Tải bản đầy đủ

Giá trị tài sản vô hình, đòn bẩy tài chính và sở hữu nhà nước nghiên cứu các doanh nghiệp niêm yết tại việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------

PHẠM TRƯỜNG GIANG

GIÁ TRỊ TÀI SẢN VÔ HÌNH,
ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC:
NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------

PHẠM TRƯỜNG GIANG


GIÁ TRỊ TÀI SẢN VÔ HÌNH,
ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC:
NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ VIỆT QUẢNG

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Giá trị tài sản vô hình, đòn bẩy
tài chính và sở hữu nhà nước: nghiên cứu các doanh nghiệp
niêm yết tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của riêng tôi. Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án
có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định. Các kết
quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một
cách trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong
bất kỳ nghiên cứu nào khác. Tất cả những tham khảo và kế
thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Nghiên cứu sinh

Phạm Trường Giang


TÓM TẮT
Tài sản vô hình ngày càng có vai trò quan trọng trong việc hình thành giá trị
doanh nghiệp trong nền kinh tế tri thức hiện nay. Khác với tài sản hữu hình, quá
trình hình thành tài sản vô hình đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và tri thức hơn.
Tuy nhiên, cũng sẽ rủi ro hơn cho doanh nghiệp khi mà tài sản vô hình được hình
thành hôm nay chỉ mang lại giá trị kỳ vọng trong tương lai. Cũng chính vì lý do đó,
trong học thuật, tài sản vô hình cũng chỉ được sử dụng như một yếu tố dự báo cho
dòng tiền chứ ít khi dựa vào đó để đánh giá tình hình hiện tại của doanh nghiệp. Có


hai phương pháp đo lường giá trị tài sản vô hình là: (1) ước tính phần chênh lệch
giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách của doanh nghiệp, (2) phân tích các loại tài
sản vô hình của doanh nghiệp và tiến hành định giá từng loại, (3) sử dụng một chỉ
tiêu để đại diện cho giá trị tài sản vô hình. Phương pháp (1) gặp phải các khó khăn
khi mà giá trị thị trường đôi lúc bị ảnh hưởng nhiều bởi các cú sốc, tâm lý nhà đầu
tư, trong khi phương pháp (2) lại mất nhiều thời gian, tốn kém mà đôi khi kết quả
còn phụ thuộc vào công tác định giá của các tài sản thành phần. Cuối cùng, phương
án thứ (3) có vẻ hợp lý hơn cả khi đánh giá giá trị tài sản một cách tương đối trong
mối quan hệ so sánh với các doanh nghiệp trên thị trường. Lev và Sougiannis
(1999) đã đưa ra hai yếu tố: tỷ số số M/B và chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D)
với hàm ý chúng có thể đại diện cho giá trị vô hình của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tỷ
số M/B cũng dễ chịu tác động của thị trường và chi phí R&D dường như hiếm biết
được chính xác tại Việt Nam. Bài nghiên cứu này đã tìm ra được nhân tố đại
diện cho giá trị vô hình của doanh nghiệp và khắc phục được những yếu điểm
trên, đó là ROTA (tỷ số Lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao/Tài sản cố
định hữu hình). Tỷ số ROTA được chứng minh về mặt lý thuyết là phù hợp với
những yêu cầu đặt ra. Bằng cách xếp hạng tỷ số này có thể cho kết quả giá trị vô
hình của doanh nghiệp một cách tương đối. Trên cơ sở giá trị vô hình thu được,
bài nghiên cứu đào sâu và tìm thấy mối quan hệ thuận chiều của giá trị doanh
nghiệp, đòn bẩy tài chính và giá trị tài sản vô hình. Dưới tác động của yếu tố sở
hữu nhà nước, mối quan hệ giữa các yếu tố vẫn được duy trì quá có ý nghĩa.


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
TÓM TẮT
1. PHẦN 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU .......... 1
1.1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................... 7
1.3. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 8
1.4. Câu hỏi nghiên cứu ..................................................................................... 9
1.5. Đóng góp của đề tài................................................................................... 10
1.6. Cấu trúc đề tài ........................................................................................... 11
2. PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .................. 13
2.1. Về khái niệm tài sản vô hình ..................................................................... 13
2.2. Tính khác biệt của tài sản vô hình............................................................. 14
2.2.1. Tính sở hữu không hoàn toàn ............................................................. 14
2.2.2. Tính phi thị trường ............................................................................. 15
2.3. Các dạng của tài sản vô hình ..................................................................... 16
2.3.1. Sản phẩm hoặc dịch vụ ...................................................................... 16
2.3.2 Quan hệ khách hàng ............................................................................ 17
2.3.3 Nguồn nhân lực ................................................................................... 17
2.3.4 Mô hình tổ chức .................................................................................. 17
2.4. Các nghiên cứu trước đây về ước tính giá trị tài sản vô hình ................... 18


2.4.1. Cấp độ vĩ mô ...................................................................................... 18
2.4.2. Cấp độ doanh nghiệp.......................................................................... 19
2.4.3. Những ước tính gián tiếp ................................................................... 21
2.5. Thước đo mới để ước tính giá trị tài sản vô hình ...................................... 22
2.5.1. Cơ sở lý thuyết ................................................................................... 22
2.5.2. Đánh giá thước đo mới so với thước đo trong các nghiên cứu trước 24
2.6. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và giá trị tài sản vô
hình ................................................................................................................... 24
3. PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................ 27
3.1. Mô tả dữ liệu ............................................................................................. 27
3.2. Mô tả nghiên cứu....................................................................................... 28
3.2.1. Các bước thực hiện kiểm định mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp
và tài sản vô hình.......................................................................................... 28
3.2.2. Các bước kiểm tra mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính, tài sản vô hình
dưới sự ảnh hưởng của đặc tính sở hữu nhà nước ....................................... 30
3.3. Mô hình nghiên cứu .................................................................................. 31
3.3.1. Mô hình sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp
và tài sản vô hình.......................................................................................... 31
3.3.2. Mô hình sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và
tài sản vô hình .............................................................................................. 34
3.4. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................... 36
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................................ 37
4.1. Kết quả hồi quy nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và tài
sản vô hình ....................................................................................................... 37
4.1.1. Mô tả chung về các biến trong mô hình hồi quy nghiên cứu mối quan
hệ giữa giá trị doanh nghiệp và tài sản vô hình ........................................... 37


4.1.2. Kết quả hồi quy trong mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị
doanh nghiệp và tài sản vô hình ................................................................... 38
4.2. Kết quả hồi quy mối quan hệ giữa tài sản vô hình và đòn bẩy tài chính của
doanh nghiệp .................................................................................................... 39
4.2.1. Mô tả chung về các biến trong mô hình hồi quy mối quan hệ giữa tài
sản vô hình và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp .................................... 39
4.2.2. Kết quả hồi quy mối quan hệ giữa tài sản vô hình và đòn bẩy tài chính
của doanh nghiệp.......................................................................................... 40
4.2.3. Kết quả hồi quy mối quan hệ giữa tài sản vô hình và đòn bẩy tài chính
của doanh nghiệp với sự xuất hiện của sở hữu nhà nước ............................ 41
5. KẾT LUẬN ..................................................................................................... 43
5.1. Kết luận về các kết quả của bài nghiên cứu .............................................. 43
5.2. Hạn chế của bài nghiên cứu ...................................................................... 44
5.3. Khắc phục các hạn chế .............................................................................. 45
5.4. Đề xuất hướng nghiên cứu mới ................................................................. 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC A
Bảng A1. Kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy nghiên cứu
mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và tài sản vô hình.
Bảng A2. Kết quả tương quan các biến trong mô hình hồi quy nghiên cứu mối
quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và tài sản vô hình.
Bảng A3. Kết quả hồi quy riêng biệt cho biến R&D.
Bảng A4. Kết quả hồi quy riêng biệt cho biến xếp hạng ROTA.
Bảng A5. Kết quả hồi quy chung cho cho cả R&D và xếp hạng ROTA.
Bảng A6. Kết quả hồi quy chung cho cho cả R&D và xếp hạng ROTA, có sự
xuất hiện của sở hữu nhà nước.


PHỤ LỤC B
B1. Kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu mối quan hệ
giữa tài sản vô hình và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.
B2. Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa
tài sản vô hình và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.
B3. Kết quả hồi quy với Pooled OLS.
B4. Kết quả hồi quy với Fixed Effect cố định hai yếu tố: thời gian và đặc trưng
doanh nghiệp.
B5. Kết quả hồi quy với Fixed Effect cố định yếu tố thời gian.
B6. Kết quả hồi quy với Fixed Effect cố định yếu tố đặc trưng doanh nghiệp. ..
B7. Kết quả hồi quy với Fixed Effect cố định yếu tố thời gian có sự xuất hiện
của SO và R&D.
B8. Kết quả hồi quy với Fixed Effect cố định yếu tố thời gian có sự xuất hiện
của xếp hạng ROTA và R&D.
B9. Kết quả hồi quy với Fixed Effect cố định yếu tố thời gian có sự xuất hiện
của xếp hạng ROTA, ROTA và R&D.
B10. Kết quả hồi quy với Fixed Effect cố định yếu tố thời gian có sự xuất hiện
của xếp hạng ROTA, ROTA và R&D, có thêm biến kiểm soát.


DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

Trang

Hình 1.1. Tỷ trọng đầu tư vào tài sản hữu hình và vô hình

2

Hình 1.2. Số lượng và giá trị các giao dịch M&A tại Việt Nam

4

Hình 1.3. Số lượng thương vụ cấp vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp
Việt Nam
Bảng 3.1. Phương pháp tính biến cho mô hình kiểm định mối quan hệ

5

31

giữa giá trị doanh nghiệp và tài sản vô hình
Bảng 3.2. Phương pháp tính biến cho mô hình kiểm định mối quan hệ

34

giữa đòn bẩy tài chính và tài sản vô hình
Bảng 4.1. Thống kê các kết quả hồi quy thực hiện cho mô hình nghiên
cứu mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và tài sản vô hình
Bảng 4.2. Thống kê các kết quả hồi quy thực hiện cho mô hình nghiên
cứu mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và tài sản vô hình

37

40

Bảng 4.3. Thống kê các kết quả hồi quy thực hiện cho mô hình nghiên
cứu mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và tài sản vô hình khi có sự ảnh
hưởng của sở hữu nhà nước

41


1

1. PHẦN 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài
Giá trị vô hình ngày càng quan trọng hơn trong nền kinh tế tri thức, nhất
là trong thời đại công nghệ thông tin phát triển vượt bậc. Ngày nay, bất cứ ai
trên hành tinh này đều có thể biết đến Facebook hay Google, những gã khổng lồ
công nghệ đang tạo nên một cuộc cách mạng hay một nền văn minh mới. Dựa trên
nền tảng kinh tế chia sẻ, chúng đã trở thành những cổ máy tạo ra tiền. Trong quý I
năm nay 2017, Facebook kiếm được 7,86 tỉ đô từ doanh thu quảng cáo, tính đến
28/9/2017 giá trị vốn hoá đạt 486,98 tỷ đô. Trong khi đó, tổng tài sản của Facebook
chỉ đạt 64,961 tỷ đô, bằng 13,34% giá trị vốn hoá và giá trị tài sản cố định chỉ đạt
13,22% tổng tài sản trong năm 2016. Một tình huống khác là Amazon, một doanh
nghiệp thương mại điện tử đa quốc gia của Mỹ, có tài sản cố định 29,114 triệu đô,
chiếm 34,91% tổng tài sản của doanh nghiệp, đã tạo ra được doanh thu 135,987
triệu đô và giá trị vốn hoá đạt 461.812 triệu đô1. Như vậy, các doanh nghiệp thành
công ngày nay càng có xu hướng sử dụng ít tài sản cố định hơn. Thành công của
Facebook hay Amazon không phải do doanh nghiệp này đầu tư nhiều vào nhà
xưởng hay kho bãi, văn phòng hay máy móc thiết bị mà chìa khoá chính là mô hình
kinh doanh hoàn toàn mới so với loại hình kinh doanh truyền thống, nền tảng công
nghệ, các thuật toán, quyền truy cập và sử dụng dữ liệu thông tin, bản quyền thương
hiệu, đội ngũ nhân sự, hệ thống cửa hàng, dữ liệu khách hàng…. Đó chỉ là hai trong
số nhiều doanh nghiệp trên thế giới có tốc độ tăng trưởng chóng mặt mà lợi thế
hoàn toàn dựa vào các giá trị vô hình. Nakamura (2001, 2003) ước tính rằng tỷ lệ
đầu tư hàng năm đối với các tài sản vô hình tại Hoa Kỳ là 1.000.000.000.000 đô vào
năm 2001, thực tế bằng với tài sản hữu hình. Hơn nữa, 1/3 giá trị tài sản của doanh
nghiệp Mỹ là tài sản vô hình theo phân tích của Nakamura. Chưa bao giờ tài sản vô
hình được quan tâm như bây giờ, doanh nghiệp đua nhau tạo ra các giá trị khác biệt
dựa trên những nền tảng công nghệ để không bị đào thải trong cuộc đua kinh doanh.

1

Doanh thu báo cáo ngày 31/12/2016 và giá trị vốn hoá ngày 29/12/2016.


2

Tại Việt Nam, giá trị tài sản vô hình dường như chưa được ước tính một
cách có khoa học, chỉ mang tính chất phỏng đoán và cảm tính. Tài sản vô hình
giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị độc đáo trong sản phẩm và dịch vụ mà chúng cung
cấp, đồng thời mang đến những lợi thế cạnh tranh riêng để doanh nghiệp có thể tồn
tại và phát triển trên thị trường. Tuy vậy, nhiều tài sản vô hình lại không được ghi
nhận trong bảng cân đối kế toán như một tài sản có giá trị bởi vì vấp phải những
khó khăn trong quá trình ước tính giá trị của chúng. Cũng chính đặc điểm vô hình,
các tài sản này cần phải được tính toán một cách cẩn thận và kỹ lưỡng, có khi phải
trải qua vài chục bước phức tạp mới có thể xác định được.

Hình 1.1. Tỷ trọng đầu tư vào tài sản hữu hình và vô hình
Nguồn: Ocean Tomo
Một thực tế cho thấy rằng giá trị tài sản vô hình dường như không tồn tại trong
báo cáo tài chính của đa số các doanh nghiệp Việt Nam. Chính vì lẽ đó, tài sản trên
bảng cân đối kế toán thường không phản ánh được toàn bộ tài sản của doanh
nghiệp. Cho nên phương pháp định giá bằng tài sản ít được sử dụng hơn các
phương pháp khác, mặc dù các phương pháp khác có vẻ phức tạp hơn. Việc không
đo lường được giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp sẽ mang lại những bất lợi
cho tất cả các thành phần tham gia thị trường. Đầu tiên đối với nhà quản lý, một khi
chưa định lượng được giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp, họ sẽ không thể đưa
ra những biện pháp cụ thể để bảo vệ chúng hoặc việc nhận thức đúng đắn giá trị
hiện tại của doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn. Đối với nhà đầu tư, họ sẽ đánh giá thiên
lệch đối với tiềm năng phát triển và hiệu quả của doanh nghiệp, dẫn đến các sai lầm


3

không đáng có trong quyết định đầu tư. Cuối cùng ở góc độ chính phủ, việc gia tăng
năng suất doanh nghiệp cũng đồng nghĩa phân bổ nguồn lực sản xuất quốc gia hiệu
quả hơn và chính phủ cũng cần phải biết quy mô của doanh nghiệp ở mức nào để có
những chính sách hỗ trợ hợp lý. Dù đứng ở góc độ nào cũng cần nắm bắt giá trị tài
sản vô hình, trong khi đó lại không có một báo cáo nào đáng tin cậy về những tài
sản vô hình nằm ngoài bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, điều này buộc các
bên phải tự suy đoán, và các kết quả sẽ là khác nhau đáng kể.
Đối với các thương vụ M&A, nếu sự chênh lệch trong kỳ vọng về giá trị
doanh nghiệp giữa bên mua và bên bán càng lớn thì khoảng cách giữa giá chào bán
và giá hỏi mua càng rộng. Như vậy, việc định giá doanh nghiệp một cách chính xác
là yếu tố quyết định một thương vụ thành công. Để tránh có sự kỳ vọng sai lệch về
tương lai, dựa vào tài sản là một trong những phương pháp được khuyến nghị để sử
dụng, cụ thể là xác định giá trị tài sản vô hình. Nhất là trong giai đoạn gần đây, hoạt
động M&A nổi lên như một kênh huy động vốn hiệu quả, góp phần làm đa dạng
hóa các kênh thu hút vốn cho nền kinh tế Việt Nam, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc
nền kinh tế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đồng thời cũng góp phần nâng cao
năng lực quản trị và sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp Việt Nam, thì việc quan
tâm đến giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp ngày càng được chú trọng. Cụ thể
năm 2016, tổng giá trị giao dịch các thương vụ M&A đạt mức cao nhất trong 10
năm qua, với 4,4 tỷ đô. Ví dụ, Big C Việt Nam được Central Group mua lại với
tổng giá trị giao dịch đạt 1,145 tỷ đô, Masan Consumer nhận được khoản đầu tư của
Singha trị giá 1,1 tỷ đô và tập đoàn TTC được mua lại bởi Metro với giá trị giao
dịch 675 triệu đô, là ba thương vụ đứng đầu trong danh sách các giao dịch lớn. Tuy
có sự ảnh hưởng của các thương vụ lớn đối với thị trường M&A Việt Nam trong
năm 2016, nhưng số lượng giao dịch được ghi nhận vẫn giảm 15% so với năm 2015
và chỉ còn 159 thương vụ. Theo xu hướng đó, thị trường ghi nhận số lượng giao
dịch và giá trị giao dịch trong nửa đầu năm 2017 thấp hơn so với cùng kỳ năm
ngoái. Cụ thể, chỉ có 58 giao dịch được công bố hoàn thành, giảm 38% so với sáu
tháng đầu năm 2016. Tổng cộng năm giao dịch lớn nhất trong năm 2017 có tổng giá


4

trị là 785 triệu đô, chưa bằng 2/3 giá trị của riêng một giao dịch mua lại Big C đầu
năm 2016 (đạt giá trị 1,145 tỷ đô). Thời gian tới, các thương vụ M&A có giá trị lớn
kỳ vọng sẽ diễn ra mạnh mẽ trong hoạt động liên quan đến thoái vốn tại các tập
đoàn nhà nước như: Vinamilk, Petrolimex, Sabeco, Habeco, MobiFone…. Tóm lại,
trong một thị trường với hoạt động M&A sôi nổi, việc ước tính giá trị tài sản
vô hình sẽ tạo cho người mua và bán có góc nhìn tiệm cận nhau về giá trị
doanh nghiệp, từ đó dẫn đến các thoả thuận thành công.

Hình 1.2. Số lượng và giá trị các giao dịch M&A tại Việt Nam
Nguồn: nhadautu.vn
Nằm trong hoạt động M&A, sự xuất hiện của các doanh nghiệp khởi nghiệp
đổi mới sáng tạo cũng góp phần tạo nên làn sóng mua bán doanh nghiệp mạnh mẽ
tại Việt Nam. Khởi nghiệp là một khái niệm mới xuất hiện và nhanh chóng trở
thành xu hướng được nhắc đến nhiều nhất. Nhà nước Việt Nam xem khởi nghiệp là
trọng tâm phát triển nền kinh tế tri thức với một chương trình hành động được xây
dựng công phu có tên gọi “Quốc gia khởi nghiệp”. Năm 2016 được chọn là năm
khởi nghiệp của Việt Nam. Theo thống kê của Topica Founder Institute, số lượng
các doanh nghiệp khởi nghiệp được đầu tư đã tăng từ 28 doanh nghiệp lên 67 doanh
nghiệp trong hai năm 2014 - 2015. Có 25,8% thương vụ rót vốn lần đầu, 37,1%
thương vụ rót vốn giai đoạn A, 6,5% thương vụ rót vốn giai đoạn C trong năm
2015. Có hơn 4 vụ đầu tư giai đoạn C đạt mức vốn từ 10 triệu đô trở lên. Trong đó,
tập đoàn quốc tế Fossil mua lại Misfit, một doanh nghiệp đặt tại Việt Nam, với giá


5

trị 260 triệu đô, Cốc Cốc nhận 14 triệu đô từ Hubert Burda, Templeton đầu tư vào
Huy Vietnam 15 triệu đô. Như vậy cũng đủ chứng minh hoạt động M&A ở Việt
Nam đã thật sự trở nên sôi động. Tiếp đó, Việt Nam được xếp hạng thứ năm với kết
quả gọi vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp so với các nước Đông Nam Á theo công
bố của trang Tech in Asia trong năm 2016. Cũng trong năm này, nhiều doanh
nghiệp khởi nghiệp đã huy động được số vốn lớn ước tính tới 250 triệu đô, điển
hình là ví điện tử MoMo được quỹ đầu tư Standard Chartered Private Equity và
Ngân hàng đầu tư toàn cầu Goldman Sachs rót vốn vào. Hay gần đây nhất vào ngày
29/9/2017, tập đoàn tiêu dùng trực tuyến của Singapore là Sea đã mua lại 82% cổ
phần của Foody - một trang thương mại điện tử về ăn uống với giá 64 triệu đô.

Hình 1.3. Số lượng thương vụ cấp vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam
Nguồn: Topica Founder Institude
Điều gì làm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp có giá trị cao như vậy? Khác
với doanh nghiệp truyền thống, giá trị của những doanh nghiệp khởi nghiệp chủ yếu
nằm ở thế mạnh công nghệ, độ phủ thị trường, mô hình kinh doanh độc đáo, dữ liệu
khách hàng,… những điều này không đòi hỏi phải đầu tư vào cơ sở vật chất quá
nhiều như doanh nghiệp truyền thống. Thay vào đó, doanh nghiệp khởi nghiệp tập
trung đầu tư vào đội ngũ và mô hình, để có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh, sự khác
biệt, phù hợp với thị hiếu của bộ phận lớn người tiêu dùng. Đối với những doanh
nhiệp khởi nghiệp, để có thể gọi vốn thành công đòi hỏi các doanh nghiệp phải hiểu


6

được giá trị của mình. Thông thường, ở giai đoạn khởi sự kinh doanh, các doanh
nghiệp khởi nghiệp chưa có nhiều vốn để đầu tư vào tài sản cố định như máy móc
thiết bị, nhà xưởng,… do đó giá trị tài sản ban đầu dường như không đáng kể, tuy
nhiên giá trị vô hình các doanh nghiệp này tạo ra khó có thể đoán trước được. Như
vậy, để biết được giá trị thực sự của các doanh nghiệp khởi nghiệp, cần phải
thực hiện tính toán giá trị của lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường mà cụ thể là ước tính giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp.
Những nghiên cứu về tài sản vô hình còn hạn chế tại Việt Nam cũng là một
trong những động lực thúc đẩy nghiên cứu về vần đề này. Trong khi đó, trên thế
giới vấn đề này đã được nghiên cứu từ rất lâu. Corrado và cộng sự (2009) chỉ ra
rằng chỉ 8% tăng trưởng kinh tế có thể là do sự đầu tư vốn vào tài sản hữu hình
truyền thống. Theo Nakamura (2010), chi phí đầu tư tài sản vô hình đã tăng từ
khoảng 4% GDP của Hoa Kỳ năm 1977 lên 9 - 10% trong năm 2006. Mặc dù là
quan trọng, nhưng tài sản vô hình thường bị bỏ qua trong các nghiên cứu về tài
chính doanh nghiệp thực nghiệm. Đây có lẽ một phần là do những khó khăn trong
việc đo lường các tài sản vô hình. Các đề tài nghiên cứu tài sản vô hình ở Việt Nam
cũng chính vì lẽ đó mà không phát triển. Trong khi đó, thực tế cho thấy, tài sản vô
hình ở Việt Nam vẫn được giới đầu tư thường xuyên xem xét, điều này được chứng
minh thông qua một số thương vụ định giá như của MobiFone đạt giá trị 3 tỷ đô,
Vietnam Airlines đạt giá trị 2,7 tỷ đô, với sự đánh giá cao tài sản là mối quan hệ với
chính phủ của các tập đoàn này.
Như vậy, nhìn chung, khi Việt Nam đón đầu cuộc cách mạng công nghiệp
4.0, công nghệ phát triển như vũ bão, phương thức đầu tư mới tạo ra hiệu quả
đáng kể với sự ra đời của những doanh nghiệp khởi nghiệp đầy sáng tạo đã
thúc đẩy giới tài chính quan tâm nhiều hơn đến các giá trị phi vật chất của
doanh nghiệp và đó cũng chính là lý do đề tài này được thực hiện.


7

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Các doanh nghiệp truyền thống thường dựa vào tài sản hữu hình như nhà máy,
bất động sản, thiết bị để xây dựng giá trị của mình. Tuy nhiên trong nền kinh tế toàn
cầu hóa hiện nay, tài sản vô hình đã trở thành thành phần không thể thiếu đóng góp
cho sự tăng trưởng của các doanh nghiệp. Cho nên, các nhà đầu tư khi muốn đánh
giá giá trị doanh nghiệp thường xem xét đến giá trị của tài sản vô hình. Tuy nhiên,
họ không chỉ xem xét tài sản vô hình một cách riêng lẻ khi định giá mà thay vào đó,
họ phân tích tất cả các yếu tố và một phần dựa trên tài sản vô hình để dự đoán dòng
tiền trong tương lai của doanh nghiệp. Do phụ thuộc nhiều vào độ chính xác của
việc dự đoán dòng tiền, cho nên công việc định giá cũng chỉ mang tính tương đối.
Ngoài ra, một số yếu tố bên ngoài cũng tác động làm thay đổi giá giao dịch trong
các thương vụ như: sức hút của doanh nghiệp, tính cạnh tranh, kỹ năng đàm phán
của chủ doanh nghiệp, động lực của cả người mua lẫn người bán. Do đó, nghiên
cứu này sẽ đưa ra một thước đo ước tính giá trị tài sản vô hình một cách đơn
giản và hiệu quả dựa trên các dữ liệu tài chính sẵn có, đánh giá giá trị của tài
sản vô hình đã tồn tại chứ không phải là các tài sản vô hình sẽ hình thành
trong tương lai.
Tuy nhiên, tài sản vô hình sẽ chỉ có giá trị nếu chúng có thể tạo ra hay đóng
góp vào việc tạo ra dòng tiền. Điều này đồng nghĩa với việc không phải tài sản vô
hình nào cũng có ý nghĩa đối với nhà đầu tư. Dựa vào hiểu biết và kinh nghiệm của
mình, mỗi nhà đầu tư đưa ra những đánh giá riêng đối với từng loại tài sản vô hình
khác nhau, dẫn đến giá trị khác nhau của cùng một loại tài sản vô hình giống nhau.
Không hẳn toàn bộ hiệu số giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách chính xác là giá
trị của tài sản vô hình nhưng chắc rằng nó chiếm phần lớn trong sự khác nhau giữa
hai giá trị. Để minh chứng cho điều đó, bài nghiên cứu sẽ tiến hành đánh giá sự
ảnh hưởng của tài sản vô hình được ước tính bằng một phương pháp mới lên
giá trị của doanh nghiệp được đo lường bằng giá trị thị trường của vốn cổ
phần, thông qua đó củng cố được khả năng giải thích của ước tính mới này.


8

Trong các tài sản vô hình tồn tại ở Việt Nam, có một loại tài sản vô hình có
thể nói là đặc trưng cho nền kinh tế đó là tài sản vô hình liên quan đến mối quan hệ
đối với chính phủ. Đặc biệt, các tài sản này thể hiện rõ nhất đối với các doanh
nghiệp nhà nước, ở một số ngành nhạy cảm như viễn thông, hàng không, dầu khí….
Với sức ép cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới, việc xác
định giá trị các doanh nghiệp nhà nước sẽ được lưu tâm đặc biệt. Để đánh giá một
cách khách quan về yếu tố mối quan hệ với chính phủ, bài nghiên cứu mạnh
dạng kiểm định sự ảnh hưởng của sở hữu nhà nước lên giá trị doanh nghiệp và
đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp trong mối quan hệ với tài sản vô hình.
Nhìn chung, bài nghiên cứu đưa ra một chuỗi các mục tiêu liên tiếp nhau để
giải quyết từ bước đầu là tìm ra một ước tính tương đối của tài sản vô hình doanh
nghiệp, từ đó khám phá mối quan hệ của tài sản vô hình ảnh hưởng lên giá trị doanh
nghiệp, đòn bẩy tài chính và cuối cùng xem xét mối quan hệ đó trong đặc trưng thị
trường có yếu tố sở hữu nhà nước.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sử dụng hai mô hình, đó là Pooled OLS và Fixed Effect.
Do dữ liệu của bài nghiên cứu sử dụng là dữ liệu bảng cùng với ưu điểm dễ dàng sử
dụng và tiếp cận của mô hình hồi quy Pooled OLS nên mô hình này đã được lựa
chọn để thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và tài sản vô
hình. Mô hình hồi quy Pooled OLS cũng tương tự như OLS, nhưng dùng cho dữ
liệu bảng, do đó mô hình này cũng có tính chất tương tự OLS. Mô hình hồi quy tác
động cố định (Fixed Effects Model) cũng được xem xét. Khi nghiên cứu mối quan
hệ giữa đòn bẩy tài chính và giá trị tài sản vô hình, mô hình hồi quy tác động cố
định đã được áp dụng vì mô hình lúc này xuất hiện thêm các biến mới có đặc điểm
riêng biệt và có thể không đổi theo thời gian. Sai số của mô hình hồi quy cố định
được tách biệt thành hai thành phần: một là không quan sát được khác nhau giữa
các đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian, hai là không quan sát được khác
nhau giữa các đối tượng và thay đổi theo thời gian. Với cả hai mô hình, cần thực


9

hiện hồi quy với sai số chuẩn mạnh để loại bỏ các ảnh hưởng của phương sai thay
đổi. Hiện tượng nội sinh cũng được kiểm tra một cách kỹ lưỡng để đảm bảo ý nghĩa
của mô hình.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
Nỗ lực của Jagannathan và Wang (1996) khi đưa vốn con người vào mô hình
CAPM để giải thích cho tỷ suất sinh lợi doanh nghiệp là rất đáng giá, tuy nhiên yêu
cầu thực tiễn đòi hỏi nhiều hơn điều đó. Do vậy, các chuyên gia tài chính hiện tại
dựa vào nhiều phương pháp khác nhau để có thể đưa ra được một giá trị doanh
nghiệp trong đó có dựa vào tài sản vô hình. Tuy nhiên, theo cách đó sẽ không thể
thấy được sự tác động rõ nét của giá trị tài sản vô hình lên giá trị doanh nghiệp. Bài
nghiên cứu này sẽ tập trung giải quyết vấn đề nêu trên. Các nội dung trong bài
nghiên cứu sẽ tập trung trả lời cho các câu hỏi sau:
Câu hỏi thứ nhất là: Liệu tỷ số ROTA có thể đại diện cho giá trị tài sản vô
hình tại thị trường Việt Nam hay không? Cơ sở nào chứng minh chỉ số này thể hiện
giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp?
Câu hỏi thứ hai là: Như đã phân tích, giá trị tài sản vô hình đóng vai trò quan
trọng trong các tình huống khác nhau. Nghiên cứu này sẽ tập trung điều tra sự ảnh
hưởng của giá trị tài sản vô hình lên giá trị và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
như thế nào thông qua xếp hạng chỉ số đại diện là ROTA?
Câu hỏi thứ ba là: Với đặc thù của nền kinh tế nhiều thành phần với nhà
nước đóng vai trò chủ đạo, mối quan hệ giữa tài sản vô hình lên giá trị và đòn bẩy
tài chính của những doanh nghiệp có vốn nhà nước có thay đổi gì hay không? Điều
này được lý giải như thế nào?
Như vậy, bài nghiên cứu sẽ là một mạch các câu trả lời cho ba câu hỏi trên tạo
thành ý chính của toàn bài. Các ý chính này lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, ý
trước làm tiền đề lý luận cho ý sau, ngược lại, ý sau sẽ bổ sung và hoàn thiện cho ý
trước đó.


10

1.5. Đóng góp của đề tài
Đề tài này tuy không phải là một chủ đề quá mới mẻ đối với các nước trên thế
giới nhưng nó đang thu hút sự chú ý đáng kể ở thị trường Việt Nam vào thời điểm
hiện tại, đặc biệt trong giai đoạn mà khoa học và công nghệ phát triển, các giao dịch
M&A trở nên sôi động hơn, phong trào khởi nghiệp được cổ vũ mạnh mẽ. Thước đo
giá trị tài sản vô hình của đề tài này được tham chiếu từ nghiên cứu của Saskia
Clausen (2016), ông đã chứng minh được chỉ số ROTA là phù hợp để đại diện cho
giá trị tài sản vô hình về mặt lý thuyết và sử dụng mô hình hồi quy với mẫu gồm
129.678 quan sát từ năm 1980 – 2012 của các doanh nghiệp tại Mỹ để chứng minh
ROTA cũng một thước đo hiệu quả trong thực nghiệm.
Tuy nhiên, bài nghiên cứu bổ sung thêm vào đặc tính sở hữu nhà nước để đánh
giá tác động riêng biệt của thị trường Việt Nam lên mối quan hệ giữa tài sản vô
hình, giá trị doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính, mà bài nghiên cứu gốc không hề tồn
tại. Bởi vì, trong một số ngành có ảnh hưởng lớn đến đời sống con người hoặc do
theo chương trình phát triển của Việt Nam, nhà nước thường sẽ nắm quyền kiểm
soát bằng cách góp vốn vào các doanh nghiệp lớn trong ngành này và vì thế cũng
dành nhiều ưu đãi hơn cho chúng. Do đó, tỷ lệ sở hữu nhà nước cũng ít nhiều ảnh
hưởng đến giá trị của doanh nghiệp. Điều này khác biệt hoàn toàn với các nghiên
cứu trước đó tại các thị trường tự do.
Đề tài này sẽ cung cấp thêm góc nhìn mới về tài sản vô hình, bổ sung vào các
tài liệu nghiên cứu hiện có tại Việt Nam. Đồng thời, đưa ra thêm một chỉ số đánh
giá giá trị vô hình của doanh nghiệp một cách đáng tin cậy cho các nhà đầu tư bổ
sung vào bộ chỉ số tài chính hiện hữu của mình. Ngoài ra, chỉ số này cũng có thể trở
thành một thông tin cơ sở tham khảo khi tiến hành các thương vụ mua bán, sáp nhập
để các bên có thể so sánh và phân tích đúng đắn hơn vị thế của doanh nghiệp được
giao dịch.
Với những gì làm được, bài nghiên cứu hy vọng trở thành một nội dung chất
lượng, có giá trị cao không những trong học thuật mà cả trong ứng dụng thực tiễn.


11

1.6. Cấu trúc đề tài
Một thước đo mới đại diện cho giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp sẽ
được khám phá trong bài nghiên cứu, để từ đó phân tích mối quan hệ giữa giá trị tài
sản vô hình, giá trị doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính trong đó có xét đến sự ảnh
hưởng của yếu tố sở hữu nhà nước, được thể hiện trong năm phần chính:
Phần 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài
Phần này cung cấp cho người đọc cái nhìn sơ lược đầu tiên về vấn đề nghiên
cứu từ lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp
nghiên cứu và cả đóng góp của đề tài. Thông qua nội dung được trình bày trong
phần này, người đọc sẽ có thể hình dung bức tranh tổng thể của toàn bộ bài nghiên
cứu.
Phần 2: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây
Phần này đa phần cung cấp các thông tin về những nghiên cứu có liên quan
đến đề tài này của các tác giả nổi tiếng và có uy tín trên thế giới. Các kết quả nghiên
cứu được tổng hợp và so sánh, đối chiếu để có thể thấy được xu hướng trong khía
cạnh nghiên cứu đề tài này. Hơn hết, việc so sánh, đối chiếu giữa các nghiên cứu
với nhau sẽ cho thấy được sự tiến bộ của đề tài.
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày một cách cụ thể các phương pháp được áp dụng trong bài nghiên
cứu này. Từng phương pháp sẽ được viện dẫn nền tảng lý thuyết và cho thấy cách
vận dụng các lý thuyết này trong quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, việc thu thập và xử
lý số liệu cũng được đề cập một cách rõ ràng. Hơn nữa, phần này còn mô tả và diễn
giải các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu hết sức chi tiết.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần này cho thấy được kết quả hồi quy từ các dữ liệu sau khi đã được xử lý ở
Phần 3. So sánh kết quả thu được với các giả thuyết ban đầu đặt ra, tìm những điểm


12

chưa phù hợp với giả thuyết ban đầu, tập trung giải thích những điểm khác biệt tồn
tại và đưa ra những nhận xét, đánh giá cần thiết về kết quả nghiên cứu.
Phần 5: Kết luận và đề xuất
Đưa ra kết luận cho toàn bộ bài nghiên cứu, tóm tắt các ý chính, những đặc
điểm nổi bật của bài và hơn hết, tổng kết lại những điểm còn hạn chế mà bài nghiên
cứu gặp phải để đưa ra hướng khắc phục là những nội dung mà phần này sẽ trình
bày. Bằng những trải nghiệm có được sau khi thực hiện nghiên cứu này, gợi ý
hướng phát triển cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo sẽ được đưa ra và cũng chính là
nội dung kết thúc.


13

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1. Về khái niệm tài sản vô hình
Cũng như những khái niệm khác, tài sản vô hình được định nghĩa bởi nhiều
học giả khác nhau với nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, các khái niệm này
cũng chỉ xoay quanh nội dung chính như “kiến thức tạo ra giá trị”, “không có hình
thái vật chất”.
Theo Stewart (1997) định nghĩa, các tài sản vô hình là vật chất trí tuệ bao gồm
kiến thức, kinh nghiệm và sở hữu trí tuệ tạo ra giá trị. Cũng trong năm đó,
Edvinsson và Malone định nghĩa tài sản vô hình là kiến thức có thể biến đổi thành
giá trị. Cùng quan điểm này, Zighal và Maaloul (2010) định nghĩa tài sản vô hình
chính xác là tất cả những kiến thức mà một doanh nghiệp sử dụng trong việc sáng
tạo ra giá trị gia tăng.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 định nghĩa như sau: “Tài sản cố định vô
hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do
doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc
cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô
hình”. Ngoài ra, theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 38 thì “Intangible assets - tài
sản vô hình là các tài sản không thể xác định được chính xác giá trị về mặt tiền tệ và
hình thái vật chất”.
Kristandl và Bontis (2007, trang 1518), những người cung cấp một trong
những định nghĩa toàn diện nhất, mô tả các tài sản vô hình là “các nguồn lực chiến
lược của doanh nghiệp cho phép một tổ chức tạo ra giá trị bền vững, nhưng không
tồn tại ở nhiều doanh nghiệp”. Các nguồn lực này là phi vật chất, phi tài chính, và
không được kể ra trong các báo cáo tài chính. Một số nghiên cứu sử dụng thuật ngữ
vốn tri thức và tài sản vô hình là những từ đồng nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta cần
phân biệt ý nghĩa của chúng. Các tài sản vô hình gắn liền với bản chất của hiện
tượng, trong khi vốn tri thức liên quan đến các vấn đề quản lý và kế toán. Do đó,
trong bài nghiên cứu này chúng ta sẽ dùng khái niệm tài sản vô hình.


14

2.2. Tính khác biệt của tài sản vô hình
Tài sản vô hình khác với tài sản hữu hình và tài chính (cổ phiếu, trái phiếu)
trong hai khía cạnh quan trọng có ý nghĩa to lớn đối với việc quản lý, định giá và
báo cáo tài chính của các tài sản vô hình, như sau:
2.2.1. Tính sở hữu không hoàn toàn
Chủ sở hữu các loại tài sản vật chất có thể tận dụng tối đa lợi ích của các tài
sản của mình và loại trừ hoàn toàn những người không phải là chủ sở hữu trong
việc chia sẻ lợi ích từ tài sản. Trong khi đó, chủ sở hữu bằng sáng chế, thương hiệu,
hoặc quá trình kinh doanh độc nhất chỉ có thể bảo vệ tốt nhất một số lợi ích của
những tài sản vô hình này trong một khoảng thời gian giới hạn (sở hữu không hoàn
toàn). Bằng sáng chế có thể hết hạn sau 20 năm, nhưng trong nhiều trường hợp bị
các đối thủ cạnh tranh sử dụng trước khi hết hạn. Có hàng nghìn vụ kiện vi phạm
bằng sáng chế và vi phạm nhãn hiệu hàng năm. Các thương hiệu đứng trước sự
cạnh tranh gay gắt trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế và những thay đổi thường
xuyên trong thị hiếu của khách hàng mà không chịu thay đổi, như Xerox, Polaroid,
hoặc các hãng hàng không Pan Am và TWA đang gặp khó khăn về tài chính hoặc
phá sản. Nói tóm lại, quyền sở hữu các tài sản vô hình không được xác định chặt
chẽ và bảo đảm như những tài sản hữu hình và tài chính, gây khó khăn cho chủ sở
hữu các tài sản này trong việc nắm giữ những tài sản có giá trị lớn và lâu dài. Rủi ro
khi sở hữu các tài sản vô hình sẽ tăng khi giá trị của các tài sản này trở nên khó ước
tính và việc định giá của các nhà đầu tư cũng trở nên phức tạp hơn vì đòi hỏi các
ước tính đáng tin cậy về dòng tiền trong tương lai cho chủ sở hữu. Đối với báo cáo
tài chính doanh nghiệp cho các nhà đầu tư, kế toán thường tuyên bố rằng việc không
kiểm soát hoàn toàn lợi ích của các tài sản vô hình sẽ làm tài sản này không hội đủ
điều kiện để được ghi nhận như tài sản trong bảng cân đối kế toán của doanh
nghiệp. Nói tóm lại, tài sản vô hình là một dạng tài sản bất biến, không có giá trị
chính xác rõ ràng và cũng không tuân theo các quy luật thông thường khác.


15

2.2.2. Tính phi thị trường
Có thể dễ dàng nhìn thấy một giao dịch về nhà cửa, máy móc hoặc cổ phiếu,
trái phiếu trong các thị trường cạnh tranh, nhưng sẽ khó phát hiện ra các giao dịch
của tài sản vô hình trên thị trường một cách thường xuyên và rõ ràng. Mặc dù vẫn
tồn tại một số giao dịch nhất định trong các lĩnh vực cấp phép và mua bán bằng
sáng chế hoặc đôi khi là nhãn hiệu, nhưng các giao dịch này lại không được tiết lộ
thông tin một cách công khai và minh bạch. Những lý do chính các tài sản vô hình
không được giao dịch rộng rãi là quyền tài sản không đầy đủ và có sự khác biệt về
kiến thức về tài sản vô hình giữa người mua và người bán tạo nên thông tin bất cân
xứng nghiêm trọng. Ví dụ, đối với các sản phẩm thuốc và phần mềm, nhà sản xuất
sẽ biết rất rõ về tiềm năng và giá trị của chúng nhiều hơn những người bên ngoài,
không am hiểu về chuyên môn và do đó rất khó để lý giải cho họ hiểu một cách đầy
đủ và đáng tin. Do đó, các giao dịch đối với tài sản vô hình thường gặp nhiều khó
khăn hoặc thậm chí là không xảy ra. Theo như phương pháp định giá truyền thống,
giá trị sẽ được đưa ra dựa trên sự so sánh giá trị (giá cả) quan sát được của các tài
sản tương tự đã được giao dịch trên thị trường, cho nên việc giao dịch không được
rộng rãi của các tài sản vô hình gây ra các vấn đề định giá nghiêm trọng cho các nhà
đầu tư và nhà quản lý. Giao dịch không được rộng rãi cũng làm tăng rủi ro khi sở
hữu các tài sản vô hình, chính vì tính thanh khoản thấp cho nên chủ sở hữu sẽ khó
có khả năng bán chúng trước hoặc sau khi đã hoàn thành phát triển (không có chiến
lược rút lui). Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, thường hay bỏ sót các
số liệu trong mục Tài sản vô hình, điều này được các kế toán lý giải là do sự vắng
mặt trên thị trường làm cho tài sản vô hình bị coi là chưa đủ điều kiện để ghi nhận
là tài sản trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Vì vậy, tài sản vô hình có sự
khác biệt cơ bản với tài sản hữu hình và tài chính, và việc quản lý, định giá và báo
cáo tài chính của các tài sản vô hình là một thách thức. Sự quan tâm đặc biệt vào
đầu thế kỷ 21 là tính dễ bị tổn thương của các tài sản vô hình, như Chủ tịch Cục Dự
trữ Liên bang Alan Greenspan, trong lời phát biểu (27/02/2002): "Như những sự
kiện gần đây quanh Enron đã nhấn mạnh, một doanh nghiệp vốn có tính mong


16

manh nếu giá trị gia tăng của nó xuất phát từ tài sản phi vật chất. Một tài sản vật
chất, dù là một tòa nhà văn phòng hay một nhà máy lắp ráp ô tô, có khả năng sản
xuất hàng hoá ngay cả khi danh tiếng của người quản lý các cơ sở đó rơi xuống vực.
Sự nhanh chóng sụt giảm của Enron là một minh hoạ hiệu quả về tính dễ tổn thương
của một doanh nghiệp có giá trị thị trường phần lớn dựa vào danh tiếng vốn có".
2.3. Các dạng của tài sản vô hình
2.3.1. Sản phẩm hoặc dịch vụ
Ngày nay, tài sản vô hình đóng góp một phần lớn trong tăng trưởng tổng sản
phẩm quốc gia của các nước phát triển. Cụ thể như các sản phẩm phần mềm, dịch
vụ tài chính và chăm sóc sức khoẻ, vui chơi và giải trí. Bên cạnh đó, tài sản hữu
hình cũng thể hiện được vai trò cần thiết của mình, chẳng hạn như thuốc, máy tính
hoặc máy công cụ, tuy nhiên thành phần vật chất bên ngoài của chúng thường
không mang lại nhiều lợi ích như thành phần tri thức được gắn vào. Nguồn gốc của
các sản phẩm và dịch vụ vô hình thường xuất phát chung từ sự khám phá, nghiên
cứu, phát triển và học tập của các doanh nghệp. Do đó, tài sản vô hình cũng là một
loại quyền lợi mà doanh nghiệp cần phải bảo vệ. Hiện nay, thế giới có hình thức bảo
vệ quyền sở hữu đối với các tài sản vô hình bằng cách cấp bằng phát minh, sáng chế
và chứng nhận nhãn hiệu, trao cho chủ sở hữu quyền độc quyền tạm thời đối với các
tài sản trí tuệ của họ. Tuy nhiên, trình độ khoa học kỹ thuật không đồng đều giữa
các nước đã tạo nên sự thách thức mạnh mẽ đối với quyền sở hữu. Ví dụ các nước
phát triển đang chi phối mạnh mẽ các nước đang phát triển khi đặt giá các loại
thuốc thiết yếu (ví dụ như AIDS và sốt rét) vượt ngoài tầm với của bệnh nhân nghèo
và cản trở tiến bộ công nghệ của các nước đang phát triển khi biết rằng các nước
này vốn không có khả năng chi trả cho công nghệ đắt tiền, đó là động lực để họ vi
phạm bản quyền. Tuy nhiên, quan điểm lý thuyết kinh tế chính thống cho rằng luật
về sáng chế và bản quyền nếu được thực hành nghiêm túc sẽ là điều kiện cần thiết
tạo động lực cho tiến trình đầu tư lớn vào nghiên cứu, nhằm tạo ra các giá trị mới và
phát triển kinh tế bền vững.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x