Tải bản đầy đủ

Luận văn xuất sắc nhất trường đại học kinh tế đà nẵng

Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
I.
Bản chất của kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí
1. Bản chất của kế toán quản trị
Kế toán là hệ thống thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về các hoạt động kinh tế
xảy ra trong doanh nghiệp. Là ngành khoa học được hình thành và phát triển gắn liền
vói sự phát triển của xã hội. Khi nền sản xuất phát triển kế toán cũng phát triển tương
ứng để đáp ứng yêu cầu thông tin cho quản lý.
Khi cạnh tranh diễn ra ngày càng khốc liệt, các doanh nghiệp phải quan tâm đến các
thông tin cho quá trình ra quyết định, mà thông tin hàng đầu là thông tin về chi phí cho
hoạt động kinh doanh, từ đó hình thành nên bộ phận kế toán chi phí cung cấp thông tin
về chi phí cho các nhà quản trị sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp. Cùng với sự phát
triển nhanh chóng của các công ty, các tập đoàn kinh tế thì nhu cầu thông tin cũng đã có
sự thay đổi và theo mục đích cung cấp thông tin, hệ thống kế toán trong doanh nghiệp
được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị. Mục đích của kế toán tài chính là

lập các báo cáo tài chính để cung cấp thông tin cho người sử dụng. Đây là nguồn thông
tin duy nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp được cung cấp ra bên ngoài. Khác
với kế toán tài chính, đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị chỉ là các nhà
quản trị các cấp trong doanh nghiệp. Những người ngoài doanh nghiệp không được
phép tiếp cận các thông tin kế toán quản trị của doanh nghiệp. Các thông tin này được
coi là bí mật của doanh nghiệp.
Có thể nói kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức.
Là bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý tại doanh nghiệp thông
qua các báo cáo kế toán nội bộ. Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để
hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức. Khái niệm kế toán quản trị được Hiệp
hội kế toán Mỹ định nghĩa:” Là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập
báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị
để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vị nội bộ một doanh
nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản
này”.
Theo luật kế toán Việt Nam, kế toán quản trị được định nghĩa là “việc thu thập, xử
lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định
kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán “(Luật kế toán, khoản 3, điều 4).
Nói tóm lại, kế toán quản trị là một lĩnh vực kế toán được thiết kế để thoả mãn nhu
cầu thông tin của các nhà quản lý và các cá nhân khác làm việc trong một tổ chức.
Về bản chất: Kế toán quản trị là một quá trình đo lường.
Một hệ thống kế toán quản trị tốt là một hệ thống đo lường tốt, hướng vào quy trình
sản xuất và có tác động tích cực đến hành vi của các cá nhân trong tổ chức cùng hướng
vào thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức.
Hệ thống đo lường tốt phải có hai đặc điểm chính:
Thông tin mà nó đưa ra phải thích hợp và có tác động làm thay đổi hay cải thiện các
quyết định theo hướng tích cực. Nếu nhà quản lý không biết hay không đưa ra được
quyết định đúng thì thông tin được đưa ra không còn thích hợp. Ví dụ : Hệ thống kế
toán quản trị tiếp tục thu thập và báo cáo các thông tin về sử dụng lao động trong phân

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 1


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

xưởng sản xuất ngay cả khi sản xuất đã được tự động hóa, làm cho chi phí nhân công


chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng chi phí, vì vậy thông tin chẳng bao giờ được sử dụng.
Tập trung vào đo lường kết quả theo từng trung tâm trách nhiệm trong tổ chức.
Ngày nay nhà quản lý hiểu rằng kết quả ngày mai là nằm trong tổ chức thực hiện công
việc sản xuất sản phẩm hay dịch vụ ngay trong hôm nay. Do quá trình sản xuất hay dịch
vụ được diễn ra theo chiều ngang, nghĩa là diễn ra trong các bộ phận của tổ chức và hệ
thống đo lường thông qua hệ thống trách nhiệm của tổ chức. Hệ thống kế toán quản trị
hướng vào quy trình sản xuất chủ yếu là hướng vào việc đo lường tính toán kết quả của
quy trình sản xuất, theo từng bộ phận tham gia trong quy trình nhằm thỏa mãn nhu cầu
khách hàng. Như vậy một hệ thống kế toán quản trị tốt giúp cho việc ra các quyết định,
giúp hiểu biết quá trình sản xuất kinh doanh, khuyến khích các hành vi thích hợp. Và tất
cả những cái đó nhằm đạt mục tiêu chiến lược: Chất lượng, thời gian và giá cả. Điều
này cũng có nghĩa là kế toán quản trị tự nó không phải là điểm kết thúc, nó là công cụ
quan trọng để đạt mục tiêu chiến lược cho tổ chức.
Kế toán quản trị là một bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý
doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ, các thông tin cung cấp trong phạm
vi nội bộ doanh nghiệp bao gồm thông tin tài chính và thông tin phi tài chính như:
- Thông tin về chi phí sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp.
- Quá trình lập các dự toán cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế hoạch và kiểm
tra tình hình thực hiện kế hoạch hướng đến các mục tiêu trên thị trường của doanh
nghiệp.
- Thiết kế để lập báo cáo và phân tích các báo cáo cung cấp các thông tin đặc thù để
giúp các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh.
2. Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí thường xuyên phát sinh trong
nội bộ doanh nghiệp và chịu sự chi phối của nhà quản trị, mọi quyết định trong doanh
nghiệp đều liên quan đến việc sử dụng tài nguyên, đến chi phí của doanh nghiệp trong
việc hình thành giá trị. Quá trình này thường gắn liền với lợi ích mong muốn của DN.
Ở đây chi phí được hiệu là giá trị của mọi khoản khấu hao về nhân tài vật lực nhằm thu
được các loại hàng hóa dịch vụ.
Chi phí có thể xem xét ở nhiều góc độ khác nhau để cung cấp thông tin phù hợp với
nhu cầu của nhà quản trị, trong đó việc xem xét chi phí trong mối quan hệ với khối
lượng, hay mức độ hoạt động với lợi nhuận có thể được xem là đối tượng chủ yếu của
kế toán quản trị. Như vậy, các loại chi phí đặt trong mối quan hệ khác nhau và quan hệ
với lợi ích mang lại cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai là đối tượng cụ thể của kế
toán quản trị chi phí. Không những thế vì KTQT chi phí quan tâm đến khía cạnh của
quản trị là chủ yếu, do đó quá trình kiểm soát, kiểm tra phải điều chỉnh trong quản trị
cần thiết phải có cả thông tin tài chính cũng như thông tin phi tài chính nên đây là một
đối tượng cụ thể của KTQT chi phí.
Khởi điểm của kế toán quản trị chi phí là kế toán chi phí. Kế toán chi phí là giai
đoạn đầu của sự phát triển của KTQT chi phí. Kế toán quản trị bao gồm việc tập hợp
phân loại, tính giá theo yêu cầu nhất định của KTTC và KTQT nhằm cung cấp thông tin
kế toán mà chủ yếu là thông tin về chi phí cho các nhà quản trị nhưng có sự khác nhau
về mục đích và phạm vi giữa hai loại kế toán này. Với KTTC, kế toán chi phí là cở sở
xác định chi phí và thu nhập thể hiện trên báo cáo lãi lỗ kinh doanh trong kỳ kế toán.

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 2


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

Với KTQT, kế toán chi phí được sử dụng để tính giá thành, lập dự toán chi phí …làm
cơ sở để phân tích chi phí và ra quyết định.
KTQT chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách nhiệm của các nhà
quản lý thuộc các cấp quản lý (trong đó tập trung vào các cấp quản trị cấp thấp như tổ,
đội phân xưởng sản xuất hay bộ phận quản lý và phục vụ - là nơi trực tiếp phát sinh chi
phí) nhằm gắn trách nhiệm của các nhà quản trị với chi phí phát sinh thông qua hình
thức thông tin chi phí được cung cấp theo các trung tâm chi phí (nguồn gây ra chi phí).
KTQT chi phí trả lời câu hỏi chi phí sẽ là bao nhiêu, thay đổi như thế nào khi có sự thay
đổi về mặt sản lượng sản xuất, ai phải chịu trách nhiệm giải thích về những thay đổi bất
lợi của chi phí và giải pháp cần đưa ra để điều chỉnh. Điều này cho thấy KTQT chi phí
mang nặng tính bản chất của KTQT nhiều hơn là kế toán chi phí thuần túy.
Như vậy, KTQT chi phí không nhận thức chi phí theo quan điểm của KTTC mà
nhận diện theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch
định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định. Từ đó có thể rút ra bản chất của
KTQT chi phí như sau:
- KTQT chi phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ
kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép, hệ thống hóa trong sổ kế
toán mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập các dự toán, quyết
định các phương án kinh doanh.
- KTQT chi phí cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi
yêu cầu quản lý nội bộ của DN. Những thông tin đó có ý nghĩa với những bộ phận,
những người điều hành, quản lý DN.
- KTQT chi phí là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một bộ phận
không thể thiếu được để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý.
II. Kế toán quản trị chi phí với chức năng quản lý doanh nghiệp
Để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp các nhà quản trị phải
thông qua các chức năng quản lý cơ bản như hoạch định, tổ chức, kiểm soát, đánh giá
và ra quyết định. Còn KTQT chi phí sử dụng các phương pháp riêng có của mình để
thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin, đặt chúng trong bối cảnh đã hoạch
định nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho các chức năng quản trị. Vậy KTQT
chi phí có vai trò cung cấp thông tin chi phí phục vụ cho các chức năng quản trị. Cụ
thể:
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch và dự toán.
Lập kế hoạch là xây dựng mục tiêu phải đạt được và vạch ra bước, phương pháp thực
hiện để đạt được mục tiêu đó. Dự toán là sự liên kết các mục tiêu cụ thể lại với nhau và
chỉ rõ cách thức huy động, sử dụng các nguồn lực sẵn có về mặt tài chính để đạt được
các mục tiêu đó. Chức năng lập kế hoạch và dự toán của quản lý được thực hiện tốt, có
tính hiệu lực hiệu quả và khả thi cao nếu nó được xây dựng trên cơ sở các thông tin phù
hợp, hợp lý do bộ phận KTQT chi phí cung cấp như: Thông tin cho việc định giá sản
phẩm, lựa chọn sản xuất sản phẩm nào có lợi nhất trong điều kiện thị trường có cạnh
tranh. Đồng thời những thông tin về giá, định mức chi phí hay các phương pháp phân
bổ chi phí giúp cho công tác lập kế hoạch và dự toán cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của nhà quản trị. Như vậy, KTQT chi phí phải cung cấp thông tin cần thiết để các
nhà quản lý ra quyết định ngắn hạn, dài hạn đáp ứng mục tiêu của tổ chức. Một kế
hoạch phản ánh một quyết định làm sao để đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó.
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện.

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 3


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

Kế hoạch và dự toán là những định hướng cho quá trình tổ chức thực hiện. Chức
năng tổ chức thực hiện bao gồm thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền đạt thông tin của các
kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản lý để thực hiện kế hoạch
đó.
Với chức năng này nhà quản trị phải biết liên kết tốt nhất giữa các bộ phận, giữa các
cá nhân nhằm huy động và kết hợp các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp lại với nhau
để thực hiện các mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất. Vì thế, nhà quản trị phải cần có
các thông tin khác nhau do nhiều bộ phận cung cấp, trong đó KTQT chi phí sẽ cung cấp
thông tin chủ yếu liên quan đến kinh tế, tài chính. KTQT chi phí sẽ dự toán nhiều tình
huống khác nhau của các phương án khác nhau để nhà quản trị xem xét đề ra các quyết
định trong quá trình tổ chức thực hiện cũng như điều hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh theo các mục tiêu chung.
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra và đánh giá.
Sau khi lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch đòi hỏi nhà quản trị phải kiểm tra
và đánh giá việc thực hiện đó. Phương pháp thực hiện là phân tích sai biệt trên cơ sở so
sánh giữa các số liệu kế hoạch hoặc dự toán với số liệu thực hiện. Từ đó nhận biết các
sai biệt giữa kết quả thực hiện với kế hoạch đề ra, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cần
giải quyết hoặc các cơ hội cần khai thác.
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định
Quá trình ra quyết định là việc xem xét, cân nhắc lựa chọn từ các phương án khác
nhau để có được phương án tối ưu với hiệu quả cao nhất và rủi ro thấp nhất. Các thông
tin sẵn có thường rất nhiều loại, với chức năng này KTQT chi phí giúp các nhà quản trị
phân biệt được các thông tin thích hợp và không thích hợpnhằm xác định thông tin phù
hợp theo từng phương án. Việc nhận diện thông tin sẽ tập trung sự chú ý của các nhà
quản trị vào vấn đề chính cần giải quyết, giảm thời gian ra quyết định, đáp ứng được
yêu cầu của nhà quản trị trong tình hình cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường. Tổ
chức KTQT chi phí hợp lý sẽ giúp cho đơn vị có được hệ thống kế toán hoạt động hiệu
quả, đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích và đầy đủ nhất. Với những thông tin đó, các
nhà quản trị có thể nhìn nhận được vấn đề gì đang xảy ra, những khả năng tiềm tàng,
những cơ hội sẵn có để có kế hoạch kinh doanh đúng đắn.
III. Chi phí và phân loại chi phí
1. Khái niệm chi phí
Chi phí là một phạm trù kinh tế hết sức trừu tượng và phức tạp. Trước hết chúng ta
thấy rằng, một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hóa phải hao
phí một số lao động nhất định để tạo ra giá trị của hàng hóa đó.
Và để có được sự nhìn nhận toàn diện và sát thực về chi phí, theo quan điểm kế toán
tài chính thì “ Chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của lao động sống và lao
động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
trong một thời kỳ nhất định”.
Chi phí theo quan điểm của kế toán quản trị: Theo quan điểm của kế toán quản trị
chi phí không chỉ đơn thuần được nhận thức như quan điểm kế toán tài chính mà còn
được nhận thức theo nhiều phương diện khác nhau nhằm mục đích cung cấp thông tin
chi phí thích hợp, hữu ích, kịp thời cho các nhà quản trị trong việc hoạch định, kiểm
soát và ra quyết định. Theo đó, chi phí có thể là dòng phí tổn thực tế gắn liền với hoạt
động sản xuất kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp, chi phí cũng có thể là dòng phí
tổn ước tính để thực hiện dự án hoặc là những phí tổn bị mất đi do lựa chọn phương án,

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 4


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

hy sinh cơ hội kinh doanh và những chi phí sẽ được kiểm soát bởi một cấp quản lý
khác.
2. Phân loại chi phí
Thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy, chi phí trong doanh nghiệp bao
gồm nhiều khoản, nhiều loại rất đa dạng và phức tạp như: chi mua nguyên vật liệu, tiền
lương, tiền điện, nước, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí vận chuyển, chi phí bán hàng,
quản lý........Để sử dụng có hiệu quả, chúng ta cần phải kiểm soát, muốn kiểm soát
chúng ta phải nhận biết và hiểu nội dung các chi phí,vì vậy cần phải phân loại chi phí.
Có các tiêu chí phân loại chi phí sau:
2.1.Phân loại theo chức năng hoạt động của chi phí
2.1.1 Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các
chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh
trong một kỳ nhất định. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm : chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
2.1.1.1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên vật liệu là một đầu vào hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Và mỗi doanh nghiệp khác nhau, mỗi lĩnh vực kinh doanh khác nhau
thì mức độ quan trọng và quyết định của nó đến giá thành sản phẩm cũng khác nhau. Ví
như trong các ngành công nhiệp nặng, chi phí nguyên vật liệu chiếm phần lớn tổng giá
thành của sản phẩm. Trong khi đó, đối với các ngành kinh doanh dịch vụ nhà hàng,
khách sạn, giải trí v. v...thì chi phí nguyên vật liệu lại chiếm một tỷ trọng rất nhỏ.
Chính vì sự phức tạp đó mà chúng ta phải phân loại nó.
Chi phí nguyên vật liệu có thể phân chia thành:
 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Là chi phí của các loại nguyên vật liệu được sử dụng để cấu thành nên sản phẩm và
có thể được phân loại trực tiếp và toàn bộ vào đơn vị sản phẩm đó.

Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp:
Là chi phí của các loại nguyên liệu, vật liệu cần thiết để chế tạo sản phẩm nhưng
không thể nhận diện và tách biệt cho từng sản phẩm. Vì vậy, chi phí này không thể
phân bổ trực tiếp và toàn bộ vào một đơn vị sản phẩm được sản xuất ra.
2.1.1.2 Chi phí nhân công trực tiếp
Khoản mục này bao gồm toàn bộ tiền lương và các khoản trích theo lương của
những người lao động trực tiếp chế tạo sản phẩm. Khả năng và kỹ năng của lao động
trực tiếp có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm tạo ra. Thông thường
những lao động này trực tiếp xử lý NVLTT bằng tay hoặc thông qua việc sử dụng công
cụ, dụng cụ hoặc máy móc thiết bị.
Chi phí NCTT cũng giống như chi phi NVLTT, có thể xác định rõ ràng, cụ thể và
tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm.
Ngoài NCTT còn có NC gián tiếp: NC gián tiếp là những lao động không trực tiếp
tạo ra sản phẩm nhưng cần thiết và không thể thiếu cho quá trình sản xuất, tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất của lao động trực tiếp như: quản đốc phân xưởng,
nhân viên bảo trì máy...Chi phí thanh toán cho NC gián tiếp không thể phân bổ cho bất
kỳ sản phẩm cá biệt nào nên phải đưa vào chi phí sản xuất chung để phân bổ sau.
2.1.1.3 Chi phí sản xuất chung

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 5


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

Chi phí SXC là những chi phí cần thiết khác để sản xuất ngoài chi phi NVLTT và
chi phí NCTT. Chi phi SXC bao gồm 3 loại chi phí, đó là chi phí NVL gián tiếp, chi phí
NC gián tiếp và các chi phí khác. Chi phí khác bao gồm các chi phí cần thiết khác để
vận hành phân xưởng. Ví dụ: chi phí thuê nhà phân xưởng, chi phí khấu hao máy móc,
thiết bị, chi phí điện nước, chi phí động lực, chi phí bảo hiểm chống cháy…
Chi phí SXC có đặc điểm là:
- Bao gồm nhiều yếu tố chi phí khác nhau.
- Các chi phí thuộc chi phí SXC đều có tính gián tiếp với từng đơn vị sản phẩm,
nên không thể tính thẳng vào sản phẩm.
- Cơ cấu chi phí SXC gồm cả biến phí, định phí, và chi phí hỗn hợp, trong đó định
phí chiếm tỷ trọng cao nhất.
- Do gồm nhiều yếu tố chi phí nên chúng được nhiều bộ phận khác nhau quản lý và
rất khó kiểm soát.
Chi phí SXC cũng được tính vào sản phẩm cùng với chi phí NVLTT và chi phí
NCTT. Do đặc điểm của chi phí SXC là không tính trực tiếp vào sản phẩm thông qua
việc phân bổ theo các tiêu thức thích hợp.
2.1.2
Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất của doanh nghiệp bao gồm các loại chi phí phát sinh ngoài
quá trình sản xuất sản phẩm, liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ
công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp. Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản
mục chính; chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
 Chi phí bán hàng: bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ sản
phẩm .....
 Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí dùng vào tổ chức, quản lý và phục vụ
sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp. Cụ thể, chi phí quản lý
doanh nghiệp bao gồm :
- Chi phí tiền lương và các trích theo lương vào chi phí của người lao động, quản lý ở
các bộ phận phòng ban của doanh nghiệp.
- Chi phí vật liệu, năng lượng, công cụ dụng cụ dùng trong hành chính quản trị văn
phòng.
- Chi phí khấu hao thiết bị, tài sản cố định khác dùng trong công việc hành chính của
văn phòng.
- Chi phí dịch vụ điện nước, điện thoại, bảo hiểm phục vụ chung cho toàn doanh
nghiệp.
- Các khoản thuế, lệ phí chưa tính vào giá trị tài sản.
- Các khoản phí liên quan đến sự giảm sút giá trị tài sản như dự phòng nợ phải thu khó
đòi, hao hụt trong khâu dự trữ.
Như vậy chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là một khoản mục chi phí gồm nhiều
thành phần có đặc điểm khác nhau và khá phức tạp. Đây là khoản mục chi phí liên quan
khá chặt chẽ đến quy mô, trình độ tổ chức quản trị doanh nghiệp. Vì vậy sự nhận diện
và phân cấp quản lý, phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp rất khó khăn, đôi khi dẫn
đến mức phân bổ sai lệch cho các sản phẩm, dịch vụ làm đánh giá sai lầm thành quả
đóng góp, kiềm chế tính năng động và sáng tạo của các bộ phận.
2.2. Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xác định từng
thời kỳ
2.2.1. Chi phí sản phẩm
SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 6


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sản
phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua giai
đoạn sản xuất ( được gọi là giá thành sản xuất hay giá thành công xưởng). Xét theo mối
quan hệ với việc xác định lợi nhuận trong từng kỳ kế toán, chi phí sản phẩm chỉ được
tính toán, kết chuyển để xác định lợi nhuận trong kỳ tương ứng với khối lượng sản
phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó.
2.2.2. Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ bao gồm các khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác định các khoản
mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm. Nó thường bao gồm các chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính. Các chi phí thời kỳ ở kỳ kế toán nào được
xem là có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của thời kỳ đó, do vậy chúng
được tính toán kết chuyển hết để xác định lợi nhuận ngay trong kỳ mà chúng phát sinh.
2.3. Phân loại theo cách ứng xử của chi phí
2.3.1 Biến phí
Biến phí là những khoản mục chi phí thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động của đơn vị.
Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất ra, số lượng sản phẩm tiêu thụ,
số giờ máy vận hành … Trong doanh nghiệp, biến phí tồn tại khá phổ biến như chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí năng lượng … Những chi
phí này khi mức độ hoạt động của đơn vị gia tăng thì chúng cũng gia tăng tỷ lệ thuận và
ngược lại. Biến phí không thuần nhất một hình tức tồn tại mà còn tồn tại dưới nhiều
hình thức khác nhau.
- Biến phí thực thụ : là một loại biến phí mà sự biến động của chúng thực sự thay đổi
tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động. Để thực sự kiểm soát biến phí tuyệt đối, nhà quản lý
không chỉ kiểm soát tổng số mà còn phải kiểm soát tốt biến phí trên một đơn vị mức độ
hoạt động. Hoạch định, xây dựng và hoàn thiện định mức biến phí tuyệt đối sẽ là tiền
đề tiết kiệm, kiểm soát biến phí và giá thành sản phẩm một cách chặt chẽ hơn.
- Biến phí cấp bậc : là loại biến phí mà sự thay đổi của chứng chỉ xảy ra khi mức độ
hoạt động đạt đến một giới hạn nhất định.
2.3.2 Định phí
Định phí là những khoản mục chi phí rất ít thay đổi hoặc không thay đổi theo mức độ
hoạt động của đơn vị. Nếu xét trên tổng chi phí, định phí không thay đổi; ngược lại nếu
quan sát chúng trên một đơn vị mức độ hoạt động, định phí tỷ lệ nghịch với mức độ
hoạt động. Mức độ hoạt động càng cao thì định phí cho một đơn vị mức độ hoạt động
càng giảm. Như vậy, dù doanh nghiệp có hoạt động hay không hoạt động thì vẫn tồn tại
định phí. Định phí trong cácdoanh nghiệp gồm: cho phí khấu hao TSCĐ, chi phí
CCDC, chi phí bảo dưỡng…
Định phí tồn tại dưới hai loại hình :
- Định phí bắt buộc : là những định phí có tính chất cơ cấu liên quan đến cấu trúc tổ
chức của một doanh nghiệp mà rất khó thay đổi, nếu muốn thay đổi loại định phí này
phải cần một khoảng thời gian tương đối dài, ví dụ như khấu hao TSCĐ, chi phí bảo
hiểm.... Hai đặc điểm cơ bản của định phí bắt buộc là :
+ Chúng tồn tại lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Chúng không thể cắt giảm đến bằng không trong một thời gian ngắn
Do những đặc điểm trên, việc dự báo và kiểm soát định phí bắt buộc phải bắt đầu từ lúc
xây dựng, triển khai dự án, xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 7


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

- Định phí không bắt buộc: còn được xem như chi phí bất biến quản trị. Dòng chi
phí này phát sinh từ các quyết định hàng năm của doanh nghiệp, ví dụ njư chi phí tiếp
khách, văn phòng phẩm, chi phí điện thoại… Hai đặc điểm cơ bản của định phí không
bắt buộc
+ Có bản chất ngắn hạn và không ảnh hưởng đến dòng chi phí của doanh nghiệp
hàng năm.
+ Trong trường hợp cần thiết có thể cắt bỏ định phí không bắt buộc
2.3.3 Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là những khoản mục chi phí bao gồm các yếu tố biến phí và định
phí pha trộn lẫn nhau. Ở một mức độ hoạt động nào đó chi phí hỗn hợp thể hiện đặc
điểm của định phí, ở mức độ hoạt động khác chúng có thể thể hiện đặc điểm của biến
phí.
Với mục đích lập kế hoạch, kiểm soát chi phí và chủ động trong quản lý chi phí, chi phí
hỗn hợp được phân tích và lượng hoá theo yếu tố bất biến và khả biến.
2.4. Phân loại chi phí theo mối quan hệ kiểm tra và ra quyết định
2.4.1 Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp là những chi phí quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất một loại sản
phẩm, một công việc hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất định và hoàn toàn có thể
hạch toán quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, công việc đó, ví dụ như chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí gián tiếp : là chi phí liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc, nhiều đối
tượng khác nhau, nên phải tập hợp quy nạp cho từng đối tượng bằng phương pháp phân
bổ gián tiếp, ví dụ như chi phí sản xuất chung.
2.4.2 Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
- Chi phí kiểm soát được là những chi phí mà ở cấp quản lý nào đó nhà quản trị xác
định được chính xác sự phát sinh của nó đồng thời nhà quản trị cũng có thẩm quyền
quyết định về sự phát sinh của nó.
- Chi phí không kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị không thể dự đoán
chính xác sự phát sinh của nó hoặc không có thẩm quyền ra quyết định về loại chi phí
đó.
2.4.3 Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội có thể định nghĩa là một khoản lợi nhuận tiềm tàng bị mất đi hay
phải hy sinh để lựa chọn, thực hiện hoạt động này thay thế một hoạt động khác. Chi phí
cơ hội không xuất hiện trên sổ sách kế toán nhưng lại là cơ sở để lựa chọn phương án
hành động.
2.4.4 Chi phí chìm
Chi phí chìm là những dòng chi phí luôn luôn xuất hiện trong tất cả các phương án
sản xuất kinh doanh. Đây là một dòng chi phí mà nhà quản trị phải chấp nhận không có
sự lựa chọn.
IV. Nội dung của kế toán quản trị chi phí
1. Lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh.
1.1.
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh tất cả các chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán khối
lượng sản phẩm sản xuất.
Để lập dự toán NVLTT cần xác định:

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 8


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

 Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm
 Đơn giá xuất nguyên vật liệu theo 4 phương pháp: LIFO, FIFO, thực tế đích
danh hay đơn giá bình quân.
 Mức độ dự trữ nguyên liệu vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán trên cơ sở
lý thuyết quản trị tồn kho.
Như vậy:
Dự toán
Định mức
Số lượng sản
lượng NVL
=
tiêu hao
x
phẩm sản xuất
sử dụng
nguyên vật liệu
theo dự toán
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất:
Dự toán
Dự toán
Đơn giá
chi phí NVL = lượng NVL x
xuất nguyên
trực tiếp
sử dụng
vật liệu
Nếu doanh nghiệp sử dụng nhiều loại vật liệu có đơn giá khác nhau để sản xuất
nhiều loại sản phẩm khác nhau:
n

m

 

j
CPVL = i
(Qi Mij Gj)
Trong đó: Mij :là mức hao phí vật liệu j để sản xuất ra sản phảm i
+ Gj: đơn giá vật liệu loại j (j=1,m)
+ Qi : số lượng sản phẩm i dự toán sản xuất (i=1,n)
+ n: số loại sản phẩm
+ m: số loại vật liệu
Việc tính toán các loại chi phí này có thể được mô tả dưới dạng ma trận;
Chi phí vật liệu = Q x M x G
Với Q là ma trận chủng loại sản phẩm
M là ma trận định mức hao phí vật liệu.
1.2.
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ dự toán khối lượng sản xuất.
Dự toán này nhằm cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực
lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán.
Mục tiêu tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực lượng lao đông vừa đủ để đáp
ứng yêu cầu sản xuất tránh tình trang lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao động và
nó đồng thời là cơ sở cho doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo tuyển dụng.
Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với khối lượng
sản phẩm sản xuất.
Lập dự toán nhân công trực tiếp cần xây dựng:
 Định mức lao động để sản xuất sản phẩm.
 Tiền công từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm nếu doanh nghiệp trả lương
theo sản phẩm.
Chi phí nhân công trực tiếp cũng xác định:
n

m

 

CPNCTT= i1 i 1 (Qi Mij Gj)
Mij :là mức hao phí lao động trực tiếp loại j để sản xuất ra sản phẩm i
+ Gj: đơn giá lương của lao động loại j(j=1,m)
+ Qi : số lượng sản phẩm i dự toán sản xuất(i=1,n)
SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 9


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

1.3.
Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản
xuất.Chi phí sản xuất chung bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí cố định.Vì vậy
việc lập dự toán cần phải phân biệt hai loai chi phí này.
Dự toán
chi phí
sx chung

Dự toán
định phí
sx chung

=

+

Dự toán
biến phí
sx chung

Biến phí sx chung có thể xây dựng theo từng yếu tố chi phí cho từng đơn vị hoạt
động ( chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp, …). Tuy nhiên cách
làm này khá phức tạp,tốn nhiều thời gian.Do vậy người ta thường xác lập biến phí
sản xuất chung cho từng đơn vị hoạt động.
Dự toán
biến phí
sx chung

=

Dự toán
biến phí đơn
vị sx chung

Sản lượng sản
xuất theo dự
toán

x

Dự toán biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp.
Dự toán
Dự toán
Tỷ lệ
biến phí
=
biến phí
x
biến phí theo
sx chung
trực tiếp
dự kiến
Dự toán định phí sx chung cần thiết phải phân biệt định phí bắt buộc và định phí
tuỳ ý.Đối với định phí bắt buộc trên cơ sở định phí chung cả năm chia đều cho 4
quý( nếu dụ toán quý), chia đều cho 12 tháng (nếu dự toán tháng). Định phí tuỳ ý
phải căn cứ vào kế hoạch của nhà quản trị trong kỳ dự toán.
Dự toán
định phí
sx chung

=

Định phí sx
chung thực tế
kỳ trước

x

Tỷ lệ % tăng(giảm)
định phí sản xuất
chung theo dự kiến

1.4. Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán chi phí
Dự toán biến phí
Dự toán định phí
=
+
quản lý DN
Quản lý doanh nghiệp
Quản lý doanh nghiệp
Đối với định phí quản lý doanh nghiệp thường không thay đổi theo mức độ hoạt
động, Dự toán biến phí quản lý doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp thống kê
kinh nghiệm, trên cơ sở tỷ lệ biến phí quản lý Doanh nghiệp trên biến phí trực tiếp
trong và ngoài khâu sản xuất ở các kỳ kế toán trước đó xác định tỷ lệ biến phí quản lý
bình quân giữa các kỳ.
1.5. Dự toán chi phí tài chính
Dự toán chi phí tài chính quan tâm đến dự toán chi phí lãi vay dựa vào tỷ suất lãi
vay và số tiền vay. Tuy nhiên, khoản này thường cố định, nó chỉ biến động hàng năm
theo mức vay vốn của doanh nghiệp.

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 10


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

2. Lập dự toán giá thành sản phẩm.
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình sử dụng các nguồn lực kinh tế
tại doanh nghiệp để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ có ích cho người tiêu dùng. Quá
trình đó làm phát sinh các loại chi phí tại nhiều địa điểm khác nhau trong doanh nghiệp.
Do vậy tập hợp chi phí và tính giá thành là một nội dung cơ bản và có tính truyền thống
trong kế toán quản trị.
Dự toán giá thành sản phẩm có vai trò rất quan trọng trong công tác quản trị DN, cụ
thể:
- Góp phần xác định giá thành sản phẩm hoàn thành, là cơ sở để xác định kết quả
kinh doanh của từng sản phẩm, từng nhóm sản phẩm và toàn doanh nghiệp.
- Giúp nhà quản trị làm tốt công tác hoạch định và kiểm soát chi phí ở từng phòng
ban, từng phân xưởng, tổ, đội sản xuất.
- Giúp nhà quản trị nổ lực trong việc giảm thấp chi phí sản phẩm, có giải pháp cải
tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
- Là cơ sở để các nhà quản trị xây dựng một chính sách giá bán hợp lý, có tính cạnh
tranh và ra nhiều quyết định tác nghiệp khác.
2.1. Lập dự toán giá thành theo phương pháp toàn bộ.
Phương pháp tính giá toàn bộ là phương pháp mà toàn bộ chi phí liên quan đến quá
trình sản xuất sản phẩm tại nơi sản xuất được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn
thành.
Phương pháp tính giá thành toàn bộ có thể vận dụng trong các trường hợp:
- Tính giá thành giản đơn
- Tính giá thành theo công việc
- Tính giá thành theo quá trình sản xuất
Theo phương pháp này giá thành tính theo công thức:
Giá thành sản
Chi phí
Chi phí
Chi phí
=
+
+
Phẩm hoàn thành
NVLTT
NCTT
SXC
Tính giá thành theo phương pháp toàn bộ cung cấp số liệu cho các DN lập báo
cáo tài chính theo quy định, song xét về góc độ quản trị phương pháp này không đáp
ứng được yêu cầu cho các nhà quản trị trong việc lập các kế hoạch linh hoạt đáp ứng
nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình huống quy mô sản xuất khác nhau,
đặc biệt khi các doanh nghiệp đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt về giá trong việc
tìm kiếm thị trường.
2.2. Lập dự toán giá thành theo phương pháp trực tiếp
Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp là phương pháp mà theo đó chỉ có chi phí
sản xuất biến đổi liên quan đến sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, tại nơi sản xuất được
tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành. Phần chi phí sản xuất chung cố định không
được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành. Như vậy giá thành sản phẩm hoàn thành
bao gồm:
Giá thành sản
Chi phí
Chi phí
Biến phí
=
+
+
Phẩm hoàn thành
NVLTT
NCTT
SXC
Các nhà quản trị quan niệm rằng, định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ, nghĩa
là doanh nghiệp luôn phát sinh chi phí này để duy trì và điều hành hoạt động sản xuất
cho dù có sự tăng giảm sản lượng trong kỳ trong giời hạn quy mô nhà xưởng. Định phí

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 11


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

sản xuất chung gần như ít thay đổi qua các năm, trước khi có sự thay đổi quy mô đầu
tư. Do vậy sẽ là không hợp lý khi tính chi phí SXC cố định cho sản phẩm hoàn thành vì
định phí này không gắn liền với hoạt động sản xuất như chi phí biến đổi khác. Cách
nhìn nhận định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ cũng đồng nghĩa là không xem chi
phí này là chi phí sản phẩm, khi đó định phí là yếu tố cần giảm trừ để báo cáo sự thật về
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất khi phát sinh cần phân loại theo cách ứng
xử chi phí. Các chi phí sản xuất biến đổi sẽ tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí,
phần định phí SXC sẽ tập hợp riêng. Trường hợp không thể phân loại ngay thành biến
phí và định phí thì chi phí này sẽ được theo dõi riêng, đến cuối kỳ sẽ phân tích thành
biến phí và định phí. Kế toán sẽ tổng hợp toàn bộ biến phí sản xuất để tính giá thành
sản phẩm. Lúc này, giá thành đơn vị được xác định :
Giá thành
Tổng biến phí sản xuất
=
Đơn vị sản phẩm
Sản lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp có nhiều tác dụng trong quản trị doanh
nghiệp, như lập dự toán linh hoạt, định giá sản phẩm, lập báo cáo thu nhập theo số dư
đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ chi phí- khối lượng,-lợi nhuận…
3.Phân tích thông tin chi phí phục vụ cho việc quản lývà quyết định của các nhà
quản trị trong doanh nghiệp
3.1. Phân tích chi phí theo các trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí xuất hiện gắn liền với sự phân cấp về quản lý, nơi mà người quản
lý có quyền và chiu trách nhiệm đối với kết quả của hoạt động thuộc phạm vi mình
quản lý.
Chịu trách nhiệm về chi phí đầu vào của tổ chức. Trách nhiệm tài chính của trung
tâm này là kiểm soát và báo cáo chỉ riêng về chi phí. Một trung tâm chi phí có thể có
nhiều đơn vị chi phí tùy thuộc vào việc cân nhắc về lợi ích và chi phí của việc vận
hành, kiểm soát. Phân tích chênh lệch dựa trên chi phí định mức và các kế hoạch ngân
sách được theo dõi và điều chỉnh liên tục chính là phương thức điển hình của việc đo
lường hiệu quả hoạt động của trung tâm chi phí.
Quá trình phân tích chi phí theo trung tâm chi phí dựa trên các báo cáo kết quả .
Đây là các báo cáo phản ánh các chỉ tiêu tài chính chủ yếu đạt được ở từng trung tâm
trách nhiệm trong một khoảng thời gian nhất định, là báo cáo so sánh các chỉ tiêu thực
tế với dự toán phù hợp với quyền hạn và phạm vi trách nhiệm của các trung tâm trách
nhiệm có liên quan.
Trung tâm chi phí được phân thành 2 loại là trung tâm chi phí tự do và trung tâm chi
phí định mức.
Khi phân tích trung tâm chi phí nếu thấy dấu hiệu bất lợi thì cần xác định những tác
động bất lợi của các bộ phận tương ứng, từ đó đánh giá trách nhiệm của trung tâm chi
phí. Điều quan trọng mà nhà quản lý nên quan tâm là giải thích các nguyên nhân nhằm
tìm ra những khó khăn và từ đó có phương án giải quyết để hoàn thành trách nhiệm và
mục tiêu chung của doanh nghiệp.
3.2. Phân tích mối quan hệ giữa chi phí- sản lượng – lợi nhuận
Phân tích CVP là kỹ thuật đánh giá ảnh hưởng của những thay đổi về chi phí và
sản lượng đối với lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nội dung của phân tích CVP gồm:

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 12


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

- Phân tích điểm hòa vốn
- Phân tích mức sản lượng cần thiết để đạt mức lãi mong muốn
- Phân tích ảnh hưởng của kết cấu mặt hàng đối với sự thay đổi của lợi nhuận
- Phân tích ảnh hưởng của giá bán đối với lợi tức với sự thay đổi tính về biến phí và
định phí.
Tuy nhiên các công cụ này có một số hạn chế vì nó dựa trên giả thuyết kết cấu sản
phẩm cố định, tồn kho không thay đổi, công suất máy móc thiết bị không thay đổi, giá
trị đồng tiền ổn định… Vì vậy, tính khả thi và sự chính xác khi ra quyết định dựa vào
mối quan hệ CVP cần phải xem xét trong những điều kiện cần thiết. Trong khi đó các
nhà quản trị lại phải thường xuyên đưa ra các quyết định phức tạp, khó khăn trước sự
biến động của những thông tin phức tạp liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
3.3. Phân tích thông tin chi phí thích hợp để ra quyết định kinh doanh
Ra quyết định là một chức năng cơ bản của người quản lý, đồng thời cũng là quyết
định khó khăn, phức tạp nhất của họ. Trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh,
người quản lý luôn phải đưa ra các quyết định và để thực hiện tôt điều này họ cần phải
tập hợp và phân tích thông tin, đặc biệt là thông tin về chi phí.
Một phương pháp phân tích thông tin chi phí thích hợp sẽ hỗ trợ cho nhà quản trị
trong việc lựa chọn các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh.
Quá trình phân tích thông tin thích hợp bao gồm các bước:
- Tập hợp chi phí liên quan đến mỗi phương án kinh doanh, chi phí này bao gồm chi
phí thực tế ước tính, chi phí tiềm ẩn và chi phí cơ hội.
- Loại bỏ các khoản chi phí chìm, là những chi phí đã phát sinh luôn tồn tại ở tất cả
các phương án kinh doanh.
- Loại bỏ các chi phí sẽ phát sinh như nhau trong tương lai ở các phương án kinh
doanh.
Các chi phí còn lại là thông tin chi phí thích hợp cho việc lựa chọn các phương án.
Thông tin chi phí thích hợp sẽ khác nhau khi so sánh lựa chọn các phương án kinh
doanh khác nhau. Tuy nhiên, tùy theo từng mục đích mà kế toán sử dụng thông tin thích
hợp cho việc ra quyết định. Các nhà KTQT chi phí phải phân loại và nhận diện chi phí
một cách đúng đắn nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị chi phí. Mô hình phân tích thông tin
chi phí giúp nhà quản trị có được những thông tin chi phí thích hợp, nhanh chóng
nhưng vẫn đảm bảo tính khoa học và chính xác.

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 13


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

PHẦN II
KIỂM SOÁT CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CP VẬN TẢI BIỂN ĐÀ NẴNG
A. Tổng quan về công ty CP vận tải biển Đà Nẵng
I. Quá trình hình thành – phát triển và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
cổ phần vận tải biển Đà Nẵng:
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:
Đứng trước yêu cầu cấp thiết về xây dựng lại tuyến vận tải đường thủy, ngày
28/6/1978 Ủy ban nhân dân thành phố tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ra quyết định số
1041/QĐ- UB V/v thành lập Công ty vận tải Sông biển Quảng Nam- Đà Nẵng- Trực
thuộc Sở giao thông công chính thành phố Đà Nẵng.
Thực hiện Quyết định số 1678/QĐ- UB ngày 14/09/1985 của UBND tỉnh Quảng
Nam- Đà Nẵng đã tách công ty Vận tải Sông biển Quảng Nam- Đà Nẵng thành hai công
ty:
* Công ty vận tải Xuất nhập khẩu- trực thuộc Công ty liên hiệp XNK tỉnh Quảng NamĐà Nẵng, tên viết tắt là DANASCO. Đội tàu của Công ty gồm hai chiếc tàu Sông Thu
và tàu Đà Nẵng, chuyên làm công tác vận chuyển hàng hóa Xuất Nhập cho tỉnh nhà và
cho cả miền Trung.
* Công ty vận tải Sông biển Quảng Nam- Đà Nẵng- trực thuộc sở giao thông vận tải
tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, tên giao dịch viết tắt là DANASHIP, có nhiệm vụ chuyên
chở hàng hóa trong nước.
Sau khi có nghị định 388/HĐBT, 20/11/1991 của chính phủ và nghị định 156/HĐBT ngày 07/05/1992 của Chính Phủ, UBND tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng ra quyết định
số 2941/QD- UB ngày 16/10/1992 về việc sát nhập hai Công ty DANASCO và Công ty
DANASHIP thành công ty Vận tải biển- trực thuộc Sở giao thông vân tải biển tỉnh
Quảng Nam- Đà Nẵng.
Xuất phát từ định hướng của Đảng là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao
cấp sang nền kinh tế thị trường, đa dạng hóa các ngành nghề, mở rộng quan hệ và giao
dịch kinh tế với các nước lân cận và quốc tế. Dựa vào năng lực của công ty và biện pháp
củng cố trong sản xuất kinh doanh, ngày 04/05/1995 Công ty Vận tải biển QN-ĐN đã
lập tờ trình số 511TT trình UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng để xin đổi tên công ty
và ngành nghề kinh doanh. Đến ngày 15/05/1995 UBND tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng ra
quyết định số 611/QĐ- UB về việc đổi tên và bổ sung ngành nghề kinh doanh cho
doanh nghiệp Nhà nước. Công ty đổi tên thành Công ty vận tải biển và thương mại- trực
thuộc Sở giao thông vận tải Quảng Nam- Đà Nẵng.
Thực hiện nghị quyết của chính phủ về việc tách tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng thành
hai đơn vị hành chính độc lập khác nhau là thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương
và tỉnh Quảng Nam. Ngày 31/12/1997, chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ra quyết
định số 5473/QĐ- UB về việc đổi tên công ty vận tải biển và thương mại Quảng NamĐà Nẵng thành công ty vận tải biển và thương mại Đà Nẵng trực thuộc Sở giao thông
công chính thành phố Đà Nẵng.
Thực hiện quyết định số 9364/QĐ- UBND ngày 30/12/2006 về việc phê duyệt
phương án cổ phần hóa và chuyển Công ty vận tải biển và thương mại Đà Nẵng thành
công ty cổ phần với tên gọi mới là:
CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI BIỂN ĐÀ NẴNG
Tên giao dịch: DANANG SHIPPING JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: DANANGSHIP

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 14


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

Trụ sở: 156 Bạch Đằng, quận Hải Châu- TP Đà Nẵng
Do mới được thành lập, nguồn ngân sách nhà nước đầu tư ít nên trong thời gian từ
năm 1978 đến 1982 phương tiện vận tải của công ty chỉ có 5 chiếc tàu gỗ có trọng tải từ
50-100 tấn, được mua lại từ tư nhân. Với số lượng phương tiện hạn chế cùng với cán bộ
quản lý chưa có kinh nghiệm, nguồn hàng để vận chuyển không ổn định, phải phụ thuộc
vào việc lập kế hoạch tập trung của Nhà Nước, chi phí cao dẫn đến hiệu quả kinh doanh
thấp.
Trong thời gian từ năm 1982- 1983, do yêu cầu phát triển của đội tàu, Công ty được
nhà nước đầu tư đóng mới hai tàu sắt là tàu Vĩnh Điện và tàu Phú Ninh, với một chiếc
có trọng tải 400 tấn. Năm 1983- 1985, tỉnh tiếp tục đầu tư để Công ty mua thêm hai
chiếc tàu cũ của Nhật Bản là tàu Sông Thu và tàu Đà Nẵng.
Ngoài ra, công ty còn có hai xí nghiệp trực thuộc: DV sơn que hàn, DV X50, và
một văn phòng đại diện tại Quảng Ninh.
Tình hình lao động năm 2008 là 100 người, đến năm 2009 là 105 người. Lao động
qua hai năm chỉ tăng lên 5 người, do đơn vị mới chuyển đổi hình thức công ty nên tình
hình lao động cũng không biến động nhiều.
2. Chức năng và nhiệm vụ
2.1. Chức năng
Công ty CP vận tải biển Đà Nẵng là doanh nghiệp cổ phần có chức năng:
 Kinh doanh vận tải hàng hóa ven biển, đường thủy nội địa và viễn dương.
 Kinh doanh vận tải cho khách hàng theo hợp đồng.
 Hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho vận tải đường thủy.
 Bốc xếp hàng hóa, kinh doanh kho bãi và lưu giữ hàng hóa.
 Dịch vụ đóng gói, gia công cơ khí, sửa chữa máy móc thiết bị, thiết bị điện, đại
lý môi giới, đấu giá máy móc thiết bị.
 Kinh doanh máy móc thiết bị và phụ tùng máy khác.
 Nuôi trồng thủy sản biển và nôi địa.
 Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản.
 Kinh doanh hàng da, hàng gốm, sứ, thủy tinh, đồ điện gia dụng.
 Kinh doanh hàng mỹ phẩm, chế phẩm vệ sinh, kinh doanh trang thiết bị bảo hộ
lao động.
 Kinh doanh sách, báo, tạp chí, văn phòng phẩm, dụng cụ thể dục, thể thao, thiết
bị văn phòng.
2.2. Nhiệm vụ
Công ty CP vận tải biển Đà Nẵng là doanh nghiệp cổ phần với 30% vốn nhà nước
có tư cách pháp nhân hạch toán kinh tế độc lập và đảm nhiệm những nhiệm vụ chính
sau:
 Xây dựng và tổ chức kế hoạch kinh doanh vận tải biển, khai thác các nguồn hàng
trong nước và quốc tế.
 Phát triển đội tàu biển của công ty ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất
lượng. Nâng tổng trọng tải của đội tàu ngày càng cao đáp ứng nhu cầu vận
chuyển hàng hóa của thành phố Đà Nẵng, khu vực miền trung và cả nước.
 Sản xuất kinh doanh của công ty phải có hiệu quả. Doanh thu năm sau nhiều hơn
năm trước, kinh doanh phải có lãi và lãi năm sau phải nhiều hơn lãi năm trước.
Đóng thuế đầy đủ, thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN cho cán bộ CNV.
SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 15


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

 Phải tuyển lao động và có kế hoạch đào tạo, nâng cấp sỹ quan thuyền viên
thường xuyên để công ty có đội ngũ sỹ quan có đủ sức khỏe trình độ chuyên môn
cao đáp ứng yêu cầu công việc.
Cơ sở vật chất của công ty hiện có gồm:
Trụ sở làm việc tại: 156 Bạch Đằng và đội tàu vận tải biển: Công ty có trách nhiệm
khai thác hiệu quả các phương tiện hiện có, không chỉ duy trì mà còn đảm bảo tái đầu tư
mở rộng. Đối với trang thiết bị phải đầu tư chiều sâu, phát triển đội tàu phải đảm bảo
thời gian chạy tàu cao nhất để tăng doanh thu và tạo nguồn dự trữ, giải quyết việc làm,
nâng cao đời sống cán bộ CNV công ty.
II. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty
Công ty hiện đã được chuyển đổi thành công ty cổ phần, hoạt động sản xuất kinh
doanh đa dạng, phong phú với nhiều lĩnh vực hoạt động như kinh doanh vận tải đường
thủy trong nước và quốc tế, bốc xếp hàng hóa và kinh doanh kho bãi, đóng gói, gia công
cơ khí, sửa chữa máy móc thiết bị. Bên cạnh đó, công ty còn kinh doanh ở lĩnh vực bất
động sản, nuôi trồng thủy sản, kinh doanh hàng hóa văn phòng phẩm các loại. Với lĩnh
vực hoạt động thương mại kinh doanh các mặt hàng công ty cũng đang từng ngày củng
cố và phát triển để đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Công ty có cơ cấu
đội tàu như sau:
ĐỘI TÀU CỦA CÔNG TY CP VẬN TẢI BIỂN ĐÀ NẴNG
TT

Tên tàu

Trọng tải
(Tấn)

Năm
đóng

Nơi
đóng

GT
(Tấn)

NT
(Tấn)

CV

1

Thuận Phước

6.507

2004

VN

4.039

2.360

3.600

2

Thuận Phước 09

2.475

1977

Japan

2.475

1.366

1.500

III. Tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty CP vận tải biển Đà Nẵng
3.1. Sơ đồ bộ máy quản lý

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 16


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CÔNG TY
HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM
ĐỐC

BỘ
PHẬN
KỸ
THUẬT
VẬT TƯ

PHÓ GIÁM
ĐỐC

BỘ
PHẬN
TỔ
CHỨC
HÀNH
CHÍNH

BỘ PHẬN DỰ ÁN
VÀ KHAI THÁC

BỘ
PHẬN
KẾ
TOÁN
TÀI VỤ

BỘ PHẬN
THƯƠNG MẠI

BỘ
PHẬN
KẾ
HOẠCH
KHAI
THÁC

ĐỘI TÀU

Ghi chú:
: Quan hệ lãnh đạo
: Quan hệ tham mưu
: Quan hệ chức năng
3.2. Chức năng của các bộ phận

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 17


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

 Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty. Đại hội
đồng cổ đông phải thảo luận và biểu quyết về các vấn đề đã được đưa vào
chương trình họp.
 Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý của công ty, toàn quyền nhân danh công ty
để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ
những thẩm quyền thuộc về đại hội đồng cổ đông.
 Giám đốc: Là người chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn
vị trước pháp luật. Giám đốc có trách nhiệm theo dõi tình hình hoạt động kinh
doanh của công ty, nghiên cứu các kế hoạch phát triển công ty, tham khảo các ý
kiến của các bộ phận để đưa ra các quyết định đúng đắn.
 Phó giám đốc: Là bộ phận có nhiệm vụ hỗ trợ giám đốc theo dõi các hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty và thay mặt giám đốc xử lý các vấn đề phát sinh
thuộc thẩm quyền khi giám đốc vắng mặt và ủy quyền lại.
 Bộ phận kỹ thuật vật tư: Có trách nhiệm tổng hợp và cân đối các kế hoạch cung
ứng vật tư của các tàu, tính toán các định mức tiêu hao nhiên liệu, vật liệu để lên
kế hoạch mua sắm, dự trữ bảo quản nguyên vật liệu.
 Bộ phận tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ lập kế hoạch lao động tiền lương, tiến
hành xây dựng định mức lao động, phụ trách công tác lao động tiền lương, quản
lý lao động, bảo hiểm xã hội, quản lý quỹ tiền lương.
 Bộ phận kế toán tài vụ: Có nhiệm vụ tiến hành kế toán bằng tiền kết quả hoạt
động kinh doanh của công ty. Chấp hành quy chế tài chính, sử dụng hợp lý tiền
vốn, cân đối thu chi trong công ty, lập kế hoạch tài vụ theo thời gian tháng, quý,
năm. Lập kế hoạch tín dụng vay vốn ở ngân hàng, quản lý tiền mặt, tiền gửi ngân
hàng. Lập báo cáo định kỳ để thống kê và quyết toán nguồn vốn có hiệu quả.
 Bộ phận kế hoạch khai thác: Có nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất của các tàu, tìm
kiếm, ký kết các hợp đồng vận chuyển với khách hàng, chỉ đạo và giải quyết kịp
thời các vấn đề có liên quan đến kế hoạch sản xuất hay kế hoạch vận tải của các
tàu.
 Bộ phận kinh doanh thương mại: Do hai cửa hàng trưởng chịu trách nhiệm trực
tiếp về việc kinh doanh của cửa hàng và chịu sự điều hành trực tiếp của Giám
đốc công ty.
 Bộ phận dự án và khai thác cảng: Giám đốc trực tiếp điều hành.
 Đội tàu: Nhằm ổn định sản xuất và giữ vững thị phần vận tải, công ty đã chủ
động đổi mới đội tàu và nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đảm bảo đủ năng lực và trình độ vào sản
xuất, để đưa công ty từ một doanh nghiệp vận tải thông thường thành một doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải thật sự, tăng cường công tác quản lý chi phí để
tạo sức cạnh tranh về cước phí vận tải, góp phần giảm chi phí chung cho đơn vị
và đem lại lợi ích cho người sử dụng dịch vụ của công ty.
IV. Công tác tổ chức kế toán tại công ty CP vận tải biển Đà Nẵng:
1. Tổ chức bộ máy kế toán của công ty.
Bộ máy kế toán của công ty gồm 1 kế toán trưởng, 3 kế toán viên và các kế toán tại
các đơn vị trực thuộc.
Sơ đồ

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 18


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN

KẾ TOÁN TRƯỞNG

Kế toán vật
tư, TSCĐ,
hàng tồn
kho, Phải
thu, phải
trả

Kế toán
vốn bằng
tiền, tạm
ứng, tiền
lương, thủ
quỹ

Kế toán
tổng hợp

Kế toán tại các đơn vị
trực thuộc

Ghi chú:
: Quan hệ trực tuyến
: Quan hệ chức năng
Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận.
Kế toán trưởng: Là người tham mưu cho giám đốc về toàn bộ công tác kế toán tài
chính, tín dụng và thông tin kinh tế ở công ty. Tổ chức thực hiện công tác kế toán theo
đúng chuẩn mực kế toán hiện hành, phổ biến cho từng kế toán viên về các quy định của
Nhà nước về những chuẩn mực kế toán mới.
Kế toán vật tư và công nợ: Là người chịu trách nhiệm theo dõi tình hình nhập, xuất,
tồn kho vật tư, theo dõi tình hình tăng giảm và sử dụng TSCĐ của công ty, tính khấu
hao TSCĐ để phân bổ chi phí cho hợp lý. Theo dõi các khoản nợ của công ty đối chiếu
với kế toán thanh toán đảm bảo cho quá trình thu chi của đơn vị.
Kế toán vốn bằng tiền, tạm ứng, tiền lương: Là người có nhiệm vụ theo dõi tình hình
tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp cũng như TGNH, tính tiền lương cho người lao động.
Kế toán tổng hợp: Là người có nhiệm vụ cùng bộ phận tổ chức hành chính xác định
sổ BHXH, BHYT, BHTN của nhân viên. Lập báo cáo thuế và các báo cáo tài chính cuối
năm.
Thủ quỹ: Theo dõi quá trình thu chi tại đơn vị.
1.
Hình thức sổ sách kế toán được áp dụng tại công ty:
Hình thức kế toán được áp dụng tại công ty là hình thức” Chứng từ ghi sổ”. Toàn bộ
việc hạch toán được hạch toán trên hệ thống máy vi tính với phần mềm kế toán FAST
ACCOUNTING được xây dựng sẵn theo các thuật toán.

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 19


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

Bộ phận kế toán tại các đơn vị hằng ngày sẽ tập hợp chứng từ tại đơn vị mình, tiến
hành nhập dữ liệu vào phần mềm kế toán đã được thiết lập sẵn và lưu trữ chứng từ.
Định kỳ hoặc khi có yêu cầu của cấp trên thì kế toán tại các đơn vị trực thuộc sẽ in toàn
bộ sổ theo hình thức chứng từ ghi sổ và nộp lên cấp trên.
2.1. Sơ đồ:
TRÌNH TỰ GHI SỔ

SỔ KẾ TOÁN
CHỨNG TỪ KẾ TOÁN

PHẦN MỀM KẾ
TOÁN

BẢNG TỔNG HỢP
CHỨNG TỪ KẾ
TOÁN CÙNG LOẠI

- Sổ tổng hợp
- Sổ chi tiết

- Báo cáo tài chính
- Báo cáo kế toán
quản trị

Ghi chú:
Nhập số liệu hằng ngày
In sổ, báo cáo cuối tháng, cuối năm
Đối chiếu, kiểm tra
2.2. Trình tự ghi sổ:
Hằng ngày, kế toán căn cứ số liệu chứng từ gốc hoặc bảng kê tổng hợp chứng từ
cùng loại đã được kiểm tra làm căn cứ ghi sổ, xác định tài khoản Nợ, tài khoản Có để
nhập dữ liệu vào máy tính theo các bảng biểu đã được thiết lập sẵn trên máy tính theo
phần mềm kế toán FAST ACCOUNTING. Đến cuối kỳ hoặc khi có yêu cầu cần thiết
cung cấp thông tin thì nhân viên kế toán thực hiện thao tác khóa sổ và in sổ sách cần
thiết. Việc đối chiếu số liệu chi tiết và tổng hợp được thực hiện tự động và đảm bảo
chính xác. Cuối kỳ, kế toán sẽ in bộ sổ kế toán theo chứng từ ghi sổ để cất kho và lưu
trữ.
2.3. Sổ sách kế toán được sử dụng ở công ty
- Bảng kê các chứng từ ghi nợ, có các tài khoản từ loại 1 đến loại 9
- Sổ chi tiết: tiền mặt, công nợ, tạm ứng, nguyên vật liệu, tài sản cố định
- Bảng tổng hợp chi tiết công nợ, vật tư
- Sổ cái các tài khoản
- Báo cáo quyết toán cuối năm
B. Kế toán quản trị chi phí tại công ty CP vận tải biển Đà Nẵng
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, nhất là một khi doanh nghiệp đã gia nhập
vào WTO thì các doanh nghiệp luôn đứng trước sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại và có
vị trí trên thương trường. Giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu hàng đầu của mọi
doanh nghiệp về tối đa hóa lợi nhuận là phải kiểm soát được chi phí bỏ ra để nâng cao
SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 20


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

hiệu quả chi tiêu. Muốn vậy nhà quản trị phải quản lý doanh nghiệp một cách có hiệu
quả. Để thực hiện được điều này, thì nhu cầu thông tin càng trở nên đa dạng và bức
thiết. Thực tế cũng cho thấy các nhà quản lý muốn thực hiện tốt chức năng của mình thì
phải có nguồn thông tin đáng tin cậy trải dài trong phạm vi hoạt động của mình, đảm
bảo cho thông tin đi đến những nơi cần thiết một cách nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ và
chính xác. Hơn thế, hoạt động chủ yếu của công ty CP vận tải biển Đà Nẵng là cung
cấp các dịch vụ vận tải trên các đội tàu thường xuyên ở xa bộ phận quản lý, do đó vấn
đề kiểm soát chi phí đối với các nhà quản lý rất khó khăn. Họ cần những nguồn thông
tin một cách chính xác giúp cho việc quản lý có hiệu quả.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, cho thấy việc kiểm soát chi phí ở các doanh
nghiệp nói chung và công ty CP vận tải biển nói riêng thật sự cần thiết và có vai trò
quan trọng đối với các nhà quản trị cũng như các bộ phận khác. Do đó vấn đề đặt ra là
để có thông tin thích hợp phục vụ cho nhà quản trị thì cần thiết phải tổ chức việc kiểm
soát chi phí một cách chặt chẽ nhằm cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý tốt
hơn.
I.
Đặc điểm và phân loại chi phí phát sinh tại công ty
Do sản phẩm của công ty là các hợp đồng dịch vụ vận tải hàng hóa được thực hiện
bởi những đội tàu chuyên dụng, do đó chi phí phát sinh tại doanh nghiệp chủ yếu là chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí chung.
Để công tác quản lý chi phí được tiến hành thuận lợi và dễ dàng, công ty đã phân
loại chi phí theo theo công dụng kinh tế.
Theo cách phân loại này chi phí của công ty được chia thành: Chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh
nghiệp, chi phí tài chính. Cách phân loại này được sử dụng để tập hợp chi phí theo
khoản mục, tính toán chính xác chi phí thực tế và xác định ảnh hưởng của các nhân tố
đến tổng chi phí. Từ đó phục vụ cho việc phân tích chi phí và giám sát việc thực hiện kế
hoạch chi phí tại công ty.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Chi phí này liên quan đến đội tàu vận tải, do
đó vật liệu chính mà công ty xuất dùng được hạch toán trực tiếp vào từng đối tượng sử
dụng theo giá thực tế từng loại vật liệu. Giá trị vật liệu xuất kho được áp dụng theo
phương pháp bình quân gia quyền. Còn theo dõi hàng tồn kho công ty áp dụng phương
pháp kê khai thường xuyên. Tại công ty, chi phí nguyên vật liệu chủ yếu là dầu FO, dầu
DO, mỡ bôi trơn, phụ tùng thay thế như đầu phun, joăng xu, lọc... Do đặc thù của công
ty là kinh doanh các dịch vụ vận tải nên chi phí nhiên liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng chi phí sản xuất phát sinh tại công ty. Trên thực tế chi phí nhiên liệu chiếm
trên 40% giá thành vận tải biển. Tàu càng to, càng hiện đại tiêu hao nhiên liệu càng lớn.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh lớn đòi hỏi doanh nghiệp phải kiểm soát chặt
chẽ chi phí nguyên vật liệu phát sinh bao gồm cả mức tiêu hao nguyên vật liệu cho từng
con tàu và đơn giá nguyên vật liệu.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí này bao gồm tiền lương, tiền công và các
khoản phụ cấp có tính chất lương phải trả; tiền ăn giữa ca theo quy định, các khoản
trích theo lương của thuyền viên trực tiếp tham gia hoạt động trên tàu cụ thể:
Tại công ty có hai nguồn lao động chính: thuyền viên làm việc theo hợp đồng dài
hạn và thuyền viên thuê ngoài. Đối với thuyền viên làm việc theo hợp đồng dài hạn thì
tiền lương được tính theo đơn giá tiền lương được thống nhất theo mức lương tại công

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 21


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

ty. Đối với thuyền viên thuê ngoài, đơn giá tiền lương được tính theo giá thị trường
được thỏa thuận trên hợp đồng thuê thuyền viên giữa công ty và đơn vị cho thuê.
Đối với các khoản trích theo lương, như BHXH, BHYT, BHTN, được trích dựa trên
tiền lương cơ bản theo quy định hiện hành. Riêng KPCĐ được trích căn cứ vào quỹ
lương thực trả cho thuyền viên, cụ thể:
BHXH: 16%
BHYT: 3%
BHTN: 1%
KPCĐ: 2%
Ngoài ra do đặc thù kinh doanh của công ty là phụ thuộc vào cho thuê tàu định hạn
và chạy hợp đồng chuyên tuyến chở than, clinker trong nước, không có quan hệ nhiều
với các chủ hàng và đại lý hàng hóa cho tàu chợ, đứng trước diễn biến xấu của thị
trường, các chủ hàng không thuê tàu định hạn, hàng hóa trong nước khan hiếm không
có để vân chuyển thì điều này đồng nghĩa với viêc thuyền viên trên tàu không có việc gì
để làm nữa, do đó phát sinh khoản chi phí điều động, hoặc nghỉ chờ việc.
- Chi phí sản xuất chung: Chi phí này bao gồm toàn bộ các khoản chi phí mang
tính chất chung cho hoạt động dịch vụ vận tải được tập hợp riêng cho từng đội tàu
Chi phí SXC được tập hợp từ các chi phí:
Chi phí vật liệu văn phòng tàu;
Chi phí dụng cụ trên tàu;
Chi phí khấu hao TSCĐ;
Chi phí bảo hiểm, thuế, phí, lệ phí;
Chi Phí dịch vụ mua ngoài;
Chi phí bằng tiền khác.
Riêng đối với chi phí sản xuất chung phát sinh trong quá trình đội tàu thực hiện
hành trình vận tải của mình, do đó được tập hợp trực tiếp cho từng con tàu.
Ngoài các chi phí khấu hao máy móc thiết bị, phân bổ công cụ dụng cụ, tiền điện
thoại, còn các chi phí khác như phí hoa tiêu, phí neo đậu cảng, phí lai dắt tàu, tiền điện
nước sinh hoạt…sẽ căn cứ vào hành trình vận tải của con tàu để xác định khoản chi phí
hợp lý, ghi nhận vào chi phí sản xuất chung của từng đối tượng sử dụng để cuối kỳ ghi
nhận giá vốn và xác định kết quả kinh doanh.
Để có thể kiểm soát tốt chi phí SXC phát sinh, người quản lý sẽ căn cứ vào các định
mức chung để kiểm tra từng nội dung chi phí, tránh tình trạng các khoản chi phí phát
sinh vượt định mức, qua đó phát hiện những biến động bất thường và có biện pháp điều
chỉnh kịp thời.
Cuối mỗi tháng, BCH con tàu phải gởi toàn bộ chứng từ, các bảng báo cáo liên quan
đến chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của từng con tàu lên phòng kế toán công ty,
phòng kế toán công ty sẽ kiểm tra, đối chiếu số liệu rồi nhập vào máy để theo dõi chi
phí phát sinh của từng con tàu, lập bảng tổng hợp công nợ và các báo cáo khác của
công ty.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Tại công ty, chi phí quản lý doanh nghiệp bao
gồm chi phí khấu hao TSCĐ, phân bổ công cụ dụng cụ, chi phí tiền lương bộ phận quản
lý, chi phí dịch vụ mua ngoài, thuế, phí và lệ phí…
Căn cứ để xác định chi phí tiền lương cho bộ phận quản lý là các chứng từ theo dõi
lao động như bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương. Chi phí dịch vụ mua ngoài
được xác định dựa trên các HĐ mua vào, giấy đề xuất của các bộ phận được giám đốc

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 22


Bản thảo phần II

GVHD Th.S Võ HồngTâm

phê duyệt.. Toàn bộ các chứng từ này sẽ được kế toán tập hợp lại, kiểm tra làm căn cứ
để ghi nhận chi phí quản lý doanh nghiệp, cuối tháng kết chuyển để xác định kết quả
kinh doanh.
Chi phí tài chính
Chi phí tài chính phát sinh tại công ty bao gồm những khoản chi liên quan đến đầu
tư ra ngoài công ty, tiền, lãi phải trả do huy động vốn, chênh lệch tỷ giá khi thanh toán,
chi phí chiết khấu thanh toán, chi phí cho thuê tài sản, dự phòng giảm giá các khoản
đầu tư dài hạn.
Bên cạnh những chi phí thông thường phát sinh hàng ngày như phí chuyển tiền qua
ngân hàng, phí nộp tiền thì lãi tiền vay ngân hàng là một khoản chi phí chiếm một phần
rất lớn trong chi phí tài chính của công ty. Với mục đích huy động vốn đầu tư cho tài
sản cố định, và để quay vòng vốn sử dụng cho hoạt động kinh doanh, công ty thường
xuyên huy động vốn từ hai nguồn chính: Từ ngân hàng và từ cán bộ công nhân viên
công ty, do đó phải gánh chịu khoản chi phí lãi vay không nhỏ cho cán bộ công nhân
viên công ty và ngân hàng.
Ngoài ra, với dịch vụ vận tải ra nước ngoài, công ty thường xuyên phát sinh các
giao dịch bằng ngoại tệ. Thông qua ngân hàng, các chi phí phát sinh trong quá trình
mua bán ngoại tệ như lỗ chênh lệch tỷ giá, phí dịch vụ chuyển tiền …cũng chiếm một
phần không nhỏ trong tổng chi phí của doanh nghiệp.
Căn cứ vào các chứng từ có liên quan như hợp đồng vay, các phiếu tính lãi và các
chứng từ khác, kế toán tập hợp lại, kiểm tra cập nhật vào máy tính để xác định chi phí
tài chính trong kỳ, cuối tháng kết chuyển để xác định kết quả kinh doanh.
* Nguyên tắc tập hợp chi phí
Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty nên để đáp ứng nhu cầu cung cấp
thông tin nhanh chóng, kịp thời và chính xác, hiện nay công ty đã tiến hành tập hợp chi
phí sản xuất phát sinh theo từng con tàu. Đến cuối kỳ, kế toán kết chuyển toàn bộ chi
phí sản xuất kinh doanh để xác định giá vốn trong kỳ.
II. Nội dung kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần vận tải biển Đà Nẵng
1.
Công tác lập dự toán cung cấp thông tin cho quản trị
Hiện tại, công ty đang thực hiện khai thác kinh doanh đội tàu biển theo 2 phương
án:
- Phương án tự khai thác
Phương án cho thuê tàu định hạn
Mỗi phương án khác nhau thì cách xác định chi phí cho hoạt động kinh doanh cũng
khác nhau. Nếu như phương án tự khai thác, toàn bộ chi phí nhiên liệu cho hoạt động
vận tải công ty phải gánh chịu thì ngược lại, ở phương án cho thuê tàu định hạn, người
thuê tàu phải chịu chi phí này trong suốt hành trình của con tàu.
Chính do đặc điểm này mà công tác lập dự toán của công ty cũng được chia thành 2
phương án như trên.
1.1. Phương án tự khai thác
1.1.1. Tuyến hành trình khép kín:
Tuyến hành trình đi : Langkawi, Malaysia đi Lhoknga, Indonesia hoặc
Lumut, Malaysia đi Lhoknga, Indonesia
1.1.2. Doanh thu phương án tự khai thác:
- Cước vận chuyển
:
9.5USD/tấn

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 23


Bản thảo phần II
- Số lượng vận chuyển bình quân
- Số chuyến thực hiện 1 năm
- Doanh thu phương án tự khai thác
1.1.3. Chi phí tự khai thác

GVHD Th.S Võ HồngTâm
:
:
:

6.500MT/chuyến
38 chuyến
2.418.700 USD/năm

Chi phí khai thác 01 tàu 6.500DWT (4.355GRT) bao gồm các chi phí chi tiết sau:
a. Chi phí nhiên liệu.
Chi phí nhiên liệu, dầu nhờn cho máy chính và máy đèn được thể hiện theo bảng dưới
đây dựa theo mức tiêu hao và đơn giá bình quân tại thời điểm tính toán. Chúng ta lựa chọn
đơn giá bình quân cho toàn dự án trên cơ sở đánh giá biến động của thị trường dầu mở trên
khu vực Đông Nam Á nói chung và toàn thế giới nói riêng.
Phương án tự khai thác: Tuyến vận chuyển Langkawi-Lhoknga
Tàu: Thuận Phước
Các thông số chính
ĐVT
Số lượng hàng bình quân một chuyến
MT Clinker
6.500
Cước vận chuyển
USD/MT
9,5
Khoảng cách
NM
298
Tốc độ
Knots
11,5
Thời gian xếp dỡ
days
5,55
Thời gian đi từ cảng xếp đến cảng dỡ
days
1,08
Thời gian tàu chờ
days
1
Thời gian thực hiện một chuyến
days
7,63
Năng suất xếp: 6.000MT/ ngày
days
1,117
Năng suất dỡ: 2.000MT/ngày
days
3,35
Cảng phí
Cảng xếp
USD
5.000
Cảng dỡ
USD
5.500
Trong đó:
Thời gian xếp dỡ = Năng suất xếp + năng xuất dỡ + thời gian từ cảng xếp đến cảng dỡ.
Thời gian thực hiện một chuyến = thời gian xếp dỡ + thời gian đi từ cảng xếp đến cảng
dỡ x 2

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

Trang: 24


Bản thảo phần II

SVTH: Lê Thị Ánh Nguyệt

GVHD Th.S Võ HồngTâm

Trang: 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×