Tải bản đầy đủ

khái niệm hạch toán kế toán, phân tích các nguyên tắc của hạch toán kế toán

Đề tài TL: khái niệm hạch toán kế toán, phân tích các nguyên tắc của
HTKT
Đề Cương Thảo luận
A, Lời Mở Đầu ( Dũng )
Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài
người. Ngay từ thời xa xưa, với công cụ lao động hết sức thô sơ, con
người cũng đã tiến hành hoạt động sản xuất bằng việc hái lượm hoa quả,
săn bắn... để nuôi sống bản thân và cộng đồng. Hoạt động sản xuất là hoạt
động tự giác, có ý thức và có mục đích của con người. Cho nên khi tiến
hành hoạt động sản xuất, con người luôn quan tâm đến các hao phí bỏ ra
và những kết quả đạt được. Chính sự quan tâm này đã đặt ra nhu cầu tất
yếu phải thực hiện quản lý hoạt động sản xuất. Xã hội loài người càng phát
triển thì mức độ quan tâm của con người đến hoạt động sản xuất càng
tăng và do đó, yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất cũng được nâng lên.
Để quản lý, điều hành hoạt động sản xuất nêu trên mà ngày nay gọi là hoạt
động kinh tế cần phải có thông tin về quá trình hoạt động kinh tế đó. Thông
tin đóng vai trò quyết định trong việc xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ
chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát quá trình kinh tế. Để có được thông
tin đòi hỏi phải thực hiện việc quan sát, đo lường, ghi chép và cung cấp
thông tin về các hoạt động kinh tế cho người quản lý. Kế toán là một trong
các công cụ cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế phục vụ cho công tác

quản lý các quá trình kinh tế đó
B. Phân tích và liên hệ.
1. Khái Niệm ( Dương H + Đô )
1.1 Định nghĩa
Hạch toán là một hệ thống quan sát,đo lường , tính toán, và ghi chép các
hoạt động kinh tế của con người, nhằm thực hiện chức năng thông tin và
kiểm tra các hoạt động kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội.
Hạch
1.2. Một số khái niệm.


1.2.1. Hạch toán.
Sơ đồ 1.1: Qui trình kế toán trong một đơn vị kế toán

Xử lý
Quan sát

Đo lường

Tính toán và
ghi chép

Thông tin

Các nghiệp
vụ kinh tế

Xác định giá
trị đối tượng
kế toán

Ghi chép
Phân loại
Thống kê
Tổng hợp

Báo cáo kế toán
Phân tích và giải
trình số liệu


Để quản lí được các hoạt động kinh tế trong quá trình tái sản xuất, cần
phải có những thông tin hữu ích-được thu thập, xử lí và kiểm tra thông qua
quá trình thực hiện việc quan sát , đo lường, tính toán và ghi chép các
hoạt động đó.
- Quan sát: các hiện tượng và quá trình kinh tế là hoạt động đầu tiên của
quá trình quản lí nhằm định hướng , phản ánh, giám đốc quá trình tái sản
xuất.
- Đo lường: là việc biểu hiện các hao phí trong quá trình sản xuất và của
cải vật chất đã sản xuất ra bằng loại các thước đo thích hợp.
Có 3 loại thước đo được sử dụng để đo lường các đối tượng cả quá
trình sản xuất đó là: thước đo hiện vật, thước đo giá trị , thước đo lao động
.
Thước đo hiện vật: là sử dung đơn vị đo lường vật lý tùy thuộc vào tính tự
nhiên của đối tượng được tính toán như: trọng lượng , diện tích, độ dài,
thể tích.


• Thước đo hiện vật: cho phép hạch toán có thể đo lường chính xác
từng đối tượng riêng biệt, nhưng không thể sử dụng nó để xử lý
thông tin ban đầu thành thông tin tổng hợp của nhiều hiện tượng.
• Thước đo lao động: là sử dụng các đơn vị thời gian như ngày công,
giờ công để đo lường các đối tượng hạch toán. Thước đo thời gian
lao động thường được sử dụng để đo lường hao phí lao động sống ,
tính toán các chi tiêu về năng suất lao động trương các doanh nghệp,
các tổ chức. thước đo thời gian lao động giúp xác định được năng
suất lao động của công nhân, làm căn cứ tính lương phải trả cho
công nhân. Thước đo thời gian lao động thương được sử dụng với
thước đo hiện vật để giám sát số lượng sản phẩm công nhân sản
xuất ra.


Thước đo giá trị (thước đo tiền tệ): là thước đo sử dụng rộng rãi
nhất trong công tác quản lý. Thước đo tiền tệ được sử dụng đơn vị
tiền tệ để đon lường các chỉ tiêu kinh tế , các loại tài sản, hàng hóa
vật tư của đơn vị. thước đo giá trị có ưu điểm là giúp hạch toán có
thể tổng hợp được các thông tinban đầu về các đối tượng riêng biêt.

Mỗi thước đo đều có ưu điểm riêng. Để có được các thông tin đầy đủ
chính xác, kịp thời, phải kết hợp cả 3 loại thước đo trên, sẽ phản ánh và
giám đốc toàn diện các chỉ tiêu về sản phẩm, chất lượng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
- Tính toán: là việc sử dụng các phương pháp tính toán, tổng hợp,
phân tích để tính toán những chỉ tiêu kinh tế cần thiết.Qua đó có thể
đánh giá được mức độ thực hiện và hiệu quả của hoạt động kinh tế.
- Ghi chép: là quá trình thu nhận, xử lí và ghi lại tình hình và kết quả
các hoạt động kinh tế đã thực hiện theo trình tự phương nhất định . Từ
đó mà thực hiện chức năng thông tin và kiểm tra các quá trình kinh tế
trong từng thời gian, từng địa điểm phát sinh cũng như suốt một thời kì
nào đó.
1.2.2. phân loại hạch toán.
Hệ thống hạch toán đã không ngừng hoàn thiện và phát triển về nội
dung, phương pháp cũng như hình thức tổ chức và được phân thành


3 loại hạch toán sau:
- Hạch toán nghiệp vụ: là sự quan sát,phản ánh và kiểm tra từng
nghiệp vụ kinh tế,từng quá trình kinh tế cụ thể, nhằm thu thập và cung
cấp thông tin để thực hiện sự chỉ đạo thường xuyên,kịp thời các nghiệp
vụ và các quá trình kinh tế đó.
- Hạch toán thống kê: (gọi tắt là thống kê) Hạch toán thống kê là một
môn khoa học nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt
chất của các hiện tượng kinh tế xã hội số lớn trong điều kiện thời
gian,không gian cụ thể nhằm rút ra bản chất và tính quy luật trong sự
phát triển của hiện tượng đó.
- Hạch toán kế toán (gọi tắt là kế toán)
Xét dưới góc độ khoa học, Kế toán là môn khoa học thu nhận, xử lí và
cung cấp toàn bộ thông tin về tình hình tài sản và sự vận động của tài
sản trong các đơn vị sản xuất kinh doanh,tổ chức sự nghiệp và các cơ
quan nhằm kiểm tra , giám sát toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh tế
tài chính của các đơn vị đó.
Xét dưới góc độ pháp luật , Kế toán là việc thu thập ,xử lí, kiểm tra,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị,
hiện vật và thời gian lao động. Thông tin hạch toán kế toán có những
đặc điểm nổi bật sau:
- Là những thông tin động về tuần hoàn của các đối tượng kế toán, từ
khâu đầu tiên là cung cấp vật tư cho sản xuất, qua khâu sản xuất đến
khâu cuối cùng là tiêu thụ đều được phản ánh thật đầy đủ và sinh động
qua thông tin kế toán.
- Thông tin hạch toán kế toán luôn là những thông tin về hai mặt của
mỗi hiện tượng, mỗi quá trình: tài sản (assets) và nguồn vốn (capital),
tăng và giảm, chi phí và kết quả.
1.2.3. Các phương pháp hạch toán kế toán.
Hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng một trong hai phương pháp kế toán làm nền
tảng cho hệ thống kế toán: Kế toán dồn tích (Accrual basis) và Kế toán dựa trên
dòng tiền (Cash basis). Chế độ kế toán Việt Nam quy định các doanh nghiệp phải
hạch toán kế toán dựa trên phương pháp kế toán dồn tích nhằm đảm bảo tính Phù
hợp giữa doanh thu và chi phí.




Kế toán dồn tích
Accrual basis, từ nguyên gốc theo tiếng Anh, được dịch sang tiếng Việt theo
Chuẩn mực kế toán Việt Nam là Kế toán dồn tích. Tuy nhiên, có thể hiểu một
cách đơn giản, Accrual basis là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở Dự thu
- Dự chi. Theo định nghĩa của Chuẩn mực kế toán chung (VAS 01), “mọi
nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải
trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào
thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi
tiền hoặc tương đương tiền.”
Một ví dụ điển hình của phương pháp Kế toán dồn tích là hoạt động bán chịu.
Doanh thu được ghi nhận vào sổ kế toán khi phát hành hoá đơn, giao hàng
thay vì vào thời điểm thu được tiền. Tương tự, một khoản chi phí phát sinh và
được ghi nhận khi hàng đã được đặt mua hoặc đã chấm công cho công nhân
thay vì thời điểm thanh toán tiền. Do đó, điểm yếu chính của phương pháp
Kế toán dồn tích đó là công ty phải trả thuế thu nhập trước khi thực nhận
được tiền từ doanh thu bán hàng hoá và dịch vụ.



Kế toán dựa trên dòng tiền
Cash basis, từ nguyên gốc theo tiếng Anh, nhiều khi được hiểu và dịch sai
thành “Cơ sở tiền mặt”. Thực chất, cash basis là phương pháp kế toán dựa
trên cơ sở Thực thu - Thực chi tiền. Phương pháp kế toán dựa trên dòng tiền
là phương pháp đơn giản nhất. Theo phương pháp này thu nhập và chi phí
được ghi nhận khi thực nhận tiền và thực chi tiền.

2. Các Nguyên tắc Chung
2.1. Sự cần thiết của nguyên tắc và cần thiết nghiên cứu HTKT
( Bình )
Kế toán là một môn khoa học thu nhận, xử lí và cung cấp các thông
tin về tài sản, sự vận động của tài sản trong các đơn vị nhằm kiểm tra,
giám sát toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính của các đơn vị
đó. Thông tin kế toán còn cần cho rất nhiều đồi tượng khác nhau, mặt khác
một đối tượng nào đó có thể cần thông tin kế toán của nhiều đơn vị khác
nhau –thông tin kế toán phải đảm bảo vai trò là ”ngôn ngữ kinh doanh”. Do


đó, để các đối tượng sử dụng thông tin kế toán có chung một cách đánh
giá về thông tin trên báo cáo tài chính của các đơn vị kế toán thì cần phải
đặt ra những nguyên tắc hướng dẫn thực hành việc ghi chép, xử lí và trình
bày thông tin trên các báo cáo tài chính…
Theo Libby & cs (2003), nguyên tắc kế toán là những quy ước, chỉ
dẫn, hướng
dẫn xuyên suốt trong quá trình thực hiện các công việc kế toán được nhiều
người công
nhận ở một thời điểm. Nó xuất phát từ sự nhất trí rộng rãi của nhiều người
am hiểu về
lý thuyết cũng như thực hành kế toán ở một thời điểm nào đó. Như vậy
cần lưu ý rằng
các nguyên tắc kế toán này không phải là bất biến mà ngược lại nó có thể
thay đổi
hoàn thiện hơn khi môi trường thay đổi, bởi nó là do các nhà kế toán và
các đơn vị
kinh doanh đưa ra để đáp ứng nhu cầu của những người làm quyết định.
Chính vì lý do
này mà chúng ta có thể thấy trong các sách viết ở những thời điểm khác
nhau có thể
không hoàn toàn nhất quán với nhau. Vì vậy chúng ta cần ý thức rằng kế
toán là một
môn học luôn phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn
Các nguyên tắc kế toán được đúc rút từ những kinh nghiệm thực tiễn
tổ chức quản lí công tác kế toán, cũng như hoạt động của người thực hiện
công tác kế toán và kết hợp với sự nghiên cứu của cơ quan chức năng,
các chuyên gia kế toán. Do đó, các nguyên tắc kế toán được thừa nhận là
những tuyên bố chung như những chuấn mực, mực thước và những


hướng dẫn để phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính đạt được các
mục tiêu đầy đủ, đễ hiểu, đáng tin cậy và dễ so sánh.
Mục đích của nguyên tắc và yêu cầu kế toán này là quy định và
hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu
tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính của doanh
nghiệp, nhằm:
a/ Làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực kế toán và chế
độ kế toán cụ thể theo khuôn mẫu thống nhất;
b/ Giúp cho doanh nghiệp ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính
theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán đã ban hành một
cách thống nhất và xử lý các vấn đề chưa được quy định cụ thể
nhằm đảm bảo cho các thông tin trên báo cáo tài chính phản ánh
trung thực và hợp lý;
c/ Giúp cho kiểm toán viên và người kiểm tra kế toán đưa ra ý kiến về
sự phù hợp của báo cáo tài chính với chuẩn mực kế toán và chế độ
kế toán;
d/ Giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu và đánh giá thông tin
tài chính được lập phù hợp với các chuẩn mực kế toán và chế độ kế
toán.
Các nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản và các yếu tố của báo
cáo tài chính được quy định cụ thể trong từng chuẩn mực kế toán, phải
được áp dụng đối với mọi doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
trong phạm vi cả nước.

2.2. Nguyên tắc
Các nguyên tắc kế toán được quy định trong Chuẩn mực kế toán Việt
Nam - chuẩn mực số 01 được xác định là cơ sở pháp lý trong việc tổ chức
và thực hiện kế toán cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
trong phạm vi cả nước.


2.2.1 Nguyên tắc Cơ sở dồn tích

( Bình)

- Khái niệm: Accrual basis, từ nguyên gốc theo tiếng Anh, được dịch
sang tiếng Việt theo chuẩn mực kế toán Việt Nam là Kế toán dồn tích. Tuy
nhiên, có thể hiểu một cách đơn giản, Accrual basis là phương pháp kế
toán dựa trên cơ sở Dự thu – Dự chi.
Theo định nghĩa của Chuẩn mực kế toán chung (VAS 01): “ Cơ sở
dồn tích: mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến
tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được
ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế
thu hay thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền (vàng, bạc, đá quý, chứng
khoán ngắn hạn…)”.
Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính
của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
- sự cần thiết : Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình kế toán
của doanh nghiệp. Chỉ khi tuân thủ đúng nguyên tắc cơ sở dồn tích thì báo
cáo tài chính mới phản ánh được tình hình tài chính của doanh nghiệp
trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Nguyên tắc cơ sở dồn tích đối lập với
nguyên tắc cơ sở tiền mặt. Cơ sở dồn tích được quan tâm đặc biệt cho
hầu hết các doanh nghiệp có khối lượng doanh thu cao, không phân biệt
bán chịu hay bán thu tiền ngay, và có kết cấu phức tạp. Thêm vào đó,
những doanh nghiệp trong quá trình hoạt động có liên quan đến Hàng hoá
tồn kho phải áp dụng phương pháp này; và việc áp dụng Kế toán dồn tích
là thực sự cần thiết đối với những doanh nghiệp phát sinh các hoạt động
bán chịu, khi đó nó sẽ đảm bảo tính Phù hợp giữa doanh thu và chi phí
phát sinh trong một kỳ kế toán nhất định
- Ví dụ: Nhập kho NVL trị giá 77 triệu đồng ( đã bao gồm thuế GTGT)
chưa trả tiền người bán A.
Trong nghiệp vụ kinh tế trên dù đơn vị chưa xuất tiền mặt để thanh toán
cho người bán A nhưng đã phải ghi vào sổ kế toán
2.2.2 Nguyên tắc hoạt động liên tục
( Chi )


- Khái niệm: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, Báo cáo tài chính phải
được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ
tiếp tục hoạt động kinh doanh như bình thường trong tương lai gần, nghĩa
là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt
động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình. Trường hợp
thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập
trên một cơ sở khác và giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài
chính.
- sự cần thiết Phải tuân thủ nguyên tắc này bởi vì có sự khác nhau về
định giá các tài sản đang sử dụng trong đơn vị giữa DN hoạt động lien tục
và không hoạt động lien tục. Nếu DN hoạt động lien tục, báo cáo tài chính
được lập ghi nhận tài sản , chi phí, … theo giá gốc. Ngược lại, nếu DN có
nguy cơ phá sản hoặc thu hẹp quy mô đáng kể thì tài sản được định giá
theo giá có thể bán trên thị trường. Mặt khác, nếu phản ánh tài sản theo
giá thực tế, báo cáo tài chính của đơn vị chỉ phản ánh được tình hình tài
chính của doang nghiệp ở thời điểm hiện tại mà thôi. Ngoài ra, nguyên tắc
này còn làm cơ sở cho các phương pháp tính hao mòn để phân chia giá
trị tài sản cố định vào các chi phí hoạt động của doanh nghiệp theo thời
gian hoạt động của nó.
Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp chuẩn bị bán, sát nhập, giải thể, ….
thì nguyên tắc hoạt động liên tục sẽ không được vận dụng vào việc lập báo
cáo tài chính. Trong trường hợp này, các tài sản của doanh nghiệp sẽ phải
phản ánh theo giá thị trường.
- Ví dụ: Ngân hàng Công thương Việt Nam Vietinbank hoạt đông liên tục
từ năm 1988 cho tới nay, do đó báo cáo tài chính của ngân hàng sẽ được
lập trên cơ sở hoạt động liên tục.
Trường hợp công ty M có liên quan tới vụ việc kiện tụng, kinh doanh
trái phép, gây ô nhiễm môi trường …. Mà bắt buộc phải ngừng hoạt
động trong tương lai gần, thì báo cáo tài chính trong trường hơp đó có
thể phải lập trên cơ sở khác, không phải cơ sở hoạt động liên tục, có
thể lập trên cơ sở giá thị trường của doanh nghiệp và nguyên nhân
của việc tương lai gần công ty M không tiếp tục hoạt động, thời gian


dự kiến phải ngừng hoạt động phải được thuyết minh trên báo cáo tài
chính.
2.2.3. Nguyên tắc giá gốc

( Chi )

- Khái niệm: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài
sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả
hoặc tính theo giá trị hợp lí của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi
nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác
trong chuẩn mực kế toán cụ thể.
Cơ sở giá gốc có các đặc trưng:
-

Qui định trên nền tảng của nguyên tắc hoạt động liên tục.

- Thông qua đo lường giá trị bằng tiền và tôn trọng trao đổi ngang giá
- Sự hi sinh lợi ích trong hiện tại (chi phí mua tài sản) được xem là
chắc chắn và gắn liền với lợi ích tương lai (khả năng sinh lợi của tài sản).
- Có đủ minh chứng về việc thực hiện (chứng từ mua) để đảm bảo tính
pháp lý đáng tin cậy và phù hợp của thông tin về tài sản.
- Sự cần thiết: Có 3 lí do để giá gốc là một nguyên tắc của kế toán:
- Để đảm bảo tính khách quan của số liệu kế toán ( vì chúng ta có thế
kiểm chứng, so sánh giá ở sổ kế toán với các hóa đơn bán hàng)
- Xác định được kết quả kinh doanh( bằng cách lấy giá bán trừ đi giá
gốc)
- Đơn giản hơn trong việc ghi chép, thuận lợi hơn cho công tác quản
lý( vì giá gốc không biến động theo thị trường)
- Ví dụ: Công ty A mua dây chuyền sản xuất với gía 500 triệu đồng (đã
tính thuế), chi phí vận chuyển 5 triệu đồng, chi phí chạy thử 15 triệu đồng.
Giá trị dây chuyền sản xuất sẽ được hạch toán vào sổ kế toán theo giá
gốc: 500/1 + 5/1 + 15/1 = 520 triệu đồng.
2.2.4. Nguyên Tắc phù hợp

( Cúc )


- Khái niệm: Nguyên tắc phù hợp quy định, việc ghi nhận doanh thu và
chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu, phải ghi
nhận một khoản chi phí tương ứng liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó.
Chi phí tương ứng với doanh thu bao gồm:
1. Chi phí của kỳ tạo ra doanh thu, đó là các chi phí thực tế phát sinh trong
kỳ và liên quan đến việc tạo ra doanh thu của kỳ đó.
2. Chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến
doanh thu của kỳ đó.
Như vậy chi phí được ghi nhận trong kỳ là toàn bộ các khoản chi phí liên
quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó, không phụ thuộc chi
phí đó được chi ra trong kỳ nào.
- Sự cần thiết: Nguyên tắc này cho biết việc ghi nhận doanh thu và chi
phí phải phù hợp với nhau. Vì cơ sở của nguyên tắc dựa vào kỳ kế toán
nên hạch toán chi phí phải căn cứ vào thời gian đem lại lợi ích cho doanh
nghiệp. Điều này là hết sức cần thiết cho các doanh nghiệp vì có liên quan
trực tiếp đến lợi ích của họ. Việc xác định các khoản chi phí hợp lý trong kỳ
tương ứng với phần doanh thu sẽ giúp doanh nghiệp tính toán chính xác
thu nhập chịu thuế TNDN, làm căn cứ để tính thuế TNDN phải nộp nhà
nước. Ngoài ra, quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí
nhằm xác định và đánh giá đúng kết quả hoạt động kinh doanh của từng kỳ
kế toán, giúp cho nhà quản trị có những quyết định kinh doanh đúng đắn
và có hiệu quả.
- Ví dụ: Vào đầu tháng 6/2010, công ty mua một lô hàng trị giá 10 triệu
đồng mang về nhập kho và đã trả bằng tiền mặt. Nếu trong tháng 6/2010,
lô hàng vẫn chưa được bán thì chúng vẫn chỉ được coi là tài sản của công
ty nằm trong kho, không được xem là chi phí của tháng 6/2010. Đến tháng
7/2010, ba phần tư ( ¾ ) lô hàng được bán ra với giá 12 triệu đồng. lúc này
kế toán ghi nhận doanh thu của tháng 7/2010 là 12 triệu đồng và đồng thời
ghi nhận chi phí ( chi phí của hàng đã bán còn gọi là giá vốn hàng bán) là
7,5 triệu đồng cho tháng 7/2010 để phù hợp với doanh thu trong kỳ.
Như vậy: lãi gộp (= doanh thu – chi phí ): 4,5 triệu=( 12 – 7,5 triệu).


Tháng 6/2010, công ty đã chi tiêu 10 triệu đồng để mua hàng hóa nhưng
không phải là chi phí của tháng 6. Cho đến tháng 7, trong 10 triệu mua
hàng cũng mới chỉ có 7,5 triệu đồng trở thành chi phí của tháng 7. Một
phần tư ( ¼ ) còn lại là 2,5 triệu đồng hàng tồn kho vẫn là tài sản, chưa trở
thành chi phí trong kỳ.
2.2.5.Nguyên tắc nhất quán

( Cúc)

- Khái niệm:
Theo nguyên tắc nhất quán, các chính sách, phương pháp kế toán doanh
nghiệp đã chọn phải được áp dụng nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác. Chỉ
nên thay đổi chính sách và phương pháp khi có lý do đặc biệt và ít nhất
phải chờ đến hết kỳ kế toán năm. Trường hợp có sự thay đổi chính sách
và phương pháp kế toán đã chọn, phải giải trình lý do và công bố đầy đủ
ảnh hưởng của sự thay đổi đó về giá trị trong các báo cáo tài chính.
- Sự cần thiết:
Thông tin về đơn vị kế toán trên Báo cáo tài chính là cơ sở quan trọng để
các đối tượng sử dụng thông tin nhận thức đúng về tình hình tài chính làm
cơ sở để ra quyết định kinh doanh. Do đó những thông tin này phải mang
tính ổn định và có thể so sánh được giữa các kỳ với nhau, giữa kế hoạch,
dự toán với thực hiện… Ngoài ra phải thực hiện nguyên tắc nhất quán vì
lợi ích của người sử dụng báo cáo tài chính, giúp họ không bị nhầm lẫn,
phân tích báo cáo tài chính trong từng thời kỳ phải sát đúng với tình hình
thực tế của đơn vị kế toán. Nguyên tắc nhất quán sẽ đảm bảo cho thông
tin kế toán có được tính chất trên.
- Ví dụ: Hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng một trong hai phương
pháp kế toán làm nền tảng cho hệ thống kế toán: Kế toán dồn tích (Accrual
basis) và Kế toán dựa trên dòng tiền (Cash basis). Chế độ kế toán Việt
Nam quy định các doanh nghiệp phải hạch toán kế toán dựa trên phương
pháp kế toán dồn tích nhằm đảm bảo tính Phù hợp giữa doanh thu và chi
phí. Nhưng vì 1 lý do đặc biệt nào đó công ty A có sự thay đổi của phương
pháp kế toán, nhưng chỉ thay đổi phương pháp khi đến hết kỳ kế toán và


kế toán phải trình bày lý do thay đổi rõ ràng trên báo cáo tài chính của
công ty A.
2.2.6. Nguyên tắc thận trọng

( Chung )

- Khái niệm: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết
để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. , Nguyên
Tắc Thận Trọng là nguyên tắc xử lý kế toán dựa trên những cách nhìn,
những đánh giá một cách rất thận trọng về những vấn đề có chứa nguy cơ
tiềm tàng gây ảnh hưởng xấu đến tài chính của doanh nghiệp trong tương
lai. Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ được
thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữu
phải được ghi nhận ngay khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra. Cụ
thể nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
- Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn
- Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
- Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn
về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có
bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
- Sự cần thiết: Trong Kinh Tế thị trường Cạnh Tranh liên tục là yếu tố
sống còn để doanh nghiệp phát triển không ngừng nghỉ. Do đó, để doanh
nghiệp phát triển liên tục, bền vững thì không chỉ việc nắm bắt tình hình tài
chính một cách chính xác tại thời điểm hiện tại là quan trọng mà việc nắm
bắt, phản ánh những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai, từ đó đưa ra
những chính sách hợp lý giảm thiểu tối đa những bất lợi trong tương lai.
Mặt khác tuân thủ nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo
toàn nguồn vốn, hạn chế rủi ro và đảm bảo khả năng hoạt động liên tục.Vì
vậy, về mặt nghiệp vụ xử lý kế toán theo Nguyên Tắc Thận Trọng là rất cần
thiết, và nguyên tắc này vẫn được công nhận là một trong những nguyên
tắc xử lý kế toán hợp lý, đúng đắn.
- Ví dụ: Trong trường hợp người mua X chưa trả khoản nợ phải thu
khách hàng đã quá hạn. Ta có thể cân nhắc và xem đây là 1 khoản lỗ, xem
như chi phí.


2.2.7 Nguyên tắc trọng yếu

( Chung )

- Khái niệm:
Nguyên tắc trọng yếu chỉ rõ kế toán phải thu thập, xử lí và cung cấp đầy đủ
thông tin có tính chất trọng yếu, còn những thong tin không trọng yếu, ít có
tác dụng hoặc có ảnh hưởng không đáng kể tới quyết định của người sử
dụng thông tin thì có thể bỏ qua.
Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc
thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài
chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo
tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin
hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của
thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.
- Sự cần thiết: Vận dụng nguyên tắc này, những khoản mục có cùng nội
dung, bản chất kinh tế. không phụ thuộc vào quy mô có thể được gộp lại
thành một khoản mục trình bày trên báo cáo tài chính. Tuy nhiên, vẫn có
những khoản mục, có thể quy mô rất nhỏ nhưng lại có nội dung, bản chất
kinh tế riêng biệt mang tính trọng yếu phải trình bày riêng biệt trên báo cáo
tài chính.


Khi có những khả năng làm ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính của
công ty thì Nguyên Tắc Thận Trọng trong việc xử lý kế toán phải được áp
dụng để bảo toàn tính đúng đắn và chính xác của kế toán.
- Ví dụ: Lợi nhuận sau thuế của công ty A là 1 tỷ VND, nhưng thông tin
trên Báo Cáo tài chính nhơ sau:
TH1: 950 triệu VND . Sai lệch ít, không làm ảnh hưởng tới quyết định của
người sử dụng Báo cáo tài chính, không mang tính chất trọng yếu, nhưng
nếu có sự gian lận trong đó thì vẫn xem là mang tính chất trọng yếu vì gian
lận làm mất lòng tin và rất khó lấy lại.
TH2: 500 triệu VND. Số tiền sai lệch tương đối nên mang tính trọng yếu.
2.3. Yêu Cầu cơ bản
2.3.1. Đầy đủ

( Cương )

- Khái niệm: Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải được phản ánh
đầy đủ, không bị bỏ sót vào chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài
chính
- Sự cần thiết: Trong quá trình hoạt động của đơn vị, các loại tài sản
thường xuyên biến động (tăng, giảm). Sự biến động này phát sinh không
ngừng và tác động đến hầu hết các loại tài sản trong đơn vị. Như vậy rõ
ràng các loại tài sản và sự biến động của nó là cơ sở của mọi hoạt động
trong đơn vị. Cho nên để theo dõi, kiểm tra và đánh giá được tình hình và
kết quả hoạt động, tình hình sử dụng vốn của một loại đơn vị nào đó thì
cần phải nắm được tình hình tài sản và sự biến động của tài sản trong quá
trình hoạt động của đơn vị. Nếu thông tin kế toán cung cấp không đầy đủ
có thể dẫn đến sự nhận thức sai lệch, phân tích đánh giá không đúng đắn
hoạt động của đơn vị, từ đó đưa ra những quyết định không phù hợp,
không đem lại hiệu quả cho đơn vị và xã hội.


- Ví dụ: Công ty A đang hoạt động kinh doanh trên thị trường. Sau khi
kết thúc mỗi kỳ kế toán, bộ phận kế toán của công ty A tiến hành kiểm kê
tài sản, các dòng thu chi, vận động của các đối tượng kế toán, sau đó lập
báo cáo đầy đủ chính xác đưa lên ban lãnh đạo của công ty. Từ những báo
cáo kế toán này mà công ty sẽ có nhưng quyết định, chiến lược phù hợp
với hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh.
2.3.2. Kịp thời

( Cương )

- Khái niệm: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và
báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định và không được
chậm trễ.
- Sự cần thiết: Các loại tài sản trên thường xuyên vận động, thay đổi
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc cung cấp
thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời số hiện có và sự vận động của
từng loại tài sản đã nêu trên là nội dung cơ bản của công việc kế toán.
Có thể thấy trong thời kỳ kinh tế thị trường phát triển không ngừng
nghỉ như hiện nay, những doanh nghiệp không nhận thức được nguồn
lực hiện có và chậm trong việc nắm bắt các cơ hội vụt qua sẽ bị thị
trường đào thải một cách khốc liệt, vì vậy các thông tin và số liệu kế
toán luôn được các nhà quản trị chú trọng quan tâm và đòi hỏi sự
chính xác đầy đủ cũng như kịp thời phục vụ cho mục đích quản trị của
một đơn vị, một doanh nghiệp. Ngoài ra công việc kế toán kịp thời còn
giúp cho công tác quản lý phát hiện tồn tại yếu kém để tìm biện pháp
khắc phục, phát huy thế mạnh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
- Ví dụ: Bộ phận kế toán của công ty A khi được ban lãnh đạo yêu cầu
lập báo cáo thông kê về tình hình bán hàng xuất nhập kho của công ty A và
yêu cầu phải nộp báo cáo trước ngày 11/11/N. Nhưng đến tận 21/11/N ban
lãnh đạo mới nhận được báo cáo của bộ phận kế toán, trong khoảng thời
gian 5 ngày này chắc chắn công ty đã bỏ lỡ cơ hội nhập thêm một đợt
hàng với giá rẻ chuẩn bị cho đợt sự kiện cuối năm sắp tới cuối năm của
công ty, từ đó ảnh hưởng tới doanh thu, chi phí của công ty.


2.3.3. Rõ ràng dễ hiểu và chính xác

( P.H. Dương)

- Khái niệm: Thông tin và số liệu kế toán trình bày trên báo cáo tài chính
phải là những thông tin chính xác, có cơ sở pháp lý chắc chắn và phải rõ
ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. người sử dụng ở đây được hiểu là
những người có hiểu biết kinh doanh, kinh tế, kế toán tài chính ở mức độ
trung bình. Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính
phải được giải trình trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
Kế toán cần thu thập, phân tích, xử lí thông tin rồi cung cấp các thông tin
đó cho một số đối tượng cụ thể, những đối tượng đó có thể có hiểu biết về
kinh doanh, kinh tế, kế toán tài chính ở mức độ cao hoặc trung bình. Bởi
vậy nhằm mục đích làm cho đối tượng hiểu hết và nắm bắt thông tin chính
xác, các thông tin trong kế toán phải rõ ràng, dễ hiểu và chính xác.
- Ví dụ: Hợp tác xã X chủ yếu sản xuất các mặt hàng nông sản. Chủ
nhiệm hợp tác xã là ông A , trình độ kế toán của ông chỉ ở mức trung bình
bỏi ông chưa qua 1 khóa đào tạo kế toán cơ bản nào. Nhân viên kế toán
của hợp tác xã khi làm công tác kế toán phải đưa ra thông tin sao cho ông
A vẫn có thể hiểu và nắm bắt đc chính xác thông tin. Như hạn chế sử dụng
các từ ngữ hay ký hiệu nghiệp vụ, hoặc có thì phải kèm theo giải thích. Chỉ
có vậy ông A mới có thể quản lí đc vụ mùa, hỗ trợ cho nông dân trong việc
sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng một cách hiệu quả nhất.
2.3.4 Trung thực

( P.H. Dương )

- Khái niệm: Các thông tin và số liệu kế toán phải phản ánh trung thực,
đúng thực tế về hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị của nghiệp
vụ kinh tế, tài chính.
- Sự cần thiết: Các thông tin trong kế toán nhằm giúp các doanh
nghiệp, các đơn vị sản xuất… nắm bắt đc toàn bộ thông tin về tài sản và
sự vận động của tài sản, từ đó đưa ra những giải pháp, kế hoạch, hành
động nhằm giúp các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất… đó hoạt động
một cách hiệu quả như mong muốn. Bởi vậy các thông tin và số liệu đưa ra
phải phản ánh trung thực, đúng thực tế hiện trạng, bản chất sự việc, nội
dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế, tài chính. Chỉ cần có những sai xót


nhỏ cũng có thể ảnh hưởng ko tốt đến các hoạt động khác của doanh
nghiệp, các đơn vị sản xuất…
- Ví dụ: Nhân viên kế toán công ty A, khi nhập số liệu về số tiền công ty
chi cho hoạt động quảng cáo đã nhập nhầm từ mục VND sang mục AUD
sẽ là một thay đổi về mặt giá trị khá lớn. Nó có thể làm sai lệch số vốn của
công ty và làm sai lệch các tính toán của nhà quản trị gây ảnh hưởng
không nhỏ đến công ty.
2.3.5. Liên tục

( Duy )

- Khái niệm: Các thông tin, số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ
khi phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế, tài chính, từ khi thành lập
đến khi chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán; số liệu kế toán phản ánh
kỳ này phải kế tiếp theo số liệu kế toán của kỳ trước.
- Sự cần thiết: Thông tin, số liệu kế toán được phản ánh liên tục từ khi
phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế sẽ giúp đáp ứng kịp thời cho
công tác quản lý, phản ánh thông tin nhanh chóng giúp cho người sử dụng
thông tin có thể nắm bắt được tình hình kinh doanh, tài chính của công ty
để từ đó có thể kịp thời xử lý. Số liệu kế toán của kỳ này kế tiếp theo số
liệu kế toán của kỳ trước sẽ giúp cho công tác hoạch toán kế toán được
xuyên suốt giữa các kỳ với nhau, tránh gây thiếu sót số liệu dẫn đến việc
sai sót trong quá trình hoạt động của đơn vị kế toán. Ngược lại, nếu thông
tin, số liệu kế toán không được phản ánh liên tục, số liệu kế toán phản ánh
kỳ này không kế tiếp số liệu kế toán của kỳ trước thì sẽ dẫn đến việc tính
toán giữa các kỳ có sự sai lệch khiến cho hoạt động kế toán thiếu chính
xác gây ảnh hưởng đến hoạt động của công ty.
- Ví dụ: Một doanh nghiệp A, khi tính tổng chi phí sản xuất tập hợp được
trong kỳ phải bằng chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ trước chuyển sang
cộng với chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ này. Và khi tính tổng giá thành
sản phẩm sản xuất hoàn thành trong kỳ, ta lấy tổng chi phí sản xuất tập
hợp được trong kỳ (vừa tính ở trên) trừ đi chi phí sản xuất dở sang cuối kỳ
chuyển sang kỳ sau.
2.3.6 Khoa học và có thể so sánh

( Duy )


- Khái niệm: Các thông tin, số liệu kế toán được phân loại, sắp xếp theo
trình tự, có hệ thống và có thể so sánh được giữa các thời kỳ và giữa các
doanh nghiệp khác nhau.
- Đảm bảo tính thống nhất về nội dung và phương pháp tính toán giữa các
kỳ kế toán. Thống nhất giữa tài liệu kỳ này với tài liệu của các kỳ trước,
bảo đảm cho việc so sánh, phân tích và nhận biết xu thế biến động của các
chỉ tiêu kinh tế.
- Đảm bảo thống nhất về số liệu giữa thực hiện với kế hoạch, đảm bảo cho
việc thực hiện kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch.
- Thống nhất tài liệu thực tế của đơn vị với tài liệu của các đơn vị trong
cùng ngành, cùng lĩnh vực hoạt động, đảm bảo cho việc tổng hợp số liệu
theo từng ngành và toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so
sánh kết quả giữa các đơn vị.
- Sự cần thiết: Thông tin, số liệu kế toán phải được phân loại, phản ánh
và trình bày theo đúng các phương pháp kế toán mới có thể đáp ứng yêu
cầu kịp thời phục vụ cho công tác quản lý và yêu cầu rõ ràng, dễ hiểu đối
với người sử dụng thông tin. Mặt khác, để giúp người sử dụng thông tin,
số liệu kế toán có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động của đơn vị kế
toán làm cơ sở đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn thì thông tin, số liệu
kế toán phải đảm bảo tính có thể so sánh được.
Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh
nghiệp và giữa các doanh nghiệp phải được tính toán và trình bày nhất
quán để có thể so sánh được khi cần thiết. Trong trường hợp nếu tính toán
và trình bày không được nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết
minh để người sử dụng báo cáo có thể nắm được thông tin giữa các kỳ,
giữa các doanh nghiệp hoặc giữa số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch
hay dự toán.
- Ví dụ: Trong một doanh nghiệp, các khoản chi phí sản xuất, tiền mua
nguyên vật liệu, thuê kho bãi, trả lương quản lý, nhân viên... của kỳ này
phải được kế toán viên trình bày một cách khoa học, nhất quán để có thể
so sánh giữa các kỳ, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa số liệu thực hiện
với số liệu kế hoạch hay dự toán. Sau mỗi kỳ kế toán kiểm kê và đưa ra so


sánh giữa các kỳ từ đó nhà quản trị có thể dễ dàng hơn trong việc đưa ra
quyết định quản trị.
C. Kết Luận

( Dũng )

Việt Nam đang tham gia trong một sân chơi sôi động của nền kinh tế
thế giới với nhiều lĩnh vực thuộc nhiều khía cạnh trong đó có hoạt động kế
toán tài chính. Trong điều kiện hội nhập kế toán Việt Nam phải tuân theo
những thông lệ chung của kế toán quốc tế. Trên cơ sở đó kế toán Việt nam
đang dần được hoàn thiện với một hệ thống các chuẩn mực kế toán được
xây dựng để phù hợp với yêu cầu hội nhập. Các chuẩn mực này quy định
và hướng dẫn cụ thể các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản giúp cho
việc ghi chép kế toán theo các chuẩn mực và chế độ kế toán đã ban hành,
đảm bảo các thông tin kế toán được trung thực và hợp lý. Và kế toán là
công cụ không thể thiếu được trong công tác quản lý của bất kỳ đơn vị nào
và việc thực hiện công tác kế toán có tốt hay không đều ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý.
Để thực hiện công tác kế toán thì vấn đề thì việc quan trọng nhất đó là
tuân thủ các nguyên tắc chung trong kế toán đã được quy định theo Luật
kế toán căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10.Qua việc
quy định cụ thể chi tiết các khoản mục chi phí như trên để các doanh
nghiệp khi tiến hành áp dụng nguyên tắc chung trong hạch toán sẽ đảm
bảo tính chính xác thông tin phản ánh trên báo cáo tài chính. Nguyên tắc
kế toán là những tuyên bố chung như là những chuẩn mực và sự hướng
dẫn để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính đạt được mục tiêu dễ hiểu,
đáng tin cậy, dễ so sánh của các thông tin kế toán. Những nguyên tắc này
được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn của những người làm công tác kế
toán kết hợp với quá trình nghiên cứu của các cơ quan chức năng được
thừa nhận có tính pháp lệnh và được triển khai áp dụng thống nhất trong
phạm vi cả nước cho tất cả các đơn vị kinh tế.


Thứ nhất : Đây là đề cương và sự tổng hợp theo ý kiến chủ quan của
t, nếu ai có đóng góp gì thì liên hệ vs t . thanks
Thứ 2 : mọi ng xem và cho ý kiến đóng góp, t mong mọi ng cố gắng
đọc hết nhất là phần được phân công và cho ý kiến đóng góp chỉnh
xửa theo bản word .doc để t tổng hợp xây dựng bài.
Thứ 3: sau khi chỉnh xửa có lẽ mọi ng đã tự đánh giá dc điểm đánh
giá của mình nên mong mọi ng cố gắng thêm.
Thứ 4: sau khi thống nhất các ý kiến và cho ra bài chung nhất, nếu ai
có mong muốn và năng lực để cống hiến thêm cho nhóm về vấn đề
làm slide và thuyết trình thì liên hệ vs mình.
Mr.Zun cảm Ơn mọi ng :D

 Tiêu chuẩn đánh giá điểm: 3 TC( thời gian nộp bài, chất lượng bài,quá
trình tham gia XD bài TL và tiền hành TL trên lớp)
 Loại A:
- thời gian: hạn cuối ngày 30 tháng 10
- chất lượng bài: nội dung bài đầy đủ, có chọn lọc
- Tích cực đóng góp vào bài TL, tham gia phát biểu khi TL trên lớp
- Có đóng góp xây dựng bài
 Loại B:
- thời gian: hạn cuối ngày 5 tháng 11
- chất lượng bài: nội dung bài đầy đủ
- Có đóng góp xây dựng bài
 Loại C:
- thời gian: hạn cuối ngày 15 tháng 11
- chất lượng bài: nội dung bài đầy đủ


Các bạn làm xong bài thì gửi cho tớ theo địa chỉ Email dưới kia.
Chú ý: Nếu quá thời gian mà ai không nộp bài thì phần công việc
của người đó sẽ được kết chuyển cho người khác làm và sẽ không
có điểm TL nhóm và người làm thay sẽ được cộng điểm lấy từ số
điểm của người không hoàn thành công việc được giao. Mỗi người
lấy 3 câu hỏi để phản biện các nhóm khác.
Có vấn đề gì thì liên lạc với tớ theo:
Email: vietdung.vcu@gmail.com
or 0984.897.730



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x