Tải bản đầy đủ

Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ DIỆU LINH

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ
CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ DIỆU LINH


GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ
CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người Hướng Dẫn Khoa Học
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI, năm 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong
Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực. Kết luận của Luận văn chưa từng được
công bố trong các công trình khác,

Hà Nội, ngày

tháng 3 năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Thị Diệu Linh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA BẰNG TÒA ÁN.................................................8
1.1. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa ...........................................................8
1.2. Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa ......................12
1.3. Khái quát pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng
tòa án ở Việt Nam .....................................................................................................19


Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM VÀ THỰC
TIỄN THI HÀNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ CẤP TỈNH Ở
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .......................................................................................28
2.1. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng
Tòa án ........................................................................................................................28
2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân
cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng ............................................................44
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ BẰNG TOÀ ÁN VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
VÀ CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .......................................................62
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa bằng Toà án .................................................................................62
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở
thành phố Đà Nẵng....................................................................................................63
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp
đồng mua bán hàng hóa của Toà án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà
Nẵng ..........................................................................................................................68


KẾT LUẬN ..............................................................................................................71
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng dân sự

HĐMBHH

: Hợp đồng mua bán hàng hóa

TAND

: Tòa án nhân dân

WTO

: Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Số liệu giải quyết vụ án tranh chấp HĐMBHH giải
2.1.

quyết theo thủ tục sơ thẩm tại TAND cấp huyện và

47

cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng từ năm 2015 – 2017

2.2.

Số liệu giải quyết vụ án tranh chấp HĐMBHH giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm tại TAND cấp huyện
và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng từ năm 2015 –
2017

47


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và mở rộng tự do hóa thương mại,
Việt Nam trong những năm qua đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều hiệp
định thương mại tự do, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội. Nền kinh tế
Việt Nam sau 10 năm gia nhập WTO (2007-2017) mặc dù bị ảnh hưởng do tác động
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng nợ công nhưng vẫn đạt được
những thành tựu hết sức quan trọng. Bên cạnh những kết quả nổi bật về cải thiện môi
trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, là những tín hiệu khả quan về xuất nhập
khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài. Theo đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các
ngành dịch vụ, kinh doanh thương mại nói chung, hoạt động mua bán hàng hóa nói
riêng cũng có một bước ngoặt cụ thể.
Có thể nói, trao đổi mua bán hàng hóa là hoạt động chính trong hoạt động
thương mại, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Quan hệ mua bán hàng hóa được
xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa. Việc
nắm bắt, hiểu rõ và thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hóa là điều kiện tất yếu giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện
hoạt động kinh doanh thuận lợi, tránh được những hậu quả không mong muốn. Tuy
nhiên, cùng với sự chuyển mình lớn mạnh của nền kinh tế, các quan hệ thương mại
ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phức tạp, tranh chấp xảy ra là điều không
thể tránh khỏi. Để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại mà cụ thể là
tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên cần phải lựa chọn một phương thức
giải quyết tranh chấp phù hợp, có thể là Thương lượng, Hòa giải, hay Tòa án hoặc
Trọng tài tùy vào mục đích, nhu cầu của các chủ thể và hiệu quả của từng giải pháp.
Thực tế cho thấy, giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thường được các chủ thể
lựa chọn khi các phương thức Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài không mang lại hiệu
quả. Bởi ngoài những ưu điểm là cơ quan tài phán quốc gia, phán quyết mang tính
cưỡng chế nghiêm ngặt thì phương thức này tồn tại một số bất cập khiến các doanh

1


nghiệp băn khoăn trong việc lựa chọn như: thủ tục rườm rà, thiếu linh hoạt, thời gian
giải quyết kéo dài, nguyên tắc xét xử công khai có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp khi bí mật kinh doanh bị tiết lộ… Ở vấn đề này, pháp luật
Việt Nam quy định khá đầy đủ về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự thủ tục thụ lý và
xét xử đối với tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, trong
quá trình áp dụng, các quy định dần bộc lộ những hạn chế của mình. Điều này thể
hiện rõ trong thực tiễn xét xử của một số Tòa án ở các trung tâm kinh tế của nước ta,
trong đó có thành phố Đà Nẵng.
Thành phố Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, đây
cũng là một trong những trung tâm kinh tế lớn của nước ta. Với điều kiện giao thông
thuận lợi, là cầu nối giữa nền kinh tế miền Bắc và miền Nam, hoạt động mua bán
hàng hóa tại đây vô cùng phát triển, kéo theo đó là các tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa diễn ra nhiều hơn. Nghiên cứu các quy định về giải quyết tranh chấp hợp
đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử ở Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà
Nẵng để có cái nhìn tổng thể về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa nơi đây, đồng thời thấy được những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật
cũng như những bất cập của quá trình áp dụng pháp luật của lĩnh vực này, để từ đó
có thể đề ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở thành phố Đà Nẵng nói
riêng và nước ta nói chung.
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố
Đà Nẵng” là đề tài cho Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết tranh chấp thương mại từ lâu đã là vấn đề được sự quan tâm rất lớn
của các nhà nghiên cứu và các học giả. Điều này được thể hiện qua rất nhiều công
trình nghiên cứu có giá trị. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như: Giáo trình
Luật Thương mại (Tập 2) của Trường Đại Học Luật Hà Nội, năm 2017; Giáo trình
Luật Kinh tế Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001; Giáo trình Pháp

2


luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại của Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012; Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại trong pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ của Đặng Thanh
Hoa, Trường Đại học Luật TP.HCM, năm 2015; và một số luận văn như: Xây dựng
pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ở Việt Nam của tác giả
Ngô Thị Thanh Tuyền, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015; Giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại bằng con đường Tòa án từ thực tiễn tỉnh Quảng
Nam của tác giả Đỗ Thị Thương, Học viện Khoa học xã hội, năm 2014; Một số giải
pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
nhân dân cấp huyện của tác giả Vũ Đức Hoàng, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà
Nội, năm 2009; Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của
Tòa án nhân dân theo quy định của BLTTDS 2004 của tác giả Lê Hồng Phước, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012; Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại theo thủ tục tố tụng Tòa án ở Việt Nam hiện nay của tác giả Đinh
Thị Trang, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013; Thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay của tác
giả Hoàng Tố Quyên, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013; Thẩm quyền
dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của
tác giả Nguyễn Thị Hiên, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014; …
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết trên tạp chí như: Hoàn thiện quy định về
thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án của tác giả
Nguyễn Duy Phương, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 1), năm 2015; Những vướng
mắc khi giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án của tác giả Vũ Gia
Trường, Tạp chí Luật sư Việt Nam, (số 3), năm 2016…
Riêng đối với vấn đề giải quyết tranh chấp về HĐMBHH, cũng đã có một số
công trình nghiên cứu như:
- Dương Phạm Thanh Trúc (2004), Pháp luật Việt Nam về việc giải quyết tranh
chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP.HCM;

3


- Nguyễn Trâm Anh (2015), Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
giữa doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài bằng tòa án tại Việt Nam - vướng
mắc và hướng hoàn thiện, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP.HCM;
- Lê Nữ Thu Thúy (2015), Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua
bán hàng hóa giữa các doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài - những vướng
mắc và hướng giải quyết, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP.HCM;
- Đặng Thùy Dương (2016), Giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế bằng trọng tài Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận
tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: Phan Huy Hồng (2011), Các vấn đề
pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của tòa án và trọng tài
tại Việt Nam, Trường Đại học Luật TP.HCM; …
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về vấn đề giải quyết tranh chấp
HĐMBHH khá nhiều. Mỗi công trình đều có những giá trị riêng, đóng góp vào quá
trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp HĐMBHH. Tuy nhiên,
ở mỗi thời kỳ phát triển của nền kinh tế đất nước, đặt ra những thách thức khác nhau
và ở mỗi địa phương khi thực hiện pháp luật lại bộc lộ những vướng mắc cụ thể. Do
đó, một công trình nghiên cứu chuyên sâu, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành
về giải quyết tranh chấp HĐMBHH từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp
huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng và từ đó đưa ra được giải pháp cụ thể nhằm
nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐMBHH tại Việt Nam là một đề tài cấp
thiết và có tính ứng dụng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung của các phương thức giải
quyết tranh chấp HĐMBHH, liên hệ thực tiễn từ việc xét xử các vụ tranh chấp tại Tòa
án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng. Từ đó, phân tích nguyên
nhân, đánh giá thực trạng nhằm đề ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về lĩnh vực giải quyết tranh chấp HĐMBHH, nâng cao hiệu quả xét xử tại TAND hai

4


cấp ở thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, tìm hiểu và phân tích các khái niệm, đặc điểm của HĐMBHH và tranh
chấp HĐMBHH. Làm rõ những vấn đề lý luận của các phương thức giải quyết tranh
chấp HĐMBHH. Từ đó, rút ra ý nghĩa của việc giải quyết hiệu quả những tranh chấp đó.
Thứ hai, phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam về giải quyết tranh chấp
HĐMBHH, đánh giá hiệu quả của những quy định này từ thực tiễn xét xử tại TAND
cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng.
Cuối cùng, đưa ra giải pháp để xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
giải quyết tranh chấp HĐMBHH và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp tại
TAND cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về giải
quyết tranh chấp HĐMBHH và thực tiễn giải quyết các tranh chấp HĐMBHH tại
TAND cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu những quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp HĐMBHH trong nước bằng Tòa
án. Luận văn không nghiên cứu giải quyết tranh chấp HĐMBHH quốc tế. Liên hệ
thực tế từ các tranh chấp HĐMBHH được TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng thụ lý
và giải quyết.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa
Marx – Lenin và trên quan điểm, định hướng của Đảng cũng như chính sách của Nhà
nước trong việc thực hiện những quy định của pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh phương pháp luận, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu

5


luật học truyền thống như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh các
quy phạm pháp luật, các vụ việc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp.
Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng chủ yếu trong chương
một. Qua việc thu thập các tài liệu, tác giả tiến hành so sánh, tổng hợp các quan điểm,
ý kiến khác nhau để hệ thống hóa các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp
HĐMBHH.
Phương pháp phân tích, thống kê được sử dụng chủ yếu ở chương hai luận văn
để từ đó đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp
HĐMBHH bằng Tòa án và thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐMBHH tại Tòa án nhân
dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng.
Chương ba của luận văn được tác giả sử dụng phương pháp diễn giải, quy nạp để
đưa ra các yêu cầu, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp HĐMBHH, nâng cao hiệu quả xét xử, thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp
HĐMBHH tại tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số vụ án trên thực tế phát sinh để phân tích,
bình luận dưới góc độ khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả của luận văn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về HĐMBHH,
về tranh chấp và giải quyết tranh chấp HĐMBHH theo những quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành trong thời kỳ hội nhập kinh tế mới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về giải quyết tranh
chấp HĐMBHH, nâng cao hiệu quả công tác trong ngành Tòa án nói chung và TAND
cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài Mục lục, Danh mục từ viết tắt, Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài
liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán

6


hàng hóa bằng Tòa án
Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa bằng Tòa án ở Việt Nam và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân cấp huyện và
cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa bằng Tòa án và nâng cao hiệu quả thực thi tại Tòa án nhân dân cấp
huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng

7


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA BẰNG TÒA ÁN
1.1. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Nhờ vào những kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới và mở rộng hội nhập,
tự do hóa thương mại, kinh tế của nước ta đã và đang khẳng định được vị trí và vai
trò quan trọng của mình, đặc biệt là trong các lĩnh vực thương mại hàng hóa. Ở Việt
Nam, mua bán hàng hóa là một trong những hoạt động thương mại quan trọng được
quy định tại Luật Thương mại 2005, theo đó, hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi,
bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận
thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu
hàng hóa theo thỏa thuận [19, Đ.3]. Hoạt động này chủ yếu được thỏa thuận và ký
kết thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có điều khoản nào định nghĩa rõ ràng
HĐMBHH, nhưng có thể xác định được bản chất của HĐMBHH thông qua khái niệm
Hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ Luật dân sự. Cụ thể, Điều 430 BLDS 2015 quy
định: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán
chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán”. Đồng
thời, tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005 cũng quy định hàng hóa bao gồm
“tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn
liền với đất đai”.
Như vậy, có thể thấy HĐMBHH trong thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên,
theo đó bên bán chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và bên mua thanh
toán tiền cho bên bán. Đây là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong luật
dân sự Việt Nam với đối tượng là hàng hóa nói riêng và với mục đích sinh lời.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Cũng như những loại hợp đồng khác, HĐMBHH mang những đặc điểm chung
của một hợp đồng như:

8


Đầu tiên, đây là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên chủ thể, là sự thống nhất
ý chí để tạo lập một quan hệ pháp lý trên tinh thần tự nguyện, không trái pháp luật và
đạo đức xã hội. Thêm vào đó, sự thống nhất ý chí của các bên làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ đối ứng giữa các bên với nhau. Tức là mỗi bên trong hợp đồng mua bán
đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời cũng là bên có quyền đòi
hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong HĐMBHH hóa tồn tại các quyền
và nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: là nghĩa vụ
giao hàng đúng thỏa thuận của bên bán và nghĩa vụ thanh toán của bên mua; quyền
nhận hàng và quyền nhận thanh toán. Ngoài ra, hiệu lực của hợp đồng là hiệu lực bắt
buộc riêng, được các bên tự thỏa thuận chứ không phải hiệu lực bắt buộc chung như
pháp luật.
Bên cạnh những đặc điểm chung kể trên, là một hình thức pháp lý của quan hệ
mua bán hàng hóa nói riêng, HĐMBHH còn có những đặc điểm cụ thể sau:
Thứ nhất, về chủ thể của HĐMBHH. Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết
lập chủ yếu giữa các thương nhân. Theo Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005,
“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”. Dựa trên quy
định này, nếu là tổ chức thì tổ chức phải được thành lập trên cơ sở quy định của pháp
luật, nếu là cá nhân thì cá nhân phải là người có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và
năng lực hành vi dân sự. Cả hai chủ thể này đều phải tiến hành hành vi thương mại
với tư cách là những chủ thể độc lập, thường xuyên, phải đăng ký kinh doanh và được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cũng
theo quy định này, các bên trong HĐMBHH có thể là các thương nhân Việt Nam
hoặc giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài. Ngoài ra, chủ thể của
HĐMBHH còn là những chủ thể khác khi họ thực hiện hoạt động trao đổi mua bán
hàng hóa và lựa chọn áp dụng luật Thương mại 2005 [19, Đ.1].
Thứ hai, về hình thức HĐMBHH. Hình thức của hợp đồng được hiểu là sự biểu
hiện ra bên ngoài nội dung của hợp đồng và cũng là biểu hiện cho sự tồn tại của nó.
Hình thức của hợp đồng bao gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện… để

9


thể hiện ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng. Tùy thuộc vào nội dung và
tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào uy tín, độ tin cậy lẫn nhau mà
các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng trong
từng trường hợp cụ thể.
Luật Thương mại 2005 thừa nhận HĐMBHH được thực hiện có thể bằng lời
nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, đối với những loại HĐMBHH
mà pháp luật quy định phải được giao kết bằng văn bản thì phải tuân theo quy định
đó [19, Đ.24]. Hình thức bằng văn bản và các hình thức tương đương văn bản như:
điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu…. yêu cầu nội dung, cam kết về quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng phải được quy định trong một văn bản
với những điều khoản cụ thể. Văn bản này có chữ ký của các bên. Thông thường, nó
sẽ được lập thành nhiều bản, mỗi bên sẽ giữ một bản. Bản hợp đồng này sẽ là bằng
chứng chứng minh sự tồn tại cho thỏa thuận. Do đó, hình thức bằng văn bản thường
được áp dụng trong những giao dịch quan trọng. Ở một số trường hợp, pháp luật còn
quy định văn bản này phải được công chứng, chứng thực để đảm bảo tính vững chắc
hơn, vì thế, sẽ có giá trị chứng cứ cao nhất. Tuy nhiên, tất cả các hợp đồng được lập
ra một cách hợp pháp thì đều có giá trị pháp lý như nhau.
Trong những trường hợp nhất định, pháp luật yêu cầu hình thức bắt buộc phải
là văn bản, điển hình là hợp đồng giao thương quốc tế. Trên thực tế, tuy có nhiều hình
thức khác nhau nhưng trong hoạt động kinh doanh thương mại, nhất là hoạt động mua
bán hàng hóa, với đối tượng là hàng hóa có quy mô lớn và giá trị lớn, để đảm bảo
tính an toàn, minh bạch và lợi ích của các bên thì hình thức hợp đồng bằng văn bản
hay được các bên ưu tiên lựa chọn.
Thứ ba, về đối tượng của HĐMBHH. Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng
là hàng hóa, cụ thể là tất cả các loại động sản, kể cả động sản được hình thành trong
tương lai hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại [19, Đ.3]. Theo quy
định của pháp luật dân sự, động sản là những tài sản không phải là bất động sản, còn
bất động sản bao gồm: đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản
khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng và tài sản khác theo quy định của

10


pháp luật [13, Đ.107].
Như vậy, với tư cách là đối tượng của HĐMBHH, hàng hóa trong pháp luật Việt
Nam được hiểu là hàng hóa đã tồn tại vào thời điểm thiết lập hợp đồng hoặc hàng hóa
sẽ hình thành trong tương lai. Đồng thời, hàng hóa trong HĐMBHH cũng không
thuộc hàng cấm kinh doanh, trường hợp hàng hóa thuộc danh mục hạn chế kinh doanh
hoặc kinh doanh có điều kiện thì cần phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại
Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 06 năm 2006 quy định chi tiết Luật Thương
mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều
kiện (Ngoại trừ khoản 3 của phụ lục II đã bị bãi bỏ theo quy định của Nghị định
39/2009/NĐ-CP về vật liệu nổ công nghiệp).
Thứ tư, về nội dung của HĐMBHH. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
bắt buộc theo quy định pháp luật của mỗi quốc gia. Cũng như một hợp đồng dân sự,
HĐMBHH yêu cầu phải có các điều khoản thể hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
giao kết theo thỏa thuận. Nội dung này không trái với đạo đức xã hội và những quy
định của pháp luật thương mại và pháp luật có liên quan. Trong đó, phải đảm bảo
những quyền và nghĩa vụ cơ bản như: bên bán có nghĩa vụ chuyển hàng hóa và quyền
sở hữu cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán và nhận
hàng hóa, quyền sở hữu từ bên bán. Luật Thương mại 2005 không quy định cụ thể
nội dung, tuy nhiên dựa vào đặc điểm chung của hợp đồng ta có thể xác định một
HĐMBHH thông thường phải chứa đựng sự thỏa thuận về đối tượng hàng hóa, chất
lượng hàng hóa, giá cả hàng hóa, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao
nhận hàng... Ngoài ra, các chủ thể trong hợp đồng còn bị ràng buộc một cách đương
nhiên bởi các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán, tức là những điều khoản pháp
luật quy định nhưng các bên không thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng, như quy định
về trách nhiệm pháp lý của các bên trong trường hợp vi phạm hợp đồng và lựa chọn
hình thức giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra.
Thứ năm, về mục đích của HĐMBHH. Trong trường hợp chủ thể của
HĐMBHH là các thương nhân thì mục đích của HĐMBHH là lợi nhuận, do hoạt
động mua bán hàng hóa là một hành vi thương mại với bản chất sinh lời. Trong trường

11


hợp một bên trong quan hệ HĐMBHH là các chủ thể khác, không phải là thương
nhân và lựa chọn áp dụng Luật Thương mại 2005 thì mục đích mua bán hàng hóa của
chủ thể này là phục vụ cho việc sinh hoạt, tiêu dùng hoặc các hoạt động của các cơ
quan, tổ chức đó…
1.1.1. Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa
Căn cứ vào đặc điểm chủ thể, đối tượng, nơi giao kết hợp đồng, HĐMBHH
được phân thành hai loại: HĐMBHH trong nước và HĐMBHH quốc tế.
- Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước: là HĐMBHH được thực hiện trên
lãnh thổ của Việt Nam mà không có sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia
hoặc vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan
riêng theo quy định của pháp luật. Ví dụ như khu chế xuất hoặc khu ngoại quan. Chủ
thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước là tổ chức, cá nhân mang quốc tịch
Việt Nam. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước là hàng hóa nằm trên
lãnh thổ Việt Nam mà không có sự dịch chuyển qua biên giới quốc gia hoặc vào khu
vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo
quy định của pháp luật. Thêm vào đó, hợp đồng được giao kết trên lãnh thổ Việt Nam.
- Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (còn gọi là hợp đồng ngoại thương) theo
pháp luật Việt Nam là HĐMBHH được thực hiện dưới một trong các hình thức: xuất
khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu [19, Đ27].
Hợp đồng này được thực hiện bởi ít nhất một bên chủ thể là tổ chức, cá nhân nước
ngoài với đối tượng hàng hóa là động sản. Hay nói cách khác, hàng hóa này có thể
được dịch chuyển qua biên giới của một quốc gia hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm
trên lãnh thổ của Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của
pháp luật.
1.2. Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Hiểu theo nghĩa thông thường, tranh chấp là “giành nhau một cách giằng co cái
không rõ thuộc về bên nào, là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là
trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” [11, tr 973]. Trong thực tiễn đời sống, quyền

12


lợi đó có thể là lao động, dân sự, kinh doanh thương mại… mà các bên mong muốn
có được. Trên phương diện pháp lý, tranh chấp là sự không thỏa thuận được các vấn
đề về sự kiện pháp lý.
Trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại nói chung hay hoạt động mua
bán hàng hóa nói riêng, việc tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh là điều không
thể tránh khỏi. Vì hoạt động mua bán hàng hóa là một trong những hoạt động thương
mại quy định tại Luật thương mại 2005 nên có thể hiểu tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa chính là tranh chấp thương mại theo quy định của pháp luật thương mại.
Trước đây, ở Việt Nam trong thời gian dài, khái niệm tranh chấp phát sinh từ
hoạt động sản xuất, kinh doanh và chủ yếu từ hợp đồng kinh tế đầu tiên được sử dụng
rộng rãi là tranh chấp kinh tế. Song song tồn tại với khái niệm tranh chấp kinh tế là
tranh chấp thương mại được quy định tại điều 238 Luật thương mại năm 1997: “Tranh
chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”.
Đến Luật Thương mại 2005, khái niệm tranh chấp thương mại không còn được
quy định rõ, nhưng có thể hiểu, tranh chấp thương mại phải hội đủ các yếu tố sau đây:
- Tranh chấp thương mại trước hết là những mâu thuẫn, bất đồng về việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ cụ thể;
- Những mâu thuẫn đó phải phát sinh từ hoạt động thương mại;
- Những mâu thuẫn đó phát sinh chủ yếu giữa các chủ thể là thương nhân.
Qua đó có thể hiểu tranh chấp hợp đồng thương mại mà cụ thể là tranh chấp
HĐMBHH là những bất đồng, mâu thuẫn trong hoạt động mua bán hàng hóa giữa
các bên mà chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện, không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo HĐMBHH. Tranh chấp HĐMBHH phát sinh
từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Đó có thể là từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
của các bên trong hợp đồng, có thể tranh chấp về nội dung hợp đồng, về thực hiện
hợp đồng hay trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng…
1.2.2. Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Xuất phát từ khái niệm tranh chấp HĐMBHH là những bất đồng, mâu thuẫn

13


trong hoạt động mua bán hàng hóa giữa các bên mà chủ yếu là liên quan đến việc
thực hiện, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo
HĐMBHH, có thể thấy tranh chấp này bao gồm những đặc điểm sau:
Thứ nhất, tranh chấp HĐMBHH là tranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán
hàng hóa. Căn cứ phát sinh tranh chấp là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm
pháp luật làm xâm hại đến lợi ích của nhau.
Thứ hai, các tranh chấp HĐMBHH chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa
các thương nhân với nhau. Trong một số trường hợp luật định, ngoài thương nhân là
chủ thể chủ yếu của tranh chấp HĐMBHH, các cá nhân, tổ chức khác không phải là
thương nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp khi trong giao dịch các bên lựa
chọn áp dụng luật thương mại.
Thứ ba, nội dung của tranh chấp HĐMBHH là những bất đồng, mâu thuẫn về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ mua bán hàng hóa cụ thể. Trong
hoạt động thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt
được những mục đích đề ra. Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong
quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu.
Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp HĐMBHH do các bên tranh chấp tự định
đoạt. Pháp luật không áp đặt mà ghi nhận nhiều phương thức giải quyết tranh chấp
HĐMBHH như: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án. Do đó, các bên trong
tranh chấp có thể tự do lựa chọn phương pháp phù hợp để đạt được kết quả tốt nhất
trên cơ sở tôn trọng pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH.
1.2.3. Khái niệm, yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra thường xuyên và liên tục trên thương
trường. Cùng với đó, là những hệ quả phát sinh có thể do sự cố ý của một trong các
bên chủ thể hoặc cũng có thể phát sinh ngoài phạm vi kiểm soát của các chủ thể tham
gia. Để bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của các chủ thể, tạo nên một môi trường
kinh doanh công bằng, lành mạnh, bên cạnh sự tất yếu là phải có khung pháp lý bao
quát, chặt chẽ thì sự cần thiết phải có những giải pháp phù hợp nhằm giải quyết khi
tranh chấp xảy ra.

14


Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có thể hiểu là những cách
thức, phương pháp nhằm hạn chế, xóa bỏ những bất đồng, xung đột, loại trừ những
tranh chấp đã phát sinh và khắc phục hậu quả không mong muốn.
1.2.4. Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại mua bán hàng hóa, tranh chấp
xảy ra là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, một khi tranh chấp xảy ra, việc cần thiết là tìm
được một giải pháp thật sự phù hợp nhằm giải quyết hiệu quả, bảo vệ quyền lợi và
lợi ích của bên bị vi phạm, hàn gắn quan hệ kinh doanh giữa các bên tranh chấp và ở
mặt nào đó hạn chế những thiệt hại cho nền kinh tế.
Pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và thương mại hàng hóa nói riêng không
bắt buộc các chủ thể phải giải quyết tranh chấp bằng một biện pháp cụ thể nào mà tôn
trọng sự thỏa thuận, tự định đoạt của các chủ thể. Do đó, có nhiều hình thức giải quyết
tranh chấp mà các bên tự do lựa chọn phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Đó có thể
là thương lượng, hòa giải hay thông qua các cơ quan tài phán như Tòa án hoặc Trọng
tài [19, Đ317].
1.2.4.1. Thương lượng
Xuất phát từ bản chất của Thương lượng là hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện của
các bên tranh chấp, có thể dễ dàng nhận ra Thương lượng là phương thức giải quyết
tranh chấp phổ biến nhất thông qua việc các bên cùng nhau gặp gỡ, bàn bạc, thỏa
thuận loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự giúp đỡ hay can thiệp của bên thứ ba.
Giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng phương thức thương lượng cũng có
những ưu điểm và những hạn chế nhất định:
Về ưu điểm: Giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng thương lượng là giải pháp
đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi, ít tốn kém và mang lại hiệu quả cho các bên chủ thể.
Hơn thế nữa, giải pháp này cũng không gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, quan hệ kinh
doanh giữa các bên. Do đó, đây là giải pháp được ưu tiên hàng đầu trước khi các bên
tìm đến các giải pháp khác để giải quyết tranh chấp.
Về hạn chế: Với đặc điểm là phương thức giải quyết không dựa trên trình tự,
thủ tục nào được quy định trong những quy phạm pháp luật hiện hành mà các bên

15


tranh chấp tự do thỏa thuận cả về cách thức, nội dung và phương án giải quyết nên
quá trình thương lượng sẽ không có kết quả nếu một hoặc cả hai bên tranh chấp không
thực hiện đúng thỏa thuận. Mặt khác, mặc dù kết quả thương lượng thông thường
được ghi nhận bằng văn bản với tính chất như một thỏa thuận hợp pháp để giải quyết
tranh chấp, sự thương lượng cũng không có tính cưỡng chế bắt buộc thi hành mà hoàn
toàn phụ thuộc vào thiện chí của các bên. Thêm vào đó, khi các bên thiếu sự hiểu biết
về lĩnh vực tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình và khả năng thắng thua
nếu theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán thì khả năng đạt được thành công rất khó.
1.2.4.2. Hòa giải
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải từ lâu đã được khuyến khích
sử dụng nhiều trong quy định của pháp luật các quốc gia. Nó được coi là phương thức
giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba độc lập. Trên cơ sở sự hỗ trợ,
giúp đỡ, thuyết phục của bên thứ ba đó, các bên tranh chấp thỏa thuận tìm kiếm giải
pháp nhằm chấm dứt những mâu thuẫn đang tồn tại.
Giải quyết tranh chấp từ HĐMBHH bằng phương thức hòa giải có những ưu
điểm và hạn chế sau:
Về ưu điểm: Hình thức này cũng giống thương lượng có ưu điểm là đơn giản,
thuận tiện, nhanh chóng và linh hoạt, ít tốn kém vì hơn ai hết, các bên tranh chấp là
những người hiểu rõ nhất tranh chấp của mình. Với hòa giải, các bên còn có thể chủ
động xử lý trong nhiều tình huống khác nhau vì họ không bị ràng buộc trong việc
thực hiện các trình tự, thủ tục cụ thể nào. Thêm vào đó, bên trung gian hòa giải thường
là người có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm về lĩnh vực tranh chấp, họ có khả
năng làm cho ý chí của các bên đồng thuận và dễ gặp nhau, do đó hiệu quả thành
công cao. Kết quả hòa giải được ghi nhận và chứng kiến cuả người thứ ba nên mức
độ tôn trọng và khả năng tuân thủ cam kết cũng cao hơn. Thêm một ưu điểm không
nhỏ của hòa giải là quá trình giải quyết tranh chấp bằng hòa giải các bên được phép
bảo mật mọi thông tin. Trong khi giải quyết tại Tòa án thì điều này không được đảm
bảo do Tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai. Trong tố tụng, việc hòa
giải thành còn giảm áp lực xét xử đáng kể cho Tòa án.

16


Bên cạnh những ưu điểm trên, việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải cũng có
những hạn chế như việc hoà giải thành hay không còn phụ thuộc phần nhiều vào ý
chí tự nguyện của các bên. Bên cạnh đó, so với thương lượng, phương thức này tốn
kém hơn do các bên tranh chấp phải trả chi phí cho bên trung gian hòa giải; vấn đề
đảm bảo uy tín và bí mật kinh doanh cũng hạn chế hơn do chịu ảnh hưởng ít nhiều
của bên thứ ba.
1.2.4.3. Trọng tài
Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp được sử dụng phổ biến trên
thế giới, đặc biệt để giải quyết những tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố
nước ngoài. Đây là một biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án với cách thức
giải quyết do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn thông qua hoạt động của hội
đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên theo trình tự, thủ tục luật định. Hội đồng Trọng
tài hoặc Trọng tài viên có vai trò là bên thứ ba độc lập sẽ thực hiện nhiệm vụ của
mình nhằm tháo gỡ mâu thuẫn, đưa ra một phán quyết pháp lý buộc các bên tranh
chấp phải thực hiện. Tại Việt Nam, tổ chức và hoạt động của Trọng tài được điều
chỉnh chủ yếu bởi Luật Trọng tài thương mại 2010.
Là một hình thức giải quyết tranh chấp hiệu quả được thực hiện phổ biến trên thể
giới, Trọng tài có những ưu điểm như: Thủ tục Trọng tài không quá phức tạp, các bên
có thể linh động về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, không trải qua nhiều thủ
tục như Tòa án nên hạn chế tốn kém về thời gian và tiền bạc của các bên tranh chấp.
Nguyên tắc xét xử của Trọng tài không công khai và chủ động trong việc cung cấp chứng
cứ nên bảo đảm uy tín và bí mật kinh doanh của các doanh nghiệp. Thêm vào đó, Trọng
tài giải quyết tranh chấp nhân danh ý chí của các bên, không nhân danh quyền lực nhà
nước nên thường phù hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Đặc biệt,
khác với quyết định công nhận hòa giải thành và thương lượng thành công, quyết định
của Trọng tài là chung thẩm nên có giá trị ràng buộc các bên tranh chấp.
Bên cạnh những ưu điểm trên, Trọng tài thương mại cũng có những hạn chế
như: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài không mang tính đương nhiên,
mà Trọng tài chỉ có thẩm quyền khi các bên trao quyền giải quyết tranh chấp thông

17


qua một điều khoản Trọng tài trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận đưa tranh chấp ra
giải quyết trước Trọng tài. Đồng thời, việc thực hiện các phán quyết của Trọng tài
cũng phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của các bên. Nếu các bên không thiện chí, việc
giải quyết tranh chấp cũng sẽ không dễ dàng. Hơn nữa, khác với Tòa án, Trọng tài
không phải là cơ quan quyền lực nhà nước nên phán quyết của Trọng tài không đương
nhiên được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà cần có sự
hỗ trợ của cơ quan nhà nước trong đó đặc biệt là sự hỗ trợ của Tòa án.
1.2.4.4. Tòa án
Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền
lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ. Bản án hay
quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp mang tính ràng buộc pháp lý và được đảm
bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước. Các tranh chấp kinh doanh thương
mại được giải quyết bằng con đường Tòa án luôn chiếm tỷ lệ lớn. Thông thường thì
hình thức giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án được tiến hành khi mà việc áp dụng
các biện pháp thương lượng, hòa giải không đạt hiệu quả trong khi hình thức Trọng
tài vẫn còn khá mới mẻ trong vấn đề giải quyết tranh chấp ở nước ta.
Giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy
định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nguyên tắc theo pháp luật tố tụng mà cụ thể là theo
quy định của BLTTDS 2015 và dựa trên các văn bản pháp luật liên quan như Bộ luật
dân sự, Luật Thương mại… Việc giải quyết tranh chấp có thể trải qua hai cấp xét xử là
sơ thẩm và phúc thẩm. Điều này tạo cho các bên tranh chấp thực hiện quyền tố tụng của
mình, được đảm bảo quyền lợi khi Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm xét
xử không đúng. Trong một số trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật còn có thể
được xét lại theo thủ tục đặc biệt: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Vì là hình thức giải quyết
mang tính chất quyền lực nhà nước nên các phán quyết của Tòa án bị ràng buộc về mặt
pháp lý. Nếu một trong các bên không tuân thủ sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định
của pháp luật bằng bộ máy cưỡng chế nhà nước. Do đó, quyền lợi của bên bị vi phạm sẽ
được đảm bảo cao nhất. Thêm vào đó, nguyên tắc xét xử công khai gây áp lực để Tòa án
xét xử khách quan, minh bạch và đúng pháp luật, mặt khác còn có tính răn đe đối với

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×