Tải bản đầy đủ

U XƠ TIỀN LIỆT TUYẾN (BPH)

U XƠ TIỀN LIỆT TUYẾN (BPH)
I. SƠ LƯỢC:
U xơ tiền liệt tuyến (tên thông thường ở VN), hay tăng sản lành tính tuyến tiền
liệt (Benign Prostatic Hyperplasia = BPH), phì đại lành tính tuyến tiền liệt (BEP),
tăng sản tuyến cơ và xơ (adenofibromyomatous) và cách gọi không chính xác là
phì đại tuyến tiền liệt lành tính, là sự gia tăng kích thước của tuyến tiền liệt.

Ảnh bên trái: hình ảnh 1 tuyến tiền liệt bình thường (normal Prostate), dòng nước tiểu đi
từ bàng quang (bladder) xuống niệu đạo (urethra).
Ảnh bên phải: hình ảnh 1 tuyến tiền liệt phì đại, ép vào bàng quang và niệu đạo, cản trở
dòng tiểu

BPH liên quan đến tăng sản (hyperplasia = tăng số lượng tế bào) chứ không phải
là phì đại (hypertrophy = tăng trưởng trong kích thước của mỗi tế bào), nhưng 2
thuật ngữ này thường được sử dụng thay thế cho nhau, thậm chí giữa các nhà
tiết niệu học. Nó liên quan đến việc tăng sản các tế bào biểu mô và đệm của
tiền liệt tuyến (TLT), dẫn đến sự hình thành các hạch lớn, khá rời rạc trong vùng
gần niệu đạo của TLT. Khi đủ lớn, các hạch gây ức chế kênh niệu đạo, gây ra tắc
nghẽn niệu đạo một phần, hoặc đôi khi hầu như hoàn toàn, cản trở dòng chảy
bình thường của nước tiểu. Nó dẫn đến các triệu chứng tiểu khó lúc khởi đầu, đi
tiểu thường xuyên , khó tiểu (tiểu buốt= dysuria), tăng nguy cơ nhiễm trùng

đường tiết niệu (UTI) , bí tiểu . Mặc dù mức độ kháng nguyên đặc hiệu ở TLT có
thể được nâng lên ở những bệnh nhân do tăng khối lượng cơ quan và viêm do
nhiễm trùng đường tiết niệu, BPH không dẫn đến ung thư hoặc tăng nguy cơ ung


thư.
BPH được cho là bắt đầu vào khoảng độ tuổi 30 trở đi. 50% nam giới có bằng
chứng mô học của BPH trong độ tuổi 50 năm và 75% độ tuổi 80 năm, 40-50% ở
những người đàn ông này, BPH trở nên có ý nghĩa lâm sàng.
II.DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG:
Các triệu chứng của BPH được phân loại theo 2 dạng: đầy bàng quang (storage:
lưu trữ) hoặc rỗng bàng quang (voiding: bài tiết).
Các triệu chứng đầy bàng quang bao gồm: tiểu thường xuyên, mót tiểu ( ép
buộc phải đi tiểu không thể trì hoãn), mót tiểu không kiểm soát, và tiểu đêm
(nocturia).
Triệu chứng làm rỗng bàng quang bao gồm: dòng nước tiểu, tiểu khó lúc khởi
đầu (cần phải chờ đợi cho các dòng để bắt đầu), gián đoạn (khi dòng bắt đầu và
dừng lại liên tục), rặn tiểu (straining to void), và tiểu lắt nhắt (dribbling). Đau và
khó tiểu thường không có mặt. Những triệu chứng này được đánh giá bằng cách
sử dụng bộ câu hỏi trong thang điểm triệu chứng thuộc TLT quốc tế
(International Prostatic Symptom Score = IPSS), được thiết kế để đánh giá mức
độ nghiêm trọng của BPH.
BPH có thể là một bệnh tiến triển nặng nếu không được điều trị. Tiểu không hết
thì lượng còn lại sẽ gây ứ vi khuẩn trong bàng quang và tăng nguy cơ nhiễm
trùng đường tiết niệu. Sỏi bàng quang được hình thành từ sự kết tinh của muối
trong nước tiểu còn sót lại. Bí tiểu, có thể cấp tính hoặc mãn tính , là 1 bước tiếp
theo của bệnh. Bí tiểu cấp tính là không có khả năng tiểu ngay tức thời, trong
khi bí tiểu mạn tính khối lượng nước tiểu còn lại tăng dần, và bàng quang sẽ
căng phồng. Điều này có thể dẫn đến giảm trương lực (hypotonia) bàng quang.
Một số bệnh nhân bị bí tiểu mạn tính cuối cùng có thể tiến triển đến suy thận,
một tình trạng gọi là bệnh đường niệu tắc nghẽn.
III.NGUYÊN NHÂN:
Hầu hết các chuyên gia cho rằng các androgen ( gồm testosterone và các
hormon liên quan ) có đóng 1 vai trò nhất định. Điều này có nghĩa rằng nội tiết
tố androgen có mặt khi BPH xảy ra, nhưng không nhất thiết phải trực tiếp gây ra
các tình trạng bệnh lý. Điều này càng được củng cố bởi thực tế rằng con trai bị


cắt tinh hoàn (castrated boys) không phát triển BPH khi có tuổi. Mặt khác, cho
testosterone ngoại sinh vào cơ thể không liên quan đến 1 sự gia tăng đáng kể


nguy cơ bị các triệu chứng BPH. Dihydrotestosterone (DHT), một chất chuyển
hóa của testosterone, là 1 trung gian quan trọng của tăng trưởng TLT. DHT được
tổng hợp trong TLT từ chu trình testosterone bằng cách hoạt hóa các enzyme 5αreductase, type 2. Enzyme này được khu trú chủ yếu trong các tế bào mô đệm ,
do đó, những tế bào này là những nơi chính để tổng hợp DHT.

các hormon androgen trên nền màu xanh.

DHT có thể hoạt động tự tiết (autocrine) trên các tế bào mô đệm hoặc ngoại tiết
(paracrine) bằng cách khuếch tán vào tế bào biểu mô gần đó. Trong cả hai loại
tế bào này, DHT liên kết với nhận thụ thể androgen và các tín hiệu phiên mã của
các yếu tố tăng trưởng phân bào các tế bào biểu mô và mô đệm. DHT mạnh
hơn gấp 10 lần testosterone do nó tách khỏi các thụ thể androgen chậm hơn.
DHT gây ra hạch tăng sản được tìm thấy bởi các quan sát lâm sàng, trong đó 1
chất ức chế 5α-reductase như finasteride được đưa cho người đàn ông có tình
trạng này. Điều trị bằng chất ức chế 5α-reductase làm giảm đáng kể DHT của


TLT, và lần lượt, giảm thể tích TLT, và, trong nhiều trường hợp, giảm các triệu
chứng BPH.
Testosterone thúc đẩy sự tăng sinh tế bào TLT, nhưng mức độ tương đối thấp của
testosterone trong huyết thanh vẫn được tìm thấy ở những bệnh nhân BPH. Một
nghiên cứu nhỏ cho thấy cắt tinh hoàn trong y học làm giảm mức độ hormone
trong huyết thanh và TLT không đồng đều, có giảm mức độ ảnh hưởng
testosterone và dihydrotestosterone trong TLT.
Trong khi có 1 số bằng chứng rằng estrogen có thể đóng một vai trò quan trọng
trong nguyên nhân của BPH, sự ảnh hưởng này xuất hiện chủ yếu được trung
gian thông qua các chuyển đổi của androgen thành estrogen trong các mô tuyến
tiền liệt hơn là 1 tác động trực tiếp của estrogen. Trong 1 bài nghiên cứu trên
chó bị thiến, cho thấy có làm giảm đáng kể nồng độ androgen, nhưng nồng độ
estrogen không thay đổi, gây ra teo đáng kể TLT. Các nghiên cứu tìm kiếm mối
tương quan giữa tăng sản tuyến tiền liệt và nồng độ estrogen huyết thanh ở
người nhìn chung cho thấy không có.
Trên mức độ kính hiển vi, BPH có thể được nhìn thấy trong đại đa số nam giới khi
họ có tuổi, đặc biệt trên 70 tuổi, trên toàn thế giới. Tuy nhiên, tỷ lệ có ý nghĩa
lâm sàng, triệu chứng BPH khác nhau đáng kể tùy thuộc vào lối sống. Đàn ông
sống một lối sống Tây hóa có tỷ lệ cao hơn nhiều bị triệu chứng BPH hơn nam
giới có lối sống truyền thống, nông thôn. Điều này được xác nhận bằng các
nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy rằng người đàn ông ở khu vực nông thôn có tỷ
lệ rất thấp BPH lâm sàng, trong khi người đàn ông sống ở thành phố áp dụng
một lối sống phương Tây có tỷ lệ mắc tăng vọt tình trạng này, mặc dù nó vẫn
thấp hơn tỷ lệ được thấy ở phương Tây.
Vẫn còn nhiều việc phải làm để hoàn toàn làm rõ nguyên nhân của BPH.
IV. GIẢI PHẪU VÀ MÔ HỌC:
Cả 2 tế bào biểu mô tuyến và các tế bào mô đệm (kể cả sợi cơ) đều tăng sản
trong BPH. Hầu hết nghiên cứu đều đồng ý rằng trong 2 mô, tăng sản mô đệm
chiếm ưu thế, nhưng tỷ lệ chính xác của cả 2 là không rõ ràng.


Giải phẫu bệnh của TLT tăng sản lành tính, nhuộm H & E. TLT được lấy ra từ phương
pháp TURP.

Về mặt giải phẫu, BPH liên quan rõ nhất với các tuyến niệu đạo sau (Posterior
Urethral Gland = PUG) và vùng chuyển tiếp (TZ) của tuyến tiền liệt. Các dấu
hiệu sớm nhất trên kính hiển vi của BPH thường bắt đầu từ 30-50 tuổi trong PUG,
phía niệu đạo gần. Tuy nhiên, phần lớn tăng trưởng cuối cùng xảy ra trong TZ.
Ngoài 2 khu vực này, khu vực ngoại vi (PZ) của TLT cũng tham gia nhưng với
mức độ ít hơn. DO bệnh ung thư TLT cũng xảy ra ở các PZ, hạch BPH trong các
PZ thường sinh thiết để loại trừ ra ung thư.
V. CHẨN ĐOÁN:
Thăm khám trực tràng (Toucher Rectal) (sờ tuyến tiền liệt qua trực tràng ) có thể
cho thấy 1 TLT to rõ rệt, thường ảnh hưởng đến thùy giữa.
Thông thường, các xét nghiệm máu được thực hiện để loại trừ bệnh ác tính TLT:
Nồng độ kháng nguyên cụ thể tuyến tiền liệt (PSA) cần điều tra thêm, chẳng hạn
như làm sáng tỏ lại kết quả PSA, trong mật độ PSA và tỷ lệ phần trăm PSA không
có (free), thăm khám trực tràng và siêu âm xuyên trực tràng. Những biện pháp
kết hợp này có thể phát hiện bệnh sớm.


Bàng quang (hình giống con bướm đen) và TLT căng to, được chụp bằng kỹ thuật siêu
âm y tế

Siêu âm kiểm tra tinh hoàn, tuyến tiền liệt, và thận thường được thực hiện, một
lần nữa để loại trừ bệnh ác tính và thận ứ nước (hydronephrosis).
Các thủ thuật sàng lọc và chẩn đoán BPH tương tự như bệnh ung thư tuyến tiền
liệt. Một số dấu hiệu:


Dòng tiểu yếu



Rỗng bàng quang kéo dài



Bụng căng



Khó tiểu ban đầu



Không thường xuyên cần phải đi tiểu



Bàng quang rỗng không đầy đủ (incomplete bladder emptying)



Tiểu lắt nhắt ở niệu đạo sau



Tiểu rát (irritation during urination)



Đi tiểu thường xuyên




Tiểu đêm (nocturia)



Mót tiểu



Không kiểm soát (không tự nguyện tiểu)



Bàng quang đau



Khó tiểu (tiểu buốt)



Các vấn đề trong xuất tinh
VI. PHÒNG VÀ CHỮA:
1. Lối sống:
Bệnh nhân nên giảm lượng nước uống trước khi đi ngủ, bớt uống rượu và các sản
phẩm có chứa caffeine, và đi tiểu theo lịch trình.
2.Thuốc:
-Hai loại thuốc chính cho kiểm soát BPH là thuốc ngăn (blocker) alpha và ức chế
5α-reductase .
-Thuốc alpha blockers (đối kháng thụ thể α 1 – adrenergic ) là sự lựa chọn phổ
biến nhất cho điều trị ban đầu tại Hoa Kỳ và châu Âu. Alpha blockers được sử
dụng cho BPH bao gồm doxazosin, terazosin, alfuzosin, tamsulosin, và silodosin.
Cả 5 đều có hiệu quả như nhau nhưng có tác dụng phụ hơi khác nhau. Các loại
thuốc cũ phenoxybenzamine và prazosin không được khuyên dùng. Alpha
blocker làm giãn cơ trơn trong TLT và cổ bàng quang, do đó làm giảm tắc nghẽn
dòng chảy nước tiểu. Tác dụng phụ thường gặp của thuốc alpha blocker bao
gồm hạ huyết áp tư thế đứng , thay đổi xuất tinh , nghẹt mũi, và yếu toàn thân.
-Finasteride ức chế 5α-reductase và dutasteride là một lựa chọn điều trị khác.
Các loại thuốc này ức chế 5a-reductase , do đó ức chế sản xuất DHT , một
hormon gây phì đại TLT. Sức ảnh hưởng có thể mất nhiều thời gian để xuất hiện
hơn so với các thuốc alpha blocker, nhưng nó có thể tồn tại trong nhiều năm. Khi
được sử dụng cùng với thuốc alpha blocker, giảm sự tiến triển của BPH dẫn đến
bí tiểu cấp tính và phẫu thuật đã được ghi nhận ở bệnh nhân có tuyến tiền liệt
lớn hơn. Tác dụng phụ bao gồm giảm ham muốn tình dục (libido) và xuất tinh
hoặc rối loạn chức năng cương dương (erectile dysfunction).
Antimuscarinics như tolterodine cũng có thể được sử dụng, đặc biệt là kết hợp
với thuốc alpha blocker. Chúng hoạt động bằng cách giảm acetylcholine tác


dụng trên cơ trơn của bàng quang , do đó giúp kiểm soát triệu chứng của bàng
quang hoạt động quá mức .
Sildenafil citrate cho thấy giảm 1 số triệu chứng, kể cả rối loạn chức năng cương
dương.

Hình ảnh hóa mô miễn dịch p501s của các mô.
A- Mô TLT không tân sinh kiền kề với tuyến ác tính (NNT) . B- BPH
C-Tân sinh trong nội TLT mức cao (PIN) . D- Ung thư TLT (PCA)

3.Sử dụng thảo dược:
Các nhà khoa học đang tìm kiếm các biện pháp bằng thảo dược cho BPH. Một số
được phê duyệt ở các nước châu Âu, nhưng không có ở Mỹ. Saw Palmetto chiết
xuất từ Serenoa repens là một trong những nghiên cứu rộng rãi nhất. Điều đó
cho thấy hứa hẹn trong các nghiên cứu ban đầu, mặc dù các thử nghiệm sau đó
của các phương pháp có chất lượng cao hơn cho thấy không có sự khác biệt từ
giả dược (placebo). Không có tác dụng phụ của Saw Palmetto, do đó, nếu dùng
nó để làm giảm các triệu chứng, có lẽ rất ít tác hại. Chất lượng sản phẩm Saw
Palmetto rất đa dạng


.
Thuốc thảo dược khác có hỗ trợ nghiên cứu theo hệ thống bao gồm betasitosterol từ Hypoxis rooperi (cỏ sao châu Phi) và pygeum (chiết xuất từ vỏ
cây Prunus africana ), trong khi có ít hiệu quả hỗ trợ từ hạt bí ngô ( Cucurbita
pepo ) và rễ cây tầm ma (stinging-nettle) ( Urtica dioica ). Có ít bằng chứng cho
thấy chất chiết xuất từ phấn hoa của cỏ lúa mạch đen ( Secale cereale ) cũng có
thể làm giảm triệu chứng, nhưng rất khiêm tốn.
4.phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu
Tạp chí Tiết niệu châu Âu (The European Urology Review) xuất bản năm 2009
nói về 2 bác sĩ Israel, Yigal Gat và Menahem Goren đã phát triển phương pháp
không-phẫu-thuật Gat-Goren cho BPH. Bằng cách sử dụng 1 kỹ thuật phóng xạ
can thiệp làm giảm khối lượng tuyến tiền liệt và đảo ngược triệu chứng BPH,
cách điều trị đó được gọi là Liệu pháp Làm mất androgen siêu chọn lọc bên
trong TLT (super-Selective intra-Prostatic Androgen Deprivation = SPAD) , liên
quan đến chụp hình tĩnh mạch xuyên da (percutaneus venography) và liệu pháp
xơ hoá (sclerotherapy) của các mạng lưới tĩnh mạch nội bộ tinh hoàn, bao gồm
cả nối tắt tĩnh mạch liên quan và phần bên sau phúc mạc. Tạp chí Tiết niệu
châu Âu cũng tuyên bố rằng bằng cách sử dụng kết quả Gat-Goren không phẫu
thuật giảm khối lượng TLT, đã giảm đáng kể tiểu đêm, cải thiện dòng nước tiểu,
cải thiện lượng nước tiểu đổ vào bàng quang, không có tác dụng phụ lớn và
không biến chứng như phẫu thuật cổ điển.
Thuốc thường được kê ra như lựa chọn điều trị đầu tiên, khi có nhiều bệnh nhân
không thành công với điều trị này. Bác sĩ tiết niệu có những lựa chọn điều trị


trước khi tiến hành phẫu thuật. Hai phương pháp trị liệu phổ biến nhất dựa trên
sự hỗ trợ máy móc là Liệu pháp nhiệt dùng sóng cực ngắn xuyên niệu đạo
(TransUrethral Microwave Thermotherapy = TUMT) và cắt bỏ bằng kim xuyên
niệu đạo (TransUrethral Needle Ablation = TUNA). 2 liệu pháp này dựa vào việc
cung cấp năng lượng để tạo ra nhiệt đủ để gây chết tế bào trong TLT (hoại tử).
Mục tiêu của phương pháp điều trị là gây hoại tử đủ để khi các tế bào chết được
tái hấp thu bởi cơ thể, TLT sẽ co lại, làm giảm tắc nghẽn niệu đạo. Các liệu pháp
này thường được thực hiện với gây tê tại chỗ, BN trở về nhà cùng ngày. Một số
nhà tiết niệu học đã nghiên cứu và xuất bản dữ liệu dài hạn về thủ thuật này, có
nghiên cứu kéo dài đến 5 năm. Gần đây nhất Hiệp hội Tiết niệu Mỹ (AUA),trong
sách “Hướng dẫn điều trị BPH”, năm 2003 đã liệt kê các phương pháp điều trị
xâm lấn tối thiểu bao gồm cả TUMT và TUNA là lựa chọn thay thế chấp nhận
được đối với BN bị BPH.
* Liệu pháp TUMTđược chấp thuận bởi FDA (Cục Quản lý dược và Thực phẩm
Hoa Kỳ) vào năm 1996, với hệ thống thế hệ đầu tiên của EDAP Technomed. Từ
năm 1996, các công ty khác đã được FDA phê chuẩn cho thiết bị TUMT, bao gồm
cả Urologix, Dornier, Thermatrix, Celsion Prostalund. Nhiều nghiên cứu lâm sàng
đã được công bố trên TUMT. Các nguyên tắc chung cơ bản của tất cả các thiết
bị là 1 ăng-ten vi sóng nằm trong 1 ống thông niệu đạo được đặt trong vùng nội
TLT của niệu đạo. Ống thông được kết nối với một hộp điều khiển bên ngoài cơ
thể của BN và năng lượng phát ra bức xạ vi sóng vào TLT để làm nóng các mô và
gây ra hoại tử. Thời gian điều trị mất khoảng 30′ – 1 h, tùy thuộc vào hệ thống
được sử dụng. Nó mất khoảng 4-6 tuần cho các mô bị hư hỏng được tái hấp thu
vào cơ thể của BN. Một số các thiết bị kết hợp như nước làm mát lưu thông qua
khu vực điều trị với mục đích bảo tồn niệu đạo trong khi năng lượng vi sóng làm
nóng các mô TLT bao quanh niệu đạo.


Liệu pháp nhiệt dùng bước sóng ngắn. Áp dụng cho BN mà đường tiểu chưa bị cản trở 1
cách đáng kể.
Hình: đỏ:đốt nóng bằng sóng ngắn.. xanh: dẫn nhiệt lạnh

* Liệu pháp TUNA hoạt động với 1 loại năng lượng năng lượng vô tuyến (RF)
tần số khác nhau, nhưng được thiết kế giống như các thiết bị TUMT, nhiệt tạo ra
sẽ gây ra hoại tử các tế bào TLT và thu nhỏ TLT. Thiết bị TUNA được đưa vào
niệu đạo bằng cách sử dụng 1 ống cứng giống như ống soi bàng quang. Năng
lượng được đưa vào TLT bằng cách sử dụng 2 cây kim xuất hiện từ hai bên của
thiết bị, thông qua bề mặt niệu đạo và vào TLT. Cắt bỏ bằng kim rất hiệu quả
làm nóng một vùng khu trú đến 1 nhiệt độ đủ cao để gây ra hoại tử. Việc điều
trị thường được thực hiện trong một phiên, nhưng có thể yêu cầu châm nhiều lần
tùy thuộc vào kích thước của TLT.
VI. PHẨU THUẬT:
Nếu điều trị bằng thuốc thất bại, và BN lựa chọn không thử phương pháp trị liệu
dựa vào hỗ trợ (office-based) hoặc bác sĩ xác định BN tốt nhất là cho cắt TLT
thông qua niệu đạo (TransUrethral Resection of Prostate = TURP), phẫu thuật có
thể cần phải được thực hiện. Nói chung, TURP vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng
của các can thiệp TLT cho BN cần thủ thuật. Ngoài ra còn 1 số phương pháp mới
để giảm kích thước của TLT phì, 1 số trong đó đã thiết lập đủ an toàn trong thời
gian dài hoặc tác dụng phụ. Chúng bao gồm các phương pháp khác nhau để
tiêu diệt hoặc loại bỏ 1 phần các tế bào dư thừa trong khi cố gắng để tránh làm


hỏng những gì còn lại. Dùng hơi nước nhờ điện tử qua ngã niệu đạo vào TLT
( Transurethral electroVaporization of Prostate = TVP), tia laser TURP, cắt đốt
laser qua hình ảnh (VLAP), tiêm ethanol, và những cách khác được nghiên cứu là
lựa chọn thay thế.

phương pháp TURP

Kỹ thuật mới hơn liên quan đến laser trong khoa tiết niệu đã nổi lên trong 5-10
năm qua, bắt đầu với kỹ thuật VLAP liên quan đến Nd: YAG laser chạm tới tế
bào TLT. 1 công nghệ tương tự gọi là kĩ thuật bay hơi chọn lọc hình ảnh của TLT
(Photoselective Vaporization of Prostate = PVP) với laser Greenlight (KTP hay
tinh thể LBO) đã xuất hiện rất gần đây. Thủ tục này liên quan đến một bước
sóng laser năng lượng cao 180-watt 532nm với một tia laser 650mcm được đưa
vào TLT. Tia này cho phản xạ với một góc làm chệch hướng 70 độ. Laser
GREENLIGHT 532nm dùng hemoglobin là chất mang màu và thường có độ sâu
thâm nhập 0,8 mm (sâu hơn hai lần so với holmium).
Một thủ thuật gọi là Holmium Laser cắt bỏ tuyến tiền liệt (Holmium Laser
Ablation of Prostate = HoLAP) cũng đã được chấp nhận trên toàn thế giới. Giống
như KTP, thiết bị HoLAP dùng tia 550 nm đốt phụ dùng một lần để dẫn các chùm
laser năng lượng cao 100-watt ở một góc 70 độ so với trục tia. Holmium bước
sóng 2.140 nm, nằm trong phần hồng ngoại của quang phổ và không nhìn thấy
bằng mắt thường. Trong khi đó, GREENLIGHT dựa vào hemoglobin là chất mang
màu, laser Holmium lại dùng nước trong mô. Độ sâu thâm nhập của Holmium


laser là <0,4 mm, tránh các biến chứng liên quan với hoại tử mô thường được
tìm thấy với sự xâm nhập sâu hơn và thấp hơn năng lượng cao của Nd: YAG laser
được sử dụng trong năm 1990.
HoLEP, Holmium Laser trích xuất TLT, một thủ thuật Holmium laser đã được báo
cáo thực hiện các rủi ro ít hơn so với TURP hoặc mổ hở TLT. HoLEP phần lớn là
tương tự như HoLAP; sự khác biệt chính là thủ thuật này thường được thực hiện
trên TLT to hơn. Thay vì làm mòn các mô, laser cắt giảm một phần TLT, mà sau
đó được cắt thành từng miếng nhỏ và lấp bằng dịch rửa. Thủ tục HoLAP, ít chảy
máu trong hoặc sau khi làm thủ thuật.
Cả hai bước sóng, GREENLIGHT và Holmium, cắt bỏ khoảng 1-2 gam mô mỗi
phút.
Chăm sóc hậu phẫu thường đặt sonde tiểu qua ống thông Foley hoặc một stent
tuyến tiền liệt tạm thời cho phép chữa bệnh và cho phép nước tiểu chảy ra khỏi
bàng quang.
VII. DỊCH TỄ HỌC:
Tuyến tiền liệt căng to ở hầu hết đàn ông khi lớn tuổi. Đối với một người đàn
ông không có triệu chứng vào 46 tuổi, nguy cơ phát triển BPH trong vòng 30
năm tới là 45%. Tỷ lệ mắc phải tăng từ 3 trường hợp trên 1000 ca/năm – đàn
ông ở độ tuổi 45-49, đến 38 trường hợp trên 1000 ca/năm, đàn ông từ 75-79
tuổi. Trong khi đó, tỷ lệ là 2,7% đối với nam giới tuổi từ 45-49, tăng đến 24% ở
đàn ông 80 tuổi trở đi.
Đối với một số người đàn ông, các triệu chứng có thể là đủ nghiêm trọng để yêu
cầu điều trị.
Nguồn tham khảo
chính:http://en.wikipedia.org/wiki/Benign_prostatic_hyperplasia
Nguồn hình ảnh: http://www.abbott.co.in/patientinfo.htm
http://www.sgh.com.sg/clinical-departments-centers/urology/patienteducation/pages/benign-prostate-hyperplasia.aspx
http://itulapasal.blogspot.com/2010/10/top-10-herbs-for-enhances-sexual.html



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×