Tải bản đầy đủ

BAO CAO SKKN THU HÀ 2015 DA sửa

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1.Lời giới thiệu:
Chữ viết xuất hiện là bước ngoặt trong lịch sử văn minh của loài người.
Chữ viết trở thành một công cụ vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát
triển văn hoá, văn minh của từng dân tộc. Nhờ có chữ viết mà thông tin của con
người được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Chữ viết là một trong những công
cụ giao tiếp thuận lợi và quan trọng nhất của con người. Chưa cần biết nội dung
văn bản đó viết như thế nào nhưng nếu chữ viết rõ ràng, đẹp thường làm cho người
đọc có cảm tình ngay.
Con người không phải từ khi cắp sách đến trường đã biết viết chữ mà phải trải
qua một quá trình rèn luyện rất kiên trì. Từ xa xưa đã có tấm gương rèn luyện của
ông Cao Bá Quát - một người nổi tiếng “văn hay chữ tốt”. Từ một người viết xấu
đến mức không ai đọc được, nhưng nhờ có lòng kiên trì luyện tập mà ông trở thành
một người có tài viết đủ các loại chữ, mà chữ nào cũng đẹp, cũng rõ ràng.
Học tập tấm gương của người xưa, nhiều năm nay, trong các trường tiểu học đã
giấy lên phong trào “ Vở sạch - Chữ đẹp”. Ngay từ khi bắt đầu vào học lớp 1, học
sinh đã được giáo viên rèn viết chữ. Như chúng ta đã biết, đối với học sinh tiểu
học, việc rèn cho các em “Viết đúng, viết đẹp” là một vấn đề rất quan trọng. Bởi
vì, chữ viết có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của các em. Ngoài ra, việc
rèn chữ viết sẽ rèn luyện cho học sinh những phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, kiên

trì, tính kỉ luật và óc thẩm mĩ.
Đất nước ta đang trên con đường xây dựng CNXH để trở thành một nước
hiện đại văn minh có thể sánh với các cường quốc trên thế giới đúng như mong mỏi
của Bác Hồ kính yêu. Để điều đó sớm trở thành hiện thực thì mục tiêu của giáo dục
đề ra chúng ta phải đào tạo một lớp người phát triển toàn diện có trí thức, có bản
lĩnh biết sáng tạo luôn có ước mơ vươn tới cái đẹp, vươn tới khoa học, công nghệ.
Cái đẹp ở đây không chỉ là cái đẹp trong ứng xử, cái đẹp trong hình thể mà gồm cả
cái đẹp của trí thức. Một trong cái đẹp của trí thức là cái đẹp của chữ viết. Vậy để
đạt được mục tiêu giáo dục thì người giáo viên luôn phải sáng tạo, tìm tòi cho mình
phương pháp tối ưu để vận dụng vào giờ dạy, để thực hiện chức năng của người
hướng dẫn, tổ chức sao cho học sinh lĩnh hội trí thức một cách dễ dàng, hứng thú
1


nhất, để có thể thành những con người mà đất nước đang chờ đợi. Từ ngày xưa ông
cha ta đã khẳng định: "Nét chữ nết người" nhìn vào nét chữ ta có thể nhìn nhận tính
cách của người đó và khi xã hội còn chưa văn minh, để đánh giá một con người có
học vấn người ta không thể không nhắc tới đó phải là người có "Văn hay, chữ tốt"
song tôi thiết nghĩ trong xã hội đang phát triển ngày nay, để đánh giá con người có
học vấn người ta không bỏ qua tiêu chí đó. Vậy nhiệm vụ của một giáo viên là phải
góp sức mình để nâng cao chất lượng giáo dục của nước nhà và sớm đào tạo được
lớp người như vậy.
Trong những năm học gần đây chữ viết của học sinh trong các nhà trường
tiểu học là vấn đề các cấp lãnh đạo, các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh học sinh
hết sức quan tâm. Các phong trào " Giữ vở sạch, viết chữ đẹp " của giáo viên và
học sinh được duy trì thường xuyên theo định kỳ hàng năm và phát triển sâu rộng
trong phạm vi toàn quốc. Song vì nhiều lý do mà chất lượng chữ viết của học sinh
chưa tốt. Bên cạnh học sinh viết chữ đẹp. Còn khá phổ biến học sinh viết chữ xấu,
nét chữ nguệch ngoạc, không đúng mẫu, cỡ chữ qui định. Cá biệt còn có em mắc
nhiều nỗi chính tả. Vì vậy có em nhận thức rất nhanh nhưng lại không đạt danh
hiệu học sinh giỏi cũng chỉ vì chữ viết xấu. Trẻ em đến tuổi học, thường bắt đầu
quá trình học tập bằng việc học chữ. ở giai đoạn đầu tiên ( bậc tiểu học) trẻ tiếp tục
được hoàn thiện năng lực nói tiếng mẹ đẻ. Nhà trường xuất phát từ dạng thức nói,
từ hệ thống ngữ âm tiếng mẹ đẻ để dạy trẻ học chữ. Trẻ em biết chữ mới có phương
tiện để học Tiếng Việt và học các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác.
Trẻ không biết chữ, không có điều kiên tiếp xúc ngôn ngữ văn hoá, không thể tiếp
thu trí thức văn hoá, khoa học một cách bình thường được. Biết chữ là biết phân
biệt hình nét các ký hiệu, biết tạo ra ký hiệu ( chữ viết ), biết dùng chữ ghi lời nói,
biết đọc và hiểu được ý nghĩa chữ viết. Nói tóm lại, biết chữ là biết đọc thông viết
thạo một ngôn ngữ.


Chữ viết tiếng việt của chúng ta hiện nay ( còn là chữ Quốc ngữ) được xây
dựng dựa theo các con chữ của hệ thống chữ cái La tinh gồm 24 chữ cái ( hay còn
gọi là con chữ) được sắp xếp theo trật tự cố định gọi là Bảng chữ cái. Các chữ cái
Tiếng Việt dùng để nghi nguyên âm và phụ âm.
Trên thực tế, các chữ cái Tiếng Việt thoả mãn tương đối các điều kiện trên.
Nhưng có những âm biểu thị bằng nhiều chữ cái do đó học sinh rất dễ nhầm lẫn,
khó phân biệt.
2


Như chúng ta đã biết chữ viết là một trong những phát minh vĩ đại của con
người. Từ khi ra đời chữ viết là công cụ đắc lực trong việc ghi lại , truyền bá toàn
bộ kho trí thức của nhân loại. Chẳng những vậy con người còn coi chữ viết như
một người bạn thường xuyên gần gũi, thân thiết với mình. Từ tình cảm ấy con
người muốn chữ viết cũng phải đẹp, đẹp cho chính nó, đẹp cho con người. Người ta
thường nói: Một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ là được đến trường, được
học đọc, học viết. Bởi vậy vấn đề rèn luyện chữ viết cho học sinh Tiểu học là vô
cùng quan trọng và cấp thiết . Ngày nay khi công nghệ thông tin ngày càng phát
triển thì việc viết chữ dần dần trở thành thứ yếu. Tuy nhiên, đối với giáo viên, học
sinh tiểu học thì việc viết chữ vẫn chiếm một vai trò rất quan trọng, bởi lẽ tiểu học
đặt nền móng cơ bản cho toàn bộ quá trình học tập, rèn luyện cho học sinh những
phẩm chất đạo đức tốt như: tinh thần kỉ luật, tính cẩn thận và óc thẩm mĩ Chữ đẹp
nết người giống như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “ Chữ viết cũng là biểu
hiện của nết người: Dạy cho học sinh viết đúng, viết đẹp, viết cẩn thận là góp
phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như
đối với thầy cô và bạn đọc bài vở của mình”.
Ngày nay trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, thời đại bùng nổ thông
tin, chữ viết cũng có vi tính làm thay, vậy việc rèn chữ viết có quan trọng không?
Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh ? Đó là câu
hỏi đặt ra cho mỗi người giáo viên tiểu học. Để làm được điều đó đòi hỏi người
giáo viên phải có sự tìm tòi, nghiên cứu và khổ luyện sao cho chữ viết của cô đúng
là mẫu của trò. Đồng thời phải tìm ra các biện pháp hướng dẫn các em rèn chữ viết
sao cho hiệu quả. Đối với học sinh lớp 2, các em vừa mới từ lớp 1 lên, bước đầu
mới làm quen với cách viết cỡ chữ nhỡ và cỡ chữ nhỏ, kỹ năng viết chữ của các em
còn nhiều hạn chế. Các em chỉ mới viết ở mức độ tương đối, ghi nhớ các nét cơ bản
còn chưa chắc chắn, nét chữ còn vụng về. Tốc độ viết còn chậm, kĩ thuật viết và độ
điêu luyện chưa cao. Khi các em lên học lớp 2 yêu cầu chữ viết ở mức độ cao hơn,
có chiều sâu hơn. Học lớp 2, các em một lần nữa được củng cố chữ viết và tăng tốc
độ viết, độ nét, kĩ thuật. Qua đó, ta thấy chữ viết của học sinh lớp 2 là hết sức quan
trọng.Vì vậy, giáo viên dạy lớp 2 phải tăng cường rèn luyện chữ viết cho học sinh
để làm tiền đề cho các lớp trên.
Đặc biệt khi được ngắm nhìn những bài viết đẹp của học sinh các nơi lòng
tôi không khỏi bồi hồi xúc động và nhìn lại trường tôi công tác chữ viết chưa đẹp,
3


chưa đúng mẫu, chưa có học sinh đạt giải trong kỳ thi viết chữ đẹp. Tôi nhận thấy
mình thật có lỗi với các em học sinh, có lỗi với phụ huynh,..Vì thế tôi quyết tâm
tìm tòi tài liệu, học hỏi kinh nghiệm để rèn chữ viết cho các em. Đó chính là lí do
tôi thực hiện đề tài: "Một biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 2 luyện chữ viết".
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng việt trong trường tiểu học
nói chung, lớp 2 nói riêng.
2. Tên sáng kiến: "Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 2 luyện chữ viết".
3. Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên:Nguyễn Thị Thu Hà
- Địa chỉ tác giả sáng kiến:Trường Tiểu học Hoàng Đan
- Số điện thoại:0913 150 338 E_mail:Hathaohoangdan@gmail.com
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Thu Hà
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Hoàng Đan
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 15/8/2014
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
- Về nội dung của sáng kiến:
Việc rèn luyện kỹ năng viết đúng, viết đẹp cho học sinh là vấn đề cấp thiết.
Việc làm ấy không những có tác dụng cụ thể thiết thực đối với học sinh khi còn
ngồi trên ghế nhà trường mà nó còn có tác dụng quan trọng trong việc rèn đức tính
kiên trì, cẩn thận cho học sinh “ Nét chữ - nết người” một trong những đức tính cần
thiết của con người sau này khi trưởng thành. Việc rèn chữ viết cho học sinh Tiểu
học là một việc làm cực kỳ khó khăn. Đòi hỏi người giáo viên phải có lòng kiên trì,
yêu nghề, mến trẻ, tâm huyết với công việc mình làm. Việc làm phải thường xuyên,
liên tục và đồng bộ ở các khối lớp, các cấp học. rèn cho học sinh viết chữ đúng, đẹp
còn góp phần quan trọng vào việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng việt.
Để có chữ viết đẹp học sinh phải trải qua quá trình tập viết. Cho nên trong
quá trình dạy học các môn học ở lớp 2A1, đặc biệt là phân môn Tập viết, tôi luôn
củng cố cho các em những kiến thức và kĩ năng mà các em đã được học ở lớp một,
đồng thời nâng cao dần kĩ thuật viết cho các em thông qua những giải pháp sau:

4


1. Tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ học sinh để xây dựng phong trào
"Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp."
Giáo viên tuyên truyền cho cha mẹ học sinh biết về vai trò quan trọng của "Giữ
vở sạch - Viết chữ đẹp."Hướng dẫn họ trong việc mua sắm vở, bút viết,bao bìa sách
vở...; phổ biến những tiêu chuẩn cụ thể khi xếp loại vở sạch chữ đẹp hàng tháng.
Hàng tháng,từng học kỳ giáo viên thông báo tình hình học tập và rèn luyện
chữ viết của học sinh qua sổ liên lạc để phụ huynh có kế hoạch kèm thêm ở nhà.
2. Xây dựng phong trào "Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp." ngay từ đầu năm
học.
Vào đầu năm học tôi tiến hành kiểm tra sách vở, đồ dùng học tập của học
sinh, hướng dẫn học sinh nên dùng loại vở nào, dùng loại bút nào để luyện
viết,hướng dẫn các em tiêu chuẩn cần phấn đấu để đạt danh hiệu "Vở sạch - chữ
đẹp"
Cần khảo sát phân loại học sinh ngay từ đầu năm để có định hướng kèm cặp
những học sinh viết chữ chưa đẹp
Đối với học sinh có năng khiếu và chữ viết khá đẹp, giáo viên có định hướng
từ đầu và phải luôn chú ý theo dõi, kèm cặp, nhắc nhở để học sinh luôn ghi nhớ,cố
gắng thường xuyên.
3. Khắc sâu biểu tượng về chữ mẫu:
Để thực hiện tốt yêu cầu này, khi giới thiệu về biểu tượng của chữ viết, giáo
viên cần tập cho các em thói quen biết kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tâp.Bởi
lẽ, mẫu chữ là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập viết. Đây là điều kiện đầu
tiên để các em viết đúng.
Điều lưu ý ở đây là mẫu chữ cần đúng theo quy định, rõ ràng và đẹp. Mẫu
chữ phải có tác dụng giúp cho học sinh quan sát,từ đó tạo điều kiện để các em phân
tích hình dáng, kích thước và các nét cơ bản cấu tạo chữ viết trong bài tập viết./
Bên cạnh đó chữ viết của giáo viên khi viết bảng sẽ giúp học sinh nắm được
thứ tự viết các nét của chữ cái hoa,cách nối các chữ cái trong một chữ nhằm đảm
bảo yêu cầu viết liền mạch, viết đúng tốc độ.Khi viết mẫu giáo viên phải viết chậm,
đúng quy tắc, vừa viết vừa phân tích cho học sinh nắm.Khi viết mẫu giáo viên cần
tạo điều kiện cho học sinh thấy tay của giáo viên viết từng nét chữ.

5


Ngoài ra giáo viên cần lưu ý chữ viết của mình khi chữa bài, chấm bài của
học sinh, chữ viết của giáo viên lúc này cũng được coi là chữ mẫu.Vì thế giáo viên
cần có ý thức viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng.
4. Hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu và kỹ năng:
Giáo viên cần dẫn dắt học sinh tiếp xúc với chữ cái hoa sẽ học bằng một hệ
thống câu hỏi,từ việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái hoa, độ cao, kích thước chữ cái
đến việc so sánh các nét giống nhau và nét khác biệt giữa chữ cái hoa đã học với
chữ cái hoa đang phân tích.
Với những câu hỏi khó, giáo viên cần định hướng câu trả lời cho các em.
Giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo chữ viết
chuẩn bị cho giai đoạn luyện tập viết chữ tiếp theo.
5. Giúp học sinh củng cố, nhớ lại và nắm chắc các nét cơ bản:
Từ nhứng nét cơ bản các chữ cái sẽ được tạo thành. Nếu học viết các nét cơ
bản không đúng, không đẹp thì việc viết xấu, viết sai là điều không tránh khỏi.Vì vậy
tôi luôn củng cố cho các em cách viết các nét cơ bản, chú ý điểm đặt bút, dừng bút.
6. Phân loại chữ viết theo nhóm:
Để thuận tiện cho công việc giảng dạy và học sinh dễ dàng hơn trong lúc tập
viết,tôi đã phân loại chữ cái theo các nhóm sau:
a, Chữ viết thường:
+ Nhóm 1: i,u,ư,t,p,y,n,m,v,r,s
+ Nhóm 2: l,b,h,k
+ Nhóm 3: o,ô,ơ,a,ă,â,d,đ,q,g,c,e,ê,x
b. Chữ viết hoa:
+ Nhóm 1: A, Ă, Â, N, M.
+ Nhóm 2: P, R, B, D, Đ
+ Nhóm 3: C,G, S, L, E, Ê, T
+ Nhóm 4: I, K, H, V
+ Nhóm 5: O, Ô, Ơ, Q
+ Nhóm 6: U,Ư,Y, X
Việc chia nhóm như vậy giúp học sinh so sánh được cách viết các con chữ,
tìm ra điểm giống nhau và khác nhau ,độ cao,... Từ đó học sinh nắm chắc cách viết
và các em viết chuẩn hơn. Vì vậy tôi thường cho các em luyện thêm cách viết trong
các tiết học. Khi học sinh viết các con chữ đúng mẫu, thì việc hướng dẫn các em
6


viết nối các nét cũng rất quan trọng.Học sinh biết nối các nét thì bài viết mới rõ
ràng và đẹp hơn, mới đảm bảo tốc độ viết ở những lớp trên.
7. Coi trọng mối quan hệ giữa âm và chữ viết, cách đặt dấu thanh, dấu
câu.
Để việc dạy chữ viết không đơn điệu,chúng ta cần phân tích tìm ra mối quan
hệ giữa âm và chữ viết tức là giữa đọc và viết.
Vì thế trong tiến trình dạy tập viết ,nhất là tập viết những âm mà địa phương dễ
nhầm lẫn chúng ta cần đọc mẫu.Việc viết đúng sẽ củng cố việc dạy đọc đúng và
ngược lại đọc đúng đóng vai trò quan trọng để đảm bảo viết đúng.
Có rất nhiều học sinh đặt dấu thanh sai, điều đó ảnh hưởng không tốt đến
chất lượng bài viết của các em.Khi dạy tập viết tôi hướng dẫn học sinh cách ghi
từng loại dấu:
Các dấu thanh được ghi ở trên hoặc dưới âm chính.
Các dấu của các con chữ ư,ơ cần đặt nhỏ và đặt bên trái con chữ đó.
Các dấu của các con chữ ă,â,ô cần đánh rõ nét, cân đối trên đầu con chữ.
Ngoài ra các dấu câu ( dấu chấm,dấu phảy,..) cần đánh rõ ràng.
Rèn kỹ năng đánh dấ thanh, giáo viên không chỉ rèn luyện thường xuyên trong giờ
tập viết mà còn theo dõi, nhắc nhở trong giờ chính tả và các giờ học khác,
8. Tạo sự gần gũi, thân thiện giữa thầy và trò:
Giáo viên phải thật sự gương mẫu trong việc rèn chữ viết thể hiện qua cách
trình bày bảng, ghi điểm,lời nhận xét trong vở, sổ liên lạc học sinh, giáo viên viết
như thế nào học sinh viết như thế đó.
Chính vì vậy người giáo viên phải có đức tính kiên trì, tận tình. Sự nhiệt tâm
chu đáo của giáo viên là một trong những yếu tố đảm bảo sự thành công của giờ
dạy Tập viết.
Giáo viên bao quát lớp, nhiệt tình tận tụy, chịu khó theo dõi nắm sát tình hình
chữ viết của các em để kịp thời có biện pháp khắc phục.
Giáo viên chữa những lỗi sai phổ biến, hướng dẫn kỹ lại cách viết của chữ
cái đó để học sinh khắc sâu cách viết một lần nữa.
Đối với em chữ viết còn xấu, giáo viên cầm tay hướng dẫn học sinh viết một
đến hai chữ đầu tiên. Giáo viên cho học sinh tự nhận xét chữ viết của mình và bạn,
biết tự tham ra chữa lại lỗi sai.

7


i vi nhng em cú ch vit ỳng mu giỏo viờn hng dn cỏc em luyn
vit ch sỏng to.Khi luyn vit ch sỏng to t trờn xung thỡ ta cn ố to
thnh nột m,nột nht.
Giỏo viờn thng xuyờn cho hc sinh nhn thc c vai trũ v tm quan
trng ca ch vit qua cỏc hỡnh thc nh: nờu gng cỏc bn t thnh tớch trong
k thi vit ch p vũng lp, t, trng, huyn, tnh,...
Giỏo viờn gii thiu cỏc bi vit ca nhng hc sinh t gii cp tnh cỏc
em tham kho. K cho hc sinh nghe gng rốn ch vit ca Cao Bỏ Quỏt, Nguyn
Vn Siờu.T ú giỏo dc cỏc em s tin thng, lũng say mờ, ham thớch vit ch p.
9. Quan tõm n rốn ch vit cho cỏc em tt c cỏc mụn hc cũn li
nh: Toỏn, T nhiờn xa hi, ....
Yờu cu hc sinh t rốn ch vit nh theo ni dung bi Ting Vit (Khong
4 - 5 cõu trong bi tp c) giỏo viờn thng xuyờn kim tra tuyờn dng nhng
hc sinh cú ch vit p; khuyn khớch ng viờn nhng hc sinh cú tin b; un
nn sa sai nhng hc sinh cũn sai sút.
10. Quan tõm n c s vt cht:
Khi thy cỏc iu kin v c s vt cht nh: bn, gh, bng, ỏnh sỏng,...
khụng m bo yờu cu phc v cho vic dy v hc, giỏo viờn cn tham mu vi
BGH, Hi ph huynh,cỏc on th trong nh trng cú bin phỏp khc phc.
* V kh nng ỏp dng ca sỏng kin:
Tôi thiết nghĩ, chữ viết không phải là năng khiếu bõm sinh
sẵn có của con ngời mà viết đẹp hay xấu phụ thuộc phần lớn vào
quá trình rèn luyện. Quá trình đó lại phụ thuộc một phần vào
bản thân ngời học và phụ thuộc phần nhiều vào ngời trực tiếp hớng dẫn chỉ đạo quá trình rèn luyện đó. Vy, trong quỏ trỡnh rốn luyn
ch vit cho hc sinh cn rốn luyn cho cỏc em nhng gỡ? ú l chỳng ta tip tc
cng c k thut vit cỏc nột c bn v nõng cao tc vit, nột ca ch... Mun
cú ch vit p, vic u tiờn cn lm l rốn cho tr cú n np v ky thut vit ch
ỳng thỡ mi cú c s vit ch p.õy chớnh l yờu cu cú tớnh quyt nh
trong vic rốn ch vit trong sut quỏ trỡnh hc tp ca cỏc em.
Từ suy nghĩ đó, đồng thời qua thực tế dạy học sinh luyện
viết chữ đẹp ở trờng, tôi đã rút ra đợc một số giải pháp và tôi đã
8


¸p dông thùc tÕ vµo viÖc rÌn luyÖn ch÷ viÕt cho líp t«i mét c¸ch
kh¸ thµnh c«ng. C¸c gi¶i ph¸p ®ã nh sau:
1, Rèn tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở.
Để giúp các em viết được những nét chữ đúng mẫu, đẹp tôi đã hướng dẫn cả
lớp tư thế ngồi viết: ngồi tư thế ngay ngắn, lưng thẳng, không được tì ngực vào
cạnh bàn, đầu hơi cúi, mắt cách trang giấy khoảng 25 – 30 cm”. Tư thế ngồi viết
không nay ngắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chữ viết. Ngồi nghiêng vẹo sẽ kéo theo
chữ viết không thẳng, bị lệch dòng. Không những thế còn có hại cho sức khoẻ: sẽ
bị cận nếu chúi sát vở, vẹo cột sống, gù lưng... nếu ngồi viết không ngay ngắn.
Trước mỗi giờ viết bài, đặc biệt là giờ học Tập viết tôi thường yêu cầu các em nhắc
lại tư thế ngồi viết câu hỏi: “Muốn viết đẹp con phải ngồi thế nào?”. Dần dần, các
em sẽ có thói quen ngồi đúng tư thế.

TƯ THẾ NGỒI HỌC ĐÚNG

9


TƯ THẾ NGỒI HỌC SAI
Một việc cũng hết sức quan trọng giúp cho việc viết chữ đẹp là cách cầm bút
và cách đặt vở trên bàn. Điều này các em được tôi hướng dẫn kĩ càng: “Khi viết,
các con cần cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón trỏ, ngón cái, ngón giữa) của bàn tay
phải. Đầu ngón trỏ đặt ở phía trên, đầu ngón giữa phía bên trái, phía bên phải của
đầu bút tựa vào đầu đốt giữa ngón tay giữa, cán bút nghiêng về bên phải cổ tay,
khuỷu tay và cánh tay cử động theo mềm mại.”Tôi cũng lưu ý các em cầm bút vừa
phải. Vì nếu cầm bút sát ngòi, quá xa ngòi hoặc ngón giữa đặt vị trí giống ngón trỏ
( như hình minh họa ) thì việc điều khiển bút khi viết sẽ khó khăn, làm cho chữ xấu
mà mực dễ bị giây ra tay, ra vở. Còn vở viết khi viết bài, tôi cũng luôn nhắc học
sinh cách đặt vở sao cho cạnh dưới quyển vở hơi nghiêng so với cạnh bàn. Những
yếu tố tưởng chừng không quan trọng nhưng thực chất đã góp phần tích cực vào
việc rèn chữ cho học sinh.

CÁCH CẦM BÚT ĐÚNG

2. Củng cố các nét cơ bản tạo nên chữ viết thường.
Để viết đúng mẫu, đảm bảo không gây nhầm lẫn các chữ cái với nhau, học
sinh phải nắm được hệ thống nét cấu tạo chữ cái La tinh nghi âm Tiếng Việt. Đây
là cơ sở để viết nhanh, nâng cao tính thẩm mỹ của chữ viết.
a, Các nét thẳng:
+ Thẳng đứng ( | ) : Nét có trong các chữ p, q...
+ Nét ngang ( ) Nét có trong các chữ đ, t...
+ Nét xiên: Xiên phải ( / ), xiên trái ( \ )
+ Nét hất ( / ) : Nét có trong các chữ : i, u, ư...
10


b. Các nét cong.
+ Nét cong kín ( hình bầu dục đứng O ) : Nét có trong các chữ o, ô, ơ, a,...
+ Nét cong hở: Cong phải ( ....), cong trái ( C )...Nét có trong các chữ x, c.
c, Các nét móc:
+ Nét móc xuôi (móc trái) (l) ... Nét cong trong các nét cong các chữ như: a,
ă, i, u,...
+ Nét móc ngược (móc phải) ( ...): Nét có trong các chữ: m, n, v.
+ Nét móc hai đầu có thắt ở gữa ( ...): Nét có trong chữ k.
d, Nét khuyết.
+ Nét khuyết trên ( ...) : Nét có trong các chữ: y, g.
+ Nét khuyết dưới (...): Nét có trong các chữ: b, h, k, l.
e, Nét thắt ( ) : Nét có trong các chữ: b, r, s, v.
Ngoài ra còn một số nét bổ sung: Nét chấm ( trong chữ i). Nét gãy (trong
dấu phụ của chữ ă, â ), dấu hỏi ( ?), dẫu ngã ( ...)
3. Luyện viết đúng kích thước và cỡ chữ ( đúng mẫu ).
Kích thước và cỡ chữ được lấy dòng kẻ trên giấy làm đơn vị đo độ cao hoặc
độ dài của một chữ ( mỗi đơn vị đo độ cao tương ứng với khoảng cách giữa hai dòng kẻ).
Kích thước của chữ viết thường được chia thành năm nhóm.
+ Nhóm chữ có độ cao một đơn vị: a, ă, â, c, e, ê, i, m, n, o, ô, ơ, ư, v, x.
+ Nhóm chữ có độ cao 1,25 đơn vị: r, s.
+ Nhón chữ có độ cao 1,5 đơn vị: t.
+ Nhóm chữ có độ cao 2 đơn vị: d, đ, p, q.
+ Nhóm chữ có độ cao 2,5 đơn vị: g, h, l, k, b, y.
+ Các chữ viết hoa có độ cao giống nhau cao 2,5 đơn vị, trừ chữ G, Y cao 4
đơn vị.
Ví dụ: Quê hương tươi đẹp.
4. Luyện viết các chữ cái theo nhóm.
a, Chữ cái viết thường.
+ Nhóm chữ cái có cấu tạo từ nét cong là cơ bản. c, o, ô, ơ, e, ê, x.
+ Nhóm chữ cái có cấu tạo nét cong phối hợp với nét móc: a, ă, â, d, đ, q.
+ Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, u, ư, n, m, p.
+ Nhóm các chữ cái có chữ cơ bản lã nét khuyết: b, h, l, k, g, y.
+ Nhóm chữ cái có nét móc phối hợp với nét cong : r, v, s,.
11


b, Chữ cái viết hoa:
+ Nhóm chữ A: A, Ă, Â, N, M.
+ Nhóm chư U: U, Ư, Y, V, X, N, M.
+ Nhóm chữ V: V, Y, K, H.
+ Nhóm chữ L: L, S, C, G, E, Ê, C, T.
+ Nhóm chữ P: P, B, R, D, Đ.
+ NHóm chữ O: O, Ô, Ơ, Q.
5. Luyện viết liền mạch.
Khi viết một chữ cái gồm từ hai chữ cái trở nên nối lại với nhau, để đảm bảo
tốc độ viết, học sinh không thể viết rời từng chữ cái mà phải di chuyển dụng cụ viết
đưa nét liên tục theo kỹ thuật viết liền mạch. Viết xong chữ cái đứng trước, viết tiếp
chữ cái đứng sau ( không nhấc bút khi viết)
Ví dụ: Phong cảnh hấp dẫn.
Trong thực tiễn viết chữ ghi tiếng của Tiếng Việt có thể xảy ra các trường
hợp viết liên kết như sau:
a, Trường hợp viết nối thuận lợi:
Đây là trường hợp các chữ đứng trước và đứng sau đều có nét liên kết (gọi
là liên kết hai đầu). Khi viết, người viết chỉ cần đưa tiếp nét bút từ điểm dừng bút
của chữ cái đứng trước nối sang điểm đặt bút của chữ cái đứng sau một cách thuận
lợi theo hướng dịch chuyển của nét bút từ trái sang phải.
Ví dụ:
a nối với ..... an AN.
x nối với inh... .. xinh , XINH.
Ở lại liên kết này có thể xảy ra hai kiểu.
+ Liên kết trong nội bộ phần vần.
Vần không có âm đệm: Chú ý khoảng cách giữa âm chính và âm chính và
âm cuối vần để khoảng cách không hẹp quá hoặc rộng quá.
Nét nối của chữ cái đứng sau là nét nhọn đầu trong các chữ: u, i, y... nét nối
tròn đầu của chữ n, m: chú ý điều tiết nét kết thúc của chữ cái đứng trước sao cho
điểm gặp gỡ với điểm đặt bút của nét chữ đi sau cần tự nhiên không có chỗ gẫy.
Đó là những trường hợp nối các chữ cái mà ở vị trí liên kết không thể viết các
nét nối từ nét cuối của chữ cái đứng trước với điểm bắt đầu của chữ cái đứng sau.
Ví dụ: NA, OA, AC, AO...
12


+ Liên kết một đầu:
Chữ cái đứng trước có liên kết, chữ cái thứ hai không có liên kết.
Ví dụ: Lo
Điểm liên kết sẽ là điểm kết thúc của chữ cái thứ nhất trong vần hoặc trong
tiếng. Khi viết đến điểm dừng bút của chữ cái đứng trước, cần lia bút điểm bắt đầu
của chữ cái đứng sau rồi viết (sao cho nét cong trái chạm vào điểm dừng bút của
chữ cái đứng trước)
Ví dụ: uân, toán
Chữ cái đứng trước không có nét liền hết, chữ cái thứ hai ( đứng sau) có nét
liên kết. Khi viết đến điểm dừng bút của chữ cái đứng trước thì lia bút đến điểm
bắt đầu của chữ cái đứng sau và viết tiếp theo quy trình viết liền mạch bằng một
con chữ.
Ví dụ: xinh xắn.
Khi viết chữ "xinh", cần nối liền nét cuối chữ x với nét đầu chữ i, nét cuối
chữ i với nét đầu chữ n, nét cuối chữ n với nét đầu chữ h rồi nhấc bút viết nét chấm
của chữ i. Từ chữ xinh cách một khoảng bằng con chữ o rồi viết tiếp chữ ''xắn''.
6. Hướng dẫn dấu thanh.
Vị trí của dấu thanh có tác dụng khác biệt các chữ nghi tiếng. Dấu thanh chỉ
đặt vào chữ cái. Các dấu thanh: huyền ( \ ), sắc ( / ), hỏi ( ? ), ngã ( ...) đặt phía trên
các chữ cái. Dấu nặng ( .) đặt phía dưới của chữ
Ví dụ:
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
+ Ở các chữ nghi tiếng không có âm đệm và không có âm cuối vần, dấu
thanh đặt trên hoặc dưới âm chính.
Ví dụ: bố, mẹ,...
+ Ở các chữ nghi tiếng có âm chính là nguyên âm đơn và âm cuối vần cũng
là bán nguyên âm, dấu thanh đặt trên chữ nghi âm đơn làm âm chính.
Ví dụ: Bão, mồi.
+ Ở các chữ nghi tiếng có âm đệm đầu vần, dấu thanh đặt trên hoặc
dưới âm chính.
Ví dụ: tuỳ, quyển, loá.
+ Trường hợp dấu thanh xuất hiện trong các tiếng có nguyên âm đôi ở vần.

13


- Trong trường hợp chữ viết ghi tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm
cuối vần thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ nhất của nguyên âm đôi.
Ví dụ: mùa, lứa, mía.
- Trong trường hợp chữ viết ghi tiếng có nguyên âm đôi nhưng lại có âm cuối
vần thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ hai của nguyên âm đôi.
Ví dụ: rượu, muối,...
+ Trường hợp dấu thanh xuất hiện trong các tiếng mà nguyên âm ở phần đầu
có dấu phụ thì dấu thanh viết như sau:
- Ở các nguyên âm có dấu mũ ( A) : â, ê, ô dấu sắc ( / ) dấu huyền ( \ ), dấu
hỏi ( ? ) được viết hơi cao hơn và hơi lệch về phía phải của mũ.
Ví dụ: ốm, biển, chồng,...
- Ở các nguyên âm có dấu thanh ở vị trí phía trên của dấu ( V )
Ví dụ: cằm, nhắm,...
Do ở tư thế nằm ngang nên khi xuất hiện trong các chữ mà phần vần có
nguyên âm mang dấu phụ, dấu ngã được viết trên các dấu phụ.
Ví dụ: chẵn, mẫn,...
7. Kết hợp với các môn học khác để rèn chữ viết như phân môn. Chính
tả. Tập đọc.
7.1 Phân môn Chính tả.
Trong quá trình dạy Chính tả ( chấm điểm) tôi thường xuyên thống kê các
lỗi mà học sinh hay mắc phải để tìm cách sửa. Các lỗi học sinh hay mắc phải như
lối do không nắm được các đặc điểm về nguyên tắc kết hợp các chữ cái, qui tắc viết
hoa trong Tiếng Việt, lỗi do viết sai với phát âm chuẩn, lỗi do trình bày chưa khoa
học, chưa đúng qui định...
- Cho học sinh học lại qui tắc đánh dấu thanh và thường xuyên kiểm tra lại
như trong lúc kiểm tra bài cũ, luyện viết chữ khó, chữa lỗi.
Ví dụ: Trong chữ ''lúa'' dấu sắc đặt ở vị trí nào? hay trong chữ "cười " dấu
huyền đặt ở vị trí nào?
- Nhắc lại qui tắc viết hoa.
* Tên người, địa danh viết hoa tất cả những con chữ đầu của tiếng.
Ví dụ: Nguyễn Văn An, Kinh Môn,...
- Viết hoa khi mở đầu câu, đoạn (chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của chữ cái
thứ nhất)
14


- Lập bảng để học sinh ghi nhớ qui tắc phân bổ các ký hiệu cùng biểu thị một
âm rôi cho học sinh học thuộc.
Phụ âm.

Kết hợp với các nguyên âm

- c, g, ng.

- a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư.

- k, gh, ngh.

- i, e, ê.

- q.

- u ( làm âm đệm)

- Luyện viết các tiếng, từ khó trước khi viết vào vở (các chữ có phụ âm đầu
dễ lẫn: s/x; l/ n; tr/ ch; r/gi.)
- Tìm từ so sánh giải nghĩa những từ dễ lẫn.
Ví dụ: Lồi/ nồi; suất/ xuất.
- Hướng dẫn học sinh cách trình bày bài khoa học, sạch sẽ đúng mẫu cỡ chữ.
Ở mỗi kiểu bài, nhất là những bài đầu tiên của năm học, tôi hướng dẫn các em rất
cẩn thận.
Ví dụ: Tên bài viết ở giữa dòng, cách đều hai bên cụ thể: Đếm bốn ô vuông
rồi viết.
Đối với những bài chính tả là văn xuôi thì mỗi lần xuống dòng đều phải viết
lùi vào một ô vuông so với dòng kẻ lề.
Ví dụ: Như bài ''Sơn Tinh Thuỷ Tinh"
- Đối với bài chính tả ở thể loại thơ lục bát, câu sáu chữ viết lùi vào so với
câu tám chữ một ô vuông.
Ví dụ: Bài "Mẹ"
- Ở những bài thơ có chia thành khổ thơ thì giữa các khổ thơ để một dòng
trống ngăn cách.
Ví dụ: "Bé nhìn biển"
Khi đọc những bài đầu tiên cho học sinh viết, tôi thường đọc chậm để cho tất cả
học sinh trong lớp đều viết được, sau đó mới đọc nhanh dần đạt đúng tốc độ qui định.
Chấm một số bài ngay trên lớp, phát hiện lỗi, cho học sinh chữa ngay những
lỗi sai cơ bản. Số bài còn lại chấm ở nhà.
- Cho học sinh làm một số bài tập ngay trên lớp như: Điền vào chỗ trống, tìm
và viết các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ( L,n) thì tìm nhanh các từ ngữ chỉ hoạt động
chứa tiếng bắt đầu bằng ( L, n).
Cho học sinh luyện viết chữ sai vào vở.
15


- Luôn nhắc nhở học sinh giữ gìn vở viết sạch đẹp, không làm quăn mép, vẽ
bậy, giây mực vào vở, nhàu vở...Chú ý khi viết tay, chân, quần áo, mặt mũi phải
sạch sẽ,...
7.2 Phân môn tập đọc.
Trong khi dạy Tập đọc, tôi thường luyện cho học sinh phát âm đúng các từ
ngữ dễ lẫn.
Ví dụ: Luyện phát âm đúng các tiếng, từ có phụ âm đầu l/n.
+ Giáo viên nêu: "l" là phụ âm xát vang bên, đầu lưỡi, răng. Khi phát âm đầu
lưỡi chạm hàm trên, lưỡi cong, hơi phát ra ngoài.
''n'' là phụ âm tắc, vang mũi, đầu lưỡi, răng. Khi phát âm lưỡi không cong
lên mà đầu lưỡi hơi đưa vào đẩy hơi qua hai hàm răng.
+ Cho học sinh luyện phát âm l/n bằng cách: Lấy hai ngón tay ( ngón cái và
ngón trỏ) bịt mũi và phát âm l/n. Học sinh dễ nhận thấy khi phát âm "l'' hơi không
đi qua mũi, còn khi phát âm ''n'' hơi sẽ đẩy ra lỗ mũi.
+ Cho học sinh luyện đọc, viết: La, lo, lô, lu, li.
Na, no, nô, nu, ni.
Đi Hà Nội mua cái nồi về nấu cơm nếp.
Lúa lổ lung linh.
Cô nàng ăn nói nết na.
7.3.LuyÖn ch÷ viÕt trong giê tËp viÕt.

Mục tiêu chính của giờ tập viết là rèn luyện kĩ năng viết chữ đúng mẫu và
đẹp. Nội dung Tập viết của học sinh lớp 2 chủ yếu là rèn viết chữ hoa. Từ đó, học
sinh vận dụng vào viết từ ứng dụng và câu ứng dụng tương ứng với chữ chữ hoa
vừahọc.
Đối với việc rèn luyện kĩ năng viết chữ hoa, để viết đúng và đẹp đòi hỏi học sinh
phải nắm được hình dáng, đặc điểm từng con chữ, các nét viết, các thao tác viết
từng chữ và nhóm chữ .
Tâm lý học sinh tiểu học thường thiếu tính kiên trì luyện tập, khó thực hiện
các động tác đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ. Trong khi đó việc rèn luyện các thao tác tập
viết chữ lại đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ và khéo léo cao.
Để khắc phục được nhược điểm này cho học sinh giáo viên cần nắm vững các
thao tác kỹ thuật viết từng con chữ và thường xuyên rèn luyện để có kỹ năng viết
16


chữ hoa thành thạo, đúng, đẹp để viết mẫu cho học sinh. Đồng thời hướng dẫn thật
cụ thể về:
- Cấu tạo các âm trong vần, các vần trong tiếng và các tiếng trong câu.
- Các nét viết, độ cao, khoảng cách giữa các con chữ.
- Thao tác viết mẫu .
7.4. Rèn chữ viết trong tiết luyện viết buổi chiều:
*Một thực tế hiện nay ở các tiết Luyện viết (buổi chiều) hầu hết các giáo viên

thường cho học sinh viết lại một đoạn văn, đoạn thơ đã học, điều này vô hình
chung đã biến tiết Luyện viết ( buổi chiều) gíông đúc như tiết Chính tả ( buổi sáng).
Thực tế này dẫn đến ở học sinh tâm lí nhàm chán và mục đích rèn luyện chữ viết
cho học sinh đạt được cũng không cao. Vì thế, tôi đã suy nghĩ và tìm ra cách dạy
tiết Luyện
viết phù hợp đó là:
- Trong quá trình dạy Luyện viết, tôi định hướng rõ tiết học này cần luyện nhóm
nét cơ bản nào? Cần luyện chữ hoa nào? Dựa vào tiết học trước để định hướng cách
chọn chữ hoa, chọn nét cơ bản dạy cho phù hợp với tiết học sau, đồng thời chỉnh
sửa ngay những lỗi cơ bản mà tiết trước các em còn sai nhiều. Sau khi luyện tốt
phần trên, tôi mới chọn một đoạn văn hoặc bài thơ tương đồng với nội dung luyện
trên cho học sinh vận dụng để luyện viết vào vở. Sau một tiết luyện viết, tôi thu vở
chấm – chữa bài cẩn thận để nhận ra bài viết của các em sai những lỗi gì? Từ đó,
học sinh mới nhận ra những lỗi của mình để sửa chữa và giáo viên cũng biết được
mức tiến bộ của học sinh, định hướng cho tiết học sau.
Ví dụ: Lớp học có nhiều em viết sai lỗi chữ C viết hoa và một số nét cơ bản như :
nét khuyết trên, khuyết dưới...Tôi sẽ cho học sinh luyện viết nhóm nét cơ bản là các
nét khuyết ( khuyết trên, khuyết dưới). Từ đó, học sinh vận dụng luyện viết các
tiếng có chứa các nét mà học sinh còn viết sai. Cuối cùng, tôi cho học sinh vận
dụng viết đoạn văn ( đoạn 1 bài “Cß vµ Cuèc “. Trang 37- sách Tiếng Việt 2Tập2 )...

Cß vµ Cuèc
Cß ®ang léi ruéng b¾t tÐp. Cuèc thÊy vËy tõ trong bôi
rËm lÇn ra, hái :
17


- Chị bắt tép vất vả thế, chẳng sợ bùn bắn hết áo
trắng sao ?
Cò vui vẻ trả lời :
- Khi làm việc, ngại gì bẩn hở chị ?
Ngoi ra, tụi cũn giao thờm mt s bi tp luyn vit nhm thay i hỡnh thc bi
tp, kớch thớch c hng thỳ hc tp ca hc sinh v cng nhm cng c thờm kin
thc cho cỏc phõn mụn khỏc ca mụn Ting Vit nh Luyn t v cõu, Chớnh t.....
Rèn chữ viết trong các giờ học khác:
Vic rốn luyn ch vit khụng phi ch thc hin trong phõn mụn Tp vit v
Chớnh t m phi thc hin cỏc mụn hc khỏc nh vit ch s trong mụn Toỏn,
vit ỳng hnh vn, ng phỏp, chớnh t trong mụn Tp lm vn.v.v...Rốn ch cho
cỏc em khụng ch ngy mt, ngy hai m c mt quỏ trỡnh rốn luyn lõu di. i
vi hc sinh lp 2 vic rốn ch li cng khú vỡ cỏc em va t lp 1 lờn nờn mc
vit ch mang tớnh tng i cha vng chc. rốn ch vit cho cỏc em trong
nhng mụn hc khỏc cú hiu qu, tụi ó phõn chia cỏc ch cn luyn vit theo tng
nhúm ch cỳ nt tng ng giỳp cỏc em cú th vit ch ỳng v p trong cỏc
mụn hc khỏc.
Tụi ó tin hnh luyn cho cỏc em bng cỏch: C u mi tun tụi ghi lờn l
trỏi ca bng lp mt nhúm ch cú nột tng ng. Trong tun ú tụi yờu cu cỏc
em chỳ trng hn v luyn vit nhúm ch ú trong cỏc bi hc.Tựy vo khú ca
tng nhúm ch m cú thi gian luyn thớch hp. Tụi phõn chia luyn vit nh sau:
.1. Ch vit thng: * Nhúm 1: Cỏc ch cú nột cong phi hp vi nột múc hoc nột
thng nh: a, , õ, d, , g. Tụi s dy nhúm ch ny vo 3 tun c th:
Tun 1: Tụi ghi cỏc ch cú nột cong: a, , õ lờn bờn l trỏi ca bng, hng dn hc
sinh khi vit quan sỏt cỏc ch trờn vn dng vit ỳng cỏc ting. Hng ngy
chm bi cho hc sinh, tụi luụn chỳ trong xem cỏc em ó luyn vit tt cỏc ch ny
cha, cú nhn xột chi tit cỏc em chnh sa kp thi.
Tun 2: Tụi ghi tip 3 ch cú nột cong nh: d, , g sang bờn trỏi l bng v tip tc
hng dn hc sinh luyn vit tip nhng ting cú ch tip theo. Yờu cu hc sinh
khi vit cn chỳ ý vo mu vit c chun xỏc. Khi chm bi cỏc mụn hc, tụi

18


gạch chân những chữ viết chưa đúng nét, nhắc nhở để các em biết chính sửa vào
tiết học sau.
Tuần 3 : Tôi củng cố lại tất cả các chữ thuộc nhóm chữ trên, kiểm tra các em viết
xem đã viết đúng các nhóm trên chưa, đánh giá nhận xét cụ thể.
Tiến hành tương tự như thế đối với các nhóm khác.
* Nhóm 2: Các chữ cú nột tương đồng c¬ b¶n lµ nét cong như: o, ô, ơ, c, e, ê, x
Tuần 4: Ghi lên lề trái của bảng các chữ có nét tương đồng cơ bản là nét cong : o,
ô, ơ .Yêu cầu học sinh quan sát kĩ mẫu để vận dung vào viết bài. Tôi theo dõi, kiểm
tra từng em, có nhận xét kịp thời để học sinh chỉnh sửa.
Tuần 5: Ghi tiếp sang bên trái của bảng các chữ e, ê, c, x. Tương tự như thế, tôi
kiểm tra bài làm của các em nhận xét cụ thể qua từng môn học. Yêu cầu học sinh
luyện lại những chữ còn chưa đúng vào tuần tiếp theo.
Tuần 6: Tiếp tục hướng dẫn học sinh luyện viết các chữ của nhóm trên. Nhận xét
chú trọng thêm phần chữ viết cho học sinh.
Tuần 7 : Tôi tiếp tục củng cố lại tất cả các chữ thuộc nhóm chữ trên, kiểm tra các
em viết xem đã viết đúng các nhóm trên chưa, đánh giá nhận xét cụ thể.
* Nhóm 3: Nhóm chữ có nét cơ bản là nét móc như: i, u, ư, n, m, t, p.
Tuần 8: Tương tự trên, tôi cho học sinh luyện các chữ i, u, ư.
Tuần 9: Luyện tiếp chữ n, m, t, p
Tuần 10: Tiếp tục luyện lại các chữ thuộc nhóm chữ trên.
Sau mỗi tuần, tôi kiểm tra, nhận xét cụ thể cách viết của các em. Hướng cho các
em nhận ra những ưu điểm, khắc phục những tồn tại đang còn vấp phải để tiếp tục
luyện lại trong tuần sau.
Tuần 11: Tiếp tục ôn lại các chữ đã luyện trong tuần trước và đặc biệt là các chữ
các em còn viết chưa chính xác ở nhóm chữ luyện trên.
* Nhóm 4: Các chữ có nét khuyết trên, khuyết dưới như: l, h, k, b, g, y
Tuần 12: Tương tự như các tuần, tôi ghi các chữ có nét khuyết trên: l, h, b, k vào
lề trái của bảng để luyện.
Tuần 13: Yêu cầu học sinh tiếp tục luyện các chữ có nét khuyết dưới như: g, y
19


Tuần 14: Tiếp tục củng cố các chữ ở nhóm khuyết trên, khuyết dưới.
* Nhóm 5: Các chữ có nét tương đồng là nét cong( khó), nét thắt như: r, s, v, b.
Tuần 15: Tôi ghi các chữ r, s, v, b sang bên lề trái của bảng . Yêu cầu học sinh luyện.
Tuần 16 : Luyện lại các chữ có nét tương đồng trên.
Tuần 17, tuần 18 : Củng cố các chữ đã luyện trong nhóm 5
Từ tuần 19 trở đi tôi tiếp tục củng cố lại những lỗi mà các em chưa sửa được ....
4.7.2. Mẫu chữ hoa
Tôi cũng chia các nhóm chữ hoa để học sinh luyện tương tự như mẫu chữ
thường cụ thể như sau:
* Nhóm 1: Các chữ : A,Ă, Â, M, N
Tuần 1: Tôi ghi mẫu chữ hoa A, Ă, Â sang lề trái của bảng. Yêu cầu học sinh luyện
được các tiếng có chữ trên. Tôi đi đến từng học sinh quan sát để chỉnh sửa cho các
em.
Tuần 2 : Luyện chữ M, N .Tôi cũng ghi vào bên trái của bảng và hướng dẫn học
sinh luyện.
Tuần 3: Củng cố lại các chữ đã luyện trong nhóm 1.
Tiến hành tương tự như thế đối với các nhóm khác.
* Nhóm 2: Các chữ hoa: C, G, E, Ê, L, S
Tuần 4: Tương tự cho học sinh luyệnchữ hoa: C, G, L
Tuần 5: Luyện chữ hoa: S, E, Ê
Tuần 6: Tiếp tục luyện lại các chữ hoa trên.
Tuần 7: Củng cố lại các chữ hoa đã luyện ở nhóm 2.
* Nhóm 3: Chữ hoa B, R, P, D, Đ
Tuần 8: Luyện chữ hoa B, R, P
Tuần 9: Luyện chữ hoa: D, Đ
Tuần 10: Củng cố lại các chữ hoa đã luyện ở nhóm 3.
* Nhóm 4: Chữ hoa H, I, K, V, T
20


Tuần 11: Luyện chữ hoa: H, I, T
Tuần 12: Luyện chữ hoa K, V
Tuần 13: Luyện lại các chữ hoa đã luyện ở nhóm 4
* Nhóm 5: Chữ hoa U, Ư, Y
Tuần 14: Luyện chữ hoa U, Ư, Y
Tuần 15: Ôn các chữ hoa đã luyện ở nhóm 5
* Nhóm 6: Chữ hoa O, Ô, Ơ, , Q
Tuần 16: Luyện chữ hoa O, Ô, Ơ
Tuần 17: Luyện chữ hoa Q,
Tuần 18: Củng cố luyện lại nhóm 6.
Từ tuần 19 trở đi giáo viên tiếp tục luyện các chữ hoa học sinh viết chưa chính xác
và rèn luyện thường xuyên các chữ hoa.
Với biện pháp rèn chữ viết như trên, tôi thấy học sinh đã nâng chữ viết lên một
cách vượt bậc. Từ đó, Tôi rút ra một điều là luyện chữ viết cho học sinh cần phải có
thời gian. Giáo viên phải chấm chữa bài thật tỉ mỉ, thường xuyên nhắc nhở và đôn
đốc học sinh có ý thức rèn luyện thì lúc đó học sinh mới đạt được kết quả tốt: Trình
bày đẹp , chữ viết rõ ràng, sạch đẹp.
8.Chữ viết của giáo viên.
Để học sinh có chữ viết đẹp thì người giáo viên phải có kỹ năng viết chữ
thành thạo, phải có khả năng viết chữ mẫu cho học sinh noi theo trong mỗi tiết học.
Chữ viết của thầy cô sẽ để lại một ấn tượng và kết quả lâu dài đối với nhiều thế hệ
học sinh rèn chữ mà mỗi giáo viên phải có ý thức rèn chữ viết để có chữ viết chuẩn
mực, là tấm gương để học sinh nôi theo. Ở bậc Tiểu học, chữ viết của thầy cô chính
là nội dung giảng dạy và đồ dùng trực quan để học sinh học tập. Viết trình bày bảng
cần thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cho nên khi trình bày trên bảng cũng
giống như trình bày trên trang giấy cần phải để lề, viết thẳng hàng, nét phấn thanh
mảnh, đều nét, ...từ các vị trí trong lớp học sinh nhìn thấy rõ, không bị loá,...
Ngày ngày các em tiếp xúc với chữ viết của giáo viên thường xuyên trên
bảng lớp. Bởi vậy chữ viết của giáo viên như một tấm gương soi, như một trực
21


quan sinh ng, mt ti liu sng cỏc em hc tp. Vỡ th ch vit ca giỏo viờn
phi chun mi ni, mi lỳc, trong mi chi tit cho dự ú ch l mt nột v, mt
ch s hay mt ng k nh trờn bng lp cng nh li nhn xột trong v ca
hc sinh .
L mt ngi giỏo viờn núi chung v mt ngi giỏo viờn tiu hc núi riờng
thỡ vic rốn ch, luyn vit ca cỏc thy cụ giỏo l mt vic lm thng xuyờn v
cn thit.
9. Biện pháp sữa lỗi chữ viết:

* Đối với học sinh viết sai độ cao các chữ cái:
Trong hệ thống chữ cái Tiếng Việt mỗi nhóm chữ có đặc
điểm riêng và độ cao khác nhau vì vậy khi học sinh mắc lỗi về
độ cao các con chữ giáo viên cần phải:
- Giúp học sinh nắm vững hình dáng, cấu tạo, quá trình viết
chữ cái. Trớc hết giáo viên cần cho học sinh nắm vững các đờng
kẻ trong vở luyện viết, toạ độ các nét chữ, chữ cái trong khung
chữ mẫu.
Trong vở luyện viết (vở ô li) của các em đã có sẵn các đờng kẻ,
giáo viên hớng dẫn học sinh gọi tên các đờng kẻ. Các chữ cái có độ
cao một đơn vị đợc xác định từ dới lên bằng đờng kẻ li 1 và đờng kẻ li 2;...đờng kẻ li 5 các chữ cái có
cao 2 n v c xỏc nh bng ng k li 1 n ng k li 3.
- Phõn loi h thng ch cỏi Ting Vit thnh cỏc nhúm, mi nhúm l cỏc ch cỏi
cú cựng cao hc sinh luyn vit (giỏo viờn gn trong lp hai bng ch cỏi
mu ch in hoa v ch vit thng hc sinh quan sỏt v hc tp).
Vớ d: Cỏc ch cỏi b, g, h, k, l, y cú chiu cao l 2,5 n v tc l bng hai ln ri
chiu cao ghi nguyờn õm (a, o,u, n , m...).
i vi vit s, giỏo viờn cng chia cỏc ch s theo nhúm hc sinh luyn vit.
* i vi hc sinh viờt sai cỏc nột ch:
sa li ny cho hc sinh trc ht giỏo viờn cn cho hc sinh nm chc tờn
gi ca tng nột ch ri hng dn k nng vit cỏc nột ch:
22


- Nét sổ thẳng: Điểm đặt bút trên đường kẻ 3, đưa từ trên xuống,
- Nét cong: Điểm đặt bút ở đường kẻ li 3 hoặc phía dưới 1/3 vòng sang trái hoặc
sang phải tạo nét cong kín hoặc cong trái, cong phải. Khi viết nét cong kín không
nhấc bút, không đưa bút ngược chiều.
- Nét khuyết: Cách viết nét khuyết dựa vào đường kẻ li 2 làm chuẩn.
+ Nét khuyết trên: Điểm đặt bút từ đường kẻ li 2 giữa ô vuông nhỏ 1/2 đơn vị, đưa
nét bút sang phải, lượn vòng lên trên chạm vào đường kẻ li 6 thì kéo thẳng xuống
đường kẻ li 1, điểm dừng bút tại đường kẻ ngang li 1.
+ Nét khuyết dưới: Điểm đặt bút ở đường kẻ li 3 kẻ thẳng xuống gặp đường kẻ
ngang dưới thì lượn cong sang trái, đưa tiếp nét bút sang phải, điểm dừng bút cao
hơn đương kẻ li 1 một chút.
- Nét móc:
+ Nét móc ngược: Điểm đặt bút xuất phát từ đường kẻ li 3 kéo thẳng xuống gần
đường kẻ li 1 thì lượn cong nét bút chạm đường kẻ li 1 rồi đưa vòng lên dừng bút tại li
2.
+ Nét móc xuôi: Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ li 3 trên 1/2 đơn vị, lượn cong
tròn nét bút sang bên phải sau đó viết tiếp nét thẳng đến khi chạm vào đường kẻ li 1
thì dừng lại.
- Nét móc hai đầu: Nét này có phần nét móc xuôi phía trên rộng gấp đôi nét móc
bình thường, phần nét móc phía dưới bằng độ rộng của nét móc ngược. Cách viét
phối hợp giữa nét móc xuôi và nét móc ngược.
- Nét móc hai đầu có vòng ở giữa: Nét này có cấu tạo là một nét cong hở trái và
một nét móc hai đầu biến dạng. Viết nét cong hở trái trước sau đó viết tiếp nét móc
hai đầu. Sự chuyển tiếp giữa hai nét này phải đảm bảo yêu cầu: độ cong của nét
móc hai đầu không quá lớn để kết hợp với nét cong hở tạo thành một vòng khép
kín; điểm kết thúc nằm trên đường kẻ ngang dưới một chút và rộng gấp đôi độ rộng
của nét móc bình thường.
- Nét thắt (nét vòng): Cấu tạo của nét thắt gồm hai nét cong biến thể (một nét cong
hở trái và một nét cong hở phải). Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang giữa một

23


chút đưa nét bút sang phải uốn lượn nhẹ để tạo một nét cong khép kín. Điểm dừng
tại đường kẻ li 2.
c) Đối với học sinh viết sai khoảng cách giữa các con chữ:
Trước hết giáo viên phải cho học sinh nắm vững khoảng cách giữa các con chữ
trong từng tiếng, khoảng cách giữa các con chữ trong từng từ. Giúp học sinh nắm
vững cấu tạo các con chữ dựa vào các ô vuông và các chữ cái được chia thành các
nhóm chữ. Dựa vào đặc điểm cơ bản của một số tiếng mà học sinh cần phải có khoảng
cách giữa các con chữ hay dãn khoảng cách giữa các con chữ.
Ví dụ: nhanh
Trong tiếng “nhanh “ con chữ n phải giãn khoảng với con chữ h thì chữ mới đẹp.
d) Đối với học sinh viết sai vị trí dấu thanh:
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách đánh dấu thanh ngay bên trên hoặc bên
dưới âm chính của tiếng. Điều này không những giúp học sinh đánh dấu thanh
đúng vị trí mà còn giúp các em viết đúng quy trình và nhanh hơn
Ví dụ: nhà trường
Sau khi viết các chữ nh, a, từ điểm dừng bút của chữ a lia bút lên trên đầu
chữ a viết dấu huyền từ trên chéo sang phải không chạm đầu vào chữ cái a. Đối
với tiếng “trường” sau khi viết các chữ cái tr,u, o, ng từ điểm dừng bút của chữ
cái g lia bút lên trên đánh dấu móc của các con chữ ư,ơ cuối cùng là đánh dấu
huyền trên con chữ ơ
10. Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất:
- Giáo viên phải luôn quan tâm đến các điều kiện: Bàn ghế, ánh sáng trong lớp
học, phấn viết và bút viết, vở viết của học sinh .
11. Một số biện pháp khác :
a. Nhân rộng điển hình
Dựa vào đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học là hay bắt chước. Vì thế, ngay từ
đầu năm học, tôi đã phân loại học sinh, đối với học sinh viết chữ tốt, tôi luôn chú
trọng, nhân rộng. Những bài viết đẹp và những bộ hồ sơ đẹp của học sinh. Tôi
trưng bày cho học sinh cả lớp xem để học tập. Ngoài ra, tôi còn phân cho những
24


học sinh viết chữ xấu ngồi gần học sinh có chữ viết đẹp và hướng cho các em học
tập lẫn nhau, nhắc nhở nhau cùng tiến bộ .
Những học sinh nào còn quá yếu tôi cho các em lên ngồi bàn trên để tiện việc
theo dõi và hướng dẫn .
b. Giao việc ở nhà cho học sinh :
Nắm rõ tồn tại của từng học sinh: học sinh yếu và sai phần nào thì giáo viên
giao việc cho học sinh để luyện tập về phần đó. Chẳng hạn : Học sinh sai cách viết
nét thẳng thì giáo viên yêu cầu học sinh luyện viết các chữ có nét thẳng; học sinh
viết sai nét cong thì giáo viên cho học sinh luyện viết các chữ có nét cong ...
Đối với những học sinh có khả năng viết chữ đẹp giáo viên có thể sưu tầm
các bài chữ viết đẹp của những học sinh năm trước hoặc của học sinh lớp khác hay
trong sách báo để giới thiệu với các em, làm mẫu cho các em luyện viết theo.
c. Hàng tháng kiểm tra, chấm điểm vở sạch chữ đẹp, xếp loại nhận xét rõ ràng,
cụ thể từng học sinh, nêu rõ cần bổ sung điểm nào, sửa chữa vấn đề gì và yêu cầu
học sinh khắc phục ngay.
Có tuyên dương khen thưởng hàng tháng để tạo hứng thú, tính tự giác và
niềm say mê trong việc rèn luyện chữ viết.
d. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào việc viết chữ đẹp đó là bút
viết và vở viết. Vì vậy ngay từ đầu năm học giáo viên phải hướng dẫn học sinh mua
loại vở do nhà trường đặt hàng, chọn loại bút máy phù hợp, bút viết nét mảnh, mực
đều đặn.
Giáo viên yêu cầu học sinh viết đúng loại vở quy định của nhà trường, bút
cùng một màu mực vừa thuận tiện trong việc rèn luyện chữ viết, vừa thuận lợi cho
việc xây dựng hồ sơ vở sạch chữ đẹp của lớp.
e. Phối hợp với phụ huynh
Vào đầu năm học, trong cuộc họp phụ huynh đầu năm, trao đổi về tình hình học
tập của các em, tôi mạnh dạn cho phụ huynh xem toàn bộ sách vở của con mình và
xem một số vở của một số học sinh viết đẹp, chuẩn trong lớp , trong trường. Tôi
nêu thêm vai trò của chữ viết trong các môn học khác, một số biện pháp rèn luyện
viết chữ đẹp và các điều kiện cần và đủ để đảm bảo cho việc xây dựng phong trào “
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×