Tải bản đầy đủ

Phương pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học mĩ thuật ở tiểu học

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, với tình cảm chân thành tôi xin trân trọng
cảm ơn Trường Đại học Quảng Bình, giảng viên khoa Âm nhạc - Mĩ thuật,
giảng viên khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã tận tình khích lệ, giúp đỡ
tôi trong quá trình nghiên cứu. Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên
và ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá
luận.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên - Thạc sĩ Trần Công
Thoan đã hướng dẫn để tôi hoàn thành khoá luận này.
Quá trình nghiên cứu của bản thân, một số nội dung của khoá luận cũng
có thể không tránh khỏi một số thiếu sót, còn một số vấn đề chưa được sáng
tỏ rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô giáo và các bạn sinh
viên để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,

các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận là trung thực và chưa từng
được công bố trong bất cứ công trình nào. Những thông tin tham khảo trong
khoá luận đều được trích dẫn nguồn cụ thể sử dụng.
Sinh viên thực hiện

Cao Thị Cẩm Nhung

2


MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. 1
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................ 2
DANH MỤC VIẾT TẮT ................................................................................ 6
PHẦN A............................................................................................................ 7
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 7
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 7
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. ................................................................... 7
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu. ............................................................. 8
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. .................................................................... 8
5. Giả thuyết khoa học .................................................................................... 8
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 8
6. 1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm các phương pháp
sau: .................................................................................................................... 9
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: ............................ 9
7. Đóng góp của đề tài ..................................................................................... 9
8. Thời gian nghiên cứu .................................................................................. 9
9. Kết cấu của đề tài ...................................................................................... 10
PHẦN B .......................................................................................................... 11
NỘI DUNG .................................................................................................... 11
CHƯƠNG 1.................................................................................................... 11
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................................. 11
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài .......................................................................... 11
1.1.1. Những định hướng và mục tiêu giáo dục Mĩ thuật bậc Tiểu học ... 11
1.1.2. Đặc điểm hứng thú học tập của học sinh tiểu học............................ 14

3



1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................ 16
1.3. Tìm hiểu môn mĩ thuật ở Trường tiểu học Quảng Lưu ..................... 18
1.3.1. Tổng quan mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình môn mĩ thuật ở
trường tiểu học. ............................................................................................. 18
1.3.2. Dạy học môn mĩ thuật tại Trường tiểu học Quảng Lưu hiện nay. . 20
CHƯƠNG 2.................................................................................................... 23
TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG
DẠY HỌC MĨ THUẬT Ở TIỂU HỌC. ...................................................... 23
2.1. Một số quan điểm về phương pháp dạy học tích cực môn mĩ thuật ở
Tiểu học. ......................................................................................................... 23
2.2. Phương pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học. ............ 24
2.3. Các phương pháp dạy – học tích cực đối với môn mĩ thuật. ............. 26
2.3.1. Phương pháp quan sát ........................................................................ 26
2.3.2. Phương pháp trực quan ..................................................................... 27
2.3.3. Phương pháp gợi mở ........................................................................... 28
2.3.4. Phương pháp vấn đáp. ........................................................................ 28
2.3.5. Phương pháp phát vấn ....................................................................... 30
2.3.6. Phương pháp luyện tập, thực hành ................................................... 30
2.3.7. Phương pháp dạy - học tích hợp ........................................................ 32
2.3.8. Phương pháp làm việc theo nhóm ..................................................... 33
2.3.9. Phương pháp sử dụng trò chơi .......................................................... 35
CHƯƠNG 3.................................................................................................... 37
PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TÍCH CỰC TRONG
DẠY HỌC MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG LƯU .......... 37
3.1. Phát huy tính tích cực học tập của học sinh ở Trường tiểu học Quảng
Lưu.................................................................................................................. 37

4


3.2. Phương pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học mĩ thuật
ở Trường tiểu học Quảng Lưu. .................................................................... 38
3.2.1. Trò chơi đối với hoạt động quan sát và nhận xét............................. 38
3.2.2. Trò chơi đối với hoạt động hướng dẫn cách vẽ, cách nặn, xem
tranh. .............................................................................................................. 40
3.2.3. Trò chơi đối với hoạt động nhận xét, đánh giá cuối tiết học. .......... 43
3.2.4. Quy trình tiến hành tổ chức trò chơi. ............................................... 44
3.2.5. Điều kiện để thực hiện quy trình tổ chức cho học sinh tham gia trò
chơi đạt hiệu quả. .......................................................................................... 47
3.3. Thực nghiệm sư phạm. .......................................................................... 49
3.3.1. Những vấn đề chung của thực nghiệm. ............................................. 49
3.2.2. Tổ chức thực nghiệm. ......................................................................... 52
3.2.3. Phân tích kết quả thực nghiệm. ......................................................... 54
PHẦN C .......................................................................................................... 58
KẾT LUẬN .................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 61
PHỤ LỤC 1 .................................................................................................... 62
PHỤ LỤC 2 .................................................................................................... 78
PHỤ LỤC 3 .................................................................................................... 81

5


DANH MỤC VIẾT TẮT
Kí hiệu

Chú giải

BGD&ĐT

Bộ giáo dục và đào tạo

ĐDDH

Đồ dùng dạy học

CHT

Chưa hoàn thành

GV

Giáo viên

HT

Hoàn thành

HTT

Hoàn thành tốt

HS

Học sinh

SGK

Sách giáo khoa

PP

Phương pháp

PPDH

Phương pháp dạy học

THPT

Trung học phổ thông

6


PHẦN A
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mĩ thuật là một môn học có vai trò quan trọng trong chương trình Tiểu
học. Với môn mĩ thuật học sinh biết cách cảm nhận cái đẹp, yêu cái đẹp từ đó
biết cách rèn luyện đôi bàn tay, trí óc của mình để tạo ra cái đẹp qua việc phát
huy óc sáng tạo, tính độc lập của mình. Môn mĩ thuật góp phần cùng với các
môn học khác giáo dục học sinh phát triển về Đức - Trí - Thể - Mĩ.
Là môn học nghệ thuật nên mĩ thuật đòi hỏi ở học sinh làm việc cá nhân,
độc lập, sáng tạo. “Mỗi học sinh sẽ là một nghệ sỹ nếu như giáo viên khai
thác, động viên và phát huy tính sáng tạo riêng của các em đó”. Đó là yêu cầu
khi vận dụng phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập
của học sinh. Việc này có ỹ nghĩa quyết định cho nhận thức thẩm mĩ nói
chung và kết quả môn mĩ thuật nói riêng.
Thực tế, học sinh rất ham thích học mĩ thuật. Nếu như chúng ta xây dựng
cho các em có ý thức học tập tốt tạo ra không khí thoải mái khi học thì sẽ đạt
được hiệu quả tốt nhất.
Để khơi dậy cho học sinh khả năng trong giờ học mĩ thuật đề tài đòi hỏi
người giáo viên cần phải thực sự say mê giảng dạy và tạo được cho học sinh
sự lôi cuốn, đam mê trong giờ học mĩ thuật mà cụ thể là việc tìm ra phương
pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học nhằm giúp học sinh phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của bản thân. Đó là lý do tôi nghiên cứu
đề tài: “Phương pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học mĩ thuật
ở Tiểu học”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Đề tài này hướng tới sự phát triển toàn diện về mặt thẩm mĩ cho các em,
giúp các em hứng thú học tập tốt môn mĩ thuật. Cụ thể là:

7


- Nâng cao chất lượng dạy học môn mĩ thuật ở Tiểu học.
- Tích cực hoá hoạt động của học sinh Tiểu học trong mĩ thuật.
- Tạo hứng thú học tập, giúp học sinh yêu thích và học tốt môn mĩ thuật.
- Giúp học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập thuận lợi, dễ dàng, hiệu quả.
- Từ đó hình thành ở các em tính thẩm mỹ, hướng tới cái đẹp.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu.
- Khách thể: Giáo viên và học sinh Trường tiểu học Quảng Lưu - Quảng
Trạch - Quảng Bình.
- Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp dạy học nói chung và phương
pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học mĩ thuật.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu là:
- Tìm hiểu quá trình dạy và học bộ môn mĩ thật ở Tiểu học.
- Tìm hiểu những vấn đề cơ bản thường gặp, những tình huống, ưu điểm,
hạn chế qua quá trình dạy và học bộ môn mĩ thuật ở Tiểu học.
5. Giả thuyết khoa học
Để vấn đề nghiên cứu được thực hiện có hiệu quả và đạt được mục tiêu
đề ra, trước khi đi sâu vào giải quyết vấn và tìm ra giải pháp, chúng tôi đã đề
ra một số giả thiết và dự kiến tình huống sau:
- Nếu giáo viên thực hiện tốt việc áp dụng phương pháp dạy học mĩ thuật
thì hiệu quả giáo dục chắc chắn sẽ cao.
- Mĩ thuật là một bộ môn thuộc về năng khiếu của mỗi cá nhân, do đó
cho dù giáo viên có cố gắng thế nào cũng không thể nâng cao kết quả học tập
của các em.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số nhóm phương pháp
nghiên cứu sau:

8


6. 1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm các phương
pháp sau:
- Nghiên cứu tài liệu: Nhằm tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu qua các văn
bản, chương trình, giáo trình, tài liệu sách báo về phương pháp dạy học môn
mĩ thuật nhằm phân tích, tổng hợp những thông tin cần thiết liên quan đến đề
tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:
- Phương pháp thống kê, xác suất: Để nắm nội dung chương trình môn
mĩ thuật ở tiểu học, nắm được thực trạng trong dạy và học môn mĩ thuật.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp khác nhằm
hỗ trợ cho việc nghiên cứu như: Phương pháp chuyên gia, phương pháp so
sánh.
7. Đóng góp của đề tài
Đề tài “Phương pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học mĩ
thuật ở Tiểu học” sẽ góp phần làm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa
thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quả hơn. Từ đó nâng cao chất lượng dạy
học đồng thời tạo hứng thú học tập, giúp học sinh yêu thích và học tốt môn mĩ
thuật.
8. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018
Đề tài đi vào nghiên cứu, tìm hiểu những định hướng và các phương
pháp dạy học tích cực trong môn mĩ thuật hiện nay từ đó tìm ra các phương
pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học mĩ thuật ở Tiểu học. Trong
đó:
Từ tháng 10/2017 đến tháng 4/2018, cụ thể là:
- Tháng 10/2017: Chuẩn bị đối tượng, nội dung nghiên cứu.

9


- Tháng 11/2017: Nghiên cứu lí luận.
- Tháng 12/2017: Khảo sát thực trạng việc tổ chức dạy học môn mỹ thuật
ở trường tiểu học Quảng Lưu.
- Tháng 1/2018: Tìm hiểu, nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực
trong dạy học mĩ thuật hiện nay.
- Tháng 2/2018 - 4/2018: Nghiên cứu, đưa ra các phương pháp tổ chức
các hoạt động tích cực trong dạy học mĩ thuật ở tiểu học và tiến hành thực
nghiệm sư phạm tại Trường tiểu học Quảng Lưu - Quảng Trạch - Quảng
Bình.
9. Kết cấu của đề tài
Đề tài được thực hiện ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì phần nội
dung của đề tài gồm có 3 chương, đó là:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Tìm hiểu về các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học
mĩ thuật ở Tiểu học.
Chương 3: Phương pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học mĩ
thuật ở tiểu học Quảng Lưu.

10


PHẦN B
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Những định hướng và mục tiêu giáo dục Mĩ thuật bậc Tiểu
học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học được xác định trong Nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII( 1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
(12-1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục năm 2010, được cụ thể hóa
trong các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trong Luật Giáo dục sửa đổi năm 2010 (điều 28.2), nêu rõ: “Dạy và học
ở tiểu học là hai mặt hoạt động của một quá trình trong đó dưới vai trò chủ
đạo của giáo viên, học sinh chủ động, tự giác, tích cực lĩnh hội tri thức, kĩ
năng và tự làm phong phú vốn hiểu biết của mình. Do đó, trong quá trình học
tập, học sinh phải không ngừng lĩnh hội những kiến thức do giáo viên cung
cấp mà còn phải tự tìm ra tri thức mới, kỹ năng mới từ nhiều nguồn tài liệu
khác nhau [3]. Vì vậy, dạy học phải hướng vào hoạt động tự nhận thức của
học sinh, giáo viên là người tổ chức, hỗ trợ, người hướng dẫn hoạt động học
tập của học sinh như T.Makiguchi - nhà giáo dục học Nhật Bản đã viết trong
tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” nhấn mạnh: “…Nhà giáo, trước
hết không phải là người cung cấp thông tin mà là người hướng dẫn đắc lực
cho học sinh tự mình học tập tích cực. Họ nên nhường quyền cung cấp tri
thức cho sách vở, tài liệu và cuộc sống. Thay vào đó, họ phải đóng vai trò
người hỗ trợ cho kinh nghiệm học tập của bản thân người học…” [8].
Quá trình nhận thức của học sinh về cơ bản cũng diễn ra theo quy luật nhận

11


thức chung của loài người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Vì vậy, trong quá trình dạy học, người
giáo viên cần vận dụng quy luật trên một cách hợp lý nhằm thu được kết quả
mà mục tiêu, nội dung giáo dục yêu cầu.”
Đổi mới cách thực hiện PPDH là vấn đề then chốt của chính sách đổi
mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới cách thực hiện
phương pháp dạy học sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế
hệ học trò – chủ nhân tương lai của đất nước. Như vây, đổi mới PPDH sẽ tác
động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo. Nó tạo ra sự hiện đại
hoá của quá trình này. Đổi mới cách thực hiện PPDH là đổi mới cái gì? Cái gì
cần làm mới lại? Cái cũ là cái gì? Giá trị của cái cũ còn đến đâu hay không
còn giá trị? Mới là cái gì và giá trị của nó ở chỗ nào? Chúng ta đều biết không
phải cái gì cũ cũng tồi và cái gì mới cũng hoàn hảo. Hiệu quả hay không của
PPDH là do người tiến hành nó như thế nào. Xét bản thân phương pháp thì
không có phương pháp nào là phương pháp tích cực hay thụ động, mà phương
pháp ấy trở nên tồi, thụ động khi người ta không khai thác hết tiềm năng của
nó hoặc sử dụng nó không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng. Cần nhấn
mạnh rằng không có một phương pháp nào tồn tại lại không có ý nghĩa nào
đó. Đổi mới PPDH thực chất không phải là sự thay thế các PPDH cũ bằng
một loạt các PPDH mới. Về mặt bản chất, đổi mới PPDH là đổi mới cách tiến
hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai
phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và
vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích
cực, chủ động và sáng tạo của người học. Như vậy mục đích cuối cùng của
đổi mới PPDH là làm thế nào để HS phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác,
luôn trăn trở, tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và
lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện

12


nhân cách của mình. Trước thực tiễn đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình
Tiểu học, và cách đánh giá kết quả học tập của học sinh, PPDH cũng buộc
phải thay đổi theo. Đổi mới PPDH là nội dung hết sức quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng dạy và học, bởi vì:
- Thầy dạy thế nào để đạt được mục tiêu dạy học cụ thể đã đề ra và thầy
có thể đo được kết quả ấy.
- Thầy dạy thế nào để hình thành được năng lực cho HS.
- Thầy dạy thế nào để HS hứng thú với mọi hiện tượng xung quanh
mình.
- Thầy dạy thế nào để HS tìm được sự hữu dụng từ các kiến thức đã học.
- Thầy dạy thế nào để HS có khả năng hợp tác, chia sẻ những công việc,
để biết cùng chung sống và thích ứng dần với cuộc sống luôn biến động.
- Thầy dạy thế nào để HS phát huy hết tiềm năng và sự sáng tạo của bản
thân.
- Thầy dạy thế nào để HS có khả năng tự học, tự đánh giá.
- Và thầy dạy thế nào để HS biết yêu cuộc sống, quê hương và đất nước.
Trong giáo dục Tiểu học - bậc học cơ sở của giáo dục phổ thông, việc
học tập của HS phụ thuộc vào rất nhiều vào việc dạy của thầy. Nếu chúng ta
trả lời được các câu hỏi trên cũng là chúng ta thực hiện được mục tiêu giáo
dục tiểu học đặt ra, tức là “giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản để HS tiếp tục học trung học cơ sở”. Tóm lại, với sự thay đổi của
chương trình tiểu học buộc chúng ta phải đổi mới PPDH để thực hiện được
mục tiêu cấp học đã đề ra.
Mĩ thuật có những phân môn lấy hoạt động thực hành của học sinh là
chủ yếu. Do vậy, trong phương pháp tổ chức dạy học, học sinh là đối tượng
của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” được cuốn hút

13


vào các hoạt động học tập do GV tổ chức, hướng dẫn, thông qua đó học sinh
tự khám phá, thể hiện khả năng cảm thụ thẩm mỹ của bản thân, trên cơ sở
hiểu biết kiến thức đó học sinh trao đổi, thảo luận và thể hiện, giải quyết vấn
đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó tự trau dồi kiến thức, kỹ năng
mới, không tập theo những khuôn mẫu sẵn có, được tạo điều kiện bộc lộ và
phát huy tiềm năng sáng tạo của mình.
1.1.2. Đặc điểm hứng thú học tập của học sinh tiểu học
Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi. Học sinh tiểu học
là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả
năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một
trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo
cuộc sống cá nhân, gia đình. Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình
thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước
gia nhập vào xã hội. Trong các phương pháp học tập thì phương pháp tự học
giữ vai trò quan trọng. Nếu rèn cho học sinh có được phương pháp, kỹ năng,
thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho học sinh lòng ham học, ham tìm tòi, sáng
tạo và vì thế kết quả học tập sẽ nhân lên. Học sinh không chỉ tự học ở nhà mà
tự học ngay trên lớp có sự hướng dẫn của giáo viên. Lớp học là môi trường
giao tiếp giữa thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá
nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua đó, học sinh có
điều kiện phát huy khả năng của mình và chia sẻ kinh nghiệm học tập cho
người khác. Việc để học sinh tự nhận xét về kết quả bài học của mình sẽ nâng
cao khả năng nhận thức, các em biết cách đánh giá và điều chỉnh cách học của
mình. Học sinh đánh giá lẫn nhau giúp các em biết cách so sánh kết quả bài
học của mình với các bạn khác, không những các em học tập kinh nghiệm của
nhau mà còn nâng cao nhận thức thẩm mỹ, kỹ năng đánh giá, tạo môi trường
học tập tích cực. Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất

14


và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ,
giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội. Học sinh tiểu học
dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai. Nhưng cũng
thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được
phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét. Trẻ nhớ rất
nhanh và quên cũng nhanh.
Đối với trẻ em ở lứa tuổi tiểu học thì tri giác của học sinh tiểu học phản
ánh những thuộc tính trực quan, cụ thể của sự vật, hiện tượng và xảy ra khi
chúng trực tiếp tác động lên giác quan. Tri giác giúp cho trẻ định hướng
nhanh chóng và chính xác hơn trong thế giới. Tri giác còn giúp cho trẻ điều
chỉnh hoạt động một cách hợp lý. Trong sự phát triển tri giác của học sinh,
giáo viên tiểu học có vai trò rất lớn trong việc chỉ dạy cách nhìn, hình thành
kỹ năng nhìn cho học sinh, hướng dẫn các em biết xem xét, biết lắng nghe.
Bên cạnh sự phát triển của tri giác, chú ý có chủ định của học sinh tiểu
học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có ý chí chưa mạnh. Vì vậy, việc sử
dụng đồ dùng dạy học là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý cho học
sinh. Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định cho
nên giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn sự chú ý của
học sinh. Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động
của con người, nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy vốn kinh nghiệm đó vận
dụng vào cuộc sống. Đối với học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan - hình
tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – lôgíc. Tư duy của trẻ em
mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối
tượng và hiện tượng cụ thể. Trong sự phát triển tư duy ở học sinh tiểu học,
tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp và sau đó chuyển dần
sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp. Trong quá trình dạy học và giáo dục,
giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này. Vì vậy, trong dạy học, giáo viên cần

15


đảm bảo tính trực quan thể hiện qua dùng người thực, việc thực, qua dạy học
hợp tác hành động để phát triển tư duy cho học sinh. GV cần hướng dẫn học
sinh phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa,
khả năng phán đoán và suy luận qua hoạt động với thầy, với bạn. Học sinh
tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham hiểu biết, lòng
thương người, lòng vị tha. Giáo viên nên tận dụng đặc tính này để giáo dục
học sinh của mình nhưng cần phải đúng, phải chính xác, đi học đúng giờ, làm
việc theo hướng dẫn của giáo viên trong môi trường lớp. Tình cảm là một mặt
rất quan trọng trong đời sống tâm lý, nhân cách của mỗi người. Đối với học
sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức
với hoạt động của trẻ em. Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức và
thúc đẩy trẻ em hoạt động. Tình cảm học sinh tiểu học được hình thành trong
đời sống và trong quá trình học tập của các em. Vì vậy giáo viên dạy học cần
quan tâm xây dựng môi trường học tập nhằm tạo ra xúc cảm, tình cảm tích
cực ở trẻ để kích thích trẻ tích cực trong học tập. Một số HS thể hiện ở tư duy
ngôn ngữ - lôgíc dừng lại ở mức độ trực quan cụ thể và còn bộc lộ ở việc
thiếu cố gắng, thiếu khả năng phê phán và cứng nhắc trong hoạt động nhận
thức. Học sinh có thể học được tính cách, hành động trong điều kiện này
nhưng lại không biết vận dụng kiến thức đã học vào trong điều kiện hoàn
cảnh mới. Việc học tập của các em còn bị chi phối bởi yếu tố gia đình, điều
kiện địa lý và các yếu tố xã hội khác đòi hỏi nhà trường, gia đình, xã hội cần
có sự kết hợp chặt chẽ để tạo động lực học tập cho học sinh.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Mĩ thuật là một trong những môn học cần thiết cho sự phát triển toàn
diện, hài hòa của học sinh. Môn mĩ thuật là môn học độc lập có mục tiêu,
chương trình, sách giáo khoa, sách hướng dẫn thiết bị riêng cho dạy và học,

16


giáo viên được đào tạo cơ bản, kết quả học tập của học sinh được đánh giá
một cách nghiêm túc.
Bên cạnh những thế mạnh đã có, việc dạy - học nhằm phát huy tính tích
cực chủ động, sáng tạo trong môn mĩ thuật là vấn đề cần suy nghĩ: Môn mĩ
thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh. Cho đến nay các
trường đã có giáo viên dạy mĩ thuật, phong trào học mĩ thuật ngày càng sôi
nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn học và môn học đã được chú
ý. Vì vậy không ít giáo viên, học sinh và các bậc phụ huynh luôn coi trọng và
đầu tư cho môn học. Qua đó, các em thấy rằng mĩ thuật là môn học bổ ích, lý
thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, nâng cao thẩm mĩ, là môn học bổ
trợ tích cực để học tốt các môn học khác.
Khi thực hiện dạy học và đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, giáo
viên xác định được những nội dung cơ bản, cần thiết của mỗi bài học, mức độ
càn đạt cho tất cả các đối tượng học sinh để cho bài học không khó, không
dài. Chú trọng dạy sự cảm nhận về cái đẹp trong mĩ thuật và trong cuộc sống,
tiết học nhẹ nhàng, hấp dẫn lôi cuốn nhiều học sinh tích cực tham gia vào quá
trình học tập.
Bên cạnh những thuận lợi như trên thì dạy và học mĩ thuật vẫn còn gặp
phải một số khó khăn như:
Do quan niệm của một số bậc phụ huynh cho rằng đây là môn học phụ
nên thiếu sự quan tâm mua sắm đồ dùng học tập cho học sinh. Điều này ảnh
hưởng đến chất lượng học tập của học sinh gây cho học sinh cảm giác chán
nản, không tự tin làm bài. Bên cạnh đó còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ
với môn học vì thực tế đời sống dân trí còn nghèo, hầu hết là con em thuần
nông nên điều kiện để học sinh tập trung đầu tư cho học tập của các em còn
hạn chế, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần học tập của các em.
Ngoài ra điều kiện nhà trường còn thiếu thốn như: phòng học chức năng, vật

17


mẫu, phương tiện, đồ dùng trực quan. Vì thế ảnh hưởng đến kết quả giảng dạy
- học tập của giáo viên và học sinh.
Các nguyên nhân, các yếu tố tác động đến chất lượng dạy - học mĩ thuật
là:
Học sinh chưa vận dụng tốt kỹ năng thực hành của mình, không có ý
tưởng cụ thể, lúng túng, chưa đổi mới trong phương pháp học của bản thân.
Với bậc phụ huynh chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho con em có được dụng
cụ học đầy đủ đáp ứng cho những môn học năng khiếu. Nguyên nhân chính là
do chưa nhận thức đúng đắn mục đích, vai trò, vị trí của môn mĩ thuật.
1.3. Tìm hiểu môn mĩ thuật ở Trường tiểu học Quảng Lưu
1.3.1. Tổng quan mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình môn mĩ thuật ở
trường tiểu học.
Mục tiêu:
Giáo dục thẩm mĩ, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm
nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, của đời sống và của cả các sản phẩm mĩ
thuật. Cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu về môn mĩ thuật, hình
thành và củng cố các kĩ năng cần thiết để học sinh hoàn thành bài tập trong
chương trình. Bồi dưỡng năng lực quan sát, phân tích, phát triển trí tuệ, phát
huy trí tưởng tượng, sáng tạo, góp phần hình thành nhân cách người lao động
mới đồng thời phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu mĩ thuật của học sinh [1].
Nhiệm vụ:
Giáo dục thẩm mĩ là chính, giúp học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận,
thưởng thức và bằng kiến thức, kinh nghiệm của bản thân thể hiện cái hay, cái
đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống. Đồng thời vận dụng những hiểu biết
về cái đẹp vào sinh hoạt, học tập hằng ngày. Từ đó, góp phần tạo dựng môi
trường thẩm mĩ cho xã hội [1].

18


Chương trình mĩ thuật Tiểu học:
Chương trình mĩ thuật có các phân môn:
- Vẽ theo mẫu
- Vẽ trang trí
- Vẽ tranh
- Tập nặn tạo dáng
- Thường thức mĩ thuật
Lưu ý rằng mĩ thuật là môn học có kết cấu đồng tâm: Kiến thức cơ bản
được lặp đi lặp lại nhưng nâng cao dần qua các bài tập ở các cấp học, vì thế
vừa có tính kế thừa, vừa có tính nâng cao. Các phân môn được sắp xếp đan
xen, theo trình tự từ dễ đến khó để có thể bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau.
Chương trình mĩ thuật được chia hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3): Giai đoạn này gọi là Nghệ thuật (gồm mĩ
thuật, âm nhạc và thủ công).
Thời lượng cho mĩ thuật là 35 tiết/năm. Học sinh không có sách giáo
khoa nhưng có Vở thực hành, giáo viên có sách hướng dẫn.
- Giai đoạn 2: Mĩ thuật (lớp 4, 5).
Là phân môn độc lập, thời lượng cho môn mĩ thuật là 35 tiết/ năm. Ở
giai đoạn này học sinh có sách giáo khoa và vở thực hành, còn giáo viên có
sách hướng dẫn.
Nội dung cơ bản môn mĩ thuật ở trường tiểu học:
Nôi dung môn mĩ thuật từ lớp 1 đến lớp 5 được trình bày cụ thể trong
chương trình từng khối lớp, nhìn chung có những nội dung chính sau:
Vẽ theo mẫu: Hướng dẫn học sinh vẽ từ những nét đơn giản như thẳng,
cong đến những mẫu có cấu trúc phức tạp như vẽ mẫu có hai đồ vật.

19


Vẽ trang trí: Hướng dẫn học sinh vẽ từ bài tập đơn giản như vẽ tiếp hình
có sẵn, vẽ màu vào hình có sẵn đến những bài tập sang tạo về bố cục và hoạ
tiết một cách đơn giản.
Vẽ tranh: Hướng dẫn học sinh thể hiện cảm nhận của mình qua bài vẽ về
những đề tài: sinh hoạt, lễ hội, phong cảnh hoặc vẽ chân dung, tĩnh vật và vẽ
tự do.
Tập nặn tạo dáng: Hướng dẫn học sinh rèn luyện khả năng tạo hình theo
ý thích qua hình khối đơn giản của trái cây, con vật và người.
Thường thức mĩ thuật: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và cảm nhận một số
tác phẩm nghệ thuật và một số tranh thiếu nhi trong nước và thế giới.
Sách giáo khoa, sách giáo viên môn mĩ thuật:
Sách giáo khoa mĩ thuật lớp 4, 5 cung cấp kiến thức và phương pháp học
giúp học sinh tra cứu, tham khảo và ứng dụng kiến thức vào các bài tập, hình
thành, phát triển các kĩ năng.
Sách giáo viên là tài liệu hướng dẫn tiến trình dạy học, cung cấp thông
tin, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dùng cho giáo viên, các kiến thức được sắp
xếp có mục đích, mang tính hệ thống.
1.3.2. Dạy học môn mĩ thuật tại Trường tiểu học Quảng Lưu hiện
nay.
Qua quá trình quan sát, tìm hiểu thực tế và dự giờ môn mĩ thuật ở các
lớp tại Trường tiểu học Quảng Lưu. Với cách vận dụng phương pháp tổ chức
các hoạt động tích cực ở các lớp nói chung và lớp 4 nói riêng, nhằm đánh giá
một cách khách quan về cách vận dụng phương pháp dạy học giữa các trường
tôi nhận thấy thực trạng hiện nay về công tác dạy học môn mĩ thuật của giáo
viên và học sinh tại trường có nhiều ưu điểm nhưng vẫn còn một số tồn tại
trong việc tiến hành các hoạt động dạy học môn mĩ thuật vì một số điều kiện

20


và những biện pháp dạy học hiện đại chưa được áp dụng nhiều. Đặc biệt là
phương pháp tổ chức trò chơi trong dạy học môn mĩ thuật.
Phần lớn giáo viên đã nghiên cứu và chuẩn bị bài soạn khá chu đáo
trước khi đến lớp, nắm chắc các bước tiến hành dạy học trong môn mĩ thuật.
Giáo viên đã xác định được vai trò của việc tổ chức các hoạt động tích cực
trong dạy học môn mĩ thuật ở tiểu học. Đồng thời, giáo viên đã xác định được
vai trò của mình là người giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức còn học sinh là đối
tượng chủ động trong quá trình học.
Bên cạnh đó nhà trường đã và đang không ngừng nâng cao chất lượng
sinh hoạt tổ chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên thông qua các hình thức như tổ
chức hội thảo chuyên môn, triển khai chuyên đề, hội thi Lao động sáng tạo,
báo cáo sáng kiến kinh nghiệm. Triển khai đánh giá giáo viên theo chuẩn
nghề nghiệp giáo viên tiểu học. Có kế hoạch bồi dưỡng, kiểm tra giáo viên
với nhiều hình thức, đặc biệt thông qua kiểm tra chất lượng học tập và kỹ
năng của học sinh nhằm đánh giá năng lực giáo viên. Vì vậy, chất lượng đội
ngũ giáo viên ngày một nâng cao.
Mặc dù vậy, trong một vài tiết trong dạy học mĩ thuật GV chuẩn bị chưa
chu đáo, còn thiếu chủ động, sáng tạo trong đổi mới dạy học, thiếu phương
pháp tổ chức dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của học sinh.
Hầu hết học sinh ở trường đều thích học môn mĩ thuật, các em rất thông
minh, nhanh nhẹn, chăm ngoan, đoàn kết, biết giúp đỡ bạn bè trong học tập và
rèn luyện. Đặc biệt học sinh có óc tưởng tượng phong phú, ham hiểu biết,
khám phá và thưởng thức những cái mới, cái đẹp của thiên nhiên, của tác
phẩm mĩ thuật. Các em luôn luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của gia
đình và nhà trường. Đây là điều kiện tốt để giáo viên triển khai các trò chơi
trong dạy học nhằm kích thích sự hứng thú của học sinh. Tuy nhiên, trình độ

21


học sinh không đồng đều nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình dạy học. Đồ
dùng học tập giành cho môn Mĩ thuật còn thiếu thốn. Bên cạnh đó, một số HS
thiếu tập trung còn nói chuyện, làm việc riêng trong giờ học mĩ thuật.
Nguyên nhân chính là do GV chưa tạo ra được hứng thú học tập làm cho
HS dễ mệt mỏi, chán nản, giờ học diễn ra căng thẳng, ảnh hưởng đến việc tiếp
thu bài của HS. Do vậy, muốn có giờ học sôi nổi, hiệu quả thì GV phải không
ngừng thay đổi hình thức tổ chức dạy học, lựa chọn kết hợp các PPDH hiệu
quả, đồng thời tìm ra nhiều phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học tích
cực hấp dẫn để nâng cao chất lượng giờ dạy. Có như vậy HS mới có hứng thú
học tập và giờ học mới đạt hiệu quả cao.

22


CHƯƠNG 2
TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC MĨ THUẬT Ở TIỂU HỌC.
Trong bài dạy mĩ thuật ngoài các phương pháp đặc trưng cần phối hợp
các phương pháp một cách nhuần nhuyễn, nhịp nhàng và đồng bộ. Người giáo
viên phải luôn sáng tạo, linh hoạt, vận dụng các phương pháp phát huy tính
tích cực của học sinh.
2.1. Một số quan điểm về phương pháp dạy học tích cực môn mĩ
thuật ở Tiểu học.
Phương pháp dạy học được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động
chung giữa giáo viên và học sinh, trong những điều kiện dạy học xác định,
nhằm đạt tới mục đích dạy học. Phương pháp dạy học tích cực là một thuật
ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục,
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
“Tích cực” trong PPDH, tích cực tức là hoạt động chủ động, trái nghĩa với
không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận
thức của người học, tức là tập kết vào phát huy tính tích cực của người học
chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên
để dạy học theo phương pháp tích cực thì GV cần phải nỗ lực nhiều so với
dạy theo phương pháp thụ động.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách
học, nhưng trái lại thói thường học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy
của thầy. Trong một số trường hợp học sinh tích cực hoạt động nhưng thầy
giáo chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp thầy giáo tích cực vận dụng
PPDH tích cực nhưng học sinh chưa thích nghi, vẫn quen với lối học tập thụ

23


động. Vì thế, GV phải bền chí dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng
cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên
cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và
trò, sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.
Như vậy, việc dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực” để phân biệt với “Dạy và
học thụ động”.
Theo một số nhà phương pháp học thì phương pháp giảng dạy được gọi
là tích cực nếu hội tụ được các yếu tố sau:
- Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có;
- Thể hiện rõ được động cơ học tập của người học khi bắt đầu môn học;
- Thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động;
- Thể hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mối
tương tác trong quá trình học;
- Thể hiện được kết quả mong đợi của người học.
2.2. Phương pháp tổ chức các hoạt động tích cực trong dạy học.
Con người không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể các quan hệ xã hội,
thể hiện ở chỗ tích cực tiếp thu có chọn lọc tất cả những tác động bên ngoài
để sáng tạo và xây dựng nhân cách riêng của mình. Nguồn gốc của tính tích
cực là nhu cầu. Con người sinh ra với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác nhau,
thí dụ nhu cầu ăn, uống và sau đó xuất hiện nhu cầu xã hội. Những nhu cầu
này không bao giờ cạn và luôn trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt
động. Khi nhu cầu nhận thức xuất hiện thì nó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập.
Bởi vậy, hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ
chủ yếu của giáo dục.
Tính tích cực học tập biểu hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
– Bắt chước: gắng sức a dua mẫu bắt đầu làm của thầy, của bạn.

24


– Tìm tòi: Đứng riêng ra giải quyết sự tình nêu ra, tìm cách giải quyết
khác nhau về một số vấn đề.
– Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.
Trong quá trình dạy học, giáo viên là chủ thể tổ chức, điều khiển và học
sinh là chủ thể hoạt động học tích cực chủ động và sáng tạo. Giáo viên phải
cải tiến không ngừng phương pháp dạy học và giúp học sinh cải tiến phương
pháp học.
J.Piaget (1896 - 1980) là nhà tâm lí học Thuỵ Sĩ rất nhấn mạnh đến vai
trò hoạt động của học sinh. Ông nói: “Trẻ em được phú cho tính hoạt động
thực sự và giáo dục không thể thành công nếu không sử dụng và không thực
sự kéo dài tính hoạt động đó” [9]. Như vậy có thể nói hoạt động của học sinh
trong quá trình giáo dục là yếu tố không thể thiếu được và để kéo dài hoạt
động đó thì việc tích cực hoá được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu
nhất. Việc tổ chức hoạt động học cho học sinh ý nghĩa của nó không nằm
ngoài mục đích hình thành ý thức tích cực học tập, tính tích cực cho người
học trong lĩnh hội, khám phá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới. Muốn thực hiện
được mục tiêu đó thì tổ chức dạy học tích cực hoá cần được quán triệt sâu
rộng trong toàn hệ thống giáo dục. Tích cực hoá là một hoạt động nhằm làm
chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp
nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.
Như vậy, phương pháp tổ chức các hoạt động tích cực cho học sinh trong
dạy học nói chung và trong môn mĩ thuật nói riêng là một trong những biện
pháp nâng cao chất lượng dạy học. Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng
trong xu hướng đổi mới dạy học hiện nay thì việc tổ chức các hoạt động dạy
học tích cực nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một vấn
đề được đặc biệt quan tâm. Nhiều nhà giáo dục trên thế giới đang hướng tới
việc tìm kiếm con đường tối ưu nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×