Tải bản đầy đủ

Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niên yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------------

NGUYỄN HÀ MY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO
THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN TP. HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

-----------------------

NGUYỄN HÀ MY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO
THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG

TP. HỒ CHÍ MINH – 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình
nào, và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 12 năm 2017
Học viên thực hiện

Nguyễn Hà My


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU:……………………………………………………………………….1
1. Tính cần thiết của đề tài: ........................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu: ................................................................................................. 2
3. Câu hỏi nghiên cứu: .................................................................................................. 3
4. Phạm vi thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu .............................................. 3


4.1 Phạm vi thu thập dữ liệu: ........................................................................................................3
4.2 Phương pháp nghiên cứu: .......................................................................................................3
5. Đóng góp của nghiên cứu .......................................................................................... 3
6. Tính mới của đề tài: ................................................................................................... 3
7. Kết cấu của luận văn: ................................................................................................ 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ................................ 5
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới:.................................................................................................5
1.2 Các nghiên cứu trong nước: .................................................................................................11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT .............................................................................. 14
2.1 Tổng quan về công bố thông tin: ........................................................................................14
2.1.1 Khái niệm, vai trò công bố thông tin:............................................................. 14
2.1.2 Công bố thông tin bắt buộc, và công bố thông tin tự nguyện: ....................... 15
2.1.3 Các yêu cầu về công bố thông tin: ................................................................. 20
2.2 Các lý thuyết nền về công bố thông tin: ...........................................................................25
2.2.1 Lý thuyết đại diện:.......................................................................................... 25
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu ........................................................................................... 26


2.2.3 Lý thuyết tính hợp pháp ................................................................................. 26
2.2.4 Lý thuyết các bên liên quan............................................................................ 27
2.2.5 Lý thuyết chi phí sở hữu ................................................................................. 28
2.2.6 Lý thuyết kinh tế thông tin: ............................................................................ 28
2.2.7 Khung lý thuyết về công bố thông tin tại Việt Nam: ..................................... 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................... 30
3.1 Quy trình nghiên cứu……………………………………………………………30
3.2 Giả thuyết nghiên cứu: .........................................................................................................30
3.2.1 Các đặc điểm của doanh nghiệp: .................................................................... 31
3.2.2 Thuộc tính quản trị doanh nghiệp: ................................................................. 36
3.3 Mô hình nghiên cứu: ..............................................................................................................40
3.4 Phương pháp nghiên cứu: .....................................................................................................40
3.5 Chọn mẫu nghiên cứu:...........................................................................................................41
3.6 Cách thức đo lường các biến: ..............................................................................................42
3.6.1 Đo lường biến phục thuộc: ............................................................................. 42
3.6.2 Đo lường biến độc lập: ................................................................................... 46
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................................... 47
4.1 Thống kê mô tả các biến của mô hình: .............................................................................49
4.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình: .............................................49
4.3 Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến.................................................................50
4.4 Kiểm tra giả định các phần dư có phân phối chuẩn: .....................................................52
4.5 Kiểm định lại mô hình sau khi loại các biến không có ý nghĩa ở lần đầu:..............54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP, HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA
ĐỀ TÀI ........................................................................................................................... 59
5.1 Kết luận: ....................................................................................................................................59
5.2 Kiến nghị: .................................................................................................................................59


5.2.1 Đối với các cơ quan chức năng, cơ quan xây dựng chính sách: .................... 60
5.2.2 Đối với nhà đầu tư: ......................................................................................... 62
5.2.3 Đối với doanh nghiệp: .................................................................................... 63
5.2 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài: ...........................................................................66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: So sánh điểm khác nhau giữa công bố thông tin bắt buộc và công bố thông
tin tự nguyện.
Bảng 3.1: Danh sách bộ chỉ mục thông tin công bố
Bảng 3.2: Đo lường các biến độc lập của mô hình
Bảng 4.1: Bảng kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.3: Bảng phân tích kết quả hồi quy đa biến về mức độ công bố thông tin
Bảng 4.4: Các thông số thống kê trong kết quả phân tích hồi quy đa biến
Bảng 4.5: Bảng phân tích kết quả hồi quy đa biến về mức độ công bố thông tin lần 2
Bảng 4.6: Các thông số thống kê trong kết quả phân tích hồi quy đa biến lần 2
Hình 4.1: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cần thiết của đề tài:
Thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội hiện nay nói chung và
trong thị trường chứng khoán nói riêng. Thị trường chứng khoán với mục tiêu chính
là huy động vốn cho nền kinh tế, là nơi mua bán giao dịch các loại sản phẩm tài
chính. Thông tin là một yếu tố không thể thiếu và rất nhạy cảm trên thị trường
chứng khoán, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tư, bất kì một sự
bất cân xứng thông tin nào cũng sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm, trong đó
thông tin về tình hình tài chính (thông tin kế toán) chiếm vị trí trọng yếu. Cụ thể
hơn, các nhà đầu tư thông qua các thông tin về tình hình tài chính, hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ có những nhận định, phân tích, từ đó đưa ra các quyết
định đầu tư. Thông tin đúng sự thật, kịp thời sẽ làm gia tăng niềm tin của nhà đầu tư
đối với các doanh nghiệp, thị trường. Chính vì vậy công khai thông tin được xem là
nghĩa vụ quan trọng nhất của các tổ chức khi tham gia vào thị trường, góp phần vào
sự phát triển của thị trường chứng khoán của một quốc gia. Hệ thống công bố thông
tin của các nước trên thế giới đều được xây dựng nhằm đảm bảo cung cấp thông tin
nhanh chóng, kịp thời, chính xác và công bằng cho các nhà đầu tư.
Nhận thức được sự phát triển ngày càng lớn mạnh của thị trường chứng
khoán Việt Nam, tầm quan trọng của chất lượng thông tin công bố của công ty niêm
yết đối với sự phát triển của thị trường, nhằm tăng cường chất lượng thông tin công
bố, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, tạo sự minh bạch và ổn định cho thị trường, Bộ Tài
chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã có những quy định thích hợp đối với
hoạt động công bố thông tin. Thông tư số 38/2007/BTC hướng dẫn về công bố
thông tin trên thị trường chứng khoán ban hành ngày 18/4/2007 và Thông tư số
09/2010/BTC hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ban
hành ngày 15/01/2010 thay thế 38/2007/BTC; thông tư 52/2012/TT-BTC ngày
05/4/2012 bỏ quy định phải giải trình khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5
phiên liên tiếp, cổ đông nội bộ được tính thêm giám đốc tài chính, đưa công ty đại


2
chúng quy mô lớn vào diện bắt buộc công bố thông tin giống công ty niêm yết, đây
là một trong những thay đổi theo hướng tích cực của các quy định công bố thông
tin; 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về việc công
bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, mức độ của thông tin công bố
không chỉ được đảm bảo duy nhất bởi các quy định pháp lý của Nhà nước. Các
công ty niêm yết có thể chi phối thông tin thông qua lựa chọn về nội dung, phương
thức, thời gian và đối tượng công bố thông tin. Rõ ràng công bố thông tin là trách
nhiệm pháp lý song đồng thời phản ánh tính “tự nguyện” của công ty niêm yết. Thị
trường chứng khoán Việt Nam mặc dù đã đạt được những bước tiến nhất định
nhưng so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì thị trường chứng khoán
nước ta còn khá non trẻ, ẩn chứa trong nó nhiều nguy cơ và chịu sự tác động của
tình trạng thông tin bất cân xứng. Trong thực tế, việc công bố thông tin vẫn đang bị
xem nhẹ, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và nhà đầu tư, nhà đầu tư chưa
nhận được những thông tin một cách đầy đủ, minh bạch từ các doanh nghiệp, tình
trạng này có thể gây nhiều thiệt hại cho nhà đầu tư cũng như người sử dụng thông
tin. Để duy trì một thị trường vốn hiệu quả, đòi hỏi thông tin phải được công bố một
cách đầy đủ và minh bạch để tất cả những người tham gia trên thị trường có thể
phân bổ vốn một cách hiệu quả nhất.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên của các doanh
nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
-

Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của

các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
-

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin được

công bố, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo nhiều cơ
hội cho các nhà đầu tư.


3
3. Câu hỏi nghiên cứu:
-

Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các

doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh?
-

Giải pháp nào để tăng cường mức độ công bố thông tin của các doanh

nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh?
4. Phạm vi thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi thu thập dữ liệu: bài nghiên cứu sử dụng báo cáo thường niên
năm 2016 của 135 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí
Minh, trong đó loại trừ các công ty thuộc nhóm ngành tài chính (theo phân loại của
Hose) do chúng có nhiều đặc trưng khác biệt đối với các công ty ở những nhóm
ngành còn lại.
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sẽ hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích lý thuyết và sử dụng
phương pháp định lượng để xây dựng mô hình nghiên cứu, cụ thể bài nghiên cứu sử
dụng mô hình hồi quy tuyến tính, công cụ hỗ trợ kiểm định là phần mềm SPSS
phiên bản 20.0 và Microsoft Excel.
5. Đóng góp của nghiên cứu
Bài nghiên cứu góp phần củng cố thêm bằng chứng khoa học thực nghiệm và
bổ sung thêm vào kho tài liệu về chủ đề nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin của các công ty niêm yết.
Bài nghiên cứu tập trung kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin của doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí
Minh với kỳ vọng bài nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, phù hợp với tình hình
thực tế tại TP. Hồ Chí Minh. Từ đó có thể tạo cơ sở để các nghiên cứu sau tập trung
vào các nhóm ngành cụ thể, có tính tương đồng cao để đưa ra những giải pháp thực
tế trong việc nâng cao mức độ công bố thông tin nhằm làm giảm bất cân xứng thông
tin.
6. Tính mới của đề tài:


4
Trong bài nghiên cứu này tác giả sẽ kế thừa một số đặc điểm từ những
nghiên cứu trước đây như tìm hiểu khung lý thuyết, phân tích mức độ tác động của
các nhân tố đến mức độ công bố thông tin nhưng bài nghiên cứu tập trung vào cả
công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện. Bài nghiên cứu sẽ xây dựng mô hình
nghiên cứu bao gồm chín nhân tố thuộc cả hai nhóm quản trị doanh nghiệp và đặc
điểm của doanh nghiệp.
7. Kết cấu của luận văn:
Bài nghiên cứu gồm có 05 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về công bố thông tin
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – bằng cách xây dựng mô hình nghiên
cứu, các giả thuyết nghiên cứu và phương pháp định lượng để xem xét các nhân tố
ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Chương 4: Nội dung và phân tích các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Chương 5: Kết luận, giải pháp, hạn chế và hướng phát triển của đề tài.


5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới:
Vào những năm 60 của thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu
đầu tiên trên thế giới về công bố thông tin. Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của tác
giả Cerf (1961) sử dụng báo cáo thường niên của 258 của các doanh nghiệp niêm
yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York, 113 công ty niêm yết tại sở giao dịch
khác, 156 công ty OTC trong giai đoạn từ tháng 7/1956 đến tháng 6/1957. Kết quả
cho thấy mối quan hệ tích cực giữa công bố thông tin với quy mô tài sản, số lượng
cổ đông và lợi nhuận. Gần một thập kỉ sau đó, Singhvi & Desai (1971) dựa trên
nghiên cứu của Cerf (1961) cũng đưa ra kết quả tương tự.
Nghiên cứu của Firth (1979) tại Anh đã tiến hành nghiên cứu đối với 180
công ty nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện với
quy mô, tình trạng niêm yết và loại công ty kiểm toán. Kết quả cho thấy mối liên hệ
tích cực giữa quy mô, tình trạng công ty và công bố thông tin. Và không có mối liên
hệ giữa loại công ty kiểm toán và mức độ công bố thông tin.
Nghiên cứu McNally et al (1982) tại New Zealand đã tiến hành nghiên cứu
trên 103 công ty để nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện với
quy mô công ty, tỷ lệ lợi nhuận, tăng trưởng, quy mô công ty kiểm toán, nhóm
ngành công nghiệp. Kết quả cho thấy quy mô công ty có mối quan hệ tích cực với
mức độ công bố thông tin tự nguyện.
Nghiên cứu của Cooke (1992) tại Nhật Bản để nghiên cứu mối liên hệ giữa
công bố thông tin tự nguyện và bắt buộc với quy mô công ty, tình trạng niêm yết,
nhóm ngành công nghiệp. Nghiên cứu được tiến hành đối với 35 công ty, kết quả
cho thấy quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp có mối
quan hệ tích cực với mức độ công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện. Năm 1993,
Cooke tiếp tục thực hiện nghiên cứu báo cáo thường niên của 48 công ty tại Nhật
Bản về mức độ công bố thông tin tự nguyện với chỉ số công bố không trọng số, tình
trạng niêm yết. Kết quả tìm ra được mức độ công bố thông tin tự nguyện có mối
liên hệ với tình trạng niêm yết của công ty.


6
Nghiên cứu của Ahmed and Nicholls (1994) về công bố thông tin bắt buộc
được thực hiện tại Bangladesh được tiến hành đối với 63 công ty, 94 mục công bố
nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa công bố thông tin bắt buộc với chỉ số công bố, quy
mô công ty, đòn bẩy, công ty kiểm toán, công ty đa quốc gia, trình độ của kế toán
trưởng thông qua sử dụng mô hình hồi quy. Nghiên cứu cho thấy công ty đa quốc
gia, trình độ của kế toán trưởng và quy mô công ty ảnh hưởng đến mức độ công bố
thông tin bắt buộc.
Nghiên cứu của Hossain và các cộng sự (1994) tại Malaysia được tiến hành
đối với 67 công ty, 78 mục công bố, sử dụng phương pháp hồi quy đơn biến và đa
biến nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện với chỉ số công
bố, quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tài sản, công ty kiểm toán và tình
trạng niêm yết. Kết quả cho thấy quy mô công ty, cấu trúc sở hữu và tình trạng niêm
yết có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện.
Nghiên cứu của Wallace và các cộng sự (1994) tại Tây Ban Nha được tiến
hành đối với 50 công ty, 79 mục công bố, sử dụng phương pháp hồi quy đa biến
nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin với chỉ số công bố, quy mô
công ty, đòn bẩy, lợi nhuận, công ty kiểm toán và khả năng thanh khoản. Kết quả
cho thấy quy mô công ty và tình trạng niêm yết có ảnh hưởng tích cực, ngược lại thì
tính thanh khoản có ảnh hưởng tiêu cực.
Nghiên cứu của Owusu- Ansah (1998) nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của đặc
điểm công ty đến mức độ công bố thông tin bắt buộc tại Zimbabwe. Kết quả cho
thấy tuổi của công ty, quy mô của công ty, khả năng sinh lời, cấu trúc chủ sở hữu có
tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin bắt buộc của công ty.
Nghiên cứu của Ho và Wong (2001) nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa bốn cơ
chế quản trị doanh nghiệp chính (tỷ lệ giám đốc độc lập so với tổng số giám đốc
trong hội đồng quản trị, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán tự nguyện, sự tồn tại
của cá nhân vừa là giám đốc điều hành vừa là chủ tịch hội đồng quản trị, và tỷ lệ
thành viên gia đình trong hội đồng) và mức độ công bố thông tin tự nguyện ở Hồng
Kông. Kết quả cho thấy sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán, có liên quan đáng kể


7
và tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, trong khi tỷ lệ thành viên gia
đình trong hội đồng quản trị, có mối liên quan tiêu cực đến mức độ công bố thông
tin tự nguyện. Hạn chế của bài nghiên cứu là chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố
về cơ chế quản trị doanh nghiệp, mà không xét đến các nhân tố liên quan đến hoạt
động của công ty như lợi nhuận, tính thanh khoản,…
Châu và Gray (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và
công bố thông tin tự nguyện ở Hồng Kông và Singapore. Kết quả cho thấy rằng
mức độ sở hữu bên ngoài có liên quan tích cực đến công bố thông tin tự nguyện và
nội bộ hoặc quyền sở hữu gia đình có liên quan tiêu cực.
Nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002) tại Malaysia được tiến hành đối với
167 công ty, 65 mục công bố, kiểm tra mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện
với chỉ số công bố, quản trị doanh nghiệp, văn hóa và đặc điểm cụ thể của công ty
thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy đa biến. Kết quả cho thấy các thành viên
gia đình thuộc hội đồng quản trị, chủ tịch không điều hành có tác động đến việc
công bố thông tin tự nguyện. Một trong những hạn chế trong nghiên cứu này là nó
chỉ xem xét mối quan hệ của ba nhóm biến với mức độ công bố tự nguyện. Như
vậy, một phần mở rộng của nghiên cứu này sẽ là kết hợp các nhóm biến này trong
các nghiên cứu nhằm xem xét mức độ công bố bắt buộc đặc biệt ở các nước đang
phát triển bởi vì người ta thường lập luận rằng các nước như vậy thông tin thường
không được công bố rộng rãi và có thể không tuân thủ tất cả các yêu cầu.
Nghiên cứu của Ali và các cộng sự (2004) được thực hiện tại Pakistan, Ấn
Độ và Bangladesh nhằm kiểm tra tác động của quy mô công ty, đòn bẩy, ảnh hưởng
của các công ty đa quốc gia, quy mô của các công ty kiểm toán và lợi nhuận đến
công bố thông tin bắt buộc với. Kết quả chỉ ra quy mô công ty, ảnh hưởng của các
công ty đa quốc gia, lợi nhuận có mối liên hệ tích cực đối với công bố thông tin bắt
buộc.
Nghiên cứu của Waresul Karim và Jamal Uddin Ahmed (2005) nhằm kiểm
tra mức độ công bố thông tin tài chính khi áp dụng các chuẩn mực Kế toán Quốc tế
(IAS) ở Bangladesh và mối liên hệ giữa một số thuộc tính của công ty và mức độ


8
công khai trong công ty báo cáo hàng năm ở Bangladesh. Bài nghiên cứu sử dụng
chỉ số công bố không trọng số bao gồm 411 mục và áp dụng cho báo cáo hàng năm
của 188 công ty thông qua việc sử dụng nhiều mô hình hồi quy tuyến tính. Kết quả
chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, mức độ bảo mật của các loại giao dịch
chứng khoán và liên kết quốc tế của kiểm toán viên của công ty, và chi nhánh đa
quốc gia đều liên quan đáng kể đến mức độ công bố thông tin.
Nghiên cứu của Oliveria và công sự (2006) tại Bồ Đào Nha đưa ra kết quả:
quy mô công ty, loại kiểm toán viên, sự tập trung quyền sở hữu, tình trạng niêm yết,
ngành có tác động tích cực đến việc công bố thông tin, trong khi đó đòn bẩy tài
chính và lợi nhuận không có tác động.
Nghiên cứu Agea và Onder (2007) tại Thổ Nhĩ Kỳ về công bố thông tin tự
nguyện. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng: lợi nhuận, kiểm toán viên có mối liên
hệ tích cực đối với công bố thông tin tự nguyện, ngược lại thì quy mô công ty có tác
động tiêu cực; các yếu tố như cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tính đa quốc gia không có
mối liên hệ với việc công bố thông tin tự nguyện.
Nghiên cứu của Nazli và Ghazali (2007) đã kiểm tra ảnh hưởng của cấu trúc
sở hữu đối với trách nhiệm công bố thông tin, nghiên cứu được thực hiện ở
Malaysia. Kết quả cho thấy, các công ty mà các giám đốc nắm giữ một tỷ lệ cổ phần
cao hơn thường ít công bố thông tin, trong khi các công ty mà chính phủ là một cổ
đông lớn, thường công bố thông tin nhiều hơn.
Nghiên cứu của Archambault về công bố thông tin được thực hiện tại 37
quốc gia, kết quả cho thấy các yếu tố về tài chính như: niêm yết sàn giao dịch, cổ
tức, quy mô công ty kiểm toán và các yếu tố hoạt động như số lượng ngành, doanh
thu nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin; quyền sở hữu,
đòn bẩy, quy mô công ty lại không có tác động đến việc công bố thông tin.
Nghiên cứu thực nghiệm của Mohamed và các cộng sự (2009) về mức độ
quản trị doanh nghiệp và công bố thông tin của các công ty niêm yết tại Malaysia.
Các yếu tố quản trị được kiểm tra là quy mô của Hội đồng quản trị, tỷ lệ các giám
đốc độc lập không điều hành trong hội đồng quản trị, cổ phần sở hữu bên ngoài,


9
kiểm soát gia đình và tỷ lệ phần trăm thành viên ban kiểm toán trên tổng số thành
viên hội đồng quản trị. Kết quả của cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quy mô công
ty, tỷ lệ các giám đốc độc lập và công bố tự nguyện. Tuy nhiên, mức độ công bố
này có mối liên hệ tiêu cực đến kiểm soát gia đình, trong khi đó tỷ lệ phần trăm
thành viên ban kiểm toán trên tổng số thành viên hội đồng quản trị không có tác
động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện.
Nghiên cứu của Ros Haniffa và Terry Cooke (2010) về văn hóa, quản trị
doanh nghiệp và công bố thông tin của các doanh nghiệp Malaysia. Kết quả cho
thấy đặc điểm của từng công ty cụ thể và đặc điểm quản trị doanh nghiệp có mối
quan hệ với mức độ công bố thông tin. Cụ thể, chủ tịch hội đồng quản trị như giám
đốc không điều hành có mối quan hệ tiêu cực với mức độ công bố thông tin và có
hệ số hồi quy cao nhất, điều này có thấy một chủ tịch không điều hành là điều cần
thiết như một cơ chế kiểm tra và cân bằng.
Nghiên cứu của Despina Galani và các cộng sự (2011) sử dụng báo cáo
thường niên năm 2009 của 43 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Athens,
bao gồm 100 khoản mục công bố bắt buộc, nhằm nghiên cứu tác động của đặc điểm
công ty đến mức độ công bố thông tin bắt buộc. Kết quả cho thấy có mối tương
quan dương đáng kể giữa quy mô công ty và mức độ công bố thông tin, trong khi đó
tuổi của công ty và khả năng sinh lời lại không có tác động đến mức độ công bố
thông tin bắt buộc. Hạn chế mà bài nghiên cứu đưa ra là chỉ thực hiện trong một
năm và tại một quốc gia, bài nghiên cứu cũng đề xuất thực hiện nghiên cứu trong
khoảng thời gian dài hơn, từ năm tới mười năm.
Nghiên cứu của Abdur Rouf (2011) về đặc điểm doanh nghiệp, các thuộc
tính quản trị và mức độ công bố tự nguyện ở Bangladesh. Mục tiêu là nghiên cứu
đặc điểm của công ty, các thuộc tính quản trị và ảnh hưởng của chúng đối với việc
công bố thông tin tự nguyện. Cụ thể, tác giả nghiên cứu những nhân tố có tác động
đáng kể đến việc tăng mức độ công bố tự nguyện. Kết quả nghiên cứu này cho thấy
số lượng thành viên hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán của công ty có ảnh
hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện.


10
Nghiên cứu của Nandi và Ghosh (2012) được thực hiện tại Ấn Độ, nhằm
nghiên cứu quản trị doanh nghiệp, đặc tính của doanh nghiệp và mức độ công bố
thông tin. Mẫu được lựa chọn là báo cáo thường niên của 60 công ty niêm yết tại thị
trường chứng khoán Bombay. Để kiểm tra sự liên quan giữa các biến và mức độ
công bố của công ty, nhiều mô hình hồi quy đã được sử dụng. Các kết quả cho thấy
có sự tác động tích cực giữa quy mô hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên ban kiểm
toán trên thành viên hội đồng quản trị, quyền kiểm soát gia đình, lợi nhuận, tính
thanh khoản đến mức độ công bố thông tin của công ty. Tuy nhiên, mức độ này lại
có sự liên quan tiêu cực đến thành phần hội đồng quản trị, đòn bẩy và tuổi của công
ty.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Ali Uyar, Merve Kilic và Nizamettin Bayyurt
(2013) về đặc điểm của công ty và việc công bố thông tin tự nguyện của các doanh
nghiệp niêm yết tại Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa mức
độ công bố thông tin tự nguyện và các biến như quy mô công ty, quy mô của công
ty kiểm toán, mức độ độc lập của các giám đốc trong hội đồng. Tuy nhiên, đòn bẩy
tài chính lại có mối liên hệ tiêu cực. Nghiên cứu này có một số ý nghĩa đối với các
doanh nghiệp, kiểm toán viên, nhà đầu tư, và các nhà quản lý. Tất cả các chủ thể
này đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện tính minh bạch và công khai
thông tin của các công ty. Các doanh nghiệp có thể tăng việc công bố thông tin tự
nguyện bằng cách nhận thức được lợi ích của việc công bố thông tin. Các nhà đầu
tư có thể yêu cầu công bố cao hơn từ sự quản lý. Các nhà chức năng có thể hướng
dẫn các doanh nghiệp bằng việc ban hành các nguyên tắc hướng dẫn cho việc công
bố tự nguyện được phù hợp trong báo cáo hàng năm. Các công ty kiểm toán cũng
có thể đóng góp vào việc cải thiện văn hoá doanh nghiệp về công bố thông tin.
Nghiên cứu Khaled Aljifri và các cộng sự (2014) nhằm xem xét tác động của
đặc điểm công ty đến vấn đề công bố thông tin tài chính thông qua nghiên cứu báo
cáo thường niên của 143 công ty ở các nước tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Bài
nghiên cứu đưa ra tám giả thuyết nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy
tình trạng niêm yết, ngành nghề, và quy mô của doanh nghiệp có tác động đến mức


11
độ công bố. Kết luận rút ra từ nghiên cứu này có thể được quan tâm bởi các nhà
hoạch định chính sách và các nhà quản lý muốn cải thiện việc công bố thông tin tài
chính của các doanh nghiệp ở nước họ.
1.2 Các nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin của doanh
nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư” của hai tác giả Lê Trường Vinh và
Hoàng Trọng (2008) đã nghiên cứu về tính minh bạch của thông tin được công bố
từ các doanh nghiệp niêm yết. Thông qua việc phát bảng câu hỏi, tác giả đã dùng
đánh giá của nhà đầu tư để thành lập nên chỉ số đại diện cho mức độ minh bạch của
thông tin. Tuy nhiên, theo tác giả thì đối tượng sử dụng thông tin từ báo cáo của các
doanh nghiệp niêm yết không chỉ giới hạn ở bộ phận nhà đầu tư mà đòi hỏi cần phải
có một thang đo khách quan cho mọi đối tượng sử dụng thông tin.
Nghiên cứu “Voluntary Disclosure Information in the Annual Reports of
Non Financial Listed Companies: The Case of Vietnam” của tác giả Tạ Quang Bình
(2012) đã nghiên cứu báo cáo thường niên năm 2009 của 199 công ty niêm yết
(không thuộc lĩnh vực tài chính) tại Việt Nam. Kết quả nhiên cứu cho thấy cả những
nhà phân tích tài chính và các nhà quản trị đều có sự đồng thuận về mức độ quan
trọng của các khoản mục công bố thông tin tự nguyện nhưng mức độ kỳ vọng của
các nhà phân tích tài chính và các nhà quản trị là khác nhau. Tuy nhiên nghiên cứu
này chưa xác định rõ các nhân tố có thể tác động đến mức độ công bố thông tin tự
nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Phương và cộng sự (2012): “Nghiên
cứu thực trạng công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” đã giới thiệu phương pháp
khoa học khi xây dựng hệ thống chỉ mục đo lường mức độ công bố khá hoàn chỉnh
và lập luận một cách chặt chẽ về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông
tin. Tác giả đã hệ thống hoá và đóng góp nhiều giải pháp nhằm cải thiện mức độ
mức độ công bố thông tin trong BCTC. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa phân tích


12
ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về đặc điểm quản trị và sở hữu đến mức độ công bố
thông tin của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013): “Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp
niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội”, tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng
của các yếu tố: quy mô doanh nghiệp; khả năng sinh lời; đòn bẩy nợ; tính thanh
khoản; chủ thể kiểm toán; thời gian hoạt động và tài sản cố định. Kết quả đã chỉ ra
rằng yếu tố khả năng sinh lời và yếu tố tài sản cố định là các yếu tố tác động đến
mức độ CBTT trong BCTC.
Bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự
nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên Hose” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hảo
(2015) sử dụng phương pháp định lượng khảo sát trên báo cáo thường niên của 106
công ty niêm yết trên Hose nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niên yết trên Hose. Kết quả cho thấy
quy mô, loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài, lợi nhuận có tác động đến công bố
thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niên yết trên Hose. Tuy nhiên hạn chế
của nghiên cứu là chỉ giải thích được 25% mức độ công bố thông tin tự nguyện trên
thị trường Hose, còn 75% sẽ được giải thích bằng các nhân tố khác không có trong
mô hình.
Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong
báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại
Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh" của tác giả Nguyễn Thị Thủy Hưởng
(2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố như: quy mô doanh nghiệp, khả
năng sinh lời, đòn bẩy nợ, tính thanh khoản, chủ thể kiểm toán, tài sản cố định đến
mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến
lương thực thực phẩm niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh.
Kết quả cho thấy nhân tố khả năng thanh toán có ảnh hưởng thuận chiều với mức độ
công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết.


13
Nhìn chung, trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về các
nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp, tuy nhiên
một số nghiên cứu chỉ nghiên cứu đơn thuần về công bố thông tin bắt buộc hoặc
công bố thông tin tự nguyện, cũng có những nghiên cứu kết hợp cả hai nhưng lại
không nghiên cứu, phân tích và chia các nhân tố thành hai nhóm là đặc điểm của
doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là các nghiên cứu ở Việt Nam.
Việc phân tích xuất phát từ hai nhóm đặc điểm của doanh nghiệp và quản trị doanh
nghiệp sẽ giúp người sử dụng thông tin, doanh nghiệp sẽ nhận định được là hai
nhóm nhân tố và từng nhân tố trong đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến mức độ công
bố thông tin; từ đó có thể đưa ra các giải pháp cụ thể cho từng nhân tố.


14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tổng quan về công bố thông tin:
2.1.1 Khái niệm, vai trò công bố thông tin:

Công bố thông tin:
Vấn đề công bố thông tin trong báo cáo thường niên của công ty đã nhận
được rất nhiều sự chú ý trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt ở các nước phát triển.
Để giảm bớt những khủng hoảng, bất cân xứng thông tin và sự thất bại trong việc sử
dụng thông tin của nhà đầu tư thì tầm quan trọng của công bố thông tin của doanh
nghiệp đang tăng lên hàng ngày (Nandi và Gohosh, 2012). Báo cáo thường niên là
công cụ quan trọng của báo cáo sự minh bạch và thực tiễn công bố thông tin của
doanh nghiệp. Mức độ công bố của công ty trong báo cáo tài chính càng cao sẽ làm
giảm sự bất cân xứng về thông tin giữa các công ty và các nhà đầu tư, làm tăng giá
trị cổ phiếu trên thị trường vốn và tăng thanh khoản (Karim, 1996).
Lý thuyết công bố thông tin cho thấy việc công bố của công ty là công việc
phức tạp, là tập hợp đa dạng các diễn giải. Gibbins và các cộng sự (1992) đã lập
luận, các tổ chức có thể công bố thông tin để hỗ trợ hiệu quả cho trao đổi và sản
xuất, nhưng họ cũng công bố thông tin để thiết lập sự tuân thủ của họ với các giá trị
xã hội được phản ánh trong các quy định và các quy tắc không chính thức.
Những thay đổi trong môi trường kinh doanh quốc tế đã đưa ra những đánh
giá về bản chất và nội dung báo cáo của công ty. Rất nhiều cuộc tranh luận đã được
tạo ra giữa những người sử dụng báo cáo và những quy định khác nhau của các tổ
chức tham gia vào quá trình thiết lập các tiêu chuẩn kế toán và báo cáo. Nguyên
nhân chủ yếu là do người sử dụng báo cáo có nhu cầu được hiểu biết rõ hơn về tình
hình hoạt động của công ty, về sự khác biệt giữa thị trường và giá trị sổ sách của
công ty nhưng những thông tin trên báo cáo lại không đủ để giải quyết nhu cầu
thông tin của người sử dụng thực tế. Vì vậy công bố thông tin công ty là rất quan
trọng cho hoạt động của một thị trường vốn hiệu quả (Adina và Ion, 2008), đặc biệt
là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay (Smith và Adhikari, 2005).


15
Trong thực tế, việc công bố thông tin là một khái niệm lý thuyết rất khó đo
lường trực tiếp (Marston và Shrives, 1991). Theo Owusu-Ansah (1998), công bố
thông tin là sự truyền đạt các thông tin kinh tế, tài chính và phi tài chính liên quan
đến vị thế tài chính và tình hình hoạt động của công ty. Theo quy định trong sổ tay
công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết thì " Công bố thông tin được hiểu
là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo
các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng".


Vai trò của công bố thông tin:

Công bố thông tin là một yếu tố quyết định trong việc đảm bảo phân bổ có
hiệu quả các nguồn lực trong xã hội và làm giảm sự việc bất cân xứng thông tin
giữa công ty và các bên liên quan (Adina và Ion, 2008). Chính vì vậy việc công bố
thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán có ảnh hưởng rất lớn
trong nền kinh tế, ảnh hưởng này không chỉ trong tình hình tài chính của từng
doanh nghiệp mà còn lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế.
2.1.2 Công bố thông tin bắt buộc, và công bố thông tin tự nguyện:

Công bố thông tin bắt buộc:
Công bố thông tin bắt buộc đề cập đến những khía cạnh và thông tin phải
được công bố như là kết quả của sự tồn tại của một số quy định pháp luật, thị trường
vốn, thị trường chứng khoán hoặc quy định của cơ quan quản lý. Mục đích của việc
công bố này là nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin, đảm bảo kiểm
soát chất lượng sản xuất thông qua việc tuân thủ các quy định của pháp luật và tiêu
chuẩn (Adina và Ion, 2008), đồng thời giúp bảo vệ an toàn và lợi ích của các nhà
đầu tư.
Động cơ công bố thông tin bắt buộc:
Beyer và các cộng sự (2010) chỉ ra hiện nay không có lý thuyết thống nhất
về công bố bắt buộc, và câu hỏi tại sao quy định về việc công bố phần lớn vẫn chưa
được trả lời. Tuy nhiên, tác giả đã đưa ra bốn lý do chính cho quy định công bố
thông tin như sau:


16
Thứ nhất, khi một công ty công bố vị thế tài chính của mình và về một công
ty khác thì sẽ làm xuất hiện các yếu tố tài chính ngoại tác. Các công ty thường bỏ
qua thông tin mà họ công bố về công ty khác, điều này có thể làm cho các công ty
giảm cung cấp thông tin. Kết quả là, các quy định về công bố thông tin sẽ giúp cải
thiện phúc lợi xã hội;
Thứ hai, các yếu tố ngoại tác thực sự tồn tại khi việc công bố thông tin của
một công ty ảnh hưởng đến quyết định của các công ty khác. Ví dụ như việc công
bố của một công ty về thu nhập mong đợi tương lai có thể ảnh hưởng đến quyết
định của các đối thủ cạnh tranh để gia nhập hoặc rời khỏi ngành hoặc quyết định về
số lượng sản xuất. Nếu thông tin được công bố cho phép các công ty khác ra quyết
định thăm dò, quy định bắt buộc công bố thông tin bổ sung có thể cải thiện phúc lợi
xã hội;
Thứ ba, công bố thông tin có thể giảm chi phí đại diện và cho phép hợp đồng
hiệu quả hơn;
Thứ tư, các chuẩn mực kế toán thông thường có lợi ích đối với nhà đầu tư
bởi việc giảm nỗ lực để thu thập thông tin và cải thiện tính so sánh được của thông
tin công bố của công ty, điều này giúp đánh giá chính xác hơn về hoạt động của
công ty.


Công bố thông tin tự nguyện:

Trong thực tế việc công bố thông tin bắt buộc có thể sẽ không thỏa mãn nhu
cầu về thông tin của các nhà đầu tư. Do đó việc công bố thông tin tự nguyện sẽ giúp
nhà quản lý chuyển các thông tin cần thiết về kết quả hoạt động tới nhà đầu tư
(Healy và cộng sự, 2001), từ đó giúp nhà đầu tư có nhiều thông tin hơn trong việc ra
quyết định. Theo Adina và Ion (2008) không có khái niệm chung hoặc nền tảng lý
thuyết cho việc công bố thông tin tự nguyện. Công bố thông tin tự nguyện được
hiểu là việc công bố vượt quá yêu cầu, đại diện cho sự lựa chọn tự do của các nhà
quản lý công ty nhằm cung cấp các thông tin về kế toán và các thông tin khác có
liên quan đến quyết định của người sử dụng các báo cáo của công ty, các công ty
luôn được khuyến khích để công bố thông tin tự nguyện (Meek và cộng sự, 1995).


17
Việc công bố thông tin tự nguyện như là một thông tin bổ sung liên quan đến các
quy định quốc gia khác nhau hoặc tham chiếu quốc tế về báo cáo kinh doanh, là một
điều không bắt buộc theo luật pháp, nhưng trở nên tự nguyện thông qua các hành vi
liên quan đến công bố. Công bố thông tin tự nguyện phụ thuộc vào cả sự lựa chọn
tự do của các nhà quản lý doanh nghiệp và về các quy định có hiệu lực, các áp lực
bên ngoài của thị trường vốn, các nhà phân tích tài chính, các nhà tư vấn và các yếu
tố văn hoá (Adina và Ion, 2008).
Công bố thông tin tự nguyện nhằm mục đích giới thiệu và giải thích tiềm
năng của các công ty với các nhà đầu tư, thúc đẩy sự lưu thông của thị trường vốn,
phân bổ vốn có hiệu quả và giảm chi phí vốn, đạt được mối liên hệ tích cực hơn với
các nhà đầu tư (Ti và Chen 2009).
Động cơ công bố thông tin tự nguyện:
Bertomeu và cộng sự (2008) nghiên cứu liệu việc công bố thông tin tự
nguyện của các công ty có thể giảm bất cân xứng thông tin trên thị trường tài chính
và dẫn đến nguồn tài trợ rẻ hơn. Tác giả tìm ra rằng công bố nhiều hơn xảy ra trong
các môi trường với ít bất cân xứng thông tin hơn, phù hợp với mối quan hệ giữa
công bố thông tin và chi phí vốn. Arya và Mittendorf (2007) cho thấy việc các công
ty công bố thông tin nhiều hơn có thể dẫn đến sự ít công bố bởi các nhà cung cấp
thông tin bên ngoài; dẫn đến thông tin độc quyền thấp hơn và giá trị cao hơn cho cổ
đông.
Healy và cộng sự (2001) đã đưa ra năm giả thuyết tác động đến quyết định
công bố thông tin của nhà quản lý cho thị trường vốn:
Giả thuyết giao dịch thị trường vốn: các công ty khi tham gia vào các giao
dịch trên thị trường vốn được khuyến khích cung cấp thông tin tự nguyện để giảm
vấn đề bất cân xứng thông tin, từ đó giảm chi phí tài chính không thiết yếu.
Giả thuyết kiểm soát doanh nghiệp: khi công ty hoạt động không tốt, nhà
quản lý thường công bố thông tin tự nguyện để cải thiện việc định giá công ty và
giải thích cho hoạt động kém của công ty.


18
Giả thuyết lợi ích chứng khoán: công bố thông tin tự nguyện giúp nhà quản
lý nhận được các lợi tức chứng khoán để giảm khả năng giao dịch nội bộ, tăng tính
thanh khoản cho cổ phiếu của công ty và giảm chi phí hợp đồng liên quan đến lợi
tức chứng khoán cho nhân viên mới.
Giả thuyết chi phí kiện tụng: nhà quản lý tự nguyện công bố thông tin xấu để
ngăn chặn các hoạt động pháp luật chống lại chính họ (giảm rủi ro kiện tụng).
Giả thuyết chi phí sở hữu: các công ty thường có xu hướng ít công bố thông
tin nếu họ nhận thấy rằng nó làm giảm vị thế cạnh tranh của họ.


Mối quan hệ giữa công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin

tự nguyện:
Xem xét từ việc phát triển hệ thống công bố thông tin, việc công bố tự
nguyện xuất hiện sau công bố thông tin bắt buộc. Theo nghĩa nào đó, việc công bố
tự nguyện là việc mở rộng và bổ sung cho công bố thông tin bắt buộc (Ti và Chen
2009). Công bố thông tin bắt buộc là việc chấp hành của công ty đối với các quy
định, công bố một lượng tối thiếu thông tin (Owusu-Ansah 1998). Trong khi đó
công bố thông tin tự nguyện là việc mở rộng khi mà công bố thông tin bắt buộc
không đủ để phác họa về tình hình tài chính và hoạt động của công ty.
Việc công bố bắt buộc có thể làm giảm hoặc ảnh hưởng đến việc công bố tự
nguyện. Ronen và Raari (2002, trang 21-23) chỉ ra rằng việc công bố bắt buộc
không thể ngăn việc công bố thông tin sai lệch nhưng phải kiềm chế công bố tự
nguyện. Do đó, một số công ty có thể chọn áp dụng chiến lược công bố một phần
theo đó họ chỉ công bố những tin tức tích cực hay những tin tức tiêu cực. Một
nghiên cứu hoàn thành bởi Gigler và Hemmer (1998, trang 117-147) cho thấy sự
hoàn hảo của việc công bố bắt buộc và quy định thị trường liên quan có hai tác động
đến việc công bố tự nguyện:
Giảm việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết. Nếu các
công ty niêm yết đã được yêu cầu công bố thêm thông tin, công bố thông tin tự
nguyện sẽ làm tăng chi phí của công ty, bao gồm chi phí của cả quá trình thông tin
và phát hành, rủi ro tố cáo và mất lợi thế cạnh tranh. Trong khi đó, công bố thông


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×