Tải bản đầy đủ

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA NUÔI CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
CỦA NUÔI CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
Thực hiện bởi

Đặng Thanh Sơn

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn:

Nguyễn Văn Tư

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 09/2005


TÓM TẮT
Đề tài “Đánh giá tác động môi trường của nuôi cá tra tại tỉnh Đồng Tháp”
được thực hiện từ tháng 03/2006 đến tháng 05/2006 tại huyện Cao Lãnh và huyện
Châu Thành thuộc tỉnh Đồng Tháp. Khảo sát trực tiếp 17 hộ nuôi cá tra ở khu vực 1

(huyện Cao Lãnh) và 33 hộ nuôi cá tra khu vực 2 (huyện Châu Thành), chúng tôi thu
được những kết quả như sau:
-

Khu vực 1 là khu vực nuôi tập trung với nhiều hộ nuôi. Họ đều là những người
có vốn đầu tư lớn. Khu vực 2 đa số là những người mới vào nghề và là những
người tự chuyjển đổi cơ cấu từ nông nghiệp sang thủy sản.

-

Tổng diện tích nuôi của mỗi hộ ở khu vực 1 đều trên 1 hecta trong khi ở khu
vực 2 là dưới 0,5 hecta. Sau mỗi vụ nuôi
, người nuôi ở khu vực 1 đa số đều không xử lý bùn đáy ao sau khi hút bùn
bằng máy lên. Điều này ngược lại ở khu vực 2.

-

Khu vực 1 thường xảy ra dòch bệnh và mức độ trầm trọng hơn so với khu vực
2.

-

100% hộ nuôi đều thừa nhận môi trường nước cấp cho ao nuôi ngày càng xấu.

-

Việc sử dụng thuốc và hóa chất của các hộ nuôi còn nhiều phức tạp. Có 36%
hộ thừa nhận jhọ biết thuốc và hoá chất đang sử dụng là bò cấm nhưng họ vẫn
sử dụng. Có 62% hộ nuôi thường xuyên trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn mà
theo họ là để phòng bệnh cho cá và giúp cá nhanh lớn.

-

Có đến 50% hộ nuôi thừa nhận các tổ chức nghề cá hoạt động yếu kém và
26% hộ nuôi cho biết họ sẽ không gia nhập các tổ chức này bởi vì họ không
nhận được nhiều sự hỗ trợ khi gia nhập.

ii



ABSTRACT
The study of “Assessment environmental impacts of Tra catfish culture at
Dong Thap province” was carried out at Cao Lanh and Chau Thanh districts from
03/2006 to 05/2006. After investigating 17 households at Cao Lanh (area 1) and 33
households at Chau Thanh (area 2), finding of the study as follows:
- Famers in area 1 have had high investment; they used to culture Tra catfish
for many years and had much experience. The farmers in area 2 have just engaged in
Tra catfish culture for two years and their investment was low.
- The average pond area was more than one hectare in area 1 and less than 0,5
hectare in area 2. Most of the farmers in area 1 did not treat pond bottom mud before
discharging outside environment.
- Fish diseases frequently with serious level in area 1 compared to area 2.
-100% households agreed that water source became poorer.
- There was a complicate issue in using antibiotics. Some banned
antibiotics have been used for fish disease treatment by 62% households.
- 50% households said that fish culture associations were good operation but
26% households said that they have never joined these associations because they
haven’t received any help from them.

iii


CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:


Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.



Ban Chủ nhiệm cùng toàn thể quý thầy cô Khoa Thủy sản đã tận tâm truyền
đạt kiến thức cho chúng tôi trong những năm qua.



Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Tư đã tận tình hướng dẫn
và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.

Xin chân thành cảm ơn:


Ban lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp,
Phòng Đòa chính tỉnh Đồng Tháp, Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp



Các anh chò cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện Châu Thành, Phòng Nông
nghiệp huyện Cao Lãnh



Ban giám đốc Trung tâm giống thủy sản tỉnh Đồng Tháp



Gia đình bác Nguyễn Văn Đức, bác Lê Hồng Mến cùng gia đình các chủ hộ
nuôi cá huyện Châu Thành và huyện Cao Lãnh



Anh Huỳnh Đức Thiện – cán bộ kỹ thuật Trung tâm Giống Thủy sản tỉnh
Đồng Tháp



Toàn thể bạn bè trong và ngoài lớp đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong suốt
thời gian thực tập đề tài.

Do hạn chế về thời gian, kiến thức và năng lực còn nhiều yếu kém nên luận văn
không thể tránh được nhiều sai sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý
thầy cô cùng các bạn.

iv


MỤC LỤC

ĐỀ MỤC

TRANG

TRANG TỰA
TÓM TẮTii
ABSTRACT
CẢM TẠ
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢN ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

i
iii
iv
v
vii
viii

I

GIỚI THIỆU

1

1.1
1.2

Đặt Vấn Đề
Mục Tiêu Đề Tài

1
2

II

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

2.1
2.1.1
2.1.2
2.2
2.2.1
2.2.2
2.2.3
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.3.5
2.3.6
2.3.7
2.3.8
2.3.9

Điều Kiện Tự Nhiên của Tỉnh Đồng Tháp
Vò trí đòa lý – đòa hình
Khí hậu
Tình Hình Kinh Tế – Xã Hội của Tỉnh Đồng Tháp
Dân số – lao động
Tình hình sử dụng đất đai
Giao thông
Vài Nét về Cá Tra
Phân loại
Phân bố
Đặc điểm hình thái, sinh lý
Đặc điểm dinh dưỡng
Đặc điểm sinh trưởng
Đặc điểm sinh sản
Lòch sử phát triển
Hiện trạng về thủy sản của tỉnh Đồng Tháp
Mối quan tâm phát triển nghề nuôi cá tra của tỉnh Đồng Tháp

v

3
3
3
5
5
5
7
7
7
7
8
8
8
9
9
10
11


III

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

13

3.1
3.2
3.2.1
3.2.2
3.3
3.3.1
3.3.2

Thời Gian – Đòa Điểm
Nội Dung và Phương Pháp Thực Hiện
Nội dung khảo sát
Phương pháp thực hiện
Phương Pháp Thu Thập và Xử Lý Số Liệu
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp xử lý số liệu

13
13
13
13
13
13
14

IV

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

15

4.1
4.1.1
4.1.2
4.1.3
4.1.4
4.1.5
4.2
4.2.1
4.2.2
4.2.3
4.3
4.3.1
4.3.2
4.3.3
4.3.4

Phân Tích Các Yếu Tố Kỹ Thuật của Một Số Mô Hình Nuôi Cá Tra
Điều kiện ao nuôi
Dọn tẩy và cải tạo ao
Chuẩn bò ao nuôi
Cá tra giống
Thức ăn cho cá tra trong khu vực nuôi
Chăm Sóc và Quản Lý
Quản lý thức ăn
Quản lý môi trường ao nuôi
Phòng và trò bệnh cá
Tác Động của Nuôi Cá Tra lên Môi Trường
Tác động của nước sông lên sức khỏe cá tra
Tác động của nước ao nuôi lên môi trường tự nhiên
Tình hình sử dụng thuốc và hậu quả của nó
Ý thức người nuôi

15
15
18
20
21
25
27
27
27
29
32
32
33
34
36

V

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

38

5.1
5.2

Kết Luận
Đề Nghò

38
39

TÀI LIỆU THAM KHẢO

40

vi


DANH SÁCH BẢN ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH

Đồ thò

Nội dung

Trang

Đồ thò 2.1
Đồ thò 2.2

Cơ cấu đất tự nhiên tỉnh Đồng Tháp
Tỷ trọng các đối tượng thủy sản tỉnh Đồng Tháp

Bản đồ

Nội dung

Bản đồ 2.1
Bản đồ 4.1
Bản đồ 4.2

Bản đồ hành chánh tỉnh Đồng Tháp
Khu vực nuôi cá tra xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh
Khu vực nuôi cá tra xã An Nhơn, huyện Châu Thành

Sơ đồ

Nội dung

Sơ đồ 4.1

Nguyên nhân giảm chất lượng con giống

Hình

Nội dung

Hình 2.1
Hình 4.1
Hình 4.2
Hình 4.3
Hình 4.4
Hình 4.5
Hình 4.6
Hình 4.7
Hình 4.8

Nuôi cá sạch trong đăng quầng
Ao cá tra với cống ở trên
Bờ ao bò sạt lở
Thiết bò sử dụng cho việc hút bùn
Thức ăn công nghiệp và máy trộn thức ăn
Nước ao nuôi bẩn đang được thay ra
Thuốc tây được người nuôi dùng trò bệnh cá tra
Cá chết không được xử lý triệt để
Cá chết làm thức ăn cho cá chim trắng

6
10
Trang
4
17
18
Trang
22
Trang

vii

12
15
19
20
26
28
30
32
33


DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

Bảng

Nội dung

Trang

Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 4.1
Bảng 4.2
Bảng 4.3
Bảng 4.4
Bảng 4.5
Bảng 4.6
Bảng 4.7
Bảng 4.8
Bảng 4.9
Bảng 4.10
Bảng 4.11
Bảng 4.12
Bảng 4.13

Tình hình dân số – Lao động tỉnh Đồng Tháp
Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Đồng Tháp
Thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên
Thống kê diện tích nuôi cá tra – basa tỉnh Đồng Tháp năm 2005
Điều kiện ao nuôi của khu vực nuôi cá tra
Tỉ lệ (%) hộ nuôi xử lý bùn đáy ao
Tỉ lệ (%) hộ nuôi đánh giá chất lượng nước
Nguồn cung cấp giống
Một số cỡ cá được thả nuôi
Tỉ lệ (%) hộ nuôi xử lý cá tra giống trước khi thả
Tỉ lệ (%) hộ nuôi thả cá tra giống với các mật độ khác nhau
Sử dụng thuốc và hóa chất
Chi phí một vụ nuôi
Phương pháp xử lý cá chết của người nuôi
Liều lượng thuốc trò bệnh cá tra
Sử dụng thuốc phòng bệnh cho cá tra
Ý kiến hộ nuôi về tham gia các tổ chức thủy sản

viii

5
6
8
10
16
19
21
22
23
24
25
30
31
33
35
35
36


I. GIỚI THIỆU
1.1

Đặt vấn đề

Cá tra – cá basa là những đối tượng cá nước ngọt có năng suất nuôi cao nhất, có
giá trò dinh dưỡng khá cao và tiềm năng xuất khẩu lớn. Với những điều kiện thuận lợi
về tự nhiên như: nguồn nước, giống, thức ăn, khí hậu, …; về xã hội: kinh nghiệm, giao
thông, thò trường, … nên việc nuôi cá tra – cá basa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) trở nên phổ biến và mang lại lợi nhuận cao cho người nuôi. Tuy nhiên, việc
phát triển một cách ồ ạt, không quy hoạch cụ thể, không có sự kiểm soát chặt chẽ đã
làm cho môi trường nuôi ngày càng xấu đi, dòch bệnh lan tràn, đồng thời lợi nhuận từ
việc nuôi giảm đáng kể.
Điển hình cho những khó khăn là giai đoạn cuối năm 2005 và đầu năm 2006,
tình hình dòch bệnh diễn ra trầm trọng nhất làm hàng trăm tấn cá tra nuôi ao và nuôi
bè dọc sông Tiền và sông Hậu chết chỉ trong vòng có vài ngày. Hầu hết những mẫu cá
chết đưa đi xét nghiệm cho thấy đều có biểu hiện của bệnh mủ gan. Tình trạng dòch
bệnh diễn ra đã làm cho người nuôi điêu đứng do thua lỗ, nợ ngân hàng hàng chục tỉ
đồng.
Trước tình hình dòch bệnh ngày càng phát triển theo hướng phức tạp, Bộ Thủy
Sản đã chỉ đạo Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II phối hợp với các sở thủy sản
xây dựng, đònh hướng cho các vụ nuôi sau về: số lượng lồng bè, ao dọc hai sông; mật
độ thả, kỹ thuật, …; đề ra chính sách giúp nông dân thua lỗ vượt qua khó khăn.
Đồng Tháp là một trong số những “điểm nóng” của nghề nuôi cá tra. Mặc dù
mới phát triển vài năm gần đây, nhưng người nuôi đã nhanh chóng tiếp cận với nhiều
mô hình nuôi thâm canh như: ao, bè, đăng quầng. Tuy nhiên, ý thức về sử dụng thuốc,
hóa chất, kỹ thuật quản lý chất lượng nước, bảo vệ môi trường khu vực nuôi, … vẫn còn
hạn chế. Như vậy, việc nuôi cá ở đây có liên quan gì đến tình hình dòch bệnh chung?
Nguy cơ của việc phát triển ồ ạt nghề nuôi cá tra ảnh hưởng như thế nào tới môi trường
nuôi thủy sản? Khó khăn mà người nuôi gặp phải ở mức độ ra sao?
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công của Khoa Thủy sản trường Đại
học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá tác động môi
trường của nuôi cá tra tại tỉnh Đồng Tháp”.


-21.2

Mục tiêu đề tài
-

Tìm hiểu một số yếu tố kỹ thuật của mô hình nuôi cá tra ao.

-

Phân tích sự ảnh hưởng của môi trường nước nuôi cá tra lên môi trường tự
nhiên.

-

Phân tích tình hình sử dụng hóa chất và hậu quả của nó trong nuôi cá tra.


-3-

II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1

Điều Kiện Tự Nhiên của Tỉnh Đồng Tháp

2.1.1

Vò trí đòa lý - Đòa hình
Đồng Tháp là một tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long với vò trí:
- Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 48,7 Km
- Nam giáp tỉnh Vónh Long
- Đông giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
- Tây giáp tỉnh An Giang và Cần Thơ
Đòa hình chia làm hai vùng lớn: phía Bắc sông Tiền và phía Nam sông Tiền.

2.1.2 Khí hậu
2.1.2.1 Chế độ thủy văn
Chế độ thủy văn của tỉnh Đồng Tháp chòu tác động của ba yếu tố: nước lũ từ
thượng nguồn sông Mêkông, mưa nội đồng và thủy triều.
+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 06 năm sau: mức nước sông, kênh rạch
chòu tác động của thủy triều với biên độ triều rất lớn. Vùng phía Bắc sông Tiền biên
độ từ 0,4 đến 1,0 m. Đỉnh triều thường thấp hơn mặt ruộng từ 0,8 đến 1,5 m; đỉnh
triều dao động tùy theo cao độ từng vùng. Thời gian duy trì đỉnh triều ngắn nên mức
độ khai thác tự chảy bò giới hạn từ tháng 01 đến tháng 05.
+ Mùa lũ từ tháng 07 đến tháng 11 và cách 3 đến 5 năm lại có một trận lũ
lớn. Từ tháng 07 đến tháng 08, nước lũ vào đồng ruộng từ các cửa kênh rạch, khi vượt
qua bờ bao kênh, bờ bao ruộng với mức nước tương ứng tại Hồng Ngự là 3,5 m lũ bắt
đầu tràn vào đồng qua biên giới và gây lụt toàn bộ khu vực. Đỉnh lũ cao nhất xuất
hiện vào tháng 09 đến tháng 10. Độ ngập sâu trung bình lớn hơn 1,0 m đối với khu
vực Bắc sông Tiền và thấp hơn 1,0 m cho khu vực phía Nam sông Tiền. Trong mùa
lũ, ảnh hưởng của triều không lớn nhưng ảnh hưởng của lượng mưa nội đồng sẽ làm
tăng nhanh mức độ ngập lũ trong toàn tỉnh.


-42.1.2.2 Nhiệt độ - Lượng mưa
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,040C. Số giờ nắng trung bình là 6,8 giờ/
ngày, một năm bình quân có 2.527 giờ nắng. Lượng mưa trung bình hằng năm
khoảng 1.174 – 1.518 m.

Bản đồ 2.1 Bản đồ hành chánh tỉnh Đồng Tháp


-52.2

Tình Hình Kinh Tế - Xã Hội của Tỉnh Đồng Tháp

2.2.1 Dân số - Lao động
Toàn tỉnh có 9 huyện và 1 thò xã với tổng diện tích 3.238 km2, tổng số dân
1.639.357 người. Tuy nhiên, sự phân bố dân số là không đồng đều ở các huyện – Thò
xã: huyện Tam Nông 212 người/km2 (diện tích 459 km2), huyện Lấp Vò 732
người/km2 (diện tích 244 km2) … Sự phân bố lao động trong các ngành nghề cũng
không đồng đều và có sự thay đổi hàng năm đáng kể.
Bảng 2.1 Tình hình dân số – lao động của tỉnh Đồng Tháp
Chỉ tiêu
1/ Dân số
- Nam
- Nữ
2/ Lao động
- Nông – lâm nghiệp
- Tiểu thủ công nghiệp
- Thương nghiệp
- Thuỷ sản
- Nghề khác

Số lượng (người)

Tỷ trọng (%)

1.639.357
798.619
840.738
835.776
630.169
49.879
52.003
41.606
72.119

100,0
48,7
51,3
100,0
75,4
6,0
6,2
5,0
7,4

Qua bảng trên ta thấy: số người trong độ tuổi lao động là 835.776 người,
chiếm 51% dân số tỉnh. Đa số còn hoạt động trong lónh vực nông – lâm nghiệp
(chiếm 75,4%) tuy có giảm chút ít so với năm 2003 (80,9%). Tuy nhiên, lực lượng lao
động trong lónh vực nông nghiệp có trình độ học vấn và chuyên môn còn thấp, thời
gian nhàn rỗi còn nhiều, nhất là vào mùa lũ.
Bên cạnh nông nghiệp, thủy sản là ngành mới mẽ nhưng có những bước phát
triển nhanh chóng: năm 2003 chiếm tỷ trọng 1,5% thì nay gần 5%. Điều đó cho thấy
thủy sản đang dần phát triển, thu hút nhiều lao động và là một trong những ngành thu
ngoại tệ mũi nhọn của tỉnh: năm 2005, kim ngạch xuất khẩu là 63,8 triệu USD.
2.2.2 Tình hình sử dụng đất đai
Đồng Tháp là tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, được phù sa sông Tiền bồi đắp nên
đất là một yếu tố quan trọng cho phát triển nông nghiệp cũng như nuôi trồng thủy
sản. Tình hình sử dụng đất của tỉnh được liệt kê trong bảng sau:


-6Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Đồng Tháp
Khoản mục

Diện tích (ha)

Tổng diện tích tự nhiên
1/ Đất nông nghiệp
- Đất trồng cây hàng năm
- Đất trồng cây lâu năm
- Đất có mặt nước nuôi
trồng thủy sản
2/ Đất thổ cư
3/ Đất chuyên canh
4/ Đất chưa sử dụng
- Đất chưa sử dụng
- Đất có mặt nước chưa sử
dụng

Tỷ lệ (%)

323.800

100,0

212.448
29.790
36.77

65,6
9,3
1,1

20.723
8.743
48.246
338
47.908

6,4
2,7
14,9
0,7
14,2

Qua bảng trên ta thấy: diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp lớn nhất –
chiếm tỷ trọng 76%, chủ yếu sử dụng cho trồng lúa – hoa màu và cây ăn trái (xoài,
nhãn, cam). Thấp nhất là diện tích nuôi trồng thủy sản (1,1%). Tuy nhiên, vì thuỷ sản
đem lại lợi nhuận cao, tiềm năng xuất khẩu lớn, đem lại ngoại tệ cao; đồng thời diện
tích mặt nước chưa sử dụng còn khá cao (14,2%) nên trong những năm tới, với sự đầu
tư của người dân, nhà nước, các doanh nghiệp, diện tích nuôi trồng thủy sản sẽ tăng
cao, và nuôi trồng thủy sản dần trở thành ngành kinh tế riêng biệt – mũi nhọn của
tỉnh.

3%

14%

6%

Đấ t chưa sử dụ ng
Đấ t thổ cư
Đấ t nô ng nghiệ p

77%

Đấ t chuyê n canh

Đồ thò 2.1 Cơ cấu đất tự nhiên của tỉnh Đồng Tháp


-72.2.3 Giao thông
Hệ thống giao thông được tỉnh Đồng Tháp ưu tiên đầu tư xây dựng, nhất là
trong những năm trở lại đây. Toàn tỉnh có 2.700 km giao thông đường bộ phân bố
khắp tỉnh gồm: 3 Quốc lộ (QL 30, QL 80, QL 54) với tổng chiều dài 190,8 km; 14
tỉnh lộ với tổng chiều dài 376,1 km; Đường huyện với tổng chiều dài 767,64 km;
đường xã 1.217,122 km; Đường đô thò 147,74 km.
Bên cạnh hệ thống giao thông đường thủy với 339 sông – kênh – rạch, tổng
chiều dài 2.838 km thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa, hành khách liên tỉnh và nội
thành, đưa nước và rút nước cho đồng ruộng ... Các tuyến sông chính: sông Tiền, sông
Hậu, kênh Tân Thành – Lò Gạch, sông Sa Đéc – rạch Lấp Vò, rạch Nha Mân . . .
Ngoài ra, tỉnh còn có 2 cảng sông lớn: cảng Đồng Tháp và cảng Sa Đéc với các dòch
vụ quan trọng: đòa lý hàng hải, bốc xếp, kho hàng, giao nhận vận tải, chuyển tải cho
tàu biển Việt Nam và tàu nước ngoài.
2.3 Vài Nét về Cá Tra
2.3.1 Phân loại
Cá tra là một trong số 11 loài cá thuộc họ Pangasiidae, phân bố trong thuỷ vực
tự nhiên thuộc lưu vực sông Mêkông. Tài liệu phân loại gần đây nhất của tác giả
Rainboth (1996) (trích bởi Nguyễn Văn Khánh,1996) xếp cá tra nằm trong giống cá
tra dầu. Cá tra của ta khác hoàn toàn với cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) thuộc họ
Ictaluridae.

Phân loại cá tra:
Bộ cá nheo: Siluriformes
Họ cá tra: pangasiidae
Giống cá tra dầu: Pangasianodon
Loài cá tra: Pangasianodon hypophthalmus
(Sauvage, 1878)
2.3.2 Phân bố
Cá tra phân bố ở khu vực sông Mêkông, có mặt ở bốn nước Việt Nam, Lào,
Campuchia và Thái Lan. Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Mêklông và sông
Chao Phraya. Ở Việt Nam, do cá tra có tập tính sống di cư ngược dòng lên thượng
nguồn để sinh sản nên ít gặp cá tra trưởng thành trong tự nhiên.


-82.3.3 Đặc điểm hình thái, sinh lí
Cá tra là loài cá da trơn, thân dài, lưng xám đen, bụng màu bạc, miệng rộng,
hai đôi râu dài.
Cá tra sống chủ yếu ở vùng nước ngọt, có thể sống ở vùng hơi lợ (S=7-10%),
chòu đựng được pH > 5, khoảng nhiệt độ từ 150C – 390C. Cá tra có số lượng hồng cầu
trong máu nhiều hơn các loài cá khác. Cá có cơ quan hô hấp phụ, có thể hô hấp bằng
bóng khí và da nên chòu đựng được môi trường thiếu oxy hoà tan.
2.3.4

Đặc điểm dinh dưỡng

Cá tra là loài cá ăn tạp thiên về động vật. Ở giai đoạn cá bột, khi vừa hết noãn
hoàng thì cá thích ăn mồi tươi sống, chúng có thể ăn thòt lẫn nhau. Khi cá lớn, cá thể
hiện tính ăn rộng. Trong ao nuôi, cá có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn
khác nhau như cám, rau, động vật đáy. Ngày nay, với việc nuôi thâm canh cá tra,
thức ăn công nghiệp với thành phần dinh dưỡng cân bằng đang được khuyến khích sử
dụng.
Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên cho thấy thành
phần thức ăn khá đa dạng.
Bảng 2.3 Thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên
Thành phần
Nhuyễn thể
Cá nhỏ
Côn trùng
Thực vật thượng đẳng
Thực vật đa bào
Giáp xác

Tỉ lệ (%)
35,4
31,8
18,2
10,7
1,6
2,3

(Nguồn: Menon và Cheko, 1955; trích bởi Phạm Văn Khánh, 1996)
2.3.5

Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra có tốc độ tăng trưởng nhanh: cá ương trong ao và sau 2 tháng đạt chiều
dài 10 – 12 cm (14 – 15 g). Trong tự nhiên đã bắt được cá nặng 18 kg, hoặc có con
dài 1,8 m. Cá có thể sống trên 20 năm trong tự nhiên. Cá nuôi trong ao sau 6 tháng đã
có thể đạt từ 0,8 - 1,2 kg/con.


-92.3.6

Đặc điểm sinh sản

Cá tra là loài di cư sinh sản ngược dòng về phía thượng lưu. Trong tự nhiên chỉ
gặp cá tra thành thục trên sông ở đòa phận của Campuchia và Thái Lan. Mùa thành
thục trong tự nhiên từ tháng 5 - 6 dương lòch. Tuổi thành thục của cá tra đực là 2 tuổi
và cá tra cái là 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu khoảng 2,5 – 3 kg. Cá trong
tự nhiên chỉ thành thục 1 lần/năm, cá nuôi vỗ trong ao có thể thành thục 1 – 3
lần/năm. Cá đẻ trứng dính, sức sinh sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng/kg cá cái.
Trứng thụ tinh sau 24 giờ nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn.
2.3.7 Lòch sử phát triển
Cá tra là một trong các loài cá nuôi quan trọng nhất của khu vực Đông Nam
Á. Bốn nước lưu vực sông Mêkông đã có nghề nuôi cá tra truyền thống là Việt Nam,
Lào, Campuchia và Thái Lan. Ở Campuchia, sản lượng cá tra nuôi chiếm ½ tổng sản
lượng cá nuôi. Các nước như Malaysia, Indonesia đã nuôi có hiệu quả từ thập niên
70-80 của thế kỉ trước. Một số nước đã nhập cá tra đã thuần hoá như Trung Quốc
(1987), Đài Loan (1969), Philippine (1978) (Phạm Văn Khánh, 1996).
Ở Việt Nam, từ những năm 1940, cá tra đã được nuôi trong ao và phát triển
nghề nuôi cá tra ở Miền Nam đã góp phần cung cấp nguồn thực phẩm chính yếu của
người dân. Vào những năm1980 cá tra vẫn là đối tượng nuôi chủ yếu ở khu vực Nam
Bộ. Năm 1985, hơn 90% diện tích ao hầm ở An Giang nuôi cá tra; tại khu vực Tân
Châu, Châu Đốc, Hồng Ngự, Long Xuyên, nghề nuôi cá bè đã phát triển từ lâu và
mang tính công nghiệp. Kể từ khi việc sinh sản nhân tạo cá tra thành công và có thể
áp dụng trên diện rộng vào năm 1998, nghề nuôi cá tra ao hầm và cá tra bè quy mô
công nghiệp phát triển mạnh mẽ khắp vùng ĐBSCL.
Hiện nay, với việc mở rộng thò trường xuất khẩu sang các nước Châu Âu và
các nước khác, các doanh nghiệp và người nuôi đang cố gắng đáp ứng đủ về số lượng
đạt về chất lượng đối nguồn nguyên liệu cá tra. Điều đó đồng nghóa với việc tận dụng
tối đa diện tích mặt nước sẵn có, mở rộng diện tích mặt nước. Với những lợi nhuận
mang lại từ cá tra, những người nuôi cá đã tự cải thiện cuộc sống gia đình về kinh tế,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế ( từ nông nghiệp trồng lúa, cây ăn trái sang nuôi thủy sản),
góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế của tỉnh. Nghề nuôi cá tra đã được một số tỉnh miền
Trung và miền Bắc (Huế, Ninh Bình …) tiếp cận và đang thử nghiệm tuy chưa nuôi
trên diện rộng.


- 10 2.3.8 Hiện trạng về thủy sản của tỉnh Đồng Tháp
Năm 2005, hoạt động thủy sản của tỉnh gặp không ít khó khăn như thời tiết
bất lợi, giá cả có nhiều biến động, chi phí sản xuất tăng cao … nhưng thuỷ sản Đồng
Tháp đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là triển khai các dự án đạt hiệu quả, góp
phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của ngành nông nghiệp.
Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản tỉnh 2005 đạt 2.808 ha với các đối tượng và
thành phần như sau:

12%

Câ y thủ y sinh

13%

41%

Cá tra
Tô m cà ng xanh

6%

Nuô i nhử
Cá khá c

28%

Đồ thò 2.2 Tỷ trọng các đối tượng thủy sản tỉnh Đồng Tháp
Tổng sản lượng thuỷ sản đạt 139.000 tấn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 63,8 triệu
USD, tăng 24,7 triệu USD. Đồng thời giải quyết việc làm cho 41.606 người.
Bảng 2.4 Thống kê diện tích và sản lượng nuôi cá tra – basa tỉnh Đồng Tháp năm
2005
Hạng mục
1/ Nuôi cá tra
- Nuôi ao
- Nuôi bè
2/ Nuôi cá basa

Diện tích
(ha)

Thể tích
(m3)

Sản lượng
(tấn)

45.000
5.664

85.000
5.000
600

744

(Nguồn: Báo cáo sơ kết vụ Đông Xuân- kế hoạch Hè Thu và nuôi trồng thủy sản
2005, UBND tỉnh Đồng Tháp)


- 11 Riêng về lónh vực cá da trơn: là một tỉnh đi đầu trong sinh sản nhân tạo và
nuôi cá tra, Đồng Tháp đang có những bước phát triển mạnh về kinh tế do kim ngạch
xuất khẩu cá tra mang lại. Diện tích nuôi được mở rộng với một tốc độ khá nhanh:
nếu năm 2004 diện tích là 441,2 ha, thì đến đầu năm 2006 diện tích là 744 ha, tăng
43%. Phần lớn diện tích nuôi được đầu tư theo quy mô thâm canh, tập trung nhiều
nhất ở các huyện như: Châu Thành (250 ha), Cao Lãnh (148 ha), Thanh Bình (70 ha),
Thò xã Séc (70 ha). Một số huyện như Lấp Vò, Lai Vung, Thanh Bình và Thò xã
Cao Lãnh đều có dự án phát triển nuôi trồng thủy sản đang được triển khai, trung
bình mỗi dự án trên 20 ha (ưu tiên phát triển nuôi cá tra thâm canh và nuôi tôm càng
xanh ruộng lúa).
Hiện nay, giá thành sản xuất cá tra, basa lồng bè cao nên số lồng bè đã
chuyển dần sang đối tượng khác như: cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus), cá
lóc (Chana striatus), …
2.3.9 Mối quan tâm phát triển nghề nuôi cá tra của tỉnh Đồng Tháp
Một trong những mối quan tâm hàng đầu của tỉnh là làm sao thiết lập được
vùng nuôi cá tra tập trung, có hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ và đạt chất lượng. Đồng
thời, việc nuôi cá không làm ảnh hưởng đến môi trường môi trường sinh thái, chất
lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
Hiện nay, do yêu cầu chất lượng sản phẩm thủy sản nói chung và yêu cầu chất
lượng sản phẩm từ cá tra - basa nói riêng, khu vực ĐBSCL đã thiết lập được những
mô hình nuôi cá tra đạt tiêu chuẩn chất lượng để xuất khẩu như: nuôi cá sạch với mô
hình nuôi cá trong ao kín, nuôi cá sạch với mô hình nuôi đăng quầng. An Giang là
một tỉnh đi đầu trong việc thực hiện những mô hình này. Với mô hình nuôi cá sạch
trong ao kín, trong giai đoạn năm 2005 và nửa đầu năm 2006, An Giang đã xuất khẩu
được trên 60.000 tấn cá tra đạt tiêu chuẩn cá sạch. Ngoài ra, với mô hình nuôi cá
sạch trong ao đăng quầng, An Giang đã xuất khẩu được trên 1.000 tấn sang thò trường
Đức. Cá tra được nuôi trong mô hình nuôi sạch luôn bán với giá cao hơn cá tra nuôi
trong mô hình nuôi cá truyền thống, môi trường nước không bò ảnh hưởng nhiều,
người nuôi cá sạch được công ty chế biến ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với giá cố
đònh nên không sợ cá rớt giá, …


- 12 -

Hình 2.1 Nuôi cá sạch trong đăng quầng
Do yêu cầu của thò trường, với sự khuyến khích của Hội nghề cá, cùng với
những kết quả khả quan của mô hình nuôi cá sạch, tỉnh Đồng Tháp đang hướng người
nuôi đến mô hình nuôi cá bền vững. Hiện nay, Trung tâm giống của tỉnh đang sản
xuất giống cá tra cho mô hình nuôi cá bền vững và bước đầu thực hiện mô hình trên
với mục tiêu đề ra cho năm 2007 là 50.000 tấn cá sạch.


- 13 -

III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1

Thời Gian – Đòa Điểm
- Thời gian: 28/02/2006 – 24/05/2006.
- Đòa điểm: huyện Cao Lãnh và huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp.

3.2

Nội Dung và Phương Pháp Thực Hiện

3.2.1 Nội dung khảo sát
- Phân tích một số yếu tố kỹ thuật của mô hình nuôi cá tra ao.
- Phân tích sự ảnh hưởng của môi trường nước nuôi cá tra lên môi trường tự
nhiên.
- Phân tích tình hình sử dụng hoá chất và hậu quả của nó trong nuôi cá tra.
3.2.2 Phương pháp thực hiện
Phỏng vấn trực tiếp 17 hộ nuôi cá tra ở xã Bình Thạnh – huyện Cao Lãnh và
33 hộ nuôi cá tra ở xã An Nhơn - Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp bằng phiếu điều tra
đã chuẩn bò sẵn.
3.3

Phương Pháp Thu Thập và Xử Lý Số Liệu

3.3.1

Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thu thập dựa trên phiếu điều tra có sẵn. Việc điều tra được tiến hành
ngẫu nhiên tại 2 huyện thuộc tỉnh Đồng Tháp.
- Số liệu sơ cấp: thu thập từ phỏng vấn người nuôi.
- Số liệu thứ cấp: thu thập từ Phòng Nông nghiệp huyện Châu Thành, Phòng
Nông nghiệp huyện Cao Lãnh, Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp, Sở Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp.


- 14 3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập sẽ được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả với phần
mềm Excel.


- 15 -

IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1

Phân Tích Các Yếu Tố Kỹ Thuật của Mô Hình Nuôi Cá Tra Ao Kín

4.1.1

Điều kiện ao nuôi

Trong tất cả các mô hình nuôi cá tra hiện nay (ao kín, ao lửng, đăng quầng,
lồng bè), yếu tố quan trọng nhất là vò trí khu vực nuôi. Việc chọn vò trí trong mô hình
nuôi ao đất để có được một ao nuôi thoáng, cấp thoát nước được dễ dàng, nguồn
nước sạch là điều quan trọng.
Vì tất cả các hộ nuôi được khảo sát đều nằm trong khu vực đất bãi bồi, là đất
phù sa nên ít bò nhiễm phèn, rất phù hợp cho phát triển nuôi cá tra. Các ao đều có
dạng hình chữ nhật, thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý. Mỗi ao đều có hai cống
được đặt ở hai độ sâu khác nhau: cống thứ nhất (còn gọi là bọng cơi), được đặt cách
đáy ao 2,5 – 3m với mục đích cho nước ra vào thường xuyên; Cống thứ hai được đặt
cách đáy ao 0,2 – 0,5m với mục đích tháo cạn nước trong ao. Miệng cống được lắp
đặt hệ thống lưới chắn có nhiệm vụ ngăn cá theo nước ra ngoài và ngăn cản ngoại vật
cũng như cá tạp bên ngoài vào trong.

Hình 4.1 Ao cá tra với cống ở (trên bọng cơi)
Qua điều tra 50 hộ nuôi ở tỉnh Đồng Tháp, dựa vào vò trí nuôi chúng tôi chia
làm hai khu vực riêng biệt. Phỏng vấn trực tiếp 17 hộ nuôi cá tra trong khu vực cồn
nổi có đê bao ở xã Bình Thạnh – huyện Cao Lãnh: đây là khu vực xa nguồn cấp
nước, những hộ nuôi ở đây đa số là những doanh nghiệp có vốn lớn – nuôi lâu năm,
đồng


- 16 thời mức thiệt hại do bệnh tật trong nuôi cá tra khá lớn trong giai đoạn cuối năm 2005
(khu vực 1); Phỏng vấn trực tiếp 33 hộ nuôi cá tra trong ao ở khu vực ven cồn nổi
không có đê bao thuộc xã An Nhơn – huyện Châu Thành: đây là khu vực gần nguồn
cấp nước và hầu hết những hộ nuôi cá tra ở đây đều là những hộ mới chuyển đổi cơ
cấu nông nghiệp sang thủy sản từ 2004 (khu vực 2).
Khảo sát về điều kiện ao nuôi chúng tôi thu được những kết quả như sau:
Bảng 4.1 Điều kiện ao nuôi của khu vực nuôi cá tra
Chi tiết
2

Tổng diện tích (m )
< 10.000
10.000 – 30.000
30.000 – 50.000
> 50.000
Độ sâu (m)
< 2.5
2,5 – 3
3–4
Điều kiện đất sử dụng trước khi nuôi
Đất hoang
Đất trồng cây ăn trái
Khác

Khu vực 1

Số hộ

Khu vực 2

0
2
5
10

33
0
0
0

0
13
4

0
22
11

13
2
2

0
27
6

Qua Bảng 4.1 ta thấy, ở khu vực 1 có tổng diện tích phổ biến là trên 1 ha (15
hộ); còn ở khu vực 2 thì diện tích nhỏ hơn 1 ha chiếm 100%. Riêng khu vực 1, mỗi ao
trung bình 6.000 – 8.000 m2 và mỗi chủ hộ có trên 2 ao. Với diện tích ao trung bình
như trên, việc chăm sóc và quản lý dễ dàng, ít tốn kém về lâu dài; Với những hộ nuôi
tự chuyển đổi cơ cấu từ nông nghiệp sang thủy sản: việc ao có diện tích nhỏ cũng một
phần vì vốn ít.
Về độ sâu mực nước, xét chung thì tất cả các hộ nuôi đều có ao ở độ sâu trên
2,5m. Theo những người nuôi, ở mức nước sâu như vậy – do mật độ nuôi dày, cá
thường xuyên bơi lội làm nước xáo động – nên ít có sự thay đổi nhiệt độ cũng như
không có sự phân tầng nước trong ao. Điều này giúp cho cá có thể bơi lội khắp ao,
tránh tập trung là điều tốt.
Theo Yang Yi và Yuan Derun (2003), nhiệt độ nước ở 3 độ sâu khác nhau
trong ao nuôi cá tra (0,5 m; 2,5 m và 5,5 m) đo tại huyện Hồng Ngự lần lượt là
26,40C;


- 17 26,30C và 26,50C. Điều này chứng tỏ không có sự phân tầng nước trong ao nuôi cá tra
về nhiệt độ. Và điều này cũng cho thấy sự suy luận của người dân là hợp lý. Bởi vì
theo lý thuyết, nếu độ sâu càng cao thì cá sẽ càng di chuyển nhiều hơn, tốn nhiều
năng lượng cho việc bắt mồi, hô hấp, … Tuy nhiên, xét theo đặc điểm sinh học và
thực tế nhận thấy, cá tra thích sống ở tầng nước sâu (Phạm Văn Khánh, 1996).
Về điều kiện sử dụng đất trước khi nuôi cá:
+ Ở khu vực 1 đa phần là đất hoang (với 13 hộ chiếm 76,5%). Vì đây là khu
vực bãi bồi mới, tính chất đất là đất phù sa, pH = 6,5 – 8,5, đất có khả năng giữ nước
tốt nên thích hợp cho nuôi cá tra. Tuy nhiên, vì đây là khu vực thuộc đất Nhà nước
nên các doanh nghiệp – hộ nuôi đều phải thuê và tự cải tạo. Đồng thời, Nhà nước
cũng đã lập dự án vùng nuôi cá tra nên các doanh nghiệp, hộ nuôi cũng được hỗ trợ
về vốn, kỹ thuật và một số điều kiện khác.

Bản đồ 4.1 Khu vực nuôi cá tra xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh (khu vực 1)
+ Ở khu vực 2, đa số đất trước khi nuôi cá là đất dành cho trồng cây ăn trái. Với
lý do trồng cây ăn trái dễ bò thất mùa, giá lại không ổn đònh, đồng thời mỗi năm chỉ
thu hoạch được một tháng nên thu nhập không cao và không ổn đònh. Việc nuôi cá tra
mang lại lợi nhuận cao đã kích thích người dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ nông


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×