Tải bản đầy đủ

Thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn huyện tân thành, tỉnh bà rịa vũng tàu

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ GIÁNG HƢƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TÂN THÀNH,
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ GIÁNG HƢƠNG


THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TÂN THÀNH,
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VĂN TẤT THU

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn “Thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn huyện
Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
thông tin có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn tài liệu. Nghiên
cứu hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở công trình, đề tài nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Giáng Hƣơng


LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu tại Học viện Khoa học xã hội, đến nay tôi
đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Để có được kết quả này, tôi xin được gửi lời
trân trọng cảm ơn và biết ơn sâu sắc tới Thầy PGS.TS Văn Tất Thu-Nguyên Thứ
Trưởng Bộ Nội vụ đã tận tình hướng dẫn tôi rất nhiều trong quá trình xác định
hướng nghiên cứu, hoàn thiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo ở Học viện khoa học xã hội đã
tận tình truyền đạt các kiến thức bổ ích trong suốt khóa học, Văn phòng Khoa Chính
sách công đã tạo những điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong quá trình theo học tại
đây.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các đồng chí lãnh đạo
Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; các phòng, ban, đơn vị cùng người thân,
gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian qua để tôi được đi học và hoàn thành luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


Học viên

Nguyễn Thị Giáng Hƣơng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
TINH GIẢN BIÊN CHẾ Ở NƢỚC TA ...................................................................8
1.1. Một số khái niệm: Biên chế; tinh giản biên chế, chính sách tinh giản biên
chế; thực hiện chính sách tinh giản biên chế ..........................................................8
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về tinh giản biên chế .........11
1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế
...............................................................................................................................16
1.4. Nội dung các bước trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế ...18
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế .23
1.6. Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế
...............................................................................................................................27
1.7. Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế ...............29
1.8. Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách tinh giản biên chế ......................31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN
CHẾ TẠI HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU........................33
2.1. Tình hình kinh tế xã hội và thực trạng biên chế của huyện Tân Thành, tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu ..................................................................................................33
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện Tân
Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ..............................................................................39
2.3. Thực trạng các chủ thể tham gia thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại
huyện Tân Thành ..................................................................................................47
2.4. Thực trạng bảo đảm các yêu cầu trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản
biên chế tại huyện Tân Thành ...............................................................................48
2.5. Kết quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện Tân Thành .........50
2.6. Đánh giá chung kết quả tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại
huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ............................................................56


Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ................61
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế ở
nước ta hiện nay từ thực tiễn Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu .........61
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế ở
nước ta hiện nay từ thực tiễn Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu .........62
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH

Bảo hiểm xã hội

CBCC

Cán bộ, công chức

CBCCVC

Cán bộ, công chức, viên chức

HĐND

Hội đồng Nhân dân

UBND

Ủy ban Nhân dân

XHCN

Xã hội Chủ nghĩa


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tình hình biên chế của huyện Tân Thành ................................................36


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế là những yếu tố cơ bản, nền tảng
để xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân, một nền hành chính phục vụ
nhân dân. Tư tưởng về xây dựng mô hình chính quyền tinh gọn, hiệu quả và việc
tinh gọn bộ máy và tinh giản biên chế đã được Hồ Chí Minh sớm đặt ra. Kế thừa tư
tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta nhiều lần đề ra
chủ trương, sắp xếp, kiện toàn hệ thống chính trị gắn với việc tinh giản biên chế,
trong văn kiện Đại hội XII của Đảng đã đánh giá: “Hơn 30 năm đổi mới, đất nước
ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử” [12, tr. 65.]. Tuy nhiên,
“Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, nguồn lực và hiệu quả hoạt
động của hệ thống chính trị chưa xứng tầm nhiệm vụ”[ 12, tr. 68.]
Trên lĩnh vực tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, cũng như nhiệm vụ tinh
giản biên chế, Đảng ta đã có nhiều Nghị quyết quan trọng như Nghị quyết Ban
Chấp hành Trung ương lần thứ bảy (khóa VIII) tháng 8 năm 1999 về “Một số vấn
đề về tổ chức, bộ máy …”, trong đó đã xác định nhiệm vụ “tích cực chỉ đạo việc
giảm biên chế hành chính các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, biên chế gián tiếp
trong các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước với mức phấn đấu giảm khoảng
15%”[1] . Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) tháng 02 năm 2007 về đổi
mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định hướng đổi mới, kiện toàn tổ
chức bộ máy nhà nước, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội và Nghị
quyết Trung ương 5 (khóa X) tháng 8 năm 2007 về đổi mới cải cách hành chính,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước. Nghị quyết đề ra nhiệm vụ
“Làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch cán bộ, công chức; thông qua
việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, xác định những người đủ và không đủ.
Có chính sách thích hợp đối với những người không đủ tiêu chuẩn phải đưa ra khỏi
bộ máy”, “Đổi mới công tác quản lý biên chế”[3]. Chủ trương tinh gọn bộ máy,
tinh giản biên chế của Đảng tiếp tục được đề cập trong Kết luận Hội nghị lần thứ
bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, tháng 5 năm 2013. Kết luận chỉ rõ “Đổi
1


mới tổ chức bộ máy chưa gắn với việc tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức. Số lượng cán bộ, công chức, nhất là viên chức ở các đơn vị
sự nghiệp công lập và cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn tăng nhanh”. Đồng
thời, đề ra nhiệm vụ “Tiếp tục thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, từ nay đến
năm 2016 cơ bản không tăng biên chế của cả hệ thống chính trị. Cơ cấu lại và
chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, có chính sách và biện pháp đồng
bộ để thay thế những người không đáp ứng được yêu cầu”[4]. Triển khai thực hiện
chủ trương tinh giản biên chế được khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng,
Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 132/2007/NĐ-CP, ngày 08/8/2007 và Nghị
định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế.
Thực hiện chính sách tinh giản biên chế của Chính phủ, trong thời gian qua
trong cả nước nói chung, tại Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nói riêng đã
đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, đã tinh giản được một số cán bộ, công chức,
viên chức (CBCCVC), chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC), bộ máy hoạt
động hiệu lực, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được còn bộc lộ
các hạn chế, bất cập như: “Mục tiêu chính sách tinh giản biên chế chưa thật sự đạt
được như mong muốn, chưa thật sự giảm được những người cần giảm, tình trạng
những người chưa đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn
vị chưa khắc phục được, chưa được tinh giản, sàng lọc loại ra khỏi bộ máy”[25].
Các hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiện chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến
thực hiện mục tiêu chính sách. Các hạn chế, bất cập đó cần phải được nghiên cứu để
đề xuất các giải pháp khắc phục. Từ lý do phân tích nêu trên, tôi chọn đề tài “Thực
hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà RịaVũng Tàu” làm Luận văn Thạc sỹ Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế, vấn đề sắp xếp tinh gọn bộ máy
là vấn đề mà Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, Nghị quyết
và các nhà nghiên cứu, các cuộc hội thảo, công trình nghiên cứu khoa học đã chọn
để làm đề tài nghiên cứu liên quan đến việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế.
2


Hầu hết các chủ trương, công trình, các cuộc hội thảo đều tập trung nghiên cứu việc
tinh giản biên chế đối với nhóm đối tượng CBCCVC ở nước ta hoặc ở một số ngành
như:
+ Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ trương tinh giản biên chế rất được
Người quan tâm và đặt ra từ rất sớm, Người viết như sau: Nói chung, các cơ quan
đều phải tiết kiệm. Riêng cơ quan cùng cấp tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải
sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý, mọi người đều có công việc thiết thực, những người
thừa phải đưa đi chỗ thiếu, những người ở lại phải thi đua nâng cao năng suất của
mình. Thế là tinh giản, tinh là đưa năng suất lên cao, làm cho mau, cho tốt, giản là
vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức [19, tr. 432]. Người cho rằng, một bộ
máy gọn nhẹ, không có chỗ dư thừa sẽ tiết kiệm được tiền bạc của dân, với nội dung
cáchviết ngắn gọn của Bác như vậy nhưng vẫn thể hiện đầy đủ nội dung, mục đích
của việc tinh giản biên chế.
+ PGS.TS Văn Tất Thu: Kết quả thực hiện Nghị định số 132/2007/NĐ-CP

ngày 8/8/2007 của Chính phủ và giải pháp tinh giản biên chế trong thời gian tới Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 6/2014 và bài viết về thực trạng, nguyên nhân tăng
biên chế và các giải pháp tinh giản biên chế - Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 9/2014.
Các nội dung bài viết đã chỉ ra một số kết quả sau 5 năm thực hiện chế độ tinh giản
biên chế theo Nghị định 132/NĐ-CP của Chính phủ, đã giảm được só lượng đáng
kể số lượng người ra khỏi bộ máy (giảm được 67.398 người), tuy nhiên mục tiêu
chính sách chưa đạt được như mong muốn, chưa thật sự giảm được những người
cần giảm, qua đó tác giả cũng đã phân tích rõ các nguyên nhân, hạn chế, bất cập để
từ đó đề ra phương hướng và giải pháp thực hiện tinh giản biên chế nước ta trong
thời gian tới.
+ TS. Lê Như Thanh - Tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính nhà
nước- Thách thức và giải pháp, nội dung được đăng trên tạp chí tổ chức nhà nước
trang điện tử, ngày 17/3/2017, bài viết đã đề cập được những thách thức đặt ra từ
thực tiễn tinh giản biên chế ở Việt Nam hiện nay và đề ra giải pháp nâng cao hiệu
quả tinh giản biên chế ở nước ta trong thời gian tới.
3


+ PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải - Trưởng Khoa Tổ chức và quản lý nhân
sự chủ trì hội thảo với chủ đề: “Tinh giản biên chế - thách thức và giải pháp”. Qua
hội thảo, hầu hết các ý kiến đều thống nhất là: tinh giản biên chế là một việc không
mới nhưng có rất nhiều cản trở trong quá trình thực hiện, cản trở lớn nhất đó là chưa
có cơ sở khoa học để xác định chính xác đối tượng thuộc diện tinh giản biên chế; sự
nể nang, né tránh trong quá trình thực hiện; vấn đề lợi ích; trách nhiệm của người
đứng đầu tổ chức. Đồng thời, đề ra nhiều giải pháp ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, tập
trung vào những vấn đề chủ yếu sau: cải cách tổ chức bộ máy; hoàn thiện Đề án vị
trí việc làm; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; xây dựng
tiêu chí đánh giá CBCCVC; cải cách tiền lương và các chế độ phúc lợi; khoán chi
phí theo kết quả; tăng cường sự tự chủ về tài chính và biên chế đối với đơn vị sự
nghiệp công.
+ Luận văn Thạc sỹ chính sách công năm 2017 của tác giả Vũ Thị Nhàn bàn
về: Thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, nội dung Luận văn cũng đã nêu và phân tích thực trạng, nguyên nhân và đề
xuất phương hướng, giải pháp thực hiện chính sách tinh giản biên chế ở nước ta
trong thời gian tới.
Với các nội dung về thực hiện chính sách tinh giản biên chế, mỗi tác giả đều
nghiên cứu ở mức độ khác nhau như thực trạng tình hình cả nước hay ở một bộ,
ngành cụ thể trong thực hiện chính sách tinh giản biên chế, qua đó đề ra giải pháp
để nâng cao hiệu quả tinh giản biên chế ở nước ta nói chung.
Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu trong luận văn này lại được nghiên cứu tại
một địa phương cụ thể, từ những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, nguyên
nhân bất cập trong việc thực hiện chính sách biên chế tại địa phương sẽ đề xuất
những giải pháp thiết thực nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách tinh giản biên chế
tại địa phương nghiên cứu trong thời gian tới đạt hiệu quả hơn, góp phần thực hiện
chính sách tinh giản biên chế chung của cả nước.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
4


Xác định quan điểm, phương hướng, nội dung, phương pháp thực hiện chính
sách tinh giản biên chế tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tinh
giản biên chế ở nước ta hiện nay.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại
huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, bất cập, nguyên
nhân của các hạn chế, bất cập.
- Xác định phương hướng, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách tinh giản biên chế tại Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong
thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách tinh giản biên chế trong hệ thống chính trị tại địa
phương huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tinh giản biên chế trong hệ thống
chính trị tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu từ khi Bộ Chính trị ban hành
Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17 tháng 4 năm 2015 đến nay (từ năm 2015 đến
năm 2017).
- Phạm vi không gian: huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
- Phạm vi thời gian: từ năm 2015 đến năm 2017
- Phạm vi đối tượng của chính sách: tinh giản biên chế đối với CBCCVC
trong hệ thống chính trị tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta về
tinh giản biên chế và thực hiện chính sách tinh giản biên chế. Đồng thời, vận dụng
5


cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học kết hợp với sử dụng phương pháp
luận nghiên cứu chính sách công, nhất là các phương pháp phân tích trong tổ chức
thực hiện chính sách công.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đặc biệt coi trọng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
để nghiên cứu việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện Tân Thành,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống, so sánh, phân tích,
tổng hợp để đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện
Tân Thành, nhằm nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận để có cơ sở khoa
học khi đề ra sự cần thiết và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách tinh giản biên chế tại Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong thời
gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Các kết quả, kết luận, kiến nghị, đề xuất rút ra từ việc nghiên cứu đề tài luận
văn có giá trị và ý nghĩa thiết thực góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý
luận về thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách tinh giản biên
chế nói nói riêng ở Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn thể hiện ở chỗ: Luận văn đã đề xuất được các
giải pháp thiết thực có tính khả thi để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính
sách tại Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nói riêng, trong cả nước nói
chung. Thực hiện các giải pháp do luận văn đề xuất chắc chắn sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Huyện Tân Thành. Đó
chính là các đề xuất thiết thực góp phần nâng cao chất lượng biên chế của UBND
huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành chính sách công trong các
cơ sở đào tạo đại học, sau đại học ở Việt Nam.

6


7. Kết cấu luận văn
Với nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn được kết cấu như sau: ngoài
mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3
chương, gồm:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tinh giản biên chế ở
nước ta
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện Tân
Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Chương 3. Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
tinh giản biên chế tại Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong thời gian tới

7


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN
BIÊN CHẾ Ở NƢỚC TA
1.1. Một số khái niệm: Biên chế; tinh giản biên chế, chính sách tinh giản
biên chế; thực hiện chính sách tinh giản biên chế
* Khái niệm biên chế
Có thể hiểu các khái niệm biên chế qua các nội dung sau:
Theo Nghị định số 71/2003/NĐ-CP, ngày 19/6/2003 của Chính phủ về phân
cấp quản lý biên chế hành chính sự nghiệp nhà nước đã đưa ra khái niệm: Biên chế
hành chính là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc
giao giữ một công vụ thường xuyên trong các tổ chức giúp bộ trưởng, thứ trưởng cơ
quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND, UBND huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý hành chính
nhà nước được giao”, “biên chế sự nghiệp là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào một ngạch viên chức, hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong các
đơn vị sự nghiệp nhà nước về giáo dục và đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa, nghệ
thuật, thể dục, thể thao và các đơn vị sự nghiệp khác do cơ quan có thẩm quyền
quyết định thành lập để phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc để thực hiện một
số dịch vụ công của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, và HĐND,
UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định của pháp luật” [……NĐ71]
Theo quy định của Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ, thì: Biên chế
của các tổ chức khoa học và công nghệ là “kế hoạch biên chế số lượng người làm
việc của đơn vị, được lập ra nhằm bảo đảm khối lượng công việc của tổ chức khoa
học công nghệ. Thủ trưởng tổ chức khoa học công nghệ tự quyết định số lượng biên
chế căn cứ vào tính chất, khối lượng công việc và nguồn thu của đơn vị tự quyết
định hình thức tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch viên chức theo quy định của nhà
nước và giao nhiệm vụ cho viên chức theo hợp đồng” [……NĐ115]. Nói một cách
khác, biên chế của đơn vị sự nghiệp thuần túy chỉ là số người cần để làm việc do
đơn vị tự quyết định, không sử dụng làm căn cứ để cấp kinh phí hoạt động thường
xuyên từ ngân sách nhà nước.
8


Theo khoản 1, Điều 3, Nghị định 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của
Chính phủ thì: “Biên chế” được hiểu gồm: biên chế cán bộ, biên chế công chức, số
lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng được
cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật.[……NĐ108].
Hiện nay, ở nước ta, biên chế nhà nước là căn cứ để cấp kinh phí hoạt động
thường xuyên hàng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức. Biên chế trong cơ quan nhà
nước được hiểu là số người làm việc trong cơ quan để thực hiện chức năng, nhiệm
vụ được giao và được hương lương từ ngân sách nhà nước, do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt và giao làm căn cứ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên
hàng năm.
Tóm lại, nội hàm của khái niệm biên chế của các cơ quan nhà nước gồm các
điểm sau: là số lượng nguời làm việc thường xuyên trong cơ quan được hưởng
lương từ ngân sách nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền nhà nước duyệt và giao
làm căn cứ để cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm của cơ quan. Nội
hàm của khái niệm biên chế nhà nước như vậy chưa phản ánh mặt chất lượng, cơ
cấu của biên chế.
* Khái niệm về tinh giản biên chế
- Theo khoản 2, Điều 3, Nghị định 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của
Chính phủ thì: “Tinh giản biên chế” được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra
khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp
tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những
người thuộc diện tinh giản biên chế.[9]
Như vậy, tinh giản biên chế là việc áp dụng các giải pháp phân loại, sàng lọc
loại ra khỏi bộ máy những biên chế không cần thiết làm cho đội ngũ CBCC chất
lượng hơn, tinh thông hơn. Mục đích của tinh giản biên chế là làm cho biên chế của
cơ quan, đơn vị tổ chức có chất lượng hơn, hợp lý hơn. Mục tiêu của tinh giản biên
chế không đơn thuần là giảm về số lượng CBCC, giảm chi phí hành chính, giảm
ngân sách nhà nước. Mục tiêu chính của tinh giản biên chế là làm cho cơ cấu, chất
lượng, số lượng của đội ngũ CBCC, nhất là chất lượng chuyên môn, phẩm chất đạo
đức nghề nghiệp, ngày một nâng cao, ngày một tốt hơn, hợp lý hơn và như vậy tinh
9


giản biên chế không mâu thuẫn với việc tuyển dụng mới CBCC, tinh giản biên chế
tạo cơ sở để tuyển dụng mới CBCC vào bộ máy. Tinh giản biên chế không thuần
túy giảm theo số lượng mà phải tinh giản theo cơ cấu CBCC. Quan niệm chính xác
và đầy đủ như vậy thì khi tiến hành tinh giản không chỉ tinh giản những CBCC đến
tuổi nghỉ hưu hoặc không đủ sức yếu để làm việc mà phải xem xét tinh giản CBCC
theo cơ cấu: cụ thể theo ngạch, bậc nếu dôi dư CBCC ở ngạch nào phải tinh giản
CBCC ở ngạch bậc ấy; theo trình độ đào tạo: nếu thừa CBCC ở trình độ đào tạo nào
cần phải tinh giản CBCC ở trình độ ấy; theo giới tính nếu dôi dư CBCC theo giới
tính nào thì phải tinh giản theo giới tính đó v.v..
* Khái niệm chính sách tinh giản biên chế
Trước hết, có thể nghiên cứu các khái niệm về chính sách công, như sau:
“Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước
nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết
các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền” [14, tr.
67-70].
Hiểu một cách rộng hơn: “Chính sách công là chính sách của Nhà nước là
kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định,
tập hợp các quyết định chính trị có mối liên quan với nhau với mục tiêu, giải pháp
cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, duy trì
sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục người dân”.
Hay theo Quy định tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, ngày
14/5/2016 của Chính phủ: “Chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để
giải quyết các vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định”.
Từ khái niệm chung của chính sách công, có thể đưa ra định nghĩa: Chính
sách tinh giản biên chế là quan điểm, là tập hợp các quyết định có liên quan của
Nhà nước về tinh giản biên chế với mục tiêu, giải pháp cụ thể nhằm phân loại, đánh
giá, sàng lọc đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu
công việc, không tiếp tục bố trí công tác công tác khác và giải quyết các chế độ cho
họ. Nói cách khác, chính sách tinh giản biên chế là tổng thể những quan điểm, các
quyết định của Nhà nước về tinh giản biên chế với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ
thể nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC; thu hút những người có đức, có
10


tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan đảng, nhà nước và tổ chức chính trị xã hội, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
quốc tế; góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, tiết
kiệm, giảm chi thường xuyên, cải cách chính sách tiền lương.
* Khái niệm thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Thực hiện chính sách là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách,
được tiến hành ngay sau khi chính sách được ban hành. Theo PGS.TS Nguyễn Hữu
Hải, ông cho rằng, tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí
của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt
mục tiêu định hướng, Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các bước
trong chu trình thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách. So với các
khâu trong chu trình chính sách, tổ chức thực thi chính sách có vị trí đặc biệt quan
trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội.
Như trên đã phân tích, chính sách tinh giản biên chế là chính sách công chính sách của Nhà nước, thực hiện chính sách tinh giản biên chế cũng phải tuân
thủ quy trình, quy định trong thực hiện chính sách công. Từ đó có thể, quan niệm
thực hiện chính sách tinh giản biên chế như sau: Thực hiện chính sách tinh giản
biên chế là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách tinh giản
biên chế thành hiện thực với đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng.
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc về tinh giản biên chế
* Quan điểm của Đảng về tinh giản biên chế
Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản
biên chế và cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC đã đề ra các quan điểm là:
Một là, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai
trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và
nhân dân trong quá trình thực hiện. Bộ Chính trị quy định quản lý thống nhất biên
chế của cả hệ thống chính trị.
Hai là, cả hệ thống chính trị thống nhất nhận thức và hành động, quyết tâm
thực hiện tinh giản biên chế, nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ
quan, tổ chức, đơn vị, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
11


Ba là, tiến hành đồng bộ với các hoạt động cải cách hành chính, cải cách chế
độ công vụ, công chức; nâng cao chất lượng khu vực dịch vụ công và đẩy mạnh xã
hội hóa sự nghiệp công. Trên cơ sở danh mục vị trí việc làm, cơ cấu CBCCVC hợp
lý để xác định biên chế phù hợp. Một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì, chịu
trách nhiệm chính, các cơ quan liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện.
Bốn là, tinh giản biên chế đi đôi với cải cách tiền lương và đổi mới tổ chức
bộ máy của cả hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Tỉ lệ
tinh giản biên chế được xác định theo từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, phù hợp với
thực tế số lượng, chất lượng đội ngũ CBCCVC của cơ quan, đơn vị.
Năm là, cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC hợp lý về trình độ chuyên môn, ngạch,
chức danh nghề nghiệp và độ tuổi, giới tính, dân tộc.
* Chính sách của Nhà nước về tinh giản biên chế
Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về tinh giản biên chế, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên
chế, Nghị định này đã quy định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên
tắc tinh giản biên chế. Đặc biệt, là quy định cụ thể về chính sách tinh giản biên chế,
gồm các chính sách sau:
+ Chính sách về hưu trước tuổi
- Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu đủ 50
tuổi đến đủ 53 tuổi đối với nam, đủ 45 tuổi đến đủ 48 tuổi đối với nữ, có thời gian
đóng BHXH đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công
việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp
khu vực hệ số 0,7 trở lên, ngoài hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật
về BHXH, còn được hưởng các chế độ sau: không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc
nghỉ hưu trước tuổi; Được trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước
tuổi so với quy định về tuổi tối thiểu tại Điểm b Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã
hội; Được trợ cấp 05 tháng tiền lương cho hai mươi năm đầu công tác, có đóng đủ
BHXH. Từ năm thứ hai mươi mốt trở đi, cứ mỗi năm công tác có đóng BHXH được
trợ cấp 1/2 tháng tiền lương.

12


- Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu đủ 55
tuổi đến đủ 58 tuổi đối với nam, đủ 50 tuổi đến đủ 53 tuổi đối với nữ, có thời gian
đóng BHXH đủ 20 năm trở lên, được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp
luật về BHXH và chế độ quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều này và được trợ cấp
03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với quy định tại Điểm a
Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội;
- Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu trên 53
tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nam, trên 48 tuổi đến dưới 50 tuổi đối với nữ, có thời
gian đóng BHXH đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc
công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động -Thương
binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có
phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của
pháp luật về BHXH và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.
- Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu trên 58
tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, trên 53 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ, có thời
gian đóng BHXH đủ 20 năm trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định
của pháp luật về BHXH và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.
+ Chính sách chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng lương
thường xuyên từ ngân sách nhà nước
- Những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị
định này chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng kinh phí thường xuyên
từ ngân sách nhà nước được hưởng các khoản trợ cấp sau: Được trợ cấp 03 tháng
tiền lương hiện hưởng; Được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có
đóng bảo hiểm xã hội.
- Không áp dụng chính sách quy định tại Khoản 1 Điều này đối với những
người đã làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập khi đơn vị chuyển đổi sang doanh
nghiệp hoặc cổ phần hóa vẫn được giữ lại làm việc; những người thuộc đối tượng
tinh giản biên chế đủ 57 tuổi trở lên đối với nam, đủ 52 tuổi trở lên đối với nữ, có
thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở lên; những người thuộc đối tượng tinh giản
13


biên chế đủ 52 tuổi trở lên đối với nam, đủ 47 tuổi trở lên đối với nữ, có thời gian
đóng BHXH đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công
việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động -Thương binh
và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp
khu vực hệ số 0,7 trở lên.
+ Chính sách thôi việc
- Chính sách thôi việc ngay
Những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị
định này có tuổi đời dưới 53 tuổi đối với nam, dưới 48 tuổi đối với nữ và không đủ
điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 8
Nghị định này hoặc có tuổi đời dưới 58 tuổi đối với nam, dưới 53 tuổi đối với nữ và
không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi theo quy định tại Khoản
2 Điều 8 Nghị định này, nếu thôi việc ngay thì được hưởng các khoản trợ cấp sau:
Được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm; Được trợ cấp 1,5
tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH.
- Chính sách thôi việc sau khi học nghề
Những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị
định này có tuổi đời dưới 45 tuổi, có sức khỏe, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ
chức kỷ luật nhưng đang đảm nhận các công việc không phù hợp về trình độ đào
tạo, chuyên ngành đào tạo, có nguyện vọng thôi việc thì được cơ quan, đơn vị tạo
điều kiện cho đi học nghề trước khi giải quyết thôi việc, tự tìm việc làm mới, được
hưởng các chế độ sau: Được hưởng nguyên tiền lương tháng hiện hưởng và được cơ
quan, đơn vị đóng BHXH, bảo hiểm y tế trong thời gian đi học nghề, nhưng thời
gian hưởng tối đa là 06 tháng; Được trợ cấp một khoản kinh phí học nghề bằng chi
phí cho khóa học nghề tối đa là 06 tháng tiền lương hiện hưởng để đóng cho cơ sở
dạy nghề; Sau khi kết thúc học nghề được trợ cấp 03 tháng lương hiện hưởng tại
thời điểm đi học để tìm việc làm; Được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương cho mỗi năm
công tác có đóng BHXH; Trong thời gian đi học nghề được tính thời gian công tác
liên tục nhưng không được tính thâm niên để nâng lương hàng năm.
14


- Các đối tượng thôi việc quy định tại Khoản 1, 2 Điều này được bảo lưu thời
gian đóng BHXH và cấp sổ BHXH hoặc nhận trợ cấp BHXH hội một lần theo quy
định của Luật Bảo hiểm xã hội; không được hưởng chính sách thôi việc theo quy
định tại Nghị định số 46/2010/NĐ-CP, ngày 27/4/2010 của Chính phủ quy định về
thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức và Nghị định số 29/2012/NĐCP, ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.
+ Chính sách đối với những người thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ
nhiệm, bầu cử vào chức vụ khác có phụ cấp chức vụ lãnh đạo mới thấp hơn do sắp
xếp tổ chức
CBCCVC do sắp xếp tổ chức thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm,
bầu cử vào chức vụ mới có phụ cấp chức vụ lãnh đạo thấp hơn so với phụ cấp chức
vụ lãnh đạo đang hưởng thì được bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo đang hưởng đến
hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm hoặc hết nhiệm kỳ bầu cử. Trường hợp đã giữ
chức vụ theo thời hạn được bổ nhiệm hoặc nhiệm kỳ bầu cử còn dưới 06 tháng thì
được bảo lưu 06 tháng.
+ Cách tính trợ cấp
- Tiền lương tháng quy định tại Nghị định này được tính bao gồm: Tiền
lương theo ngạch, bậc hoặc theo chức danh nghề nghiệp hoặc theo bảng lương; các
khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề
(nếu có) và mức chênh lệch bảo lưu (nếu có) theo quy định của pháp luật.
- Tiền lương tháng để tính các chế độ trợ cấp quy định tại Điều 8 Điểm b
Khoản 1 Điều 9, các Điểm b Khoản 1, Điểm d Khoản 2 Điều 10 Nghị định này
được tính bình quân tiền lương tháng thực lĩnh của 5 năm cuối (60 tháng) trước khi
tinh giản. Riêng đối với những trường hợp chưa đủ 5 năm (chưa đủ 60 tháng) công
tác, thì được tính bình quân tiền lương tháng thực lĩnh của toàn bộ thời gian công
tác.
- Những người đã được hưởng chính sách tinh giản biên chế nếu được tuyển
dụng lại vào các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập hưởng lương từ
ngân sách nhà nước hoặc quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập thì phải hoàn trả
lại số tiền trợ cấp đã nhận (trừ phí học nghề quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 10
Nghị định này). Những người quy định tại Khoản 4 Điều 6 Nghị định này nếu được
15


tuyển dụng lại vào khu vực nhà nước hoặc các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ
phần hóa thì cũng phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp tinh giản biên chế đã nhận.
+ Nguồn kinh phí thực hiện tinh giản biên chế
- Kinh phí giải quyết chính sách tinh giản biên chế đối với các đối tượng quy
định tại Khoản 1, 2 Điều 6 Nghị định này do ngân sách nhà nước cấp, trừ những
trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này.
- Những người được tuyển dụng lần đầu từ ngày 29 tháng 10 năm 2003 trở
lại đây, thuộc đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điểm c, d Khoản 1 Điều 6
Nghị định này, nếu do đơn vị sự nghiệp tuyển dụng thì kinh phí giải quyết chính
sách tinh giản biên chế cho đối tượng này lấy từ kinh phí thường xuyên của đơn vị
sự nghiệp đó.
- Kinh phí giải quyết chính sách tinh giản biên chế đối với các đối tượng quy
định tại Khoản 3, 6 Điều 6 Nghị định này lấy từ kinh phí thường xuyên của đơn vị
sự nghiệp công lập, hội.
- Kinh phí giải quyết chính sách tinh giản biên chế đối với đối tượng quy
định tại Khoản 4, 5 Điều 6 Nghị định này được bố trí từ nguồn Quỹ hỗ trợ sắp xếp
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
Như vậy, chính sách tinh giản biên chế của Nhà nước được quy định khá đầy
đủ và rõ ràng trong Nghị định số 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ.
1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của tổ chức thực hiện chính sách tinh giản
biên chế
- Biến ý đồ chính sách thành hiện thực
Chính sách là công cụ để thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng. Do
vậy, thực hiện chính sách chính là việc chuyển thể những định hướng, ý đồ đó từ
dạng văn bản thành các hành động cụ thể trong đời sống nhằm đạt được mục tiêu đã
đề ra. Thực hiện chính sách tinh giản biên chế chính là việc chuyển thể từ ý tưởng
của nhà nước thành những việc làm, hành động, những biện pháp cụ thể đối với
việc tinh giản biên chế. Từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ CBCCVC; thu hút những người có đức, có tài vào hoạt động công
vụ, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
16


tế; góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, tiết
kiệm, giảm chi thường xuyên, cải cách chính sách tiền lương.
- Từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung
Mục tiêu chính sách có liên quan đến nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội theo các cấp độ khác nhau nên không thể cùng một lúc giải quyết được
hết các vấn đề có liên quan. Tổ chức thực hiện chính sách để giải quyết các vấn đề
trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu cơ bản để thúc đẩy quá trình vận động
của cả hệ thống đến mục tiêu chung. Mục tiêu chính sách chỉ có thể đạt được thông
qua việc thực hiện chính sách, đồng thời giữa các mục tiêu chính sách có quan hệ
chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến mục tiêu chung.
- Khẳng định tính đúng đắn của chính sách
Chính sách công nói chung và chính sách tinh giản biên chế nói riêng là ý chí
chính trị của đảng cầm quyền, được thể hiện cụ thể là các quyết sách, quyết định
chính trị của nhà nước. Các quyết định này nhằm giải quyết các vấn đề liên quan
đến lĩnh vực chính sách, đáp ứng nhu cầu chính đáng, bức thiết trong xã hội đang
đặt ra. Vì vậy chính sách chỉ có hiệu lực, hiệu quả thực sự, khẳng định được tính
đúng đắn khi được toàn xã hội thừa nhận và thực hiện, nhất là các đối tượng thụ
hưởng chính sách.
- Giúp cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh
Thực hiện chính sách tinh giản biên chế là căn cứ xác thực nhất để có thể
đánh giá tính hiệu quả, phù hợp và các tác động của chính tinh giản biên chế trong
việc đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước và phát triển của xã hội. Thông qua thực
hiện chính sách tinh giản biên chế có thể thấy rõ được những ưu điểm, hạn chế của
chính sách, để từ đó có những điều chỉnh, hoàn thiện chính sách, nhằm đạt được
hiệu quả cao nhất trong việc quản lý và phát triển đất nước.
Như vậy, tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng trong chu trình chính sách tinh giản biên chế, nó quyết định sự thành
công trong thực hiện mục tiêu của chính sách tinh giản biên chế.

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×