn tìm thức ăn nhờ vào khứu
giác là chủ yếu.
2.2.2

Sinh trưởng

Mùa sinh trưởng của lươn vào tất cả các tháng trong năm, nhưng đến tháng
11-12 thì chậm tăng trưởng vì mua lạnh. Theo Lê Văn Đán (Nguyễn Phú Hoà-1992):
khi còn nhỏ lươn lớn chậm đến kích cỡ 30 con / kg thì lớn nhanh, lươn lớn nhanh nhất
ở cỡ 100gr đến 200gr.
Kết quả phân tích của Mai Đình Yên và Đoàn Văn Đẩu cho biết:
Lươn 1 tháng dài 20 - 25 cm nặng trên dưới 20 gr.
Lươn 2 tháng dài 32 - 40 cm nặng 50 gr.
2.2.3 Sinh sản


4

Theo Liu, 1944. Lươn là một loài cá lưỡng tính cái trước (Protogynous
hermaphrodite).
Theo Ngũ Hiến Văn (Nguyễn Phú Hoà-1992), tuyến sinh dục của lươn từ thời
kỳ phôi thai đến thời kỳ thành thục sinh dục lần đầu tiên là buồng trứng, sau khi đẻ,
bên trong buồng trứng có sự thay đổi: buồng trứng dần dần biến thành buồng tinh.
Như vậy mỗi cá thể trải qua hai giai đoạn cái, đực trong chu kỳ sống.

Hình 2.1: Lươn cái
Liu (1942) và Liem (1963) nhận xét: Lươn cỡ nhỏ đều thuộc lươn cái (cỡ nhỏ
hơn 22 – 28cm) cỡ từ 28 – 45,9 cm xuất hiện song song các cá thể cái, đực và dạng
gian tính (intersex), cỡ 46 cm trở lên đều là lươn đực.
Kết quả nghiên cứu lươn ở miền Bắc của Mai Đình Yên và Đoàn Văn Đẩu
(năm 1982): cỡ nhỏ hơn 25 cm là lươn cái; cỡ 25 -54 cm: gồm các cá thể lươn cái,
lươn đực và dạng gian tính, cỡ trên 54 cm là lươn đực.
Liem (1986) nghiên cứu tổ chức học tuyến sinh dục các cá thể gian tính thấy
bên cạnh những tế bào phát triển ở giai đoạn I, II đang thoái hóa có các yếu tố sinh
dục đực. Giải thích nguyên nhân và cơ chế chuyển tính sinh dục của lươn đang là vấn
đề được nhiều nhà sinh học quan tâm, tuy nhiên cho đến nay chưa có luận điểm nào
công bố chính thức về hiện tượng này.
Về cấu tạo tuyến sinh dục lươn: ở lươn trưởng thành chỉ có phần tuyến sinh
dục phải phát triển, bên trái thoái hóa chỉ còn một giải nhỏ, lươn cái bắt đầu thành
thục có khả năng sinh sản cỡ nhỏ nhất là 255 mm.


5

Hình 2.2: Lươn đực.
Khảo sát các cá thể cái ngoài tự nhiên, Mai Đình Yên và Đoàn Văn Đẩu
(1982) nhận xét: mùa đẻ chính của lươn ở miền Bắc: tháng 3 _ tháng 4. Tuy nhiên
vào các tháng khác trong năm (tháng 7, 8, 12) cũng gặp lươn cái mang trứng kích
thước lớn. Điều này chứng tỏ lươn có thể đẻ vào các thời gian khác nhau trong năm.
Theo Vũ Hiến Văn mùa đẻ của lươn ở Trung Quốc muộn hơn vào tháng 6 và 8.
Lươn đẻ trứng trong tổ, theo Liu (1964): lươn cái đẻ trứng ngoài cửa tổ, lươn
đực cắp trứng mang vào tổ ấp và bảo vệ. Lươn thường đẻ vào ban đêm hay mờ sáng.
Quan sát tổ lươn, Mai Đình Yên và Đoàn Văn Đẩu (1982) cho biết:
Tổ ở bờ ruộng ngập nước có hình chữ U như Liu (1964) đã mô tả: tổ ở bờ
sông, bờ ruộng cao có cấu trúc sau: tổ gồm “mà“ hình bầu dục ăn thông với ngách
chính đi ngầm dưới bùn, mở ra hai đến ba cửa ở giữa ruộng và một ngách nhỏ mở ra
theo cạnh đứng của bờ ruộng. Trứng trong “mà“ phủ đầy bọt lăn tăn màu vàng và
nằm sát ngay mặt nước. Các bọt này có khi có cả ở ngoài bờ ruộng.
Thường trong tổ có hai loại trứng phát triển ở hai giai đoạn khác nhau, hoặc
một số lươn con và một số trứng Liu (1964) cho rằng có hai lươn khác nhau tới đẻ
chung một tổ. Theo Mai Đình Yên thì có thể lươn đẻ trứng từng đợt nên có hiện
tượng trên.
2.3

Tập Tính Sinh Sống

Môi trường sống: Cũng giống như tất cả các loài cá đồng khác, môi trường
sống của lươn rất rộng, từ môi trường rãnh chật hẹp, đến ruộng sâu, ruộng cạn, ao hồ,
bàu đìa vừa sâu vừa rộng… Nó thích nghi được với môi trường nước tù đọng, nước lợ,
nước nhiễm phèn nhẹ, miễn là nguồn nước không quá dơ bẩn, hôi thối. Lươn thích
sống nơi có nhiều bùn, đất thòt hoặc đất sét pha.


6

Sống được trong đất khô nẻ: cũng như các loài cá đồng, môi trường sống của
lươn không thể sống thiếu nước dù là mực nước cạn gần sát đáy, ít ra cũng là lớp bùn
không ai ngờ, những năm hạn hán đến độ đất ruộng ao khô cằn nứt nẻ, lươn vẫn có
khả năng sống được trong thời gian dài dưới đất sâu, nhờ nó có khả năng thở được
bằng da.
Lươn sống trong hang: lươn biết đào hang để sống. Ban ngày, lươn chòu nhòn
đói nằm lì suốt ngày trong hang, và chỉ ban đêm chúng mới bò ra khỏi hang để đi tìm
mồi. Loại lươn nhỏ độ vài mươi con một ký chưa biết đào hang để sống, chúng chỉ
chui rúc dưới bùn, hoặc nép mình vào các bụi cỏ mọc dọc bờ ao, bờ ruộng. Chỉ loại
lươn lớn từ 100gr trở lên mới biết đào hang để ở.
Nói đến việc lươn làm hang, hang lươn cũng có ba ngách: Cửa chính của hang
trở lên mép nước khoảng 3 cm, ngoài cửa hang được “mà” trơn láng như lươn vừa
mới ra vô hang vậy. Cuối hang chính này có trỗ một hang phụ kết hợp với hang chính
thành hình chữ U chúi sâu xuống nước. Một ngách khác ăn thông lên bờ ao, bờ ruộng
để tạo không khí cho hang.
Khi vào hang, lươn rút hết thân mình vào sâu tận đáy hang, đầu lươn hướng ra
cửa chính để dễ canh phòng vừa đón những con mồi như cua đồng, cóc nhái vào hang
của nó; vừa phát giác kòp thời kẻ thù đột kích để còn kòp thoát thân… Kẻ thù của lươn
có rất nhiều như rắn nước, đồng loại của nó và sau cùng là… con người. Chỉ nhìn cửa
hang to hay nhỏ, ta có thể dễ dàng biết được con lươn nằm trong hang có kích thước
lớn bé ra sao: lươn lớn tất nhiên hang phải lớn…

Hình 2.3: Lươn đang đu mình trên giá thể.
Màu sắc biến đổi theo môi trường sống: Để ngụy trang trước kẻ thù, lươn cũng
có khả năng biến đổi được màu sắc trên thân nó phù hợp với môi trường sống chung
quanh. Nhưng khả năng biến đổi màu sắc này của lươn thua xa một số loài bò sát như
rắn, cắc kè, kì nhông… Tính lươn vốn nhát, hễ cảm thấy nguy là đã tìm cách trốn chạy
hoặc nhũi vào lớp bùn sình.


7

Giờ giấc đi ăn của lươn: ban ngày lươn nằm lì trong hang, trừ trường hợp bên
ngoài trời vẫn mưa to thì lươn mới dám trườn ra khỏi hang đi tìm mồi. Nếu lúc này ta
đặt lờ hoặc trúm trên đường nước chảy ở mương rạch, thế nào cũng bắt được cả cá lẫn
lươn. Ban đêm mới là giờ giấc kiếm ăn của lươn. Chúng bò ra kiếm mồi gần khu vực
hang của chúng, trời sắp sáng lươn mới quay trở về hang.
Dò ứng với thức ăn có mùi vò lạ: Giống lươn tuy ăn tạp, nhưng không phải vì
thế mà chúng không dò ứng với loại thức ăn có mùi vò lạ. Vì vậy, hễ nuôi lươn với loại
thức ăn gì thì nên tiếp tục cho ăn mãi loại thức ăn đó. Nếu vì lẽ gì cần phải thay đổi
loại thức ăn mới thì tốt nhất là nên tập cho chúng ăn từ từ để chúng quen với mùi vò
lạ. Nên cho lươn ăn vừa đủ no, nếu cho ăn thừa chúng sẽ chết vì bội thực. Ngược lại
nếu cho ăn không đủ no, chúng sẽ xuống sức, ốm yếu (Nguyễn Việt Thái - 2005)
Ăn thòt lẫn nhau: khi thiếu mồi ăn, quá đói, lươn lớn tìm bắt lươn bé mà ăn,
cũng như cảnh “cá lớn nuốt cá bé” vậy. Do đó, khi thả lươn giống vào nuôi trong ao
hồ, ta nên cẩn thận lựa loại lươn có cùng một cỡ như nhau để tránh hao hụt đáng tiếc
về sau. Trước đây, không ai hiểu được việc này, nên khi thả nuôi thì số lượng nhiều
như ngày thu hoạch thì chỉ bắt được số ít, không ngờ lươn có tính dữ ăn thòt lẫn nhau.
Có tài nhòn đói lâu ngày: lươn có khả năng nhòn đói được vài tuần mà không
chết, nhưng trọng lương bò giảm sút. Nhưng lươn này phải nuôi kỹ trong một thời gian
dài mới lại sức.
Thò giác kém, khứu giác tinh: cặp mắt lươn rất nhỏ, chỉ bằng hột tấm gạo, thò
giác do đó mà kém, nhưng bù lại khứu giác nó rất nhạy bén. Lươn có thể đánh hơi
được mùi vò hấp dẫn của miếng mồi từ xa, và lần mò đến đúng chỗ….(Nguyễn Việt
Thái - 2005)
Hoạt động mạnh trong mùa hè: nhiệt độ thích hợp nhất đối với lươn là từ
230C-280C. Lươn có khả năng chòu nóng hơn là chòu lạnh. Nhiệt độ dưới 100C, mọi
sinh hoạt của lươn cơ hồ như ngừng hẳn, nó ở hẳn trong hang sâu hoặc ẩn mình dưới
lớp bùn dày để trú ẩn rét. Vì vậy, vào mùa hè lươn mập mạnh hơn mùa đông, vì
chúng ăn nhiều.
Tính nhát: Những giống vật không có khả năng tự vệ trước kẻ thù đều có tính
nhát như nhau. Trên bãi ăn, khi gặp nguy, lươn chỉ biết lủi xuống bùn, hay ẩn mình
trong các bụi cỏ rậm rạp. Ban ngày, lươn rất sợ ánh sáng, nếu không thu mình trong
hang thì cũng tìm nơi tối tăm yên tónh để ẩn núp.Vì vậy, ao hồ nuôi lươn ngoài trời dù
ở trên có mái che, cũng phải thả lục bình (khoảng 2/3 mặt ao) để tạo nơi kín đáo cho
lươn ẩn núp.


8

Có khả năng đào thoát ra ngoài: mình lươn phủ đầy nhớt nên trơn tuột, nhờ đó
mà nó luồn lách giỏi, và có lẽ đây là thứ lợi khí giúp lươn trốn thoát kẻ thù.Trên vạt
đất khô ráp, lươn bò rất chậm, nhưng nếu đất ướt hoặc lấp xấp nước, lươn trườn tới rất
nhanh khó đuổi kòp nó.
Tuy không biết phóng cao như cá lóc, nhưng lươn có nhiều khả năng đào thoát
ra khỏi ao nuôi, bằng cách đào ao xuyên bờ, hoặc trườn qua bờ ao. Những ngày nắng
ráo lươn sống tại chỗ, nhưng khi mưa to gió lớn, đất quanh bờ trơn trượt, lươn thích
vượt khỏi chổ ở để đào thoát ra ngoài. Nếu bờ bò nước xói mòn, nứt nẻ, lươn sẽ đi
theo đường nước và lần lượt đi hết.
Nhìn chung lươn sống khắp ao, hồ, đầm, ruộng lúa, sông và cả khu vực nước
tù bẩn. Mặc dù mang Lươn bò thoái hóa nhưng nhờ có cơ quan hô hấp phụ như
khoang miệng, họng, ruột và da lươn có khả năng thích ứng với điều kiện ngoại cảnh
khá cao. Lươn ưa sống ở cá hang ven bờ dưới lớp bùn.
Lươn hoạt động tích cực vào ban đêm hay gần sáng. Khi trời mưa, lươn thường
vận chuyển mạnh ở bể nuôi, khi nước dân cao lươn có thể bò ra ngoài. Mùa hè và
mùa thu lươn luôn hoạt động mạnh hơn mùa đông. Mùa đông lươn thường ẩn sâu
trong hang.
Hang lươn có nhiều ngách, ngách chính là nơi lươn nhô đầu lên thở và đón
mồi. Hang lươn lớn nhỏ tùy theo kích cở của lươn, chổ ở thường có nhiều ngỏ ngách,
hang lươn không cố đònh. Khi gặp người bắt, lươn có thể tháo chạy rất nhanh xuyên
qua lớp đất tương đối rắn. Lươn thích sống nơi đất thòt pha sét, đất bùn. Màu sắc của
da lươn biến đổi theo môi trường sống.


9

2.5

Tình Hình Nuôi Lươn ở Việt Nam

Trong những năm gần đây nước ta đã phát triển nghề nuôi lươn đồng, điển
hình như An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Long An, và một số
tỉnh miền đông như: Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai…
Thường thì nông dân nuôi theo phương pháp dân gian, nguồn giống bắt chủ
yếu là từ tự nhiên, sử dụng thức ăn chủ yếu từ thức ăn sẵn có của gia đình như cá tạp,
ốc, giun...

Hình 2.4: Lươn nuôi sạch với mật độ cao.
Trong khi nuôi sự đầu tư và quản lí ao còn kém hiệu quả do lươn chui rúc đi
mất. Tuy nhiên có một số hộ ở Cần Thơ, An Giang, Vónh Long nuôi rất thành công.
Hiện nay người dân thường nuôi trong các bể bạt, ao đất, bể xi măng. Mật độ thả
thường 80-120 con/m2, sản lượng có thể đạt 5-10 kg. Sản lượng có thể cao hay thấp
còn tùy thuộc vào trình độ quản lý của người nuôi.
Lươn có giá thường khoảng 80.000đ/kg, loại một 4-5 con 1kg, loại hai 6-8 con
kg giá khoảng 70.000đ. hiện nay lươn đã có thò trường trong và ngoài nước khá mạnh,
nhưng cung không đủ cầu nên giá vẫn cao. Do vậy, người nuôi cần rút kinh nghiệm
trong kỹ thuật nuôi để phát triển nuôi lươn ổn đònh, để lươn đứng vững trên thò trường
trong nước và thế giới.


10

III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1

Thời Gian và Đòa Điểm

Đề tài được thực hiện tại trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học
Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Đề tài được tiến hành từ tháng 3/2006 đến tháng 8/2006
3.2

Vật Liệu Thí Nghiệm
Lươn giống kích thước từ 15-34 cm.
Bể composite có thể tích 1.000 lít, 500 lít, và 250 lit
Dụng cụ làm giá thể: dây nilong đen
Một số dụng cụ khác: thau, vợt, cân điện tử...

Hình 3.1: Bể dùng trong bố trí sinh sản.
3.3

Phương Pháp Thí Nghiệm

3.3.1

Nguồn gốc lươn giống
Từ nhiều nguồn khác nhau như Phú Yên, Tiền Giang, Bến Tre, Campuchia …
Lươn bố được lấy từ chợ Thủ Đức về dùng trong sinh sản.
Lươn mẹ được nuôi tại trại từ các lô thí nghiệm.


11

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
Đánh giá về chất lượng con giống.
Tỉ lệ sống.
Tốc độ tăng trưỡng.
Hệ số thức ăn.
Sản xuất giống.
3.3.3

Bố trí thí nghiệm

3.3.3.1 Dưỡng lươn trước khi bố trí thí nghiệm
Lươn giống đem về trại được tắm nước muối 3-4% trong năm phút.
Cho lươn vào bể composite nuôi trong vòng một tuần. Cho ăn ốc bươu vàng
cắt nhỏ hoặc cá rô phi cắt nhỏ. Ngày cho ăn một lần vào lúc 5 giờ chiều, thay nước
vào 6 giờ sáng.
3.3.3.2 Nguồn nước
Nguồn nước cung cấp cho bể nuôi trong trại thực nghiệm Khoa Thuỷ Sản
Trường Đại học Nông Lâm hoàn toàn là nước máy. Nước được trữ trong bể sục khí
mạnh trong 24 giờ trước khi sử dụng, để cho chlorine trong nước bay hơi hết.
3.3.3.3 Bố trí thí nghiệm
a. Thí nghiệm 1: Nuôi lươn thương phẩm

Hình 3.2: Sàn cho lươn ăn.


12

Dụng cụ: Sử dụng 2 bể composite với thể tích mỗi bể là 1.000 lít, trước khi
cho lươn vào nuôi phải vệ sinh bể thật sạch, cấp nước vào bể khoảng 30 cm và cho
dây nilon đen đã cột thành bó và được sâu vào thanh kim loại và treo hai đầu của
thanh kim loại vào thành bể. Mỗi bể làm một máng ăn hình vuông và dùng dây chỉ
nilong cột đan nhau để lươn dễ ăn mồi. Máng ăn được treo ở thành bể và ngập trong
nước khoảng 1-5cm và máng ăn được để cố đònh một chỗ.
Chọn lươn giống để nuôi: chọn những con thật sự khoẻ mạnh, bò trườn luồn
lách giỏi, loại bỏ những con bò thương tật như trầy da cụt đuôi và những con quá ốm.
a.1 Tiến hành thí nghiệm 1
Lựa lươn giống khoẻ mạnh cho vào bể composite, mỗi bể 50 con, mỗi bể có
thể tích 1.000 lít. Mỗi nghiệm thức được lập lại hai lần và hoàn toàn ngẫu nhiên.
+Nghiệm thức A1: cho ăn ốc bươu vàng đã đập hết vỏ.
+Nghiệm thức B1: cho ăn 50% ốc + 50% cám cá Wosung 26% protein.
a.2 Tiến hành thí nghiệm 2
Lươn giống được chọn ngẫu nhiên cho vào bể composite mỗi bể 1,5kg, bể
composite được dùng để bố trí thí nghiệm là 2 bể , mỗi bể 1.000 lit. Mỗi nghiệm thức
lập lại hai lần.

Hìng 3.3: Bể nuôi thương phẩm và lươn sau 8 tuần nuôi.
Nghiệm thức A2: cho ăn cá rô phi cắt nhỏ.
Nghiệm thức B2: cho ăn cá rô phi 50% cắt nhỏ và 50% thức ăn viên Wosung
26% protein.


13

b. Thí nghiệm 2: cho sinh sản lươn đồng
b.1 Cho sinh sản tự nhiên
Chuẩn bò 8 bể composite loại 250 lít, rửa sạch. Cho vào mỗi bể một lượng đất
sét như nhau ơ’một góc, đất dày khoảng 10-20 cm. Sau đó cấp nước máy đã khử
chlorin vào, mực nước cao 15 cm. Đất sét được lấy từ hồ Đất cạnh trại.

Hình 3.4: Bể bố trí sinh sản tự nhiên.
Chọn lươn đực to khỏe, hoạt bát, trọng lượng từ 300g trở lên, lươn này được
mua từ chợ Thủ Đức về.
Chọn lươn cái bụng căng tròn, khoẻ mạnh, trọng lượng từ 70-100g, lươn này
được nuôi từ nhỏ ở trại.
Cho vào mỗi bể một cặp lươn bố mẹ, cho chúng tự sinh sản không dùng kích
dục tố. Mỗi ngày cho lươn bố mẹ ăn vào buổi chiều, sáng xem có thức ăn thừa thì vớt
ra. Các bể đều được che bằng các tấm xốp.
b.2 Cho sinh sản nhân tạo
Chuẩn bò 4 bể composite loại 500 lít, rửa sạch, cấp nước vào, mức nước cao
25-30 cm, cho vào bể giá thể bằng dây nilong đen được cột thành bó.
Chọn lươn đực to khoẻ, hoạt bát, trọng lượng từ 300g trở lên, lươn này được
mua từ chợ Thủ Đức về.
Chọn lươn cái bụng căng tròn, khoẻ mạnh, trọng lượng từ 70-100g, lươn này
được nuôi từ nhỏ ở trại.


14

Cho vào mỗi bể hai cặp lươn bố mẹ, đã tiêm kích dục tố HCG và LH-RHa.
Cách pha thuốc:
+Tiêm liều sơ bộ thứ nhất và thứ hai: với liều 1.000 UI/kg
+Tiêm liều quyết đònh: với liều 60 µg/kg
+Các liều tiêm cách nhau 24 giờ

Hình 3.5: Bể bố trí sinh sản nhân tạo


15

IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1

Vấn Đề Con Giống

4.1.1

Số lượng
Bảng 4.1: Nguồn gốc và số lượng lươn giống.

Số đợt Thời gian

Nguồn gốc

1
2
3
4
5
6
7
Tổng

Phú Yên
Phú Yên
Thái Lan
Bến Tre
Tiềng Giang
Campuchia
Tiềng Giang

3-2006
3-2006
3-2006
4-2006
4-2006
5-2006
6-2006

Khối lượng Trọng lượng
(kg)
trung bình (g)
5
8
10
12
3
30
3
30
50
30
20
25
3
30
94

Số lượmg
(con)
620
850
100
100
1.500
800
100
4.070

Từ thực nghiệm cho thấy, lươn giống có số con đồng đều nhất được lấy từ Phú
Yên. Lươn lấy từ Bến Tre và Tiền Giang có độ đồng điều về đầu con không cao và
chúng ăn thòt lẫn nhau. Từ bảng trên chúng tôi có thể nói rằng người nuôi lúc nào cần
thì cũng có lươn giống cung cấp.
Lươn lấy từ Phú Yên về có một điểm đặc biệt khác với các lô lươn lấy từ các
nơi khác, là trên 60% lươn giống điều mang trứng giai đoạn IV dù kích thước và trọng
lượng rất nhỏ, trung bình 10g. Các lô lươn khác tuy trọng lượng trung bình khoảng
25g nhưng lại rất ít con mang trứng khoảng 4%. Có một câu hỏi là tại sao lươn Phú
Yên thành thục sớm như vậy và có phải nó là một loài khác hay không. Do thời gian
có hạn nên chung tôi không đi vào vấn đề này.

Hình 4.1:Lươn cái Phú Yên và buồng trứng.


16

4.1.2

Mùa vụ

Mùa vụ khai thác, theo người lái lươn thì người dân bắt đầu khai thác khi mưa
đã ngập ruộng, nhưng khi khai thác rộ là đầu tháng 6 âm lòch cho đến cuối tháng 10
âm lòch. Lúc này nước từ biển Hồ đổ về, còn gọi là mùa lũ hay mùa nước bạc, lươn
theo nước dân chui vào các ụ cỏ hoăc ụ rơm trú và tìm mồi, các ụ này được người dân
đặt thêm cua đồng hay cá giã nhuyễn để dẫn dụ. Người dân ở các tỉnh An Giang,
Kiên Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang… còn khai thác bằng cách đặt dớn. Tùy vào thời
điểm lũ về sớm hay muộn mà mùa vụ khai thác lươn cũng đến sớm hay muộn theo.

Hình 4.2: Lươn giống
Mua lươn ngay khi được khai thác và chuyển về trại thực nghiệm, lươn được
khai thác bằng xung điện ở những vùng đầm hồ còn nước ở Phú Yên. Trong khoảng
thời gian này Phú Yên đang là mùa khô, nên việc khai thác vẩn còn nhưng sản lượng
thấp.
Theo người khai thác thì mùa vụ đánh bắt chính ơ ûPhú Yên từ giữa tháng 7
đến tháng 11 âm lòch, được khai thác với số lượng lớn. Còn các tháng 12 đến cuối
tháng 6 âm lòch khai thác với số lượng ít hơn. Được đánh bắt bằng xung điện nên lúc
nào cũng có lươn con, trọng lượng từ 5-20g/con.
Vào mùa mước nỗi tháng 7 đến tháng 10 âm lòch thì người dân các tỉnh An
Giang, Đồng Tháp, Vónh Long… sẽ đánh bắt rất nhiều, khi đó giá mỗi kg lươn giống
vào khoảng 15-20 nghìn đồng. Đây là một cách đánh bắt truyền thống, cứ đến mùa
nước nổi thì người dân chuẩn bò sẳn các ụ rươm ở những nơi cần đánh bắt, sau đó đặt
mồi khi nước đã ngập đồng, tiến hành dở ụ khi lươn đã vào ăn mồi và trú luôn trong
ụ. Theo anh Việt người lái lươn thì một phần hai số lươn giống bán ở Tiền Giang
được lấy ở các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp… Ngươi nuôi mua được lươn
giống đánh bắt theo cách này thì nuôi sẽ thành công.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×