Tải bản đầy đủ

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng viêm non steroid tại khoa khám BVĐK h VT

LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt
thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được
rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết
ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Dược và Điều Dưỡng trường
Đại học Tây Đô đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến
thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Để hoàn thành tốt đề tài “Khảo Sát Tình Hình Sử Dụng Thuốc Kháng Viêm
Non-Steroid tại Khoa Khám – Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Vĩnh Thạnh Thành Phố
cần Thơ”, em xin chân thành cám ơn Cô DS Giang Thị Thu Hồng giảng viên
hướng dẫn trực tiếp cho em, bên cạnh đó em xin chân thành cám ơn BSCKI.
Nguyễn Chính Quyền, DS Trần Bá Phước, DS Võ Quốc Chương, Ks Lê Tuấn Điền
đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp này.
Sau cùng, em xin kính chúc quý Thầy Cô trong khoa Dược và Điều Dưỡng
Trường Đại học Tây Đô, Tập thể Khoa Khám, Tổ tin học, Khoa dược Bệnh Viện
Đa Khoa huyện Vĩnh Thạnh thật dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ
mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.
Trân trọng kính chào!
Vĩnh Thạnh, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện


TRẦN VĂN ĐỨC

i


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em. Các số liệu, kết quả
nêu trong tiểu luận là trung thực và em đã tổng hợp, phân tích số liệu, chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Cần Thơ, ngày

tháng

năm 2018

Sinh viên thực hiện

TRẦN VĂN ĐỨC

ii


TÓM TẮT
Đề tài “Khảo Sát Tình Hình Sử Dụng Thuốc Kháng Viêm Non – Steroid
tại Khoa Khám, Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Vĩnh Thạnh Thành Phố Cần
Thơ” được thực hiện nhằm khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng viêm NonSteroid tại Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Thạnh.
Đề tài đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi cứu với mô tả không đối
chứng trên hồ sơ lưu trữ tại kho lưu trữ hồ sơ bệnh án thuộc Phòng kế hoạch tổng
hợp-Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Thạnh. Theo kết quả khảo sát, các bệnh cơ
xương khớp mà người bệnh phải vào điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh
Thạnh khá phong phú, gồm 17 nhóm bệnh. Trong đó viêm khớp dạng thấp chiếm
20 %, các bệnh viêm đa khớp, viêm, đau các khớp chiếm 23 %, thoái hóa khớp và
cột sống chiếm 35 %, các bệnh còn lại chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều.
Người nhiều tuổi chiếm đa số từ 40 tuổi trở lên, chiếm 85 %, trong đó ở lứa
tuổi từ 51 đến 60 tuổi có tỷ lệ người mắc cao nhất chiếm 31 %, lứa tuổi trên 60 tuổi
trở lên chiếm 42 %, điều này là phù hợp với dịch tễ của các bệnh về cơ, xương,
khớp. Theo nghiên cứu của TS. Đoàn Văn Đệ (Bệnh học nội khoa Học Viện Quân
Y (HVQY)) thoái hoá khớp có biểu hiện đau chiếm 10 % tổng số người bị thoái
hoá. Nếu trên 60 tuổi có 60 % số người bị thoái hoá khớp ở các mức độ khác nhau.


Trung bình cứ 3 người dân thì có một người có đau xương, khớp và 50 % số người
này phải khám bệnh và phải dùng thuốc. [18]
Người bệnh là nữ giới chiếm đến 62 % trong tổng số mẫu nghiên cứu, do là
người bệnh vào viện bị các bệnh như viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, viêm
đa khớp… chiếm số lượng lớn, điều này phù hợp với đặc điểm của bệnh về tuổi và
giới.
Tình trạng người bệnh vào viện phần lớn đều có triệu chứng mệt, đau nhức
các khớp, hạn chế vận động…vì vậy người bệnh đều được sử dụng các thuốc giảm
đau chống viêm không steroid. Việc sử dụng hợp lý những thuốc này đã góp phần
rất lớn để nâng cao hiệu quả điều trị, giảm bớt chi phí và thời gian nằm viện của
người bệnh.
Số người cần dùng thuốc chống viêm không steroid ngày càng tăng, viêm
khớp dạng thấp chiếm khoảng 1-2 % dân số, thoái hóa khớp có biểu hiện đau chiếm
10 % tổng số người bị thoái hóa. Trung bình cứ 3 người dân có một người đau
xương, khớp và 50 % số người này phải khám bệnh và phải dùng thuốc. [9]
Các loại thuốc NSAID gặp trong mẫu khảo sát
iii


Dẫn chất oxicam: meloxicam (Mebilax 7,5 mg, 15 mg); dẫn chất acid
phenylacetic như diclofenac 50 mg, 75 mg; dẫn chất acid salicylic như Aspirin PH8
và Aspegic; dẫn chất anilin như paracetamol.
Mặc dù có lợi ích lớn, phạm vi sử dụng ngày càng rộng nhưng việc dùng
thuốc giảm đau chống viêm không steroid cũng bị giới hạn do một số yếu tố nguy
cơ gây tác dụng phụ của thuốc. Các thuốc dùng kèm để giảm tác dụng phụ phần lớn
là các thuốc chống loét đường tiêu hóa. Các tai biến xảy ra chỉ gặp ở đường tiêu
hóa, có 124 trường hợp trong quá trình điều trị. Trong đó ở nhóm người bệnh được
chỉ định dùng kèm thuốc chống loét thì tỷ lệ xảy ra tai biến thấp hơn so với tỷ lệ tai
biến xảy ra ở nhóm không dùng kèm thuốc chống loét.
Kết quả sau điều trị: đa số người bệnh là người nhiều tuổi, có mắc kèm các
bệnh khác nên khi vào điều trị được kê cho nhiều loại thuốc thuộc các nhóm khác
nhau, để điều trị bệnh, và nâng cao thể trạng bằng các thuốc bổ, cung cấp dinh
dưỡng; sau đợt điều trị số bệnh nhân đạt kết quả đỡ, giảm, chiếm tỷ lệ cao. Dùng
thuốc chống viêm không steroid đã cải thiện chất lượng cuộc sống của hàng triệu
bệnh nhân bị bệnh khớp và các bệnh có đau-viêm mạn tính khác. [18]

iv


MỤC LỤC
Tên

Trang

LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT
DANH SÁCH BẢNG
DANH SÁCH HÌNH
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI TIỆU
2.1 Tổng quan về thuốc giảm đau chống viêm non-steroid
2.1.1 Định nghĩa thuốc giảm đau chống viêm non-steroid
2.1.2 Cơ chế và tác dụng chính

i
ii
iii
vii
viii
ix
1
3
3
3
4

2.1.3 Tác dụng không mong muốn
2.1.4 Chỉ định chung của NSAID
2.1.5 Cách khắc phục tác dụng phụ của thuốc NSAID

8
9
10

2.1.6 Phân loại các thuốc NSAID

11

2.2. Tổng quan về các thuốc NSAID thường dùng tại Bệnh viện đa khoa
huyện Vĩnh Thạnh
2.2.1 Dẫn chất acid salicylic
2.2.2. Dẫn chất acid phenylacetic
2.2.3 Dẫn chất oxicam
2.2.4 Dẫn chất aminophenol
2.2.5 Dẫn chất coxib
2.3 Một số đặc điểm về bệnh xương khớp

12
12
14
15
17
18
22

2.3.1 Một số nguyên nhân đau xương khớp mạn tính thường gặp
2.3.2 Đặc điểm của một số bệnh có đau xương khớp mạn tính thường gặp
2.3.3 Điều trị các bệnh lý về xương khớp
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu
3.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
3.2 Phương pháp nghiên cứu

22
22
24
25
25
25
25
25

v


3.2.1 Phương pháp chọn mẫu

25

3.2.2 Cỡ mẫu
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

26
26

3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
3.2.5 Y đức

26
26

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả về đặc điểm của người bệnh trong mẫu nghiên cứu
4.1.1 Tuổi và giới

27
27
27

4.1.2 Xác định tỉ lệ bệnh nhân đến khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện
Vĩnh Thạnh được chỉ định thuốc Non-steroid
4.1.3 Bệnh xương khớp mắc phải trong mẫu khảo sát
4.1.4 Bệnh mắc kèm khác
4.1.5 Thời gian mắc bệnh

28
29
31
32

4.2 Kết quả về thực trạng sử dụng thuốc NSAID
4.2.1 Các loại thuốc NSAID thường sử dụng trong toa thuốc (01/BV)
4.2.2 Thời gian sử dụng thuốc kháng viêm NSAID trên 1 đơn

33
33
35

4.2.3 Tỉ lệ phối hợp các thuốc NSAID với nhau trong đơn thuốc
4.2.4 Các thuốc khác (thuốc bổ, thuốc điều trị bệnh mắc kèm)

37
38

4.2.5 Các thuốc sử dụng để giảm tác dụng phụ
39
4.2.6 Tỉ lệ đơn thuốc NSAID có tác dụng giữ nước trên bệnh nhân cao huyết áp 40
4.3 Kết quả về đánh giá điều trị
4.3.1 Các ADR đã gặp của thuốc NSAID
4.3.2 Cách khắc phục tác dụng phụ của thuốc NSAID
4.4 Kết quả đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý dược đối với nhóm
thuốc kháng viêm Non-steroid
4.4.1 Đánh giá nguy cơ đường tiêu hóa
4.4.2 Đánh giá nguy cơ tim mạch

41
41
42

4.4.3 Đánh giá nguy cơ tiết niệu
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1 Kết luận
5.2 Đề nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO

49
50
50
51
54

vi

45
46
47


DANH SÁCH BẢNG
Bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Phân loại một số thuốc NSAID thông dụng

11

Bảng 2.2
Bảng 4.1
Bảng 4.2
Bảng 4.3

Phân loại thuốc NSAID trúng thầu năm 2017
Sự phân bố về tuổi của người bệnh trong mẩu nghiên cứu
Bệnh nhân đến khám bệnh năm 2017
Các bệnh xương khớp mắc phải

12
27
28
29

Bảng 4.4

Bệnh mắc kèm

31

Bảng 4.5
Bảng 4.6
Bảng 4.7

Thời gian mắc bệnh
Các loại thuốc NSAID gặp trong toa thuốc khảo khác
Thời gian sử dụng thuốc NSAID

32
33
35

Bảng 4.8
Bảng 4.9
Bảng 4.10

Phối hợp các thuốc NSAID với nhau
Các thuốc dùng kèm
Các thuốc sử dụng để giảm tác dụng phụ

37
38
39

Bảng 4.11

Đơn thuốc NSAID có tác dụng giữ nước trên bệnh nhân
cao huyết áp

40

Bảng 4.12
Bảng 4.13

Các ADR đã gặp
Cách dùng thuốc NSAID

41
42

Bảng 4.14
Bảng 4.15
Bảng 4.16

Tỷ lệ dùng kèm các thuốc chống loét
Tỷ lệ người bị tai biến tiêu hóa
Kết quả điều trị của người bệnh

43
43
44

vii


DANH SÁCH HÌNH
Hình

Tên hình

Trang

Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3

Vai trò của Enzym cyclooxygenase và lipoxygenase
Cơ chế gây viêm và tác dụng của thuốc NSAID
Cơ chế gây sốt và tác dụng của thuốc NSAID

4
5
7

Hình 2.4
Hình 4.1

Cơ chế chống kết dính tiểu cầu của Aspirin
Sự phân bố về giới của người bệnh

8
27

Hình 4.2
Hình 4.3

Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc Non-steroid
Các bệnh xương khớp mắc phải

28
30

Hình 4.4
Hình 4.5
Hình 4.6
Hình 4.7
Hình 4.8
Hình 4.9
Hình 4.10

Tỉ lệ các loại thuốc NSAID gặp trong mẫu khảo sát
Thời gian sử dụng thuốc kháng viêm
Tỉ lệ phối hợp thuốc kháng viêm NSAID
Đơn thuốc NSAID/Bệnh nhân cao huyết áp
Đánh giá nguy cơ sử dụng
Đánh giá nguy cơ đường tiêu hóa
Đánh giá nguy cơ trên tim mạch

34
35
37
40
45
46
47

Hình 4.11

Đánh giá nguy cơ trên tiết niệu

49

viii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt

Tên đầy đủ

ASAS

Tiêu chí đáp ứng trong viêm cột sống dính khớp

ADR
HVQY
GNP
PHCN

Adverse Drug Reactions (Phản ứng có hại của thuốc)
Học viện Quân y
Gross National Product (Tổng sản phẩm quốc gia)
Phục hồi chức năng

NSAID

Non Steroid Anti-Inflammatory Drug (Thuốc chống viêm

CYP
PG

Non-Steroid)
50 loại enzymes Cytochrom P thuộc nhóm monooxygenase
Prostaglandin

COX
LOX
ACR

Cyclooxygenase
Lipooxygenase
American College of Rheumatology (Hội thấp khớp học Mỹ)

HIV

Human Immunodeficiency Virus (Virus gây suy giảm miễn
dịch ở Người)

G6PD
KHTH

Glucose-6-phosphat dehydrogenase
Phòng kế hoạch tổng hợp

DS
DSCK
BSCK
KS
VKDT
THK&CS
DK

Dược sĩ
Dược sĩ chuyên khoa
Bác sĩ chuyên khoa
Kỹ sư
Viêm khớp dạng thấp
Thoái hóa khớp & cột sống
Đau khớp

VQKV
VKCoCh
VKCuChau
VKG
LX
HTVKCXD
VDK
TDKG

Viêm quanh khớp vai
Viêm khớp cổ chân
Viêm khớp cùng chậu
Viêm khớp gối
Loãng xương
Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi
Viêm đa khớp
Tràn dịch khớp gối
ix


Gut

Gút

VMHD
VDBG

Viêm màng hoạt dịch
Viêm điểm bám gân

VC
LDC

Viêm cơ
Loạn dưỡng cơ

VGCNDV
WOMAC

Viêm gân cơ nhị đầu vai
Đại học Western Ontario và McMaster (Chỉ số tổng hợp các
đại lượng đo lường về đau)

x


CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
Tuổi thọ ngày càng cao nên tỷ lệ người có tuổi lớn hơn hoặc bằng 65 tuổi)
trong cộng đồng cũng ngày càng tăng. Theo thống kê gần đây của Tổ chức Y tế
Thế giới, người cao tuổi đang chiếm 11–12 % dân số, ước tính đến năm 2020 con
số này sẽ lên đến 17 %, thậm chí có thể lên tới 25 % ở các nước Âu, Mỹ. Tuổi thọ
tăng cao, dân số thế giới ngày càng già đi và tuổi già đã trở thành thách thức của
nhân loại. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người đặc biệt là cho người có
tuổi, một bộ phận rất quan trọng trong mỗi gia đình và cộng đồng đang là một mục
tiêu quan trọng của công tác y tế trong giai đoạn chuyển tiếp sang thiên niên kỷ
mới.
Một trong những căn bệnh đeo đẳng cuộc sống của con người khó có thể điều
trị khỏi đó là các bệnh lý về xương khớp (chiếm tỷ lệ cao nhất cả ở các nước phát
triển và đang phát triển). Các bệnh tuy ít gây tử vong nhưng gây đau đớn kéo dài
cho hàng trăm triệu người, bệnh thường kéo dài và có thể gây tàn phế cho nhiều
người. Nhóm bệnh lý này gắn liền với nghỉ việc, giảm năng suất lao động và hạn
chế hoạt động hàng ngày. Trong tương lai, tỷ lệ này còn đang tiếp tục tăng cao vì
sự gia tăng tuổi thọ... Ngoài tác động rất lớn về kinh tế, xã hội, các bệnh xương
khớp còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý tình cảm của con người. Chỉ riêng ở Mỹ,
thiệt hại do nghỉ việc, giảm năng suất lao động của các bệnh xương khớp tương
đương với 2,5 % tổng sản phẩm quốc gia (GNP) các bệnh xương khớp ảnh hưởng
hàng trăm triệu người, mà ước tính tiêu tốn của xã hội tới 215 tỷ USD hàng năm.
Tạo ra một gánh nặng cho gia đình và xã hội. [21]
Các thuốc giảm đau chống viêm Non-Steroid là những thuốc được lựa chọn
đầu tiên trong điều trị các bệnh xương khớp, với các tác dụng giảm đau, chống
viêm. Được sử dụng với nhiều chế phẩm, biệt dược và nhiều dạng bào chế rất
phong phú. Do hiểu biết về cách sử dụng của từng dạng bào chế của người dân nói
chung còn nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quả điều trị nhiều khi không đạt được như
mong muốn. Việc sử dụng thuốc, kê đơn thuốc cho bệnh nhân tại các bệnh viện
nhiều khi vẫn thực hiện theo thói quen của người đi trước truyền lại, và có thể còn
vì lợi nhuận kinh tế, chưa chú trọng nhiều về lựa chọn loại thuốc, dạng thuốc và
hướng dẫn sử dụng hợp lý cho từng người bệnh theo đúng nguyên tắc sử dụng
thuốc. Vì vậy vấn đề sử dụng thuốc giảm đau chống viêm Non-Steroid trong điều
trị tại bệnh viện như thế nào để đạt hiệu quả điều trị tốt và hạn chế các tác dụng phụ
của thuốc là một vấn đề luôn được quan tâm.

1


Bệnh viện Đa Khoa Huyện Vĩnh Thạnh Thành phố Cần Thơ là một bệnh viện
đa khoa loại II thuộc tuyến huyện, phục vụ điều trị không chỉ cho nhân dân huyện
mà còn cho cả người dân các huyện lân cận trong Thành phố Cần Thơ và các tỉnh
lân cận như Kiên Giang, An Giang… với đặc điểm bệnh nhân đa phần là người lớn
tuổi. Do trình độ dân trí và mức sống nói chung còn thấp, nên việc quan tâm đến
sức khỏe, phát hiện bệnh và dùng thuốc thường là hạn chế. Trong danh mục thuốc
điều trị các bệnh về xương khớp của bệnh viện, thì nhóm thuốc giảm đau, chống
viêm Non-Steroid chiếm tỷ lệ khá cao trong kinh phí thuốc hàng năm. Đây là một
nhóm thuốc đầu tay của các thầy thuốc để làm giảm đau đớn cho người bệnh,
nhưng nhóm thuốc này cũng có rất nhiều tác dụng phụ, nếu không cẩn thận dễ gây
ra những tác dụng không mong muốn, những tai biến đáng tiếc.
Theo qui chế Dược của Việt Nam, thuốc kháng viêm Non-Steroid là thuốc
phải kê đơn ngoại trừ paracetamol và aspirin là không phải kê đơn, nhưng một số
bệnh nhân có thói quen không tái khám mà vẫn sử dụng lại đơn thuốc cũ hay mượn
đơn thuốc của những người quen có triệu chứng bệnh giống mình rồi tự đến nhà
thuốc để mua, đưa đến việc sử dụng thuốc kháng viêm Non-Steroid ở ngoài cộng
đồng ngày càng nhiều dẫn đến những tai biến rất nghiêm trọng do tác dụng phụ của
thuốc kháng viêm Non-Steroid gây ra như loét dạ dày – tá tràng, xuất huyết đường
tiêu hóa v.v…
Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Thạnh trong năm 2017 và quí 1/2018 đã sử
dụng lượng thuốc kháng viêm Non-Steroid khá nhiều để điều trị trong các bệnh về
khớp, cột sống và phối hợp với một số thuốc kháng sinh để điều trị nhiễm trùng. Vì
vậy đề tài “Khảo Sát Tình Hình Sử Dụng Thuốc Kháng Viêm Non–Steroid tại
Khoa Khám, Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Vĩnh Thạnh Thành Phố Cần Thơ”
được thực hiện với các mục tiêu sau:
- Phân tích tình hình sử dụng thuốc kháng viêm Non-Steroid tại Khoa Khám,
Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Thạnh Thành Phố Cần Thơ.
- Đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý dược đối với nhóm thuốc kháng
viêm Non-Steroid.

2


CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về thuốc giảm đau chống viêm non-steroid
Hyppocrates người được coi là ông tổ của nghề y, đã phát hiện ra tác dụng
giảm đau hạ sốt của nước chiết xuất từ vỏ cây liễu (còn gọi là cây thùy dương). Đến
năm 1899, sản phẩm aspirin đầu tiên của hãng Bayer được lưu hành trên thị trường.
Sau aspirin, là phenylbutason (1949) và indomethacin (1963) được tổng hợp. Tiếp
theo là sự ra đời của hàng loạt thế hệ thuốc NSAID khác như: ibuprofen (1969),
fenoprofen (1970), ketoprofen (1973), naproxen (1974), acid tiaprofenic (1975),
sulidac (1976), diflunisal (1977), piroxicam (1981), nimesulide (1983), acemetacin
(1985), tenoxicam (1987), meloxicam (1996), và gần đây là celecoxib, rofecoxib
(1998)...
2.1.1 Định nghĩa thuốc giảm đau chống viêm non-steroid
Các thuốc chống viêm Non-Steroid là một nhóm gồm nhiều thuốc khác nhau
về cấu trúc hóa học. Các thuốc trong nhóm đều có tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống
viêm ở những mức độ khác nhau không thuộc nhóm các Opiat và trong cấu tạo của
chúng không có cấu trúc Steroid, do đó được gọi là các thuốc chống viêm NonSteroid (Non Steroidal Anti-Inflammatory Drug hay NSAID), và không có tác dụng
hormon. [3].
Các chất thuộc nhóm này có cùng cơ chế tác dụng là ức chế sự tạo thành
Prostaglandin. Chất trung gian hóa học khởi phát nhiều quá trình sinh lý và bệnh lý
của cơ thể. Prostaglandin sẽ khơi mào cho việc tạo ra các chất trung gian hóa học
khác như serotonin, bradikinin, histamin…ở ngọn sợi cảm giác (ngoại vi) nên các
thuốc nhóm này được xếp vào nhóm giảm đau ngoại vi. [6]
Một số chất đồng thời có cả ba tác dụng trên, có thể có một, hai tác dụng trội
hơn hoặc không có một tác dụng nào đó (paracetamol không có tác dụng chống
viêm) nhưng cùng một cơ chế tác dụng. [3]

3


2.1.2 Cơ chế và tác dụng chính
2.1.2.1 Cơ chế ức chế quá trình sinh tổng hợp Prostaglandin (PG)
PG được tổng hợp ở màng tế bào (tử cung, phổi, não, tuyến ức, tuyến tụy,
thận, …) từ acid arachidonic qua xúc tác của Enzym cyclooxygenase (COX). Acid
arachidonic được hình thành từ phospholipid màng tế bào nhờ phospholipase A2.
Bình thường lượng acid arachidonic tự do trong huyết tương rất thấp, chủ yếu từ
thức ăn và từ mô mỡ. Do đó mức độ tạo thành các PG cũng rất thấp. Nhưng khi bị
kích thích, acid arachidonic tự do được giải phóng ra nhiều và chủ yếu là từ
phospholipid của màng tế bào. Nếu có tác nhân gây viêm, gây sốt, gây đau kích
thích vào cơ thể, sẽ hoạt hóa sự tổng hợp PG là chất vừa có khả năng gây ra, vừa có
khả năng làm tăng viêm, sốt, đau.
Phospholipid màng
Phospholipase A2
Acid arachidonic

COX 1
Thromboxan A 2

COX 2
Prostaglandin

Prostaglandin

sinh lý

gây viêm

Kết tập

- Tăng bài tiết chất nhày

tiểu cầu

- Tăng sức lọc cầu thận

LOX
Leukotrien

-Viêm dạ dày

- Viêm

Co thắt phế quản

Hình 2.1 Vai trò của Enzym cyclooxygenase (COX)
và lipooxygenase (LOX) [4]
PG có nhiều loại, hay gặp là PGE, PGF. Khi có những kích thích gây viêm
đều làm tăng tổng hợp PG. Trong cơ thể luôn có sự tổng hợp PG từ acid
arachidonic dưới tác dụng của COX. PGE-2 và Prostacyclin (PGI-2) làm giãn tiểu

4


động mạch, tiểu tĩnh mạch, gây ban đỏ, nóng, phù nề. PG làm cho những ngọn dây
thần kinh đi tới (afferent) gây đau nhạy cảm hơn với chất được giải phóng tại ổ
viêm. PGE-1 gây sốt, PGF-2α gây co cơ trơn phế quản rất mạnh; ngược lại, PGE-1,
PGE2 làm giãn phế quản. Ngoài ra, PGE-2 và PGE-2α làm tăng biên độ và tần số
co bóp của tử cung có thai. [16]
Cơ chế tác dụng chủ yếu của nhóm thuốc là ức chế enzym Cyclooxygenase.
[3]
2.1.2.2 Cơ chế và tác dụng chống viêm của NSAID
Cơ chế chống viêm
Các thuốc NSAID đều ức chế enzyme COX ngăn cản tổng hợp Prostaglandin
là chất trung gian hóa học gây viêm, do đó làm giảm quá trình viêm (đây là cơ chế
quan trọng nhất). [2]
Phospholipid màng

Thuốc chống viêm

Phospholipase A 2

Acid arachidonic
Lipooxygenase

(-)
Cyclooxygenase

Leucotrien

C. D. E

không Steroid

Prostaglandin

B4

Viêm

Co thắt phế quản
Hình 2.2: Cơ chế gây viêm và tác dụng của thuốc NSAID [2]
Người ta tìm ra 2 loại enzym COX: COX-1 và COX-2, COX-1 có nhiều ở các
tế bào lành, tạo ra các PG cần cho tác dụng sinh lý bình thường ở một số cơ quan
trong cơ thể, duy trì cân bằng nội mô, bảo vệ niêm mạc dạ dày, thận. Trong khi đó
COX-2 chỉ xuất hiện ở các tổ chức bị tổn thương, có vai trò tạo ra các PG gây
viêm. [2]
5


Đa số các NSAID ức chế cả COX-1 và COX-2, ít có tác dụng lựa chọn trên
COX-2 nên kèm theo tác dụng chống viêm của NSAID là tác dụng gây viêm loét
dạ dày. Chính vì thế, xu hướng mới là tạo ra các thuốc chống viêm có tác dụng
chọn lọc lên enzym COX để thuốc không ảnh hưởng tới chức năng sinh lý bình
thường, giảm tác dụng không mong muốn mà vẫn duy trì được tác dụng chống
viêm. [2]
Tác dụng giảm đau
Thuốc có tác dụng giảm đau từ đau nhẹ đến đau vừa, vị trí tác dụng là ở các
reseptor cảm giác ngoại vi. Tác dụng tốt với các loại đau, đặc biệt là các chứng đau
do viêm. Khác với các thuốc giảm đau trung ương (nhóm opiat), thuốc giảm đau,
hạ sốt, chống viêm không có tác dụng giảm đau mạnh, không giảm đau sâu trong
nội tạng, không gây ức chế hô hấp và đặc biệt không gây lệ thuộc thuốc khi dùng
kéo dài.
Cơ chế giảm đau: Thuốc làm giảm tổng hợp PGF-2, làm giảm tính cảm thụ
của ngọn dây thần kinh cảm giác với các chất gây đau của phản ứng viêm như
bradykinin, serotonin. [2]

6


Tác dụng hạ sốt
Pyrogen ngoại
lai

Bạch cầu

Pyrogen nội tại
(+)

Cyclo-oxygenase

Trung
(-)

THUỐC
HẠ SỐT

(-)

khu
điều

hòa
thân
Phospholipit
màng

A.arachidonic

PG (E1, E2)

TKTƯ
-Rung cơ;
-Tăng hô hấp.

TKTV
-Co mạch;
-Tăng chuyển hóa.

GÂY SỐT

Hình 2.3 Cơ chế gây sốt và tác dụng của thuốc NSAID [15]

7

nhiệt


Tác dụng chống kết tập tiểu cầu

Hình 2.4 Cơ chế chống kết dính tiểu cầu của aspirin [2]
Các tác dụng khác
Ngoài ra các thuốc này còn đối kháng với hệ enzym phân hủy protein, ngăn
cản quá trình biến đổi protein làm vững bền màng lysosom và đối kháng tác dụng
các chất trung gian hóa học như bradykinin, histamin, serotonin, ức chế hóa hướng
động bạch cầu, ức chế sự di chuyển của bạch cầu tới ổ viêm, ngăn cản quá trình kết
hợp kháng nguyên và kháng thể, hủy fibrin. [2]
2.1.3 Tác dụng không mong muốn
Tác dụng không mong muốn của các thuốc NSAID chủ yếu liên quan đến tác
dụng ức chế tổng hợp PG. [2]

8


2.1.3.1 Tác dụng trên tiêu hóa
Kích ứng, đau thượng vị, nặng hơn có thể loét dạ dày tá tràng, xuất huyết tiêu
hóa, … nguyên nhân là do thuốc ức chế tổng hợp PGE-1 và PGE-2 làm giảm tiết
chất nhầy và các chất bảo vệ niêm mạc, tạo thuận lợi cho các yếu tố gây loét xâm
lấn. [2]
2.1.3.2 Tác dụng trên máu
Kéo dài thời gian chảy máu do thuốc ức chế kết tập tiểu cầu, giảm tiểu cầu và
giảm prothrombin. Hậu quả gây kéo dài thời gian đông máu, mất máu không nhìn
thấy qua phân, tăng nguy cơ chảy máu. [2]
2.1.3.3 Tác dụng trên thận
Do ức chế PGE-2 và PGI-2 (là những chất có vai trò duy trì dòng máu đến
thận) nên làm giảm lưu lượng máu qua thận, giảm sức lọc cầu thận, giảm thải dẫn
đến ứ nước, tăng kali máu và viêm thận kẽ. [2]
2.1.3.4 Tác dụng trên hô hấp
Gây cơn hen giả trên người không bị hen hoặc làm tăng các cơn hen ở người
hen phế quản. Nguyên nhân do thuốc ức chế cyclooxygenase nên acid arachidonic
tăng cường chuyển hóa theo con đường tạo ra leukotrien gây co thắt phế quản. [2]
2.1.3.5 Các tác dụng không mong muốn khác
Mẫn cảm (ban da, mề đay, sốc quá mẫn).
Gây độc với gan.
Gây dị tật ở thai nhi nếu dùng thuốc trong 3 tháng đầu của thai kỳ, hoặc kéo
dài thời kỳ mang thai và làm chậm chuyển dạ, xuất huyết khi sinh vì PGE làm tăng
co bóp tử cung. [2]
2.1.4 Chỉ định chung của NSAID
Giảm đau ở mức độ nhẹ và trung bình, đặc biệt hiệu quả đối với các loại đau
có kèm viêm.
Hạ sốt do mọi nguyên nhân gây sốt.
Chống viêm: các dạng viêm cấp và mạn (viêm khớp dạng thấp, thấp khớp
cấp, viêm cột sống dính khớp, bệnh gút). [2]

9


2.1.5 Cách khắc phục tác dụng phụ của thuốc NSAID [1]
2.1.5.1 Cách uống thuốc
Các thuốc NSAID (trừ paracetamol) gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa
nên những thuốc này được chỉ định uống sau bữa ăn. Đối với những thuốc bị thức
ăn làm giảm hấp thu (aspirin) thì nên chọn dạng bào chế thích hợp như viên sủi,
viên bao tan ở ruột…hay trước khi uống nên dùng hồ tinh bột, cháo loãng hoặc sữa
để bao đường tiêu hóa trước.
Đối với viên nén trần thì phải uống sau bữa ăn, nhai kỹ viên và kèm theo uống
nhiều nước (khoảng 200 ml nước) để giảm thời gian lưu thuốc ở dạ dày.
Đối với viên bao tan ở ruột thì nên uống xa bữa ăn (khoảng 30 phút trước khi
ăn hoặc 2 giờ sau khi ăn, vì nếu uống cùng thức ăn thuốc có thể lưu lại ở dạ dày lâu
(từ 1-8 giờ) dễ làm màng bao viên bị vỡ.
Đối với viên sủi, thuốc bột khi pha thành dung dịch thì có thể uống trước hay
sau bữa ăn, bởi vì dạng dung dịch thuốc không bị cản trở bởi thức ăn mà nhanh
chóng được chuyển xuống ruột nên tránh được tác dụng kích ứng dạ dày.
Trong mọi trường hợp nên uống nhiều nước. Lượng nước lớn có tác dụng làm
tăng độ tan của thuốc, giúp cho thuốc tiếp xúc với bề mặt rộng lớn của ống tiêu hóa
tốt hơn, do tăng diện tích tiếp xúc nên thuốc hấp thu nhanh hơn.
2.1.5.2 Cách lựa chọn dạng bào chế
Dựa vào ưu nhược điểm của các dạng bào chế của các thuốc NSAID, để tránh
tác dụng kích ứng dạ dày có thể dùng các dạng viên bao tan ở ruột, viên sủi, thuốc
bột, thuốc đạn. Trong trường hợp người bệnh bị đau cấp tính, cần thuốc xuất hiện
tác dụng nhanh thì nên sử dụng thuốc tiêm.
2.1.5.3 Các thuốc dùng kèm khác
Để điều trị dự phòng, làm giảm các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, có thể
dùng các nhóm sau
Nhóm thuốc ức chế bơm proton (omeprazol 20 mg) hoặc ức chế H-2
(famotidin 40 mg) uống mỗi tối trước khi đi ngủ.
Misoprostol (cytotex): chất đồng đẳng của Prostaglandine E1 200 μg/viên, 4
viên/24h, chia 4 lần; sau 3 bữa ăn và trước khi đi ngủ.
Các thuốc bọc niêm mạc ít hiệu quả, nếu chỉ định dùng phải dùng sau ăn 1-2
giờ để tránh cản trở hấp thu thuốc chống viêm Non-Steroid.
Hiện nay đã có một số thuốc ức chế COX-2, có thể giảm bớt các tai biến trên
đường tiêu hóa, do đó có thể chỉ định với các đối tượng có nguy cơ cao.
10


2.1.6 Phân loại các thuốc NSAID
Dựa theo cấu trúc hóa học, nhóm thuốc mà ta có bảng phân loại sau
Bảng 2.1. Phân loại một số thuốc NSAID thông dụng. [2]
Dẫn chất

Thuốc cụ thể

Tác dụng

Acid acetylsalicylic
Acid salicylic

Methylsalicylat
Diflunisal
Phenylbutazon

Pyrazolon

Indol
Oxicam

Acid propionic

Metamizol
Noramidopyrin
Indomethacin, Sulin dac
Tolmentin, Etodolac
Piroxicam, Tenoxicam
Meloxicam

Giảm đau, hạ sốt, chống
viêm

Ibuprofen. Ketoprofen
Naproxen, Fenoprofen
Flurbiprofen, Oxaprozin

Acid phenylacetic

Diclophenac

Acid fenamic

Acid Mefenamic
Acid meclofenamic

Coxib

Celecoxib, Rofecoxib
Valdecoxib

Aminophenol

Acetaminophen

Hạ sốt, giảm đau

Acid floctafenic

Floctafenin

Giảm đau

Dẫn chất pyrazolon hiện nay hầu như không dùng do có độc tính cao với máu,
thận (suy tủy) và là một trong những nhóm thuốc đầu bảng gây hội chứng StevensJohnson.
Acetaminophen là một chất thuốc nhóm NSAID nhưng không có tác dụng
chống viêm, có một số tài liệu xếp vào các thuốc giảm đau không thuộc nhóm
opiat.

11


2.2. Tổng quan về các thuốc NSAID thường dùng tại Bệnh viện đa khoa huyện
Vĩnh Thạnh Thành Phố Cần Thơ.
Dựa theo cấu trúc hóa học, thuốc NSAID trúng thầu năm 2017 ta có bảng
phân loại sau
Bảng 2.2 Phân loại thuốc NSAID trúng thầu năm 2017
Dẫn chất

Thuốc cụ thể

Tác dụng

Acid salicylic

Aspegic

Giảm đau, hạ sốt
chống viêm

Acid phenylacetic

Aspirin 81 mg
Diclofenac
Voltarel
Diclofenac gel

Oxicam
Aminophenol

Mebilax
Meloxicam
Partamol tab
Hapacol
Efferangan

Hạ sốt, giảm đau

Sotraphar Notazin
Coxib

Celosti
Agileccox
Vicoxib

Giảm đau, hạ sốt
chống viêm

2.2.1 Dẫn chất acid salicylic
Thuốc aspirin [7]
Tên chung quốc tế: Aspirin.
Biệt dược và dạng thuốc: Aspegic, viên bao tan ở ruột aspirin viên nén 81 mg.
Thuốc có tác dụng giảm đau, hạ sốt, chống viêm ức chế kết tập tiểu cầu.
Aspirin ức chế không thuận nghịch cyclooxygenase, do đó ức chế tổng hợp
prostaglandin
Khả dụng sinh học uống (%): 68±3 %.
Gắn với protein huyết tương (%): 49 %. Tăng urê máu làm giảm gắn với
protein huyết tương.

12


Ðộ thanh thải (ml/phút/kg): 9,3 ±1,1 ml/phút/kg. Ðộ thanh thải thay đổi ở
người cao tuổi, người xơ gan.
Thể tích phân bố (lít/kg): 0,15 ± 0,03 lít/kg.
Nửa đời (giờ): 0,25±0,03 giờ. Nửa đời thay đổi ở người viêm gan.
Ðào thải qua thận chủ yếu dưới dạng acid salicylic tự do và các chất chuyển
hóa liên hợp.
Chỉ định:
Thuốc được chỉ định để giảm các cơn đau nhẹ và vừa, đồng thời giảm sốt. Vì
có tỷ lệ cao về tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, nên aspirin hay được thay thế
bằng paracetamol, dung nạp tốt hơn. Aspirin cũng được sử dụng trong viêm cấp và
mạn như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp dạng thấp thiếu niên, viêm (thoái hóa)
xương khớp và viêm đốt sống dạng thấp.
Nhờ có tác dụng chống kết tập tiểu cầu, aspirin được sử dụng trong dự phòng
thứ phát nhồi máu cơ tim và đột quỵ ở những người bệnh có tiền sử về bệnh này.
Chống chỉ định:
Do nguy cơ dị ứng chéo, không dùng aspirin cho người đã có triệu chứng hen,
viêm mũi hoặc mày đay khi dùng aspirin hoặc những thuốc chống viêm NSAID
trước đây. Người có tiền sử bệnh hen không được dùng aspirin do nguy cơ gây hen
thông qua tương tác với cân bằng prostaglandin và thromboxan.
Không dùng aspirin cho những người có bệnh ưa chảy máu, giảm tiểu cầu,
loét dạ dày hoặc tá tràng đang hoạt động, suy tim vừa và nặng, suy gan, suy thận,
đặc biệt người có tốc độ lọc cầu thận dưới 30 ml/phút và xơ gan.
Tác dụng không mong muốn
ADR phổ biến nhất liên quan
đến hệ tiêu hóa, thần kinh và cầm máu.
Tần số ADR phụ thuộc vào liều. Thường gặp nhất là triệu chứng tiêu hóa và ở
liều cao (trên 3 g/1 ngày).
Liều lượng và cách dùng:
Người lớn: (liều dùng cho người cân nặng 70 kg)
Giảm đau/ hạ sốt: uống 325 mg đến 650 mg, cách 4 giờ 1 lần, nếu cần, khi
vẫn còn triệu chứng.
Chống viêm (viêm khớp dạng thấp): uống 3-5 g/ngày, chia làm nhiều liều
nhỏ.
Đa số người bị viêm khớp dạng thấp có thể được kiểm soát bằng aspirin đơn
độc hoặc bằng các thuốc chống viêm NSAID khác.

13


2.2.2. Dẫn chất acid phenylacetic
Thuốc diclofenac [7]
Biệt dược: Diclofenac, Voltarel
Dạng thuốc: viên nén 50 mg, 75 mg, ống tiêm 75 mg/2ml, gel bôi ngoài da.
Diclofenac được dùng chủ yếu dưới dạng muối natri. Muối diethylamoni và
muối hydroxy ethylpyrolidin được dùng bôi ngoài. Dạng base và muối kali cũng
được dùng làm thuốc uống. Liều lượng diclofenac được tính theo diclofenac natri.
Chỉ định:
Điều trị dài ngày viêm khớp mạn, thoái hóa khớp.
Thống kinh nguyên phát.
Đau cấp (viêm sau chấn thương, sưng nề) và đau mạn.
Viêm đa khớp dạng thấp thiếu niên.
Chống chỉ định: [7]
Quá mẫn với diclofenac, aspirin hay thuốc NSAID khác (hen, viêm mũi, mày
đay sau khi dùng aspirin).
Loét dạ dày tiến triển.
Người bị hen hay co thắt phế quản, chảy máu, bệnh tim mạch, suy thận nặng
hoặc suy gan nặng.
Người đang dùng thuốc chống đông coumarin.
Người bị suy tim ứ máu, giảm thể tích tuần hoàn do thuốc lợi tiểu hay do suy
thận, tốc độ lọc cầu thận < 30 ml/phút (do nguy cơ xuất hiện suy thận).
Người bị bệnh chất tạo keo.
Người mang kính sát tròng.
Liều lượng và cách dùng
Tùy theo nhu cầu và đáp ứng của từng cá nhân và cần phải dùng liều thấp
nhất có tác dụng. Trong trị liệu dài ngày, kết quả phần lớn xuất hiện trong sáu tháng
đầu và thường được duy trì sau đó.
Viêm đốt sống cứng khớp: uống 100-125 mg/ngày, chia làm nhiều lần (25
mg, 4 lần / ngày, thêm 1 lần 25 mg vào lúc đi ngủ nếu cần).
Thoái hóa (hư) khớp: uống 100-150 mg/ngày, chia làm nhiều lần (50 mg, 2-3
lần/ngày, hoặc 75 mg/lần, 2 lần/ngày). Điều trị dài ngày: 100 mg/ngày; không nên
dùng liều cao hơn.
Hư khớp: 100 mg/ngày, uống làm một lần vào buổi tối trước lúc đi ngủ hoặc
uống 50 mg, ngày 2 lần.

14


Viêm khớp dạng thấp: Viên giải phóng kéo dài natri diclofenac, viên giải
phóng nhanh kali diclofenac hay viên bao tan ở ruột: 100-200 mg/ngày, uống làm
nhiều lần (50 mg, ngày 3 hoặc 4 lần, hoặc 75 mg, ngày 2 lần).
Viêm khớp dạng thấp thiếu niên: Trẻ em từ 1-12 tuổi: 1-3 mg/kg/ngày, chia
làm 2-3 lần.
Đau sau mổ: 75 mg, tiêm bắp ngày 2 lần; hoặc 100 mg, đặt thuốc vào trực
tràng ngày 2 lần.
Đau trong ung thư: 100 mg, ngày 2 lần.
Tương tác thuốc
Diclofenac có thể làm tăng hay ức chế tác dụng của các thuốc khác.
Không nên phối hợp diclofenac với
Thuốc chống đông theo đường uống và heparin: nguy cơ gây xuất huyết nặng.
Diclofenac và các thuốc NSAID khác có thể làm tăng tác dụng phụ lên hệ
thần kinh trung ương của kháng sinh nhóm quinolon, dẫn đến co giật.
Aspirin hoặc glucocorticoid: làm giảm nồng độ của diclofenac trong huyết
tương và làm tăng nguy cơ cũng như làm tăng nghiêm trọng tổn thương dạ dàyruột.
Diclofenac làm tăng nồng độ của digoxin trong huyết thanh và kéo dài T1/2
của digoxin.
Diclofenac làm tăng độc tính của methotrexat.
Có thể dùng diclofenac với các thuốc sau nhưng phải theo dõi sát người bệnh:
như cyclosporin, thuốc chữa tăng huyết áp, thuốc chống toan, cimetidin,
probenecid.
2.2.3 Dẫn chất oxicam
Thuốc meloxicam [7]
Biệt dược: Mebilax, Meloxicam
Viên nén 7,5mg, 15 mg, ống tiêm 15 mg/1,5 ml
Tính chọn lọc ức chế COX-2 so với COX-1 chỉ gấp khoảng 10 lần. Trong
thực nghiệm lâm sàng, meloxicam ít có tác dụng phụ về tiêu hóa so với các thuốc
ức chế không chọn lọc COX. Mức độ ức chế COX-1 của meloxicam phụ thuộc vào
liều dùng (liều 7,5 mg/ngày ít gây tai biến hơn liều 15 mg/ngày) và sự khác nhau
giữa các người bệnh.
Meloxicam hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, sinh khả dụng đường uống đạt 89
% so với đường tiêm tĩnh mạch, thức ăn ít ảnh hưởng đến sự hấp thu. Sự hấp thu
dưới dạng viên nén, viên nang, viên đạn đặt trực tràng tương đương nhau.
15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×