Tải bản đầy đủ

Một số khác biệt cơ bản giữa AACR2 và RDA

MỘT SỐ KHÁC BIỆT CƠ BẢN GIỮA AACR2 VÀ RDA
1. Tại sao cần Quy tắc biên mục mới?
Cộng đồng thư viện thế giới và cả Việt Nam vẫn đang quen dùng Quy tắc biên
mục Anh - Mỹ (AACR2) trong một thời gian tương đối dài. Nhưng thực tế đã cho thấy
cần có sự thay đổi, điều chỉnh AACR2 vì các lý do sau đây:
1. AACR2 được hình thành trong thời kỳ biên mục trên phích và trên thẻ (card)
nhưng nguồn tài nguyên mà chúng ta mô tả hiện nay ngày càng phong phú đa
dạng về nội dung, hình thức, phương tiện lưu giữ và phương tiện chuyển tải nội
dung đến người nghe như đĩa CD, DVD, file âm thanh, file hình ảnh, ảnh động, …
Do đó chúng ta cần có một công cụ biên mục mới, có thể chuyển tả toàn bộ những
đặc tính của các tài nguyên này.
2. AACR2 được chia thành từng chương dựa trên 8 vùng mô tả của ISBD do đó đã
tạo nên sự trùng lặp của các chương với nhau.
3. Dù AACR2 đã được cập nhật, bổ sung khá nhiều nhưng vẫn chưa đủ để giúp các
dữ liệu của thư viện hội nhập và sử dụng được trong môi trường web. Chúng ta
cần xác định rõ các yếu tố dữ liệu có thể thao tác được bằng máy móc để từ đó có
thể sử dụng trong thế giới số.
4. Người dùng tin ngày nay tiếp cận thư viện và truy cập tài nguyên của thư viện
theo rất nhiều cách khác nhau như trực tiếp đến thư viện, qua OPAC, qua web,
blog, thậm chí qua tin nhắn SMS … Đồng thời nhu cầu thông tin của họ cũng phát
triển ngày càng phong phú đa dạng, không chỉ là sách báo in mà còn là sách điện

tử, bản đồ trực tuyến, file âm thanh, ảnh động, không gian 3 chiều … Điều này đòi
hỏi thư viện phải tìm ra phương thức phù hợp để tiếp cận người dùng tin mọi lúc
mọi nơi và đáp ứng được các nhu cầu của họ nhằm giành lại “thị phần” đang ngày
một thu hẹp do sự lớn mạnh của Google Scholar, Google Books, Google Earth,
Wikipedia, Facebook, hay Youtube …
5. Rõ ràng trên một vài phương diện, trong thế giới số ngày nay, thư viện đã để tuột
mất vai trò là nhà cung cấp tin hàng đầu cho người dùng tin. Thư viện cần khôi
phục lại vai trò này bằng cách hội nhập với thế giới công nghệ số, với môi trường
web, tự làm mới mình qua các phương tiện hỗ trợ nghiệp vụ hiệu quả như nâng
cấp hệ thống quản trị thư viện tích hợp, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
của đội ngũ nhân viên, tăng cường quảng bá các dịch vụ…
Trong bối cảnh đó, Quy tắc mô tả và truy cập tài nguyên (tạm dịch từ tên tiếng Anh
Resource Description and Access, viết tắt là RDA) đã ra đời như là một trong các giải
pháp hiện đại hoá, cập nhật và quốc tế hoá các hoạt động của thư viện.
2. Tổng quan về RDA
RDA được xây dựng trên cơ sở các quy tắc nghiệp vụ đối với biểu ghi thư tịch
(FRBR, ra đời năm 1998), các quy tắc nghiệp vụ cho dữ liệu có thẩm quyền (FRAD, ra
đời năm 2009) và các quy tắc biên mục quốc tế của IFLA (ICP, ra đời năm 2009). Do đó
1


RDA rất chú trọng đến các tác vụ dành cho người dùng tin, nhằm mục đích cung cấp
nhiều kết quả tìm kiếm phù hợp nhất và cho phép họ di chuyển qua lại giữa các nguồn tài
nguyên và biết được mối liên hệ giữa các tài nguyên có liên quan. (Do RDA sử dụng khái
niệm “resource” để chỉ đối tượng được biên mục nên trong khuôn khổ bài viết này, chúng
tôi tạm dịch là “tài nguyên” hoặc “nguồn tài nguyên” mà không dịch là “tài liệu” hay
“nguồn tin” vì khái niệm “resource” bao quát nhiều ý nghĩa rộng lớn hơn. Tương tự
chúng tôi sử dụng khái niệm “người dùng tin” thay vì khái niệm “độc giả” hay “bạn
đọc”)
Mục đích cơ bản của RDA là giúp cho người dùng tin “tìm kiếm, xác định được,
lựa chọn được và có được” tài liệu, thông tin, vật thể … mà họ mong muốn (“find,
identify, select, obtain”).
RDA là một chuẩn về nội dung chứ không phải là chuẩn về khổ mẫu hay chuẩn mã
hoá. Có thể sử dụng RDA với bất kỳ một khổ mẫu nào như MARC21 hay Dublin Core,
MODS, ...
Khác với AACR2, RDA không được phân chia thành từng chương cho từng loại
hình tài nguyên mả chỉ có các quy tắc áp dụng chung cho tất cả các loại hình tài nguyên
nhằm tránh sự trùng lặp giữa các chương với nhau như trong AACR2.
RDA lấy yếu tố (element) làm cơ sở phân chia và được chia thành 10 phần:
 Phần 1 đến 4: ghi các thuộc tính của các thực thể (tác phẩm, biểu hiện, biểu


thị, bản, cá nhân, gia đình, tập thể, khái niệm, vật thể, sự kiện và địa điểm)
 Phần 5 đến 10: ghi các mối quan hệ giữa các thực thể
Một ý tưởng chung bao trùm lên toàn bộ RDA là: “take what you see and accept
what you get”, tạm dịch là khi mô tả tài nguyên, hãy “mô tả cái chúng ta nhìn thấy và
chấp nhận kết quả chúng ta có được”, nhằm tôn trọng tài nguyên được mô tả, tránh chỉnh
lý, bổ sung quá nhiều và mất nhiều thời gian biên mục.
Rõ ràng chúng ta có thể thấy RDA là một công cụ biên mục trực tuyến, mang tính
linh hoạt cao, cho phép cơ quan và cán bộ biên mục có nhiều lựa chọn và có các chính
sách biên mục riêng, dựa trên các hướng dẫn của RDA. Có thể xem nội dung của RDA
bằng cách chuyển đổi qua lại từ AACR2 sang hoặc từ MARC 21 sang hoặc từ trong
chính quá trình biên mục.
RDA là sự kế tiếp AACR2 chứ không phải là một phiên bản chỉnh sửa của
AACR2 dù rất nhiều chỉ dẫn của RDA cho kết quả giống như chỉ dẫn của AACR2.
3. Những khác biệt cơ bản giữa RDA và AACR2 bao gồm:
Chúng ta có thể nhận thấy một số điểm khác biệt căn bản giữa RDA và AACR2.
Cụ thể là:
1. RDA thêm vào các yếu tố mô tả dành cho tài nguyên số và được dùng cho hệ
thống thư viện tích hợp trong khi AACR2 khó có thể đảm bảo được điều này. Bên
cạnh đó, RDA vẫn cung cấp các chỉ dẫn phục vụ cho công tác mô tả tài nguyên
truyền thống.
2. RDA đặc biệt chú trọng vấn đề về mối liên hệ giữa các tài nguyên với nhau, giữa
tài nguyên với những người chịu trách nhiệm về nó, vì công việc biên mục không
chỉ đơn thuần là cung cấp từ khoá mà còn cho phép người dùng tin di chuyển giữa
2


các tài nguyên có liên quan và giúp cho hệ thống cung cấp các kết quả tìm kiếm có
ý nghĩa nhất cho người dùng tin.
Mối liên hệ trong RDA bao gồm:
 Mối liên hệ giữa các thực thể của FRBR với một tài nguyên
 Mối liên hệ giữa các tài nguyên với nhau
 Mối liên hệ giữa tài nguyên và chủ thể sáng tạo
 Mối liên hệ giữa các chủ thể sáng tạo là cá nhân, tập thể …
Ví dụ, RDA sẽ cho người dùng tin biết tác phẩm A còn có phần tiếp theo
tên là ADC hay nhà soạn nhạc B cũng đã sáng tác một bản nhạc khác có tên là
XYZ…
3. RDA hỗ trợ việc chia sẻ các siêu dữ liệu giữa các cộng đồng. Chúng ta cần mô tả
tài nguyên theo cách có thể tăng cường tối đa các giá trị của siêu dữ liệu để có thể
trích xuất chúng bất cứ khi nào. Mặt khác các cán bộ biên mục cần có một công cụ
giúp tạo ra các siêu dữ liệu có thể phục vụ cho bất cứ dịch vụ nào và vì bất kỳ mục
đích nào mà không phải biên mục lại tài nguyên mỗi khi cần đến các siêu dữ liệu
đó. RDA chính là một công cụ giúp giải quyết các vấn đề này.
4. RDA có một hệ thống các từ khoá có kiểm soát, đa số chúng mang tính mở, tức là
cán bộ biên mục có thể cho thêm vào các từ khoá mới nếu trong danh mục có sẵn
của RDA không có từ khoá thật sự phù hợp. Hệ thống từ khoá và thuật ngữ của
AACR2 không mang tính mở cao như của RDA.
5. RDA bao quát được nhiều loại hình tài nguyên, kể cả các loại hình tài nguyên như
bản đồ, tài liệu trực tuyến, DACS, CCO, DCRM (B) và giúp mô tả tất cả các yếu
tố liên quan đến các nguồn tài nguyên trong khi AACR2 vẫn cần bổ sung thêm
nhiều quy tắc biên mục với các tài nguyên này.
6. Mục tiêu của RDA rộng lớn hơn AACR2 vì nó khá linh hoạt để có thể đáp ứng
nhu cầu của người sử dụng ở từng khu vực, vùng miền. Ví dụ như RDA cho phép
cơ quan biên mục lựa chọn ngôn ngữ, chữ viết, niên lịch và hệ thống con số riêng,
thích hợp trong biểu ghi và trong tiêu đề chuẩn để người dùng tin của cơ quan biên
mục đó có thể hiểu được.
7. RDA nhấn mạnh nguyên tắc “take what you see and accept what you get” (mô tả
cái bạn thấy và chấp nhận cái bạn có được) nhằm thể hiện sự tôn trọng đối tượng
được mô tả, hỗ trợ việc sao chép các siêu dữ liệu một cách nhanh chóng, chính
xác, không chỉnh lý quá nhiều nhằm tiết kiệm thời gian biên mục.
8. RDA mang tính quốc tế, không dựa trên ngữ cảnh Ănglo-Sắc xông như trong
AACR2, thể hiện qua việc RDA giúp chia sẻ siêu dữ liệu giữa các cộng đồng.
9. RDA cũng sử dụng một số thuật ngữ mới như “tài nguyên” “yếu tố cốt lõi”, “yếu
tố tối thiểu” “nhan đề ưu tiên” “nhan đề hợp thức” và “điểm truy cập được phép”
… Tất cả những thay đổi về khái niệm này thể hiện tư duy và định hướng hoà
nhập với thế giới số, nơi các nguồn tài nguyên vô cùng đa dạng, không chỉ ở dạng
sách in, tạp chí điện tử mà còn là vật thể ba chiều, ảnh động …
10. Thay vì dùng 3 cấp độ mô tả như trong AACR2, RDA lại quy định các yếu tố cốt
lõi có trong mô tả và chia thành 03 loại mô tả là mô tả tổng hợp, mô tả phân tích
và mô tả thứ bậc. .
3


11. Trong rất nhiều trường hợp, RDA đưa ra rất nhiều lựa chọn cho các cơ quan biên
mục. Ví dụ:
12. RDA còn có khá nhiều thay đổi khác so với AACR2 trong từng yếu tố. Ví dụ như:

RDA quy định nếu một thông tin trách nhiệm có nhiều tên chủ thể sáng tạo,
chuyển tả tất cả tên các chủ thể đó, hoặc chuyển tả tên chủ thể sáng tạo đầu tiên,
sau đó đặt trong dấu ngoặc vuông [ ] số lượng tên chủ thể không được chuyển tả
(không áp dụng quy tắc [et al.] như của AACR2)

RDA 2.4.1.4 quy định: không được phép bỏ tước hiệu quý tộc, danh hiệu
tôn vinh, địa chỉ, những chữ viết tắt của tổ chức, ngày thành lập, khẩu hiệu; hoặc
rút ngắn các thông tin này nếu không làm mất đi ý nghĩa cần thiết của nó
(nguyên tắc 1.1F7 của AACR2 cho phép bỏ trong một số trường hợp)

RDA coi năm đăng ký bản quyền của tài nguyên là một yếu tố cốt lõi (cần
có), không phải là yếu tố phụ, hay yếu tố bổ sung cho năm xuất bản.

RDA quy định cung cấp đầy đủ các chi tiết vật lý về tài nguyên nếu có thể.
Ví dụ như: 1 tài liệu trực tuyến (68 trang), 1 đĩa vi tính (1 file âm thanh, 1 file
hình ảnh)

Tài nguyên là tài liệu âm nhạc: RDA mở rộng việc chuyển tả tất cả phương
tiện biểu diễn; có thêm nhiều điểm truy cập theo tên của người soạn lời nhạc
kịch (libretto); có thêm nhiều điểm truy cập cho tác phẩm mà một đoạn cađenza
được viết cho tác phẩm ấy.
4. Kết luận
Dù chúng ta có cố gắng chỉ ra và chứng minh nhiều điểm ưu việt của RDA thì một
số nhà chuyên môn và cán bộ thư viện vẫn cảm thấy chưa thật sự an tâm và hài lòng về
RDA như một số thuật ngữ không có định nghĩa rõ ràng, một số chương quá dài và phức
tạp, … Tuy vậy, RDA đã được nhiều thư viện ở Anh, Mỹ và Úc áp dụng trong thời gian
vừa qua.
Việc áp dụng RDA ở Việt Nam sẽ không dễ dàng, thậm chí là rất khó khăn so với
thư viện thế giới khi mà thời gian Việt Nam chuyển đổi từ Khung phân loại BBK và
Khung phân loại 19 lớp sang sử dụng AACR2 chưa lâu, các cán bộ biên mục vừa mới sử
dụng AACR2 tương đối thành thạo, nay lại chuyển sang một quy tắc khác. Bên cạnh đó,
hệ thống phẩn mềm quản trị tích hợp của thư viện Việt Nam còn đang gặp rất nhiều
vướng mắc, trình độ tin học của đội ngũ cán bộ thư viện không đồng đều, các hệ thống cơ
sở vật chất khác còn phải hoàn thiện hơn nữa và mới có lớp tập huấn giảng viên nguồn
đầu tiên do Thư viện Quốc gia Việt Nam tổ chức vào tháng 04 năm 2018.
Khó khăn khi chuyển đổi là không tránh khỏi. Nhưng để hội nhập với thư viện thế
giới, chuẩn hoá chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng tốt nhất nhu cầu người dùng tin và tồn
tại, phát triển trong thế giới của công nghệ số và web, thư viện Việt Nam cần phải nỗ lực,
quyết tâm để chuyển đổi dần dần sang RDA theo một kế hoạch, lộ trình rõ ràng, cẩn trọng
và khoa học, để thư viện đã, đang và sẽ là cầu nối giữa người dùng tin và tri thức nhân
loại.

4


Hết

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chapman, Ann (2008) RDA: a cataloguing code for the 21st century. Retrieved from
http://www.cilip.org.uk/publications/updatemagazine/archive/archive2008/september/rda
chapman.htm.
Coyle, Karen & Hillman, Diane (2007) Resource Description and Acces (RDA):
Cataloging rules for the 20th century. Retrieved from
http://www.dlib.org/dlib/january07/coyle/01coyle.html
Danskin, Alan (2008) Putting RDA: Resource Description and Access into context.
Retrieved from
http://www.nla.gov.au/lis/stndrds/grps/acoc/documents/PuttingRDAintocontextPart1FRB
R.ppt.
Delsey, Tom (2007) RDA Database Implementation Scenarios. Retrieved from
http://www.collectionscanada.gc.ca/jsc/docs/5editor2.pdf.
Joint Steering Committee for Development of RDA (2007) Strategic plan for RDA 20052009. Retrieved from http://www.collectionscanada.gc.ca/jsc/docs/5strategic1rev2.pdf.
Joint Steering Committee for Development of RDA (2008a) RDA Prospectus Retrived
from http://www.collectionscanada.gc.ca/jsc/docs/5rda-prospectusrev6.pdf.
Kiorgaard, Deirdre (2009) Resource Desciption and Acces Retrieved from
http://www.information-online.com.au/sb_clients/iog/bin/iog_ programme_A17.cfm?
vm_key=8225EC16-1422-0982-EBBABE4258E8637A
Nguyễn, Minh Hiệp (2007) Phát triẻn RDA để thay thế AACR2. Truy cập tại
www.glib.hcmuns.edu.vn/hiep/writing/RDA.pdf
Oliver, Chris (2007) ‘Changing to RDA”. Retrieved from
http://www.collectionscanada.gc.ca/jsc/docs/felicitervol53no7p250-253.pdf.
Schif, Adam (2010) Changes from AACR2 to RDA: A comparison of examples Retrieved
from www.rda-jsc.org/docs/BCLAPresentation.ppt

5


Schneider, Karen (2007) Out of the Secret Garden: The RDA/DC Initiative. Retrieved
from http://www.alatechsource.org/blog/2007/06/out-of-the-secret-garden-the-rdadcinitiative.html
Stewart, Margaret (2009) Mapping RDA to MARC 21. Retrieved from http://www.dnb.de/standardisierung/pdf/stewart080602.pdf
(Vũ Minh Huệ, Phòng Công tác Nghiệp vụ, Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên )

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×