Tải bản đầy đủ

Mạng lưới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển nghiên cứu trường hợp tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định ( Luận án tiến sĩ)

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ KIM DUNG

MẠNG LƢỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH
LÀM NGHỀ BIỂN (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI
THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ KIM DUNG


MẠNG LƢỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH
LÀM NGHỀ BIỂN (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI
THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH)

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 9 31 03 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS NGUYỄN HỮU MINH

HÀ NỘI - năm 2018

HÀ NỘI - năm 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong
luận án là trung thực. Các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào. Luận án có thừa kế kết quả nghiên cứu của một số nghiên
cứu khác dưới dạng trích dẫn. Nguồn trích dẫn được liệt kê trong mục tài liệu tham
khảo.

Ngƣời thực hiện

Phan Thị Kim Dung


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4. Phƣơng pháp luận của luận án
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
7. Cấu trúc của luận án
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Những chủ đề nghiên cứu về mạng lƣới xã hội
1.2. Những chủ đề nghiên cứu mạng lƣới xã hội của phụ nữ
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Các khái niệm đƣợc sử dụng trong luận án
2.2. Một số lý thuyết đƣợc sử dụng trong luận án
2.3. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích vấn đề của
luận án
2.4. Khái quát địa bàn nghiên cứu
CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM MẠNG LƢỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG
GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ BIỂN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH
ĐỊNH.
3.1. Quy mô mạng lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
3.2. MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển thông qua các mối quan

Trang

1
1
3
3
4
8
9
9
10
10
24
28
28
37
43
45
52

52
68

hệ.
3.3. Mức độ quan trọng của mạng lƣới xã hội và cách thức phát triển mạng lƣới
xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển.
CHƢƠNG 4: VAI TRÒ CỦA MẠNG LƢỚI XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
TRONG GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ BIỂN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH
BÌNH ĐỊNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN MẠNG LƢỚI XÃ HỘI
4.1. Vai trò của mạng lƣới xã hội đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
4.2. Tác động tiêu cực của mạng lƣới xã hội đối với phụ nữ trong gia đình làm
nghề biển
4.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến mạng lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm
nghề biển
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

88
95

95
119
122
144


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH - HĐH:

Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

CLB:

Câu lạc bộ

CĐ-ĐH:

Cao đẳng - Đại học

CSXH:

Chính sách xã hội

HĐND:

Hội đồng nhân dân

LĐTB&XH:

Lao động thƣơng binh và xã hội

MLXH:

Mạng lƣới xã hội

NNPTNT:

Nông nghiệp phát triển nông thôn

SĐH:

Sau đại học

TCXH:

Tổ chức xã hội

TH

Tiểu học

THCS:

Trung học cơ sở

THPT:

Trung học phổ thông

TC:

Trung cấp

TDP:

Tổ dân phố

UBND:

Ủy ban nhân dân

VXH:

Vốn xã hội

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.

Đặc điểm mẫu nghiên cứu về MLXH tại thành phố Quy Nhơn

Bảng 3.1.

Số thành viên gia đình phụ nữ phân theo độ tuổi (%)

Bảng 3.2.

Tỷ lệ phụ nữ đƣợc hỏi sống chung với các thành viên gia đình phân theo nơi cƣ
trú (%)

Bảng 3.3.

Hiện trạng họ hàng hai bên còn sống của phụ nữ với nơi cƣ trú (%)

Bảng 3.4.

Đặc điểm về những anh, chị, em ruột bên phụ nữ (%)

Bảng 3.5.

Đặc điểm về những anh, chị, em ruột bên chồng (%)

Bảng 3.6.

Đặc điểm những ngƣời họ hàng khác bên phụ nữ (%)

Bảng 3.7.

Đặc điểm những ngƣời họ hàng khác bên chồng (%)

Bảng 3.8.

Tỷ lệ có mối quan hệ bạn bè của ngƣời phụ nữ (%)

Bảng 3.9.

Đặc điểm về bạn bè của ngƣời phụ nữ

Bảng 3.10.

Mức độ đi thăm giữa phụ nữ và các thành viên sống riêng (%)

Bảng 3.11.

Mức độ hỗ trợ vật chất giữa phụ nữ và các thành viên sống riêng (%)

Bảng 3.12.

Hỏi ý kiến những việc quan trọng trong gia đình (%)

Bảng 3.13.

Mức độ hỗ trợ giữa phụ nữ và họ hàng (%)

Bảng 3.14.

Mức độ hỏi ý kiến trong họ hàng (%)

Bảng 3.15.

Mức độ hỗ trợ giữa phụ nữ và hàng xóm (%)

Bảng 3.16.

Mức độ hỗ trợ giữa phụ nữ và bạn bè (%)

Bảng 3.17.

Mức độ tham gia các tổ chức xã hội (%)

Bảng 3.18.

Loại hình hỗ trợ từ các tổ chức xã hội (%)

Bảng 3.19.

Cách mở rộng quan hệ xã hội của phụ nữ phân theo nơi cƣ trú (%)

Bảng 4.1.

Tỷ lệ phụ nữ chịu thiệt hại do gặp rủi ro phân theo nghề nghiệp (%)

Bảng 4.2.

Tỷ lệ phụ nữ gặp các loại khó khăn về việc làm phân theo nơi độ tuổi (%)

Bảng 4.3.

Tỷ lệ phụ nữ có những việc lớn trong gia đình phân theo nơi cƣ trú (%)

Bảng 4.4.

Tỷ lệ phụ nữ tham gia chính sách, chƣơng trình phân theo nơi cƣ trú (%)


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1.

Mức độ quen biết với hàng xóm láng giềng

Biểu đồ 3.2.

Mức độ phụ nữ và bạn bè đi thăm nhau

Hình 4.1.

Kiểu mạng lƣới xã hội truyền thống hỗ trợ việc làm cho phụ nữ

Hình 4.2.

Kiểu mạng lƣới xã hội hiện đại hỗ trợ việc làm cho phụ nữ


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, chủ đề mạng lƣới xã hội (MLXH) đƣợc đặc biệt chú
ý dƣới nhiều góc cạnh khác nhau trong phát triển và ổn định kinh tế xã hội, phát triển
con ngƣời từ vai trò quan trọng của các mối quan hệ, tƣơng tác giữa các cá nhân nhóm - cộng đồng với các thành tố của nó tới quá trình sống của con ngƣời. MLXH là
vô cùng cần thiết và hữu ích, dần đƣợc coi nhƣ một tác nhân quan trọng không thể
thiếu đƣợc giúp con ngƣời cải thiện tốt hơn cuộc sống của mình trong quá trình tạo
dựng gia đình với sinh kế bền vững, đặc biệt đối với chủ thể sống ở những vùng khó
khăn dễ bị tổn thƣơng nhƣ phụ nữ trong gia đình làm nghề biển khi phải đối mặt với
những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào. MLXH nhiều khi đóng vai trò nhƣ nguồn lực
thúc đẩy, tạo sự gia tăng về cơ hội thành công của mỗi ngƣời trong cuộc sống của họ.
Phụ nữ trong các gia đình làm nghề biển là một nhóm xã hội có sinh kế phần
lớn phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn tài nguyên ven biển. Việc làm chính của hầu hết
chị em phụ nữ có khả năng lao động đều dựa vào khai thác tài nguyên ven bờ trong
điều kiện nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, thƣờng là những việc làm tại chỗ mang
tính chất thời vụ, không ổn định, thu nhập bấp bênh và mang tính rủi ro cao nhƣ mua
bán thủy hải sản hay vá lƣới, đan chài, chế biến mắm…những nghề gắn liền với cuộc
sống của họ từ bao đời nay. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho ngƣời
phụ nữ trong gia đình làm nghề biển dễ rơi vào vòng xoáy của sự nghèo khổ và trở
thành nhóm dễ bị tổn thƣơng. Mặc dù đã có một số chính sách về việc làm cho lao
động nữ để hỗ trợ phát triển sinh kế, tuy nhiên với sinh kế còn nhiều khó khăn hiện
nay thì những hỗ trợ đó chƣa đem lại nhiều thay đổi tích cực nhƣ mong muốn. Từ thực
tế này cho thấy, việc phát huy vai trò của MLXH trong việc hỗ trợ phát triển sinh kế
bền vững cho phụ nữ trong gia đình làm nghề biển là một giải pháp hiệu quả để giải
quyết vấn đề này.
Phần đông phụ nữ trong gia đình làm nghề biển thƣờng có các thành viên gia
đình đi biển, chị em rất vất vả khi phải gánh vác thay cho ngƣời đi biển những công
việc trong gia đình nhƣ nuôi dạy con cái, chăm sóc các thành viên khác, đồng thời
cũng là ngƣời chịu trách nhiệm lo các công việc gia đình, dòng họ nhƣ ma chay, giỗ
chạp, cƣới hỏi, hiếu hỉ...tham gia các công việc của cộng đồng để các thành viên khác
yên tâm bám biển. Chính vì vậy, việc duy trì MLXH với những mối gắn kết cá nhân gia đình - cộng đồng là vô cùng cần thiết và hữu ích đối với phụ nữ nhằm tạo cơ hội
1


cho phụ nữ nhận đƣợc những hỗ trợ nhất định từ mạng lƣới giúp giải quyết những khó
khăn gặp phải trong cuộc sống, thực hiện tốt các vai trò trong gia đình và cộng đồng.
Vùng ven biển cũng là nơi thƣờng gặp nhiều rủi ro, bất trắc liên quan đến yếu
tố thời tiết, môi trƣờng. Hàng năm, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hứng chịu
nhiều cơn bão lớn gây nhiều tổn thất nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của phụ
nữ trong gia đình làm nghề biển. Nhà cửa bị phá hủy, phƣơng tiện sinh kế cũng nhƣ đồ
dùng sinh hoạt bị cuốn trôi. Tuy nhiên, tổn thất về ngƣời là tổn thất lớn nhất mà phụ
nữ phải đối mặt khi bị mất mát, thƣơng tật đối với bản thân và các thành viên của gia
đình. Thƣờng những rủi ro này có tác động lâu dài đến cuộc sống vốn đã khó khăn của
phụ nữ, do đó cũng nằm ngoài khả năng giải quyết của họ và gia đình. Vì vậy, nếu có
chung tay giúp sức từ các thành viên trong MLXH nhƣ gia đình, họ hàng, hàng xóm
láng giềng, bạn bè, các tổ chức xã hội cho phụ nữ cũng nhƣ giúp họ đƣợc tiếp cận
nhiều hơn với các chính sách xã hội thì đó sẽ là những nguồn hỗ trợ rất lớn về vật chất,
tinh thần và sinh kế cần thiết giúp họ và gia đình sớm ổn định cuộc sống.
Nhƣ vậy, trên bình diện xã hội học, nghiên cứu về MLXH với tƣ cách là một
vấn đề của xã hội rất cần đƣợc quan tâm đúng mức ở Việt Nam bởi những yêu cầu
xuất phát cả từ mặt lý luận và mặt thực tiễn. Hiện nay, nghiên cứu về MLXH đã có
đƣợc một hệ thống lý luận khá rõ ràng nhƣng những khoảng trống trong nghiên cứu
thực nghiệm vẫn cần đƣợc bổ sung. Chẳng hạn, còn thiếu những mô tả chi tiết về đặc
điểm của MLXH; Còn ít có những phân tích chuyên sâu về vai trò của MLXH trên tất
cả các mặt của đời sống cá nhân, cũng nhƣ chỉ ra các tác động tiêu cực của mạng lƣới
đến cá nhân; Bên cạnh đó, việc tìm ra những nhân tố tác động đến MLXH (cả yếu tố
cá nhân và các yếu tố bên ngoài) là vô cùng quan trọng, vì qua đó có thể thấy MLXH
là một yếu tố động có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau và dẫn đến sự biến
đổi trong mạng lƣới.
Để góp phần khắc phục những khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm về
MLXH, việc thực hiện đề tài “MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển: nghiên
cứu trƣờng hợp tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” sẽ mô tả chi tiết đặc điểm
của MLXH; chỉ rõ cách phát triển MLXH cùng những cơ hội, thách thức bộc lộ; Phân
tích MLXH và những tác động của nó trên thực tế đối với phụ nữ. Những tác động tiêu
cực từ MLXH đối với phụ nữ; Những nhân tố tác động đến MLXH của phụ nữ. Việc
làm rõ những vấn đề trên về MLXH chính là cơ sở khoa học chứng minh sự cần thiết
trong việc tìm hiểu các chiều cạnh về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hiện nay.
2


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung phân tích MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển và
các yếu tố ảnh hƣởng qua nghiên cứu trƣờng hợp ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình
Định. Từ đó cung cấp luận cứ khoa học nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững cho
phụ nữ trong gia đình làm nghề biển.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
• Tổng quan tình hình nghiên cứu về MLXH.
• Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về MLXH: tìm hiểu và phân tích các lý
thuyết có liên quan đến luận án, trong đó tập trung vào ba lý thuyết cơ bản: Lý thuyết
mạng lƣới xã hội, lý thuyết vốn xã hội và lý thuyết tƣơng tác biểu trƣng. Làm rõ khái
niệm MLXH và các khái niệm liên quan nhƣ vốn xã hội, phụ nữ trong gia đình làm
nghề biển, sinh kế...
• Mô tả đặc điểm về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, bao gồm
quy mô của MLXH và các mối quan hệ trong MLXH.
• Phân tích vai trò của MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển trên
3 lĩnh vực: MLXH hỗ trợ khi gặp những rủi ro trong cuộc sống; MLXH hỗ trợ phát
triển sinh kế bền vững và MLXH hỗ trợ những công việc lớn trong gia đình.
• Phân tích các tác động tiêu cực từ MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm
nghề biển.
• Chỉ ra các yếu tố ảnh hƣởng đến MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề
biển.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển ở
các khía cạnh: đặc điểm của MLXH, vai trò của MLXH; các yếu tố ảnh hƣởng đến
MLXH.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
• Khách thể nghiên cứu chính của luận án: Là 400 phụ nữ đại diện hộ gia đình
làm nghề biển. Luận án đƣợc phân tích trên cơ sở của 400 mẫu khảo sát này, do vậy các
đặc điểm MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển chính là đặc điểm của ngƣời
đƣợc hỏi mà chƣa phải là toàn bộ phụ nữ (bà, mẹ, con gái, cháu gái...) trong các gia đình
làm nghề biển tại thành phố Quy Nhơn.
3


• Khách thể bổ trợ của luận án: Các thành viên trong gia đình, họ hàng, hàng
xóm, bạn bè và các tổ chức xã hội chính thức, các tổ chức xã hội tự nguyện, các doanh
nghiệp, công ty ở địa bàn nghiên cứu.
3.2.2. Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Luận án đƣợc nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2014 đến
tháng 8 năm 2016.
3.2.3. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Luận án tiến hành nghiên cứu tại các khu vực dân cƣ ven biển trên địa bàn
thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Cụ thể: hai phƣờng trong nội thành là Đống Đa
và Hải Cảng; hai xã ngoại thành là Nhơn Hải và Nhơn Lý.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Để thực hiện tốt phƣơng pháp nghiên cứu này, đề tài đã tiến hành tra cứu các
nguồn tƣ liệu, bao gồm hệ thống các tài liệu công trình nghiên cứu từ các lĩnh vực
khoa học xã hội có liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nƣớc từ các nguồn nhƣ sách;
luận án; luận văn; bài viết trên các tạp chí: Xã hội học, Nghiên cứu Gia đình và Giới;
Khoa học Xã hội...Ngoài ra các tƣ liệu sẵn có thu thập tại địa bàn nghiên cứu sẽ đƣợc
tổng quan, khái quát và đối sánh với kết quả nghiên cứu của đề tài.
4.2. Phương pháp thu thập thông tin
4.2.1. Phương pháp thu thập thông tin định lượng
• Cách thức chọn mẫu
Trong điều kiện số lƣợng các phƣờng/ xã vùng ven biển thành phố Quy Nhơn
không nhiều, luận án chọn chủ đích hai phƣờng thuộc nội thành là phƣờng Hải Cảng
và phƣờng Đống Đa; hai xã bán đảo thuộc ngoại thành là xã Nhơn Lý và xã Nhơn Hải
bởi đây là các phƣờng/ xã tập trung phần lớn các hộ gia đình làm nghề biển và các khu
vực này đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế từ ngƣ nghiệp sang thƣơng mại,
dịch vụ. Tổng số mẫu đƣợc chọn là 400, chia đều cho 4 phƣờng/ xã, trong đó mỗi
phƣờng/ xã là 100 trƣờng hợp. Tại mỗi phƣờng/ xã chọn các khu vực/ thôn; tại các khu
vực/ thôn chọn các tổ dân phố (TDP). Tổng cộng có 40 TDP đƣợc chọn. Cụ thể:
٧ Phƣờng Đống Đa: có 11 khu vực; chọn đại diện 2 khu vực tập trung chủ yếu
hộ gia đình làm nghề biển; trong mỗi khu vực chọn đại diện 5 TDP: khu vực 8 (TDP
38, 39, 40, 41, 42) và khu vực 9 (TDP 45, 46, 47, 48, 49). Tổng cộng chọn 10 TDP.

4


٧ Phƣờng Hải Cảng: có 10 khu vực; chọn đại diện 2 khu vực tập trung chủ yếu
hộ gia đình làm nghề biển; trong mỗi khu vực chọn đại diện 5 TDP: khu vực 3 (TDP 1,
2, 3, 4, 5) và khu vực 6 (TDP 29, 30, 31, 32, 33). Tổng cộng chọn 10 TDP.
٧ Xã Nhơn Lý: có 4 thôn; chọn đại diện 2 thôn tập trung chủ yếu các hộ gia
đình làm nghề biển; ở mỗi thôn chọn đại diện 4 TDP: Thôn Lý Hƣng (TDP 4, 6, 7, 12,
13). Thôn Lý Lƣơng (TDP 6, 7, 11, 13, 15). Tổng cộng chọn 10 TDP.
٧ Xã Nhơn Hải: có 3 thôn; chọn đại diện 2 thôn tập trung chủ yếu các hộ gia
đình làm nghề biển; ở mỗi thôn chọn đại diện 5 TDP: Thôn Hải Đông (TDP 16, 17, 18,
19, 20); Thôn Hải Bắc (TDP 5, 7, 11, 13, 15). Tổng cộng chọn 10 TDP.
Sau khi chọn ra đƣợc 40 TDP của 4 phƣờng/ xã, tiến hành chọn phụ nữ đại diện
cho các hộ gia đình làm nghề biển để phỏng vấn theo phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu
nhiên hệ thống. Bằng cách: Trƣớc hết liệt kê danh sách tất cả phụ nữ trong gia đình
làm nghề biển ở mỗi TDP đƣợc chọn; tiếp đó chọn mỗi TDP 10 phụ nữ đại diện hộ gia
đình theo phƣơng pháp ngẫu nhiên hệ thống. Cụ thể nhƣ sau:
٧ Phƣờng Đống Đa có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ
٧ Phƣờng Hải Cảng có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ.
٧ Xã Nhơn Lý có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ
Xã Nhơn Hải có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ.
• Mô tả đặc điểm bảng hỏi
Luận án sử dụng bảng hỏi định lƣợng nhằm tiến hành phỏng vấn trực tiếp 400
phụ nữ trong các gia đình làm nghề biển.
Bảng hỏi gồm tất cả 77 câu hỏi, trong đó có 56 câu hỏi đóng, 8 câu hỏi mở, 13
câu hỏi vừa đóng vừa mở.
Bảng hỏi đƣợc chia làm 5 phần: Phần 1 có 7 câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu xã hội của phụ nữ dùng để mô tả đặc điểm phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, đồng
thời cũng là những phân tổ chính khi xử lý thông tin định lƣợng; Phần 2 có 49 câu hỏi
về các thành phần của MLXH dùng để mô tả đặc điểm về MLXH của phụ nữ trong gia
đình làm nghề biển, đồng thời cũng là những phân tổ chính khi xử lý thông tin định
lƣợng; Phần 3 có 14 câu hỏi về sự hỗ trợ của MLXH dùng để phân tích vai trò của
MLXH; Phần 4 có 4 câu hỏi về chính sách xã hội dùng để phân tích các yếu tố tác
động đến MLXH và phần 5 có 3 câu hỏi về tầm quan trọng của MLXH dùng để phân
tích quá trình phát triển MLXH

5


• Mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu
Đặc điểm mẫu nghiên cứu đƣợc thể hiện ở bảng 1.
Bảng 1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu về MLXH tại thành phố Quy Nhơn
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội
Độ tuổi
24-34
35-44
45-59
60-68
Trình độ học vấn
Mù chữ
Biết đọc, biết viết
Tiểu học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung cấp - nghề
Cao đẳng, đại học
Nghề nghiệp
Ngƣ nghiệp
Nông nghiệp
Công nhân
Kinh doanh, buôn bán
Công chức-viên chức
Lao động tự do
Không làm gì
Thu nhập
Không có thu nhập
Dƣới 500 ngàn đồng/ tháng
Từ 500 ngàn- dƣới 2 triệu đồng/ tháng
Từ 2 triệu - dƣới 5 triệu đồng/ tháng
Trên 5 triệu/ tháng
Tình trạng hôn nhân Hiện đang sống với chồng
Ly hôn
Góa bụa
Chƣa kết hôn

Số lƣợng (N)
61
116
192
31
13
40
155
166
23
1
2
254
2
28
36
9
30
41
44
28
148
157
23
374
4
20
2

Tỷ lệ (%)
15,3
29,0
48,0
7,8
3,3
10,0
38,8
41,5
5,8
0,3
0,5
63,5
0,5
7,0
9,0
2,3
7,5
10,3
11,0
7,0
37,0
39,3
5,8
93,5
1,0
5,0
0,5

Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
٧ Độ tuổi
Độ tuổi trung bình của phụ nữ trong mẫu khảo sát là 45,6 (ngƣời có tuổi nhỏ
nhất là 24 và ngƣời cao tuổi nhất là 68). Đại đa số phụ nữ ở độ tuổi từ 45-59 chiếm
48%, tiếp theo là nhóm phụ nữ độ tuổi từ 35-44 chiếm 29%. Nhóm phụ nữ thuộc nhóm
thanh niên từ 24-34 tuổi chỉ chiếm 15,3%; Nhóm phụ nữ thuộc lớp ngƣời cao tuổi từ
60-68 chỉ chiếm 7,8% trong tổng số mẫu nghiên cứu.

٧ Trình độ học vấn
Phần lớn phụ nữ trong mẫu khảo sát có trình độ học vấn ở mức phổ cập: tiểu
học (TH) chiếm 38,8%, trung học cơ sở (THCS) chiếm 41,5%, trung học phổ thông
(THPT) chiếm 5,8%. Tỷ lệ phụ nữ có trình độ trung cấp (TC) - nghề và cao đẳng, đại

6


học (CĐ-ĐH) thấp, chỉ chiếm lần lƣợt là 0,3% và 0,5%. Có đến 10% chỉ mới đạt trình
độ học vấn là biết đọc, biết viết, thậm chí có 3,3% phụ nữ là mù chữ.

٧ Nghề nghiệp
Phụ nữ trong mẫu khảo sát chủ yếu làm ngƣ nghiệp (chiếm 63,5%); có 9% phụ
nữ kinh doanh, buôn bán; Có 7,5% phụ nữ làm lao động tự do; Có 7% phụ nữ làm
công nhân trong các công ty, doanh nghiệp; Có 2,3% phụ nữ là công chức, viên chức;
Có 0,5% phụ nữ làm nông nghiệp và có đến 10,3% phụ nữ không có việc làm.

٧ Thu nhập
Phụ nữ trong mẫu khảo sát có mức thu nhập trung bình so với mặt bằng thu
nhập chung (từ 2 triệu - dƣới 5 triệu đồng/ tháng chiếm 39,2%). Một số phụ nữ có thu
nhập thấp hơn (dƣới 500 ngàn đồng/ tháng chiếm 7% và không có thu nhập chiếm
11%). Chỉ có 5,8% phụ nữ có thu nhập trên 5 triệu đồng/ tháng.

٧ Tình trạng hôn nhân
Phụ nữ trong mẫu khảo sát phần lớn họ đã kết hôn. Có 93,5% đang sống cùng
với chồng; phụ nữ đã ly hôn chiếm 1%; phụ nữ đã góa bụa chiếm 5%; và phụ nữ chƣa
kết hôn chiếm 0,5%.
Tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ là 23,8 (trong đó ngƣời có thời gian kết hôn
ít nhất là 1 năm và dài nhất là 57 năm). Cụ thể: độ tuổi kết hôn từ 21-30 năm chiếm
33,2%, từ 11-20 năm chiếm 27,6%; từ 31-40 năm chiếm 21,6%, từ 1-10 năm chiếm
12,3%, từ 40 năm trở lên chiếm 5,3%.
• Nhập và làm sạch số liệu
Toàn bộ phiếu điều tra đƣợc tổng hợp, làm sạch, mã hóa và đƣợc nhập bằng phần
mềm SPSS phiên bản 21.0 nhằm xử lý các thông tin thu đƣợc, đồng thời kiểm định
tính khách quan, độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu.
4.2.2. Phương pháp thu thập thông tin định tính
Luận án sử dụng ba phƣơng pháp thu thập thông tin định tính là phỏng vấn sâu,
thảo luận nhóm tập trung và quan sát.
• Phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn sâu 52 trƣờng hợp tại 4 địa bàn khảo sát. Trong đó, mỗi
phƣờng/ xã là 13 phỏng vấn sâu. Mẫu phỏng vấn sâu bao gồm: 16 ngƣời phụ nữ; 8
thành viên gia đình (4 trƣờng hợp là ngƣời con trong gia đình; 4 trƣờng hợp là ngƣời
làm cha mẹ); 8 ngƣời trong dòng họ (họ hàng ruột có 4 trƣờng hợp; họ hàng khác có 4
trƣờng hợp); 8 ngƣời bạn (bạn bè thân có 4 trƣờng hợp, bạn bè không thân có 4 trƣờng
hợp); 4 ngƣời hàng xóm (sống gần nhà); 8 thành viên của các tổ chức xã hội (lãnh đạo
7


ở cấp phƣờng/ xã có 4 trƣờng hợp và cấp khu vực/ thôn và TDP có 4 trƣờng hợp).
Việc tiến hành phỏng vấn sâu nhằm làm rõ hơn những nội dung liên quan đến
MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển. Bảng hƣớng dẫn phỏng vấn sâu bao
gồm 2 loại dành cho 2 nhóm khách thể nghiên cứu. Thứ nhất, đó là hƣớng dẫn phỏng
vấn sâu ngƣời dân (tổng cộng có 13 câu hỏi với các nội dung về đặc điểm của MLXH,
vai trò của MLXH, cách thức phát triển MLXH và việc tiếp cận các chính sách xã hội
của phụ nữ...). Thứ hai, đó là hƣớng dẫn phỏng vấn sâu chính quyền địa phƣơng (tổng
cộng có 9 câu hỏi với các nội dung về thực trạng nghề biển ở các địa phƣơng, những
rủi ro thiên tai xảy ra tại địa phƣơng, vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình làm
nghề biển và việc thực hiện chính sách và tiếp cận chính sách của phụ nữ...).
• Thảo luận nhóm tập trung
Tiến hành thảo luận nhóm tập trung đối với các nhóm phụ nữ trong gia đình làm
nghề biển. Tổng cộng có 6 nhóm phụ nữ (ngƣ nghiệp; công nhân; không có nghề nghiệp;
đơn thân; thanh niên; ngƣời cao tuổi); mỗi nhóm có 8-10 ngƣời tham gia. Trong đó, ở mỗi
phƣờng là 2 thảo luận nhóm, còn ở mỗi xã có 1 thảo luận nhóm.
Mục tiêu của thảo luận nhóm tập trung nhằm thu thập thông tin sâu hơn về các chủ
đề nghiên cứu của luận án...Bảng hƣớng dẫn thảo luận nhóm tập trung tổng cộng có 10
câu hỏi với các nội dung về nghề nghiệp và sự hỗ trợ từ MLXH đến hoạt động nghề
nghiệp của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển.
• Quan sát
Luận án sử dụng phƣơng pháp quan sát tìm hiểu một số thông tin để bổ sung
thêm những nhận định ban đầu về nghiên cứu. Nội dung quan sát gồm:
٧ Sinh hoạt và những quan hệ diễn ra trong gia đình và ngoài gia đình phụ nữ
٧ Tham gia hoạt động nghề nghiệp, hoạt động cộng đồng...của phụ nữ
٧ Hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong gia đình và ngoài gia đình của phụ nữ.
Các thông tin từ biên bản quan sát thu thập trong quá trình khảo sát thực nghiệm
đƣợc sử dụng để dẫn giải và phân tích một số nội dung nghiên cứu của luận án.
Toàn bộ thông tin từ phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và quan sát đƣợc
phân loại, chọn lọc dƣới dạng trích dẫn để dẫn giải và phân tích vấn đề.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
• Đóng góp về mặt lý luận: Luận án đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận khá
hoàn chỉnh về mạng lƣới xã hội để dẫn đƣờng cho nghiên cứu thực nghiệm về mạng
lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, bao gồm hệ thống luận điểm về
khái niệm mạng lƣới xã hội và các yếu tố liên quan đến mạng lƣới xã hội; hệ thống các
8


lý thuyết nghiên cứu về mạng lƣới xã hội nhƣ lý thuyết phân tích mạng lƣới xã hội, lý
thuyết vốn xã hội và lý thuyết tƣơng tác biểu trƣng.
• Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận án xác lập cơ sở thực tiễn từ kết quả nghiên
cứu thực tiễn về mạng lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển nhƣ mô tả
đặc điểm mạng lƣới xã hội; phân tích vai trò của mạng lƣới xã hội cũng nhƣ các tác
động tiêu cực của mạng lƣới xã hội; Chỉ ra các nhân tố ảnh hƣởng đến mạng lƣới xã
hội. Từ thực tiễn nghiên cứu, luận án đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy vai
trò của MLXH cũng nhƣ hạn chế những ảnh hƣởng tiêu cực của MLXH đối với phụ
nữ trong gia đình làm nghề biển.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
• Kết quả nghiên cứu góp phần hệ thống hóa các lý thuyết nghiên cứu xã hội
học về MLXH bao gồm các lý thuyết phân tích MLXH nhƣ lý thuyết "Sức mạnh của
các mối quan hệ yếu" của M. Grannovetter và quan điểm "Di động xã hội" của Nan
Lin; Lý thuyết vốn xã hội; Lý thuyết tƣơng tác biểu trƣng.
• Nghiên cứu có thể đóng góp thêm cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận về
MLXH nói chung và lý luận về MLXH của phụ nữ nói riêng, góp phần làm phong
phú hơn các lĩnh vực nghiên cứu MLXH.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
• Cung cấp cơ sở khoa học cho việc vận dụng và phát huy MLXH nhằm hỗ trợ
phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, góp phần phát triển kinh tế, xã hội ở địa phƣơng.
• Kết quả nghiên cứu là tài liệu bổ ích cho quá trình giảng dạy và học tập các
học phần: lý thuyết xã hội học, xã hội học giới...cho sinh viên và giáo viên.
7. Cấu trúc của luận án
Luận án có 3 phần, bao gồm:
Mở đầu
Nội dung: Bao gồm có 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chƣơng 3: Đặc điểm MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
Chƣơng 4: Vai trò của MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển và
các yếu tố ảnh hƣởng đến MLXH.
Kết luận và khuyến nghị.

9


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Những chủ đề nghiên cứu về mạng lƣới xã hội
1.1.1. Phương pháp nghiên cứu mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Theo S. Wasserman và K. Faust (1994) thì phƣơng pháp phân
tích MLXH chỉ thực sự ra đời cùng với xuất hiện của phƣơng pháp “trắc lƣợng xã hội”
(socialmetry) của nhà tâm lý học ngƣời Mỹ gốc Romania là J. L. Moreno (1889-1974)
đƣợc trình bày trong tác phẩm "Ai sẽ là ngƣời sống sót?" (Who Shall Survive?) vào
năm 1934. Trong tác phẩm này, ông đã đƣa ra các nguyên tắc và công cụ của phƣơng
pháp trắc lƣợng xã hội. Theo ông, phƣơng pháp này gồm có hai công cụ cơ bản là
“sociometric test” và “lƣợc đồ xã hội” (sociogram). Với công cụ này, nhà nghiên cứu
sẽ khám phá đƣợc các cấu trúc xã hội trong nhóm, trong tổ chức thông qua việc làm
sáng tỏ các lực hút (attractions) và các lực đẩy (repulsions) giữa các thành viên trong
một nhóm, một tổ chức (chẳng hạn hỏi từng thành viên xem họ thích và không thích ai
trong mạng lƣới) thông qua bảng ma trận. Sau đó nhà nghiên cứu sẽ dùng đến những
công cụ “lƣợc đồ xã hội” để thể hiện trên mặt phẳng những lực hút và lực đẩy giữa các
thành viên trong nhóm/ tổ chức đó. Trong lƣợc đồ xã hội, các điểm thể hiện các chủ
thể và các đƣờng nối thể hiện các mối liên kết giữa các chủ thể trong nhóm/ tổ chức.
Với việc thể hiện trên mặt phẳng, chúng ta sẽ nhìn thấy “hình ảnh” cụ thể của cấu trúc
xã hội. Tuy không khẳng định nhƣ S. Wasserman và K. Faust, nhƣng nhiều nhà nghiên
cứu cũng đã thống nhất rằng phƣơng pháp trắc lƣợng xã hội của J. L. Moreno là công
cụ phân tích đầu tiên của phƣơng pháp phân tích MLXH [dẫn theo Lê Minh Tiến
2006:70].
G. Simmel đƣợc xem nhƣ là ngƣời khởi xƣớng cách tiếp cận cấu trúc (nghiên
cứu tính hợp thức và các đặc trƣng cấu trúc của mạng lƣới) trong phân tích MLXH.
Hƣớng tiếp cận mang tính hình thức chú trọng đến hình thức của các tƣơng tác mà bỏ
qua nội dung của các tƣơng tác. Để lý giải cho việc nghiên cứu ƣu tiên các hình thức
tƣơng tác này, những ngƣời ủng hộ hƣớng tiếp cận này dựa trên một định đề mà theo
đó, các hình thức quan hệ đƣợc quan sát "thể hiện một tính thƣờng xuyên đều đặn nhất
định và tính ổn định nhất định" (Merkle 2004: 15). Vậy là bằng cách nghiên cứu các
dạng thức của các quan hệ, ngƣời ta có thể tìm thấy tính thƣờng xuyên và không biến
đổi của nó. Việc nghiên cứu tính thƣờng xuyên liên tục của những lựa chọn quan hệ
cũng hàm ẩn sự tồn tại của các (cách thức) tổ chức ít nhiều nằm ngoài ý thức của các
nhân tố xã hội mà ở đó các nhân tố này có thể vi phạm (Lemieux, Ouimet 2004:10).
10


Công việc của nhà nghiên cứu ở đây là thông qua mạng lƣới nắm bắt đƣợc các nguyên
tắc nằm ngoài ý thức nhƣng lại tham gia vào việc tổ chức xã hội. Hƣớng tiếp cận này
đi theo những bƣớc nhƣ sau: hình thức của mạng lƣới cho phép nghiên cứu tính
thƣờng xuyên liên tục của các hình thức quan hệ dẫn đến những nguyên tắc ngầm giữ
vai trò tổ chức các nhóm. Hạn chế của hƣớng phân tích cấu trúc ở chỗ nó quá nghiêng
về lý thuyết dựa trên thực địa. Nó tập trung vào việc triển khai các "quy định" chung
về khuôn mẫu xã hội, về những quy luật ích lợi về mặt lý thuyết nhƣng thƣờng xuyên
tách rời khỏi thực tiễn các quan sát kinh nghiệm. Hơn nữa, phân tích cấu trúc quá ƣu
tiên các cấu trúc mà xem nhẹ cá nhân cũng nhƣ nêu các cấu trúc mà không nghiên cứu
tìm hiểu các cấu trúc đó bắt nguồn từ đâu, cơ chế của chúng thế nào, biến đổi ra sao...
[dẫn theo Emmanuel Pannier 2008:106].
Chính vì những hạn chế của lối tiếp cận cấu trúc nên nhiều nhà nghiên cứu
MLXH đã lựa chọn hƣớng phân tích khác, đó là hƣớng phân tích phi cấu trúc. Cách
tiếp cận này coi các tác nhân xã hội là trung tâm và nó quan sát những biến đổi đa
dạng của các thực tiễn hoạt động và các biểu hiện của nó. Các nhà nghiên cứu tiến
hành phân tích dựa trên việc so sánh mạng lƣới cá nhân, có nghĩa là một cá nhân là
trung tâm của mạng lƣới và họ sẽ tìm hiểu tổng thể các mối quan hệ trong mạng lƣới
đó, các tiếp xúc có ý nghĩa đối với các tác nhân và đối với các quan hệ mà anh/ chị ta
thực hiện rất cụ thể trong đời sống. Các bƣớc thực hiện ở đây là: (1) xuất phát từ một
cá nhân đƣợc lựa chọn theo tiêu chí chuyên biệt của việc điều tra hay vấn đề đặt ra, (2)
thống kê các mối quan hệ thƣờng ngày mà cá nhân thực hiện và duy trì; (3) thống kê
các mối quan hệ quan trọng mà cá nhân có thể có hoặc đã có nhƣng không bắt buộc
phải là các hoạt động thƣờng ngày sau đó; (4) tiến hành chuỗi các trao đổi phỏng vấn
với nhân tố đó bằng các câu hỏi và các tiếp xúc của anh/ chị ta. Lợi ích và những hạn
chế của cách tiếp cận phi cấu trúc ở chỗ, mạng lƣới cá nhân thể hiện đầy đủ những
phạm vi mang tính nhận thức và cá nhân của các xử sự trong quan hệ. Cách tiếp cận
này cho phép nắm bắt các động thái, các vận động và các đặc trƣng thay vì tìm kiếm
tính thƣờng xuyên và các hình thức cố định. Tuy nhiên, cách tiếp cận này tập trung
vào khía cạnh mang tính cá nhân của các hiện tƣợng xã hội và không chú trọng tới
phân tích tổng thể [dẫn theo Emmanuel Pannier 2008:110].
Ở Việt Nam: Những nghiên cứu MLXH cũng áp dụng các phƣơng pháp nghiên
cứu trên thế giới, đó là phân tích cấu trúc và phi cấu trúc. Lê Minh Tiến (2006) xác
định phƣơng pháp phân tích MLXH nhƣ là một tập hợp các phƣơng thức chọn mẫu,
thu thập và xử lý dữ kiện, các khái niệm, các lý thuyết nhằm mô tả và phân tích mối
11


quan hệ giữa các actor trong mạng lƣới, các quy luật hình thành và chuyển biến của
những mối quan hệ đó, và nhất là làm sáng tỏ những ảnh hƣởng của các mối quan hệ
xã hội (hay cấu trúc của mạng lƣới) đối với hành vi của các actor. Có thể nhận thấy
phƣơng pháp phân tích MLXH khác với lối phân tích theo biến số truyền thống. Theo
đó, phân tích theo biến số thƣờng dùng trong nghiên cứu thực nghiệm xã hội học chú
trọng đến các đặc trƣng dân số học và kinh tế - xã hội của các tác nhân nhƣ tuổi tác,
giới tính, học vấn...và xem hành vi của cá nhân bị quy định bởi những đặc trƣng đó.
Trong khi lối phân tích MLXH nhấn mạnh đến quan hệ xã hội giữa các tác nhân, coi
đó là yếu tố quyết định đến hành vi chứ không phải là các đặc trƣng của các tác nhân.
Đồng thời, sự khác biệt của các tác nhân không do các đặc trƣng quyết định mà là cấu
trúc của các quan hệ xã hội quyết định [58]. Vũ Quang Hà (2001) cho rằng điểm trọng
tâm trong phân tích MLXH là nghiên cứu các quan hệ nối kết của các thành viên (cá
thể và tập thể) mà "không đƣợc ràng buộc đầy đủ và không đan bện chặt chẽ để có thể
gọi là nhóm". Các nhà xã hội học có xu hƣớng tập trung vào mọi ngƣời có mối quan
hệ mạnh trong các nhóm xã hội, xem các mối quan hệ mạnh là cái cơ bản trong khi các
mối quan hệ yếu không có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội học [17:440].
Nhƣ vậy, về mặt phƣơng pháp nghiên cứu MLXH, hiện nay phƣơng pháp phân
tích MLXH theo hƣớng cấu trúc và phi cấu trúc vẫn đƣợc sử dụng nhiều nhất trong các
nghiên cứu ở trên thế giới. Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng sử dụng cả hai
phƣơng pháp nghiên cứu này tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của họ, nhƣng chủ
yếu phân tích làm rõ các mối quan hệ xã hội giữa các tác nhân trong MLXH.
Từ kết quả tổng quan các phƣơng pháp nghiên cứu về MLXH, luận án đã sử
dụng cách tiếp cận phi cấu trúc để nghiên cứu MLXH của phụ nữ trong gia đình làm
nghề biển, trong đó tập trung phân tích mối quan hệ của phụ nữ trong gia đình làm
nghề biển - đƣợc xác định là trung tâm của mạng lƣới với tổng thể các mối quan hệ
trong mạng lƣới mà ngƣời phụ nữ có tiếp xúc, trao đổi (bao gồm quan hệ gia đình, họ
hàng, bạn bè, hàng xóm và các tổ chức xã hội) để xem các mối quan hệ nào là mạnh và
các mối quan hệ nào là yếu trong MLXH.
1.1.2. Các lý thuyết nghiên cứu mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Có nhiều lý thuyết nghiên cứu MLXH đƣợc đƣa ra bởi các nhà
nghiên cứu về MLXH. Có thể nêu ra một số lý thuyết nhƣ sau:
Heider nghiên cứu nhận thức xã hội và thái độ của nhóm và đƣa ra "lý thuyết về
sự cân bằng nhận thức". Trọng tâm của lý thuyết mô tả những liên hệ tình cảm (tích
cực hoặc tiêu cực) giữa các điểm (là các cá nhân hay nhóm) trong một mạng lƣới bằng
12


cách xem xét những tác động phức hợp trong mỗi nhóm cặp ba hợp thành, nhóm này
đƣợc coi là cân bằng nếu kết quả của những liên hệ đó là tích cực và không cân bằng
trong trƣờng hợp ngƣợc lại. Luận đề cân bằng này chứng minh rằng nếu tất cả nhóm
cặp ba đều cân bằng thì hệ thống sẽ bị phân chia thành hai nhóm đối lập [8: 283].
Grannovetter (1973) đã đƣa ra lý thuyết “Sức mạnh của các mối quan hệ yếu”
khi nghiên cứu MLXH. Lý thuyết cho rằng, khi nói về sức mạnh trong các mối quan
hệ xã hội ta thƣờng nghĩ đến tần suất thời gian (gặp gỡ), mức độ tình cảm, tính thân
mật và sự hỗ tƣơng. Giữa các yếu tố này có thể độc lập hoặc tƣơng quan với nhau.
Theo ông, những kết nối mạnh chính là mức độ hiểu biết giữa các chủ thể với nhau và
mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó giữa các thành viên trong cộng đồng. Đối lập với các kết
nối mạnh là kết nối yếu, ám chỉ đến mối quan hệ lỏng lẻo giữa các thành viên trong
cộng đồng và thay thế vào đó là những kết nối bên ngoài cộng đồng [95].
Nan Lin (1999) cũng đƣa ra lý thuyết "Liên kết các nguồn lực xã hội để hành
động cụ thể". Lý thuyết này ngụ ý rằng việc một cá nhân tiếp cận với các nguồn lực xã
hội là dựa trên vị trí xã hội của mình cũng nhƣ bản chất của các mối quan hệ xã hội
đƣợc sử dụng. Lý thuyết dựa trên hai mệnh đề chính: Sức mạnh của các vị trí (nhƣ
đƣợc chỉ ra bởi nghề nghiệp của cha mẹ) cũng nhƣ sức mạnh của các mối quan hệ
(nhƣ đƣợc chỉ ra bởi bản chất của các mối liên hệ là một ngƣời thân, bạn bè hoặc
ngƣời quen) ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận các ngành nghề có uy tín. Các mối quan
hệ yếu hơn (bạn bè và những ngƣời quen biết chứ không phải là họ hàng) cung cấp khả
năng tiếp cận tới các nghề nghiệp có uy tín hơn. Quan hệ yếu cung cấp khả năng tiếp
cận với các nguồn lực xã hội hơn là mối quan hệ mạnh mẽ, đặc biệt là đối với những
ngƣời có vị trí ban đầu là tƣơng đối thấp [107]. Bên cạnh đó, Nan Lin cũng đƣa ra lý
thuyết MLXH với trọng tâm đề cập đến sự di động xã hội từ vị trí thấp đến vị trí cao.
Sự di động xã hội này đƣợc xem nhƣ một nguồn lực nhằm đẩy chủ thể lên một tầm
mới trong xã hội đƣợc biểu trƣng bằng hình tam giác chóp [37].
Quan điểm về trung gian (brokerage) do Ronald Burt trình bày, giúp ta có một
cái nhìn khác về cấu trúc xã hội. Ông đƣa ra khái niệm trung gian để đề cập đến việc
chủ thể giúp kết nối các điểm (có thể là con ngƣời hoặc cộng đồng) lại với nhau vì một
mục đích nào đó. Do vậy vai trò trung gian này còn gọi là sự môi giới tạo ra các dòng
chảy thông tin, gắn kết mọi ngƣời lại với nhau và loại bỏ những nguồn thông tin không
cần thiết. Ngƣời nắm giữ vị trí trung gian này tạo ra các mối liên kết và các mối liên
kết này trở thành nguồn vốn xã hội của chính chủ thể đó [37].

13


Quan điểm về sự đồng dạng (homophily) trong MLXH của J. Miller Mc
Pherson, Lynn Smith - Lovin đã nhấn mạnh đến những đặc điểm chung nhất tạo nên
sự chia sẻ chung giữa các cá nhân hay cộng đồng có khả năng tạo ra các mối liên kết,
từ đó hình thành nên MLXH. Theo phân tích dựa trên các yếu tố: chủng tộc và tộc
ngƣời, nhóm tuổi, tôn giáo, giáo dục, nghề nghiệp và giai cấp xã hội, vị trí trong mạng
lƣới, hành vi, thái độ, khả năng, niềm tin và khát vọng. Các yếu tố này đƣợc phân định
thành hai loại đồng dạng là đồng dạng nền tảng (các yếu tố chủng tộc và tộc ngƣời,
nhóm tuổi...) và đồng dạng khác biệt (các yếu tố giới tính và giới, giáo dục, nghề
nghiệp) [37].
Các nhà nghiên cứu xã hội học về MLXH đã phát hiện ra mối quan hệ chặt chẽ
giữa MLXH và vốn xã hội (VXH) và kết hợp lý thuyết nghiên cứu MLXH với lý
thuyết nghiên cứu VXH trong những nghiên cứu về MLXH hay VXH. Phân tích có hệ
thống đầu tiên về VXH là của Pierre Bourdier (1986). Ông đã định nghĩa khái niệm
VXH là "tập hợp những nguồn lực hiện hữu hoặc tiềm tàng, gắn với việc có một mạng
lƣới bền vững những quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều đƣợc thể chế
hóa" [84:198]. Tiếp nối những quan điểm về mối quan hệ giữa VXH và MLXH của
Bourdier; Coleman (1988) cũng cho rằng VXH nằm trong quan hệ xã hội [92]; hay
theo Putnam (1993) cho rằng MLXH là một thành tố của VXH [115] hay theo Portes,
Alejandro (1998) thì cần quan sát VXH thông qua MLXH [114]. Về mặt thực nghiệm,
một trong những nghiên cứu đáng kể nhất là về ngƣời nhập cƣ và nghề thầu khoán
theo tộc ngƣời của Alejandro Pores (2003), trong đó MLXH và VXH lƣu chuyển qua
nó trƣớc sau đều đƣợc xác định là một nguồn lực then chốt để tạo ra các cơ sở kinh
doanh nhỏ [1]. Hary Goulbourne (2006) cho rằng, tổ chức gia đình đƣợc coi là đơn vị
cơ bản nhất của trật tự xã hội với chức năng bảo tồn nòi giống. Từ cấu trúc gia đình
(gia đình hạt nhân hay gia đình mở rộng) đến các mối quan hệ thân tộc và các chuỗi
MLXH đƣợc liên kết qua yếu tố sinh học cũng nhƣ các thiết chế xã hội và luật pháp
(luật hôn nhân), ngƣời thực hiện và các tổ chức kiểm soát luật. Điều đó đã cung cấp
một luận điểm quan trọng để đề xuất ý tƣởng về VXH có thể liên quan đến gia đình,
cộng đồng và bản sắc của họ. VXH là một dạng vốn đƣợc sở hữu bởi các thành viên
của một nhóm hay MLXH [97].
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về MLXH chủ yếu sử dụng lý thuyết
"Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" của Grannovetter để làm cơ sở lý luận. Các quan
điểm về "liên kết", "trung gian" hay "đồng dạng" trong nghiên cứu MLXH còn chƣa
đƣợc nhiều nghiên cứu chú ý. Có thể tìm thấy nghiên cứu về đặc tính của MLXH trong
14


bài viết của Nguyễn Qúy Thanh và Cao Thị Hải Bắc (2012) về "Quan hệ xã hội và vốn
xã hội: Nghiên cứu so sánh Việt Nam và Hàn Quốc". Theo đó, có sự khác nhau về tính
đồng nhất trong mạng quan hệ xã hội của ngƣời Việt và ngƣời Hàn. Ngƣời Hàn có
khuynh hƣớng kết bạn với những ngƣời đồng dạng với mình, đặc biệt là gia đình, họ
hàng và bạn đồng học. Trong khi đó tính đồng nhất về quan hệ gia đình, họ hàng của
ngƣời Việt thấp hơn ngƣời Hàn với 9%. Tính đồng nhất với các mối quan hệ khác nhƣ
đồng học (52%), đồng nghiệp (32%), đồng hƣơng (69%) tƣơng đối cao và cao hơn
tính đồng nhất trong các mối quan hệ xã hội của ngƣời Hàn [49]. Bên cạnh đó, việc sử
dụng lý thuyết VXH trong nghiên cứu MLXH cũng chỉ có một vài nhà nghiên cứu đề
cập đến mối quan hệ này. Ở góc độ lý thuyết, chẳng hạn, Nguyễn Văn Tuấn (2010) đã
vận dụng lý thuyết MLXH và lý thuyết VXH để nghiên cứu vấn đề thực hiện quyền
lao động của lao động tại các doanh nghiệp FDI [59]; Lê Ngọc Hùng (2008) cũng tìm
ra mối quan hệ giữa VXH, vốn con ngƣời và MLXH khi chỉ ra rằng VXH, vốn con
ngƣời không chỉ có chức năng kinh tế mà còn có chức năng xã hội [25]. Còn ở góc độ
thực nghiệm, Khúc Thị Thanh Vân (2013) sử dụng lý thuyết phân tích MLXH bên
cạnh lý thuyết VXH nhƣ là hai lý thuyết chính trong nghiên cứu về vai trò của VXH
trong phát triển kinh tế hộ ở nông thôn đồng bằng sông Hồng [68]. Nghiên cứu của
Nguyễn Quý Thanh (2005) đã tìm hiểu về sự giao thoa giữa VXH và các giao dịch của
các doanh nghiệp gia đình cho thấy trong điều kiện thị trƣờng vốn tín dụng chƣa phát
triển, các doanh nghiệp gia đình dựa chủ yếu vào nguồn vốn xã hội từ MLXH gia đình,
ngƣời thân và bạn bè để huy động vốn kinh tế. VXH dƣới dạng trách nhiệm, lòng tin
giữa các thành viên gia đình và mối quan hệ thân quen với các cá nhân trong các cơ
quan chính quyền địa phƣơng và các cơ quan chức năng có thể giúp giảm chi phí giao
dịch kinh tế cho các doanh nghiệp gia đình và tăng cƣờng khả năng huy động nguồn
lao động khi cần thiết [50]. Nghiên cứu về “Vai trò của việc sử dụng VXH trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội” của Trần Tú Hoa (2010) đã
cho thấy VXH có vai trò quan trọng đối với phát triển doanh nghiệp. Đóng góp này
thông qua việc phát triển các mối quan hệ xã hội, thông qua việc sử dụng VXH trong
các hoạt động của doanh nghiệp. Vai trò của việc sử dụng VXH thể hiện ở sự tham gia
của doanh nghiệp vào các mạng lƣới sản xuất, kinh doanh để tìm kiếm những động lực
và cơ hội hợp tác, phát triển mới. Tiếp đến là các nguồn thông tin từ mạng lƣới kinh
doanh sẽ giúp doanh nghiệp đề ra các giải pháp và chiến lƣợc phát triển doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chƣa chú ý đến tính hai mặt (tích cực/tiêu cực) của VXH
với vai trò là động lực của sự phát triển doanh nghiệp [21].
15


Nhƣ vậy, có thể nhận thấy nghiên cứu MLXH trên thế giới đã có đƣợc một hệ
thống lý thuyết tƣơng đối hoàn chỉnh có thể ứng dụng trong các nghiên cứu thực
nghiệm. Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu MLXH cũng vận dụng hầu hết những lý
thuyết này trong những nghiên cứu thực nghiệm và đã đạt đƣợc những thành công nhất
định. Trong đó lý thuyết "Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" đƣợc nhiều nhà nghiên
cứu sử dụng để phân tích mối quan hệ trong MLXH. Tuy nhiên, theo tác giả nghiên
cứu MLXH cần kết hợp các lý thuyết MLXH với lý thuyết vốn xã hội và một số lý
thuyết khác để hiểu rõ hơn về việc phát huy VXH của cá nhân thông qua mạng lƣới
của họ. Đồng thời chỉ ra các tác động tiêu cực của MLXH đối với cá nhân trong quá
trình phát triển.
Từ kết quả tổng quan các lý thuyết nghiên cứu về MLXH, luận án sử dụng lý
thuyết "Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" làm nền tảng để đo lƣờng xem trong
MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển tồn tại các mối quan hệ nào là mạnh/
và quan hệ nào là yếu? Các quan điểm về sự "đồng dạng", "trung gian" trong mạng
lƣới cũng đƣợc áp dụng nhằm xác định trong MLXH của phụ nữ có sự đồng dạng
không và nó đƣợc biểu hiện nhƣ thế nào? Ai đóng vai trò trung gian trong MLXH?
Đồng thời sử dụng lý thuyết "vốn xã hội" để tìm hiểu liệu có tác động tiêu cực từ
MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển hay không? Sử dụng lý thuyết
"Tƣơng tác biểu trƣng" giúp giải thích cho vai trò của các biểu tƣợng của các nhóm gia
đình, dòng họ, nhóm bạn bè, hàng xóm láng giềng và các tổ chức xã hội trong MLXH
của phụ nữ các gia đình làm nghề biển ra sao?
1.1.3. Các chủ đề nghiên cứu mạng lưới xã hội
• Nghiên cứu về quy mô, mật độ trong mạng lưới xã hội
Nghiên cứu quy mô, mật độ trong MLXH đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Quy mô thƣờng đƣợc khảo sát cùng với biến số mật độ, quy mô là nói đến độ rộng hay
hẹp còn mật độ thì nói đến độ đậm đặc của mạng quan hệ xã hội. Mật độ là tỷ lệ những
trƣờng hợp có mối quan hệ thực tế trong toàn bộ những mối quan hệ có khả năng xảy
ra. Nguyễn Qúy Thanh (2005) khi nghiên cứu so sánh về quy mô MLXH của ngƣời
Việt và ngƣời Hàn cho biết, ngƣời Việt có quy mô mạng quan hệ xã hội rộng hơn
ngƣời Hàn [50]. Phan Thị Kim Dung (2008) khi mô tả quy mô MLXH của ngƣời cao
tuổi cho thấy, ngƣời cao tuổi đều có quy mô MLXH ở các mức độ rộng hẹp khác nhau
theo những lát cắt khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào đặc điểm cá nhân - xã hội
khác nhau của ngƣời cao tuổi. Theo đó, MLXH của các cụ bà hẹp hơn các cụ ông, các
cụ có độ tuổi càng cao thì MLXH càng hẹp, các cụ nhóm hƣu trí có MLXH rộng hơn
16


các cụ ở các nhóm ngành nghề khác [11]; Nghiên cứu MLXH ở cấp độ vĩ mô, chẳng
hạn mô tả MLXH ở nông thôn Việt Nam, Bế Quỳnh Nga và đồng nghiệp (2008) đã
thống kê, phân loại và mô tả quy mô MLXH phi chính thức ở nông thôn trong bối
cảnh nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, theo đó các tổ chức phi chính thức gồm các hội,
phƣờng, câu lạc bộ, nhóm, đoàn, tổ. Các tổ chức này tạo thành một mạng lƣới các
quan hệ xã hội dày đặc nơi làng xã. Sự phân cấp bên trong các tổ chức khác nhau: có
tổ chức tồn tại ở cấp làng, có tổ chức tồn tại ở cấp xã, có tổ chức tồn tại cả cấp làng và
cấp xã, có tổ chức tồn tại cả cấp làng, cấp xã và mở rộng phạm vi bên ngoài [36];
Cũng bàn về quy mô MLXH ở nông thôn, Ngô Đức Thịnh (2008) chỉ ra ba hình thức
tổ chức xã hội ở nông thôn Việt Nam nhƣ liên kết theo huyết thống (gia đình, dòng
họ), liên kết theo cƣ trú (làng xã, quốc gia...) và liên kết theo lợi ích (giai cấp, nghiệp
đoàn). Từ ba dạng liên kết, ba hình thức tổ chức xã hội nông thôn cơ bản tạo nên các
MLXH khá đa dạng [53].
Từ kết quả tổng quan nghiên cứu về quy mô, mật độ của MLXH, luận án mô tả
quy mô MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển với tiêu chí đo lƣờng đó là số
lƣợng thành viên trong mạng lƣới, bao gồm số lƣợng thành viên trong gia đình, họ
hàng, hàng xóm, bạn bè và các TCXH. Tuy nhiên, luận án chƣa đề cập đến mật độ của
mạng lƣới và xem đây là khoảng trống trong nghiên cứu cần đƣợc các nghiên cứu tiếp
theo về MLXH bổ sung, hoàn thiện.
• Nghiên cứu về các mối quan hệ trong mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Lee Jae Yeol khi nghiên cứu quan hệ xã hội của ngƣời Hàn đã
chia ra làm 4 loại hình nhƣ sau: Loại hình 1 (các mối quan hệ lâu dài và chắc chắn
(strong and long ties) là các mối quan hệ đƣợc duy trì trong thời gian dài và tần suất
tiếp xúc thƣờng xuyên. Các quan hệ gia đình thuộc vào loại này. Loại 2 (mối quan hệ
lâu dài nhƣng lỏng lẻo - weak but long ties) là mối quan hệ đƣợc duy trì trong thời
gian dài nhƣng tần số tiếp xúc không thƣờng xuyên. Nó ứng với các quan hệ họ hàng,
đồng hƣơng, đồng học...Loại hình 3 (mối quan hệ ngắn nhƣng chắc chắn - strong but
short ties) là mối quan hệ đƣợc hình thành tƣơng đối mới nhƣng tần số tiếp xúc thƣờng
xuyên. Quan hệ hàng xóm, đồng nghiệp thuộc vào loại này. Loại hình 4 (mối quan hệ
ngắn và lỏng lẻo - weak and short ties) là các mối quan hệ mới hình thành và tần số
quan hệ ít. Các mối quan hệ nhƣ hội cùng sở thích, nhân viên công chức nhà nƣớc,
đoàn thể xã hội và các quan hệ khác thuộc về loại này [dẫn theo Nguyễn Qúy Thanh,
Cao Thị Hải Bắc, 2012:38-39].

17


Ở Việt Nam: Hầu nhƣ các nghiên cứu MLXH ở Việt Nam chú trọng vào chỉ rõ
các mối quan hệ tồn tại trong MLXH cũng nhƣ phân tích mức độ mạnh/ yếu của từng
mối quan hệ vì chúng có tác dụng khác nhau trong quá trình hỗ trợ cá nhân. Nghiên
cứu của Nguyễn Thị Thu Hòa (2012) về MLXH của ngƣời chấp hành xong hình phạt
tù cho thấy trong MLXH có tồn tại cả những liên hệ mạnh và liên hệ yếu, trong đó
quan hệ mạnh đƣợc xác định là gia đình, họ hàng còn quan hệ yếu đƣợc xác định là
bạn bè, hàng xóm và các tổ chức xã hội [22]. Nguyễn Văn Tuấn (2010) khi nghiên cứu
về MLXH của ngƣời lao động trong các doanh nghiệp FDI cho thấy, đối với ngƣời lao
động trong việc thiết lập mạng lƣới mới của mình, họ bị chi phối bởi hai kiểu kết nối:
kiểu quan hệ gia đình, nhóm bạn hay gần gũi/ đồng hƣơng là những quan hệ gắn kết,
những mối quan hệ vƣơn ra - quan hệ yếu, thiết lập quan hệ theo công việc hay theo cơ
cấu tổ chức họ cũng không có điều kiện để thiết lập và sử dụng nó cho sự thành công
trong cuộc sống lao động tại công ty [59].
Từ kết quả tổng quan nghiên cứu về các mối quan hệ trong MLXH, luận án
cũng tiến hành đo lƣờng và phân tích độ mạnh/ yếu của các mối quan hệ trong MLXH
của phụ nữ các gia đình làm nghề biển, bao gồm quan hệ gia đình, quan hệ họ hàng,
quan hệ hàng xóm láng giềng, quan hệ bạn bè và quan hệ với các TCXH theo các tiêu
chí trong lý thuyết "Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" nhƣ mức độ giao tiếp; mức độ
trợ giúp và mức độ tin cậy trong mối quan hệ.
• Nghiên cứu về các kiểu (loại) mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Trong tác phẩm "Phân công lao động xã hội", Durkheim đã phân
biệt hai hình thức cơ bản của sự đoàn kết xã hội, đó là (1) đoàn kết cơ học là kiểu đoàn
kết xã hội mà cá nhân liên hệ với nhau dựa trên sự giống nhau, sự thuần nhất, nhất trí,
sự thống nhất của các giá trị, niềm tin, tín ngƣỡng, phong tục tập quán; (2) đoàn kết
hữu cơ là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự phong phú, đa dạng của sự phân hóa các
chức năng, các mối liên hệ, tƣơng tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu thành nên
xã hội. Trên cơ sở hai kiểu đoàn kết xã hội, có thể thấy mạng lƣới quan hệ chức năng
đặc trƣng cho kiểu đoàn kết hữu cơ của xã hội hiện đại và mạng quan hệ phi chức năng
đặc trƣng cho kiểu đoàn kết máy móc của xã hội truyền thống. Rodney Stark đã phân
loại thành hai kiểu MLXH là mạng lƣới cục bộ và mạng lƣới mở rộng. Mạng lƣới cục
bộ là mạng lƣới dày đặc các mối quan hệ chặt, rƣờm rà, không cần thiết. Chúng đƣợc
gọi là cục bộ vì các thành viên thƣờng tƣơng tác trực tiếp với nhau, do đó, các thành
viên có khuynh hƣớng tập trung về mặt địa lý. Các mạng lƣới mở rộng bao gồm các
mối quan hệ yếu và lỏng lẻo hơn, do đó các thành viên của mạng lƣới mở rộng tƣơng
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×