Tải bản đầy đủ

Pháp luật về cổ phần hóa qua thực tiễn cổ phần hóa công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp u minh hạ tỉnh cà mau

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ VĂN HẢI

PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA QUA THỰC
TIỄN CỔ PHẦN HÓA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN LÂM NGHIỆP
U MINH HẠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ VĂN HẢI

PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA QUA THỰC TIỄN CỔ

PHẦN HÓA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT
THÀNH VIÊN LÂM NGHIỆP U MINH HẠ

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Lê Văn Hưng

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lê Văn Hải, mã số học viên7701250487A, là học viên lớp Cao học
Luật, Khóa chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ
Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Pháp luật về cổ phần
hóa qua thực tiễn cổ phần hóa Công ty lâm nghiệp U Minh Hạ tỉnh Cà Mau” (sau
đây gọi tắt là “Luận văn”).
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết
quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn
khoa học. Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học
của một số tác giả. Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng. Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn
khách quan và trung thực.
Học viên thực hiện

Lê Văn Hải


TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
Chương 1: Pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước ..........................................................................................................7


1.1. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và sự cần thiết cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước: .....................................................................................7
1.2. Khái niệm cổ phần hóa và một số dữ liệu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước ở Việt Nam: ....................................................................................................11
1.2.1. Khái niệm cổ phần hóa: .............................................................................11
1.2.2. Một số dữ liệu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam thời
gian qua: ..............................................................................................................12
1.3. Hệ thống văn bản pháp luật và những nội dung đặc điểm và vai trò cổ phần
hóa ...........................................................................................................................14
1.4. Một số khó khăn khi tiến hành cổ phần hóa: ...................................................23
1.4.1. Cơ chế định giá: ........................................................................................23
1.4.2. Phương thức định giá: ...............................................................................23
1.4.3. Vấn đề xác định giá trị quyền sử dụng đất ................................................27
1.4.4. Vấn đề xử lý tài chính, nợ tồn đọng và tài sản không tính vào giá trị doanh
nghiệp nhà nước: .................................................................................................28
1.4.5. Việc bán cổ phần ra công chúng ...............................................................30
1.4.6. Đảm bảo mục tiêu xã hội giúp người lao động trong doanh nghiệp cổ
phần hóa trở thành người chủ doanh nghiệp và ổn định cuộc sống ....................31
1.4.7. Vấn đề quản trị và điều hành và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
sau cổ phần hóa ...................................................................................................32
1.5. Một số đặc thù khi cổ phần hóa công ty lâm nghiệp: ......................................33
Chương II: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Cà Mau qua thực tiễn công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp U Minh hạ .........................36
2.1. Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hóa Công ty Lâm
nghiệp tại Cà Mau: ..................................................................................................36


2.1.1. Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Cà Mau: ....................36
2.1.2. Tình hình cổ phần hóa Công ty trách nhiện hữu hạn một thành viên lâm
nghiệp U Minh Hạ: ..............................................................................................38
2.2. Trình tự thủ tục và phương án cổ phần hóa Công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên lâm nghiệp U Minh Hạ ..........................................................................40
2.2.1.Trình tự thủ tục cổ phần hóa: .....................................................................40
2.2.2. Xây dựng các phương án xử lý tài sản: ....................................................45
2.2.3. Xây dựng phương án sắp xếp lao động, xử lý quyền lợi của người lao
động .....................................................................................................................48
2.2.4. Quản trị doanh nghiệp sau cổ phần hóa ....................................................52
2.3. Đánh giá những vướng mắc trong cổ phần hóa công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên lâm nghiệp U Minh Hạ:..............................................................52
Chương 3: Giải pháp và Kiến nghị .........................................................................56
3.1. Giải pháp về cải cách thủ tục hành chính và trao quyền trong cổ phần hóa:
.............................................................................................................................57
3.2. Giải pháp kỹ thuật về định giá tài sản doanh nghiệp lâm nghiệp khi cổ phần
hóa: ......................................................................................................................59
3.3. Giải pháp về quyền lợi cho người lao động, dân cư sống trong lâm phần
đang nhận khoán đất rừng: ..................................................................................65
3.4. Giải pháp tổ chức quản trị và hoạt động của công ty sau cổ phần hóa ........67
KẾT LUẬN................................................................................................................70
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
TNHHMTV
DN LN

Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Doanh nghiệp lâm nghiệp

DNNN
XHCN
CPH

Doanh nghiệp nhà nước
Xã hội chủ nghĩa
Cổ phần hóa

TTCK
UBND

Thị trường chứng khoá
Ủy ban nhân dân

NTTS
KT-XH

Nuôi trồng thủy sản
Kinh tế - Xã hội

RSX
QLBVR
UMH
PCCCR

Rừng sản xuất
Quản lý bảo vệ rừng
U Minh Hạ
Phòng cháy – chữa cháy rừng

LNT
TK

Lâm ngư trường
Tiểu khu

NSNN
QSDĐ
SXKD
DN
CTCP

Ngân sách Nhà nước
Quyền sử dụng đất
Sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp
Công ty cổ phần


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cà Mau là vùng đất cực nam của Tổ quốc, có diện tích tự nhiên 529.487
ha; được chia thành 09 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh gồm: Thành phố Cà
Mau và 08 huyện: Thới Bình, Trần Văn Thời, U Minh, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú
Tân, Ngọc Hiển và Năm Căn.
Cà Mau là tỉnh nằm về phía cực Nam của đất nước, có 3 mặt giáp biển.
Đến năm 2015 Cà Mau có tổng diện tích rừng khoảng 103.723 ha, chiếm 77%
rừng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu là rừng ngập nước. Trong
đó, rừng tự nhiên 9.179ha, rừng trồng 94.544ha. Cà Mau có 2 loại rừng chính:
Rừng ngập mặn (rừng đước Cà Mau) có diện tích gần 69.000ha., đứng
thứ 2 trên thế giới, sau rừng Amazôn ở Nam Mỹ. Trong đó, tập trung ở các
huyện Ngọc Hiển, Năm Căn, Đầm Dơi và Phú Tân.
Rừng ngập lợ (rừng tràm U Minh) có tổng diện tích khoảng 35.000 ha.
Tập trung ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời và Thới Bình. Rừng tràm U
Minh thuộc hệ sinh thái đất ngập nước nội địa, với rừng tràm trên đất phèn và
đất than bùn.
Tỉnh Cà Mau hiện có 2 công ty lâm nghiệp. Trong đó, Công ty TNHH
MTV Lâm nghiệp Ngọc Hiển hoạt động ở hệ sinh thái rừng ngập mặn; Công ty
TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ hoạt động ở hệ sinh thái rừng ngập lợ. Các
công ty lâm nghiệp trong tỉnh Cà Mau ngoài nhiệm vụ chính trị là quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng, hoạt động của công ty còn mang tính chất xã hội, tổ chức sản
xuất cho hàng ngàn hộ gia đình nghèo không đất sản xuất. Thời gian qua, các
công ty lâm nghiệp trong tỉnh đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã
hội trên địa bàn tỉnh.
Hai đơn vị này thuộc diện sắp xếp, đổi mới theo Nghị định số
118/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Dự kiến 02 công ty lâm nghiệp này sẽ chuyển
thành công ty cổ phần trong năm 2017.
Hiện tại, tỉnh Cà Mau đang trong giai đoạn xác định giá trị doanh nghiệp,
nhưng đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình sắp xếp, đổi mới
các công ty theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ:do đặc thù rừng


2

Cà Mau, hiện trạng rừng ở các công ty được trồng ở nhiều thời điểm khác nhau,
rừng có nhiều cấp tuổi, trạng thái rừng không đồng nhất, nên việc xác định giá trị
cây rừng cần thiết phải điều tra kiểm đếm ngoài thực địa, việc này mất rất nhiều
thời gian và chi phí. Trong khi đó, chi phí cổ phần hóa doanh nghiệp theo Nghị
định số 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ không đủ để thực hiện. Mặc khác, hiện
vẫn chưa có hướng dẫn về việc định mức chi cho điều tra kiểm đếm tính toán trữ
lượng rừng trồng và nguồn vốn để thực hiện. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ gỗ
của địa phương có phần bị chững lại, do đó việc cổ phần hóa 02 công ty lâm
nghiệp vào thời điểm hiện tại chưa thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư tham gia mua
cổ phần.
Rừng giờ đây không chỉ là tài sản quý của quốc gia cần được bảo vệ và
phát triển mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân gắn liền với đó. Sự quan
tâm của Nhà nước, chính quyền địa phương đã góp phần vào việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa
bàn. Qua đó, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt,
tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Tuy nhiên từ trước đến nay việc CPH công ty chủ yếu là trồng rừng, bảo
vệ rừng còn hạn chế. Rừng ở Cà Mau rất đặc thù so với cả nước, rừng ngập
nước với hệ thống kênh rạch chằng chịt và phần lớn đã được giao, giao khoán
cho các hộ gia đình do đó việc thực hiện sắp xếp lại các công ty lâm nghiệp
cũng mang nhiều nét đặc thù hơn, khó khăn hơn so với các khu vực khác trên cả
nước. Từ đó cần có những nghiên cứu vận dụng sáng tạo các văn bản pháp luật
vào thực tiễn công việc.
Đối với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, hiện tại đang quản
lý gần 25.000 ha rừng và đất lâm nghiệp, tuy nhiên diê ̣n tích rừng và đấ t rừng
phân tán, trải rô ̣ng trên điạ bàn của 2 huyê ̣n, nhiề u xa,̃ diện tích quản lý chia
thành nhiề u vùng độc lập phân tán, cách xa nhau, giao thông khó khăn, lực
lượng bảo vệ rừng mỏng nên trong thời qua gặp nhiều khó khăn trong công tác
quản lý bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy – chữa cháy rừng. Mặt khác, hầu
hết diện tích công ty đang quản lý đã giao khoán ổn định lâu dài cho người dân,
diện tích giao khoán đất lâm nghiệp đan xen giữa sản xuất nông nghiệp và trồng
rừng. Địa bàn hoạt động ở vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp, đời sống của


3

người lao động còn khó khăn nên việc phát hành cổ phiếu sẽ khó đạt như mong
muốn.
Cổ phần hóa DNNN nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh phù hợp với quy luật của kinh tế thị trường… thực tiễn trên 20 năm
qua ở nước ta đã và đang tiến hành sắp xếp đổi mới DNNN vì vậy việc CPH là
vấn đề không mới song việc cổ phần hóa công ty lâm nghiệp lại là vấn đề rất mới
và còn quá nhiều vướng mắc trong quá trình quản lý sử dụng đất đai, xác định giá
trị quyền sử dụng đất, cây rừng và các tài sản đặc thù khác cũng như sắp xếp lại
dân cư, lao động trong công ty… Do vậy học viên quyết định chọn đề tài này
xuất phát từ những vướng mắc, băn khoăn, nặng lòng của học viên trong thực
tiễn công tác của mình. Góp phần tháo gỡ khó khăn của địa phương và bổ sung
vào những điểm mà văn bản pháp luật chưa cụ thể hóa.
Xuất phát từ những lý do trên mà tác giả đã chọn “ Pháp luật về cổ phần
hóa qua thực tiễn cổ phần hóa Công ty trách nhiệm nhữu hạn một thành viên
lâm nghiệp U Minh Hạ tỉnh Cà Mau” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
CPH doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đang được sự quan tâm đặc biệt
trong lý luận và thực tiễn hiện nay ở nước ta. Trong thời gian từ 2004 – 2015,
đã có nhiều văn bản của Đảng, Chính phủ, các Bộ, ngành được ban hành về
công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều đề
tài khoa học, luận án thạc sĩ, tiến sĩ, các bài viết đề cập và nghiên cứu chuyên
sâu về CPH doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Các công trình nghiên cứu đó
đều thống nhất ở sự cần thiết phải thực hiện CPH và hoàn thiện cơ chế chính
sách về CPH DNNN. Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu mới chỉ
nghiên cứu việc CPH một DNNN trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng,
may mặc, dược phẩm, các tổng công ty… đối với công trình nghiên cứu về cổ
phần hóa công ty TNHH MTV lâm nghiệp (chủ yếu là trồng rừng) nhà nước
nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần còn kiêm tốn, hạn chế. Riêng
tỉnh Cà Mau là chưa có .
Khác với các lĩnh vực khác, CPH một doanh nghiệp lâm nghiệp có tính
chất phức tạp đặc thù hơn nhiều. Bởi vì, ngoài việc thực hiện các bước công
việc như các doanh nghiệp công nghiệp, vấn đề xác định giá trị rừng đưa vào


4

giá trị doanh nghiệp CPH là nội dung mới. Nhiều vấn đề rất mới mẻ như
phương pháp xác định giá trị rừng trồng mang tính đặc thù cho từng loại rừng
và từng địa phương, chi phí phục vụ cho việc xác định giá trị rừng, sắp xếp dân
cư trong lâm phần, giải quyết tồn đọng về đất đai, hiện tại chưa được đề cập
trong quy định của Nghị định 59/2011/NĐ-CP; phương thức CPH, quy trình
CPH, mô hình tổ chức, quản lý và điều hành doanh nghiệp sau CPH … chưa
được nghiên cứu cụ thể. Đây là cơ hội thuận tiện để tác giả, xuất phát từ thực
tiễn công tác của mình, mạnh dạn đề xuất những ý tưởng, đồng thời đây cũng là
một khó khăn cho tác giả trong quá trình nghiên cứu vì không được kế thừa kết
quả nghiên cứu của những người đi trước nên luận văn khó tránh khỏi những
thiếu sót.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh, một số loại hình DNNN cần phải chuyển đổi mô hình kể cả về tổ chức
quản lý và hình thức sở hữu, trong đó CPH DNNN là một xu hướng chung để:
- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
- Giảm bớt gánh nặng cho NSNN
- Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế
- Tạo khả năng thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ mới
- Thúc đẩy phát triển hoàn thiện thị trường vốn
Tuy nhiên do đặc điểm và điều kiện thực tế của từng loại doanh nghiệp,
từng lĩnh vực, điều kiện đặc thù của từng địa phương khác nhau… sẽ có những
mục tiêu khác nhau.
Do vậy việc nghiên cứu pháp luật về CPH trong quá trình cổ phần hóa
công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ trong điều kiện thực tiễn ở Cà
Mau là mục đích nghiên cứu của đề tài.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Các văn bản pháp luật làm cơ sở để thực hiện cổ phần hóa Công ty
TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ;


5

Tình hình công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ khi thực hiện cổ
phần hóa;
Các nội dung và tiến trình CPH Công ty TNHH MTV lâm nghiệp U
Minh Hạ.
3.3. Địa điểm nghiên cứu:
Công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh hạ; nằm trên địa phận hành
chính của 02 huyện U Minh và Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Khung pháp luật được áp dụng trong tiến trình CPH Công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên lâm nghiệp U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau.
4. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận: áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước và pháp luật trong nghiên cứu tư liệu, tài liệu. Bên cạnh đó, áp dụng
một số phương pháp khác, như: phân tích, chứng minh, biện luận, tổng hợp và
đối chiếu so sánh để làm rõ các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận văn.
Áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước hiện hành để phân
tích, áp dụng phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương. Lấy Công ty TNHH
MTV lâm nghiệp U Minh Hạ là đối tượng để phân tích đánh giá và đưa ra kế
hoạch, lộ trình CPH dựa theo các văn bản quy định hiện hành.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu đầu tiên tại tỉnh Cà Mau trình
bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và pháp lý để CPH một công ty
đang hoạt động trong lĩnh vực trồng rừng, bảo vệ và khai thác rừng.
Đề tài phân tích, đánh giá và giải quyết được những khó khăn, vướng
mắc đặc thù của một công ty lâm nghiệp chuyên hoạt động về trồng rừng, khai
thác rừng tại khu vực rừng ngập ngập phèn U Minh Hạ tỉnh Cà Mau góp phần
bổ sung vào những điểm mà hiện nay các văn bản pháp luật chưa cụ thể hóa phù
hợp cho việc CPH công ty có tính chất đặc thù như công ty TNNHH MTV lâm
nghiệp U Minh Hạ.


6

6. Kết cấu của luận văn
Chương mở đầu
Chương 1: Pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về CPH DNNN
Chương 2: Thực trạng về CPH DNNN tại Cà Mau và qua thực tiễn Công
ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ;
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị;
Tài liệu tham khảo;


7

Chương 1: Pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước
1.1. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và sự cần thiết
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước:
Luật Doanh nghiệp 2014 (do Quốc Hội khóa XIII thông qua vào ngày
26/11/2014), tại điều 4 khoản 8 đã nêu định nghĩa về DNNN như sau: “DNNN
là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”. Đây là một định
nghĩa khá đơn giản nhưng đàng sau nó là cả một quá trình phát triển tư duy
pháp lý về loại hình doanh nghiệp đặc thù này. Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà
nước (26/11/2003) đã định nghĩa: “ DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới
hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.
Điều đáng lưu ý là quy định về tỷ lệ vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp
để được xem lả DNNN: mức độ đầu tư vốn ở đây được hiểu là nhà nước có thể
sở hữu toàn bộ 100% vốn tại doanh nghiệp hoặc nhà nước chỉ cần có cổ phần,
vốn góp chi phối tại doanh nghiệp. Khái niệm cổ phần, vốn góp chi phối của
nhà nước tại doanh nghiệp được giải thích tại Khoản 5 Điều 3 Luật Doanh
nghiệp nhà nước (26/11/2003) đó là “doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp
của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với
doanh nghiệp đó”. Điều đáng ghi nhận ở Luật DNNN 2003 là đã đa dạng hóa
các hình thức doanh nghiệp nhà nước dưới các dạng sau: Công ty nhà nước (nhà
nước sở hữu 100% vốn điều lệ); Công ty cổ phần nhà nước (toàn bộ các cổ
đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn);
Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên (do nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ); Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên
trở lên (trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành
viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được nhà nước ủy quyền
góp vốn); Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước (cổ phần
hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, nhà nước giữ quyền chi
phối đối với doanh nghiệp đó).
Khi ban hành Luật Doanh nghiệp 2005 (29/11/2005), quan niệm về DNNN
cơ bản dựa trên quy định của luật 2003; theo đó: “DNNN là doanh nghiệp trong
đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” (đ.4 k.22). Như vậy, việc tổ chức và


8

hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo các loại hình nêu trên phù hợp với
các quy định về công ty nói chung và công ty cổ phần (được quy định từ Điều
77 đến Điều 129 Luật Doanh nghiệp 2005).
Trong thực tế, việc mở rộng ngoại vi của DNNN đến cả những doanh
nghiệp mà nhà nước nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên đã dẫn đến một số hệ
lụy, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của doanh nghiệp này và do vậy, ảnh
hưởng đến nền kinh tế.
Số lượng DNNN rất nhiều, nắm giữ nguồn lực rất lớn, song sự kiểm soát
của nhà nước thông qua các cơ quan hữu quan (các bộ, ngành và cả tổng công ty
đầu tư kinh doanh vốn nhà nước – gọi tắt là SCIC) thường không hiệu quả; dẫn
đến thất thoát, lãng phí, tiêu cực;…
Chất lượng hoạt động của mô hình tổng công ty (trước gọi là tổng công ty
90 và 91) và tập đoàn kinh tế không hiệu quả. Những sự kiện xãy ra thời gian
qua như Vinalines, Vinashines, và hiện này là hàng chục công ty hoạt động
không hiệu quả, đóng cửa… là những dẫn chứng rõ rệt nhất.
Sự can thiệp của quá nhiều các cơ quan nhà nước vào hoạt động của doanh
nghiệp gây nên nhiễu loạn, ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông (trong trường
hợp nhà nước giữ trên 50% vốn tại doanh nghiệp); thậm chí có khi có xung đột
lợi ích dẫn đến doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động.
Với quy định có tính chất thu hẹp số lượng DNNN như trong Luật Doanh
nghiệp 2014 cho thấy DNNN hiện nay chỉ giới hạn trong một số doanh nghiệp
hoạt động trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, công ích hoặc những doanh
nghiệp có vai trò thiết yếu đối với nền kinh tế mà nhà nước cần giữ 100% vốn
như vật liệu nổ công nghiệp; hóa chất độc; hệ thống truyền tải điện; cơ sở hạ
tầng đường sắt quốc gia; khai thác một số lĩnh vực trong ngành hàng không;
bưu chính công ích; xổ số kiến thiết; in đúc tiền;…1. Quan niệm này cho thấy có
sự giảm dần các tiêu chí xác định DNNN. Việc hình thành một quan điểm khác
trước về DNNN cho thấy có 02 gợi mở về cách thức tiếp cận vấn đềCPH
DNNN:
Một là, số lượng các DNNN sẽ thu hẹp đáng kể dựa trên cơ sở xác định tỷ
lệ vốn nhà nước nắm giữ là 100% vốn điều lệ. Điều này góp phần giải tỏa
1

Xem Quyết định số 37/2014/QĐ-Ttg ngày 18/6/2014 ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN.


9

những vướng mắc từ phía cơ quan quản lý và nhà đầu tư khi quyết định CPH
một DNNN cũng như quyết định đầu tư mua cổ phần của doanh nghiệp. Nói
cách khác là nếu đầu tư mua cổ phần trong các doanh nghiệp mà, cuối cùng
quyền quyết định vẫn thuộc về nhà nước và cơ sở của những quyết định đó
không dựa trên chính lợi ích của bản thân doanh nghiệp mà có thể xuất phát từ
những yêu cầu chính trị, xã hội khác nhau, thì chắc chắn các nhà đầu tư sẽ
không hào hứng tham gia. Chừng nào chưa giải quyết vấn đề này, công cuộc
CPH vẫn gặp khó khăn. Việc xác định DNNN là do nhà nước nắm giữ 100%
vốn điều lệ cũng mở ra khả năng tăng/giảm tỷ lệ vốn sở hữu của nhà nước trong
doanh nghiệp. Hệ quả là có thể chuyển một công ty trách nhiệm hữu hạn hay cổ
phần thành DNNN (công ty TNHH một thành viên) hoặc ngược lại tùy theo yêu
cầu và vị trí của doanh nghiệp đó đối với nền kinh tế.
Hai là, Luật DN 2014 xây dựng một chương riêng điều chỉnh DNNN
(chương IV, từ điều 88 đến điều 109). Song, chương này chủ yếu điều chỉnh về
tổ chức quản lý trong doanh nghiệp và xác lập mối quan hệ giữa người đại diện
vốn nhà nước tại doanh nghiệp với chủ sở hữu nhà nước. Trên khía cạnh quản
trị doanh nghiệp, DNNN hiện nay được tổ chức theo hai mô hình của công ty
TNHH một thành viên quy định tại Luật DN 20142; còn vấn đề quan hệ giữa
công ty với chủ sở hữu được điều chỉnh bởi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà
nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (2014).3 Khả năng đặt
DNNN vào một khuôn khổ pháp lý chung là Luật Doanh nghiệp có thể chỉ phù
hợp về khía cạnh tổ chức quản lý; còn các vấn đề khác nhất là các quyết định
liên quan đến đầu tư, kinh doanh, tài chính doanh nghiệp vẫn chịu sự chi phối
của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại
doanh nghiệp, thông qua người đại diện vốn của chủ sở hữu (nhà nước) trực tiếp
tại doanh nghiệp – vốn là những cán bộ được giao nhiệm vụ đại diện thông qua
cơ chế bổ nhiệm. Điều này có thể dẫn đến sự chi phối sâu của cơ quan đại diện
chủ sở hữu (nhà nước) đối với việc tổ chức, hoạt động của DNNN4. Hệ quả là
việc kéo dài tình trạng quản lý yếu kém nhiều năm qua – vốn là một trong
những nguyên nhân đòi hỏi phải cải cách DNNN. Như vậy, cổ phần hóa DNNN
có thể xem là một cơ hội để chuyển doanh nghiệp sau khi CPH sang khuôn khổ
Xem điều 78 Luật DN 2014.
Xem điều 91 khoản 2a Luật DN 2014.
4
Xem từ điều 40 đến điều 45 Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh
nghiệp (2014).
2
3


10

pháp lý chung, với những công cụ và phương thức điều chỉnh tổ chức, hoạt
động giống như nhiều loại hình doanh nghiệp khác.
Trong Tờ trình Chính Phủ của Bộ tài Chính (2016) về việc ban hành Nghị định
mới về CPH thay thế Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính
phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành CTCP đã thừa
nhận“quá trình CPH DNNN ... trong thời gian qua cho thấy việc đổi mới
phương thức quản lý còn chưa rõ ràng (tỷ lệ cổ phần Nhà nước còn nắm giữ lớn
ở nhiều doanh nghiệp); một số doanh nghiệp thuộc diện CPH có quy mô vừa và
lớn, tình hình tài chính phức tạp, hoạt động trong những lĩnh vực đặc thù nên
thời gian tiến hành CPH kéo dài…; cơ chế bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến
lược còn bất cập …Trong giai đoạn 2016-2020, quá trình tái cơ cấu DNNN
trọng tâm là CPH tiếp tục được Đảng, Chính phủ chỉ đạo triển khai quyết liệt,
đối tượng CPH tiếp tục được mở rộng tới các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty
Nhà nước lớn đòi hỏi phải ….gắn quá trình CPH với quá trình phát triển của thị
trường chứng khoán và thu hút được các nhà đầu tư tham gia mua cổ phần góp
phần đổi mới quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh
tranh của doanh nghiệp sau CPH. Bên cạnh đó, một số nội dung quy định tại
Nghị định 59/2011/NĐ-CP cần được được rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với
một số văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực thi hành
như: Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Quản lý, sử
dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp….”5.
Trong thực tế, không phải tất cả các DNNN sau khi CPH đều đạt kết quả
tốt. Theo đánh giá của Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, trong
thời gian qua, các DNNN sau CPH hầu hết đều sản xuất, kinh doanh có hiệu
quả, nộp ngân sách và thu nhập người lao động được nâng lên. Cụ thể, theo số
liệu tổng hợp từ Bộ Tài chính, kết quả hoạt động năm 2015 của 350 doanh
nghiệp sau CPH với trước khi CPH cho thấy, lợi nhuận trước thuế của các
doanh nghiệp này tăng 49%, nộp ngân sách tăng 27%, tổng tài sản tăng 39%,
doanh thu tăng 29%, thu nhập bình quân người lao động tăng 33%. Tuy nhiên,
cũng có những doanh nghiệp lại rơi vào hoàn cảnh khó khăn hơn, lợi nhuận liên
tục giảm, số nợ phải trả tăng như Tập đoàn Cao su Việt Nam (lợi nhuận giảm từ

5

Tờ trình Chính Phủ của Bộ tài Chính về việc ban hành Nghị Định thay thế NĐ 59/2011/NĐ-CP.


11

11.838 tỷ đồng năm 2011 xuống còn 2.200 tỷ đồng năm 2015; công nợ phải trả
năm 2015 là 21.220 tỷ đồng trên vốn điều lệ là 35.210 tỷ đồng)6.
Tuy nhiên,xét theo diễn tiến các chủ trương và các quy định pháp luật, có
thể nhận định CPH là một xu hướng tất yếu và là một thực tiễn không thể phủ
nhận trong quá trình cải cách DNNN hiện nay.
1.2. Khái niệm cổ phần hóa và một số dữ liệu về cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam:
1.2.1. Khái niệm cổ phần hóa:
Theo các nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Chính phủ và
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì khái niệm CPHDNNN đều được hiểu
thống nhất là một biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước sang hình
thức sở hữu nhiều thành phần và doanh nghiệp được chuyển hình thức hoạt
động từ loại hình doanh nghiệp nhà nước sang loại hình Công ty cổ phần.
Trong CPH, tài sản của DNNN được bán lại cho nhiều đối tượng khác
nhau bao gồm: các tổ chức kinh tế, xã hội, các cá nhân trong và ngoài doanh
nghiệp, giữ lại một tỷ lệ cổ phần cho nhà nước trong chính doanh nghiệp cổ
phần đó. Như vậy hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ nhà nước duy
nhất sang hỗn hợp, từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ
chức, quản lý cũng như phương thức hoạt động công ty. Doanh nhiệp nhà nước
sau khi cổ phần hóa trở thành công ty cổ phần, điều lệ và thể thức hoạt động
theo Luật Doanh nghiệp.
Qua CPH, doanh nghiệp nhà nước đã trở thành doanh nghiệp có nhiều
chủ sở hữu, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động; huy động thêm nguồn
vốn của xã hội vào sản xuất kinh doanh, hiệu quả; sức cạnh tranh và khả năng
hội nhập của doanh nghiệp được nâng lên. Thực tiễn khẳng định cổ phần hóa đã
trở thành giải pháp quan trọng, chủ yếu để cơ cấu lại, đổi mới cơ chế quản lý và
nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN.
CPH sẽ huy động được trí tuệ và vốn của xã hội vào doanh nghiệp, đồng
thời sẽ tạo ra sức ép phải thành công. Sức ép hiệu quả ấy buộc doanh nghiệp
phải chọn được nhân sự tốt, chọn được chiến lược kinh doanh đúng đắn, chọn
Tái cơ cấu doanh nghiêp nhà nước: nhìn lại 6 năm (2011-2016) và những hướng đi tiếp theo – Trang tin điện tử
Bộ Tài chính ngày 10/03/2017
6


12

được cách thức điều hành doanh nghiệp. Sức ép càng lớn thì những người đứng
đầu doanh nghiệp càng buộc phải lựa chọn, sàng lọc để có bộ máy tốt nhất cho
mình, nếu không chính bản thân họ cũng không thể tồn tại được.
1.2.2. Một số dữ liệu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt
nam thời gian qua:
CPH trở thành giải pháp hữu hiệu trong việc tái cơ cấu lại doanh nghiệp.
Bằng việc CPH không chỉ đơn thuần giảm số DNNN mà để DNNN có bước tái
cơ cấu quan trọng tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Thông qua việc xử lý tài chính công nợ, tài chính doanh nghiệp cũng được lành
mạnh hơn. Cụ thể là đã xử lý hàng trăm tỷ đồng cho các khoản nợ khó đòi và tài
sản thanh lý không cần dùng. Qua đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp.
Theo báo cáo tổng hợp của Chính phủ trước Quốc hội vào ngày
6/11/2007 về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp CPH đã hoạt động trên
một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng
23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp
sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%;
thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%.7
Theo tổng kết của UBND TP Hà Nội, giai đoạn 2011-2015, Thành phố đã
thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa 71 doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND Thành
phố, trong đó, có 56 doanh nghiệp cổ phần hóa, 15 đơn vị và doanh nghiệp sắp
xếp khác. Qua giám sát tại một số đơn vị cho thấy, tại hầu hết các doanh nghiệp
sau cổ phần hóa hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị đều có bước phát
triển tốt hơn so với trước khi cổ phần hóa, doanh thu, lợi nhuận ròng tăng, hoạt
động hiệu quả... ý thức của người lao động tốt hơn, thu nhập của người lao động
được nâng lên, đảm bảo được ổn định xã hội, có đơn vị đổi mới công tác quản
trị, đổi mới công nghệ, năng động, chủ động hơn. Vai trò của người đại diện
vốn chủ sở hữu được xác định rõ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các
công ty sau khi CPH.8
7

CPH DNNN để xứng đáng với kỳ vọng - Tạp chí Tài chính ngày 23.1.2008

8

Văn bản 5318/UBND-KT, ngày 13/9/2016 UBND TP Hà Nội về sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

thuộc UBND thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020.hanoi.gov.vn


13

Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả
DNNN thuộc thành phố Hồ chí Minh giai đoạn 2001-2010 nhận định: Qua thực
hiện chủ trương CPH các DNNN của thành phố đã từng bước hình thành và
phát triển loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có người lao
động, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tài sản Nhà nước và nguồn vốn xã
hội được huy động để đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh, với cơ chế quản
lý năng động, hiệu quả hơn (tập thể sở hữu vốn là người quyết định cao nhất
thông qua Đại hội cổ đông, quyền hạn của Hội đồng Quản trị trong công tác
điều hành giúp doanh nghiệp chủ động linh hoạt hơn trong điều chỉnh chiến
lược, quy hoạch sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất, phù hợp hoạt động theo
cơ chế thị trường), phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động và cổ
đông, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động
(Trong tổng số các doanh nghiệp đã CPH tính đến thời điểm đăng ký kinh
doanh lần đầu nhà nước nắm giữ bình quân 44,05% vốn; người lao động
21,42%; Tổ chức Công đoàn 0,06%; các cổ đông khác 34,46%).
Tính đến thời điểm 31/12/ 2009, phần lớn các doanh nghiệp CPH đều có
bước phát triển tích cực so với trước khi CPH, vốn điều lệ tăng bình quân 1,29
lần, tương đương 7.167 tỷ đồng; Doanh thu tăng 1.34 lần (41.194 tỷ/17.618 tỷ);
nộp ngân sách tăng 1,35 lần (1.521 tỷ/647 tỷ); lợi nhận sau thuế tăng 3,12 lần
(2.044 tỷ/496 tỷ); tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân:
28,53%. (Trong đó: 50% doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu, từ 15% trở lên); tỷ lệ chia cổ tức bình quân 12,21%; thu nhập người lao
động tăng bình quân 1,03 lần (3,867 triệu / 1,908 triệu đồng); số doanh nghiệp
kinh doanh thua lỗ giảm (5% so 10%); nguồn vốn đầu tư mua sắm tài sản cố
định, đổi mới máy móc thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp
tăng 21,55%... góp phần giải quyết chế độ lao động dôi dư, bố trí hợp lý lực
lượng lao động; lành mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp sau CPH.” 9
Có thể hiểu CPH là một phương thức để đổi mới doanh nghiệp. Vì vậy,
có nhà kinh tế cho rằng, cần phải tính toán xem CPH như thế nào để ngân sách
Nhà nước được lợi nhất và thị trường có thể hấp thu kịp. Đồng thời, cần phải
9

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau thực hiện cổ phần hóa; Ths. Nguyễn Duy Long - Cục tài

chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) – Tapchitaichinh.vn ngày 10/12/2016


14

khắc phục những biểu hiện tiêu cực trong CPH như: Tạo ra thua lỗ rồi định giá
doanh nghiệp thấp để những người đang điều hành và người nhà dễ dàng thâu
tóm; mua doanh nghiệp chỉ vì khu đất vàng mà doanh nghiệp đang nắm giữ chứ
không quan tâm phát triển ngành nghề cốt lõi của doanh nghiệp...
Mục tiêu CPH thể hiện rõ Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với các tổng
công ty, công ty cổ phần hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực thiết yếu
cho việc bảo đảm những cân đối lớn của nền kinh tế; chỉ giữ 100% vốn nhà
nước trong các doanh nghiệp hoạt động bảo đảm an ninh, quốc phòng và những
doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích thiết yếu mà chưa CPH được.
1.3. Hệ thống văn bản pháp luật và những nội dung đặc điểm và vai
trò cổ phần hóa
Quy định về CPH được đề cập từ Quyết định số 143/1990/HĐBT HĐBT Ngày 10 tháng 05 năm 1990 về việc tiếp tục đổi mới quản lý xí nghiệp
quốc doanh. Tiếp theo là Quyết định số 202 ngày 8 tháng 6 năm 1992 về việc
tiếp tục làm thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ
phần. Ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP về chuyển
một số DNNN thành công ty cổ phần; sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số
44/CP ngày 29/6/1998 về vấn đề CPH DNNN thay thế cho các nghị định
28/1996/ NĐ – CP và Nghị định số 25/1997/NĐ – CP.
Một trong những mốc quan trọng trong các quy định về CPH phải kể đến
Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty
cổ phần. Nghị định 187NĐ – CP yêu cầu của việc chuyển công ty nhà nước
thành công ty cổ phần là thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị
trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp;
gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán. Ngày 26/06/2007
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp
100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định số
187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004. Nghị định 109 quy định rõ trách nhiệm,
quyền hạn của cơ quan trong việc cổ phần hóa, đẩy mạnh phân cấp đồng thời bổ
sung qui định về xử lý vi phạm và qui định về giải quyết khiếu nai, tố cáo. Tuy
nhiên, trong thực tế, CPH vẫn còn nhiều điểm bất cập, đặc biệt là trong vấn đề
định giá tài sản của DNNN và phương thức bán cổ phần. Để tháo gỡ vướng mắc
này ngày 18 tháng 7 năm 2011 Chính phủ ban hành Nghị định 59/2011/NĐ-CP


15

về cổ phần hoá DNNN.Nghị định 59/2011/NĐ-CP quy định rõ: Giá trị lợi thế
kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm giá trị thương hiệu và tiềm năng phát
triển. Khác với trước đây tại Nghị định 109/2007/NĐ-CP xác định thêm giá trị
lợi thế về vị trí địa lý. Bởi lẽ, việc xác định giá trị lợi thế về vị trí địa lý đã gây
ra nhiều bất cập và vướng mắc trong quá trình cổ phần hóa.
Theo Nghị định 59/2011 việc xác định giá đất đối với trường hợp được
giao đất và thuê đất trả tiền một lần thuộc về Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.
Nếu không có ý kiến phản hồi trong thời hạn quy định thì cơ quan có thẩm
quyền quyết định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa tạm tính theo giá đất do
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố công bố và công bố công khai trong phương án
CPH. Quy định này giúp đẩy nhanh quá trình xác định giá trị doanh nghiệp
trong một số trường hợp liên quan đến định giá đất. Xử lý số lượng cổ phần
không bán hết không phụ thuộc vào khối lượng cổ phần chưa bán hết chiếm bao
nhiêu vốn điều lệ của công ty cổ phần hóa. Cơ quan có thẩm quyền quyết định
phê duyệt phương án CPH được thực hiện điều chỉnh cơ cấu vốn điều lệ để thực
hiện thủ tục chuyển DNNN thành công ty cổ phần. Quy định giá bán cho nhà
đầu tư chiến lược không thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất của cuộc đấu giá
công khai, hoặc không thấp hơn giá khởi điểm trong phương án CPH được phê
duyệt trong trường hợp bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược trước khi đấu giá
(Nghị định 109/2007/NĐ-CP quy định không thấp hơn giá đấu thầu thành công
bình quân). Như vậy quy định mới tăng cường ưu đãi và chủ động của DNNN
trong việc tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược.
Ngoài ra, để tăng tính hấp dẫn của chủ trương CPH, Nghị định
59/2011/NĐ-CP tập trung giải quyết một số vấn đề căn bản sau: Tăng tỷ lệ bán
cổ phần ra bên ngoài nhằm tạo tiếng nói của cổ đông thiểu số và cơ hội cho các
nhà đầu tư chiến lược thực sự tham gia vào các DNNN sau CPH;Thay đổi cách
thức tiến hành CPH theo hướng hạn chế sử dụng phương pháp đấu giá mà thiên
về việc bảo lãnh phát hành bởi các ngân hàng đầu tư, đặc biệt đối với các
thương vụ lớn; Trong trường hợp đấu giá, nên áp dụng một giá thành công duy
nhất cho tất cả các nhà đầu tư tham gia, tương đương mức giá đấu thành công
thấp nhất. Thay đổi cách xác định giá khởi điểm tránh tình trạng đưa ra giá khởi
điểm quá cao so với giá trị doanh nghiệp đã được xác định; Thay đổi quy định
về sử dụng tiền thu về từ CPH trong trường hợp phát hành tăng vốn, theo đó


16

phần thặng dư vốn từ việc bán cổ phiếu ra bên ngoài phải được giữ lại hoàn toàn
cho doanh nghiệp, phục vụ quyền lợi của tất cả các cổ đông.
Riêng đối với các doanh nghiệp quy mô lớn có vốn nhà nước trên 500 tỷ
đồng hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề đặc thù (như: bảo
hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không, khai thác than, dầu khí,
khai thác mỏ quý hiếm khác) và các công ty mẹ thuộc các Tập đoàn kinh tế,
Tổng công ty nhà nước nếu nhất thiết phải chọn nhà đầu tư chiến lược trước thì
cơ quan thẩm quyền quyết định phương án CPH, báo cáo Thủ tướng Chính phủ
quyết định tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, phương thức bán và số
lượng cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược.
Số lượng nhà đầu tư chiến lược mua cổ phần tại mỗi doanh nghiệp CPH
được xác định tối đa là 03 nhà đầu tư. Nhà đầu tư chiến lược không được
chuyển nhượng số cổ phần mua trong thời hạn tối thiểu 05 năm, kể từ ngày
công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp. Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ
phần này trước thời hạn trên thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận.
Giá bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược được xác định theo nguyên tắc:
Đối với trường hợp bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược sau khi đấu
giá công khai thì giá bán do Ban Chỉ đạo CPH thỏa thuận trực tiếp với các nhà
đầu tư chiến lược nhưng không thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất của cuộc
đấu giá công khai.
Đối với trường hợp thỏa thuận trực tiếp hoặc đấu giá giữa các nhà đầu tư
chiến lược có đủ tiêu chuẩn và đã thực hiện đăng ký mua trước khi thực hiện
đấu giá công khai là giá thỏa thuận giữa các bên (trường hợp thỏa thuận) hoặc là
giá đấu thành công (đối với trường hợp đấu giá) nhưng không thấp hơn giá khởi
điểm đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa phê
duyệt. Nhà đầu tư chiến lược phải đặt cọc ngay 10% giá trị cổ phần đăng ký
mua theo giá khởi điểm đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án
CPH phê duyệt. Trường hợp từ bỏ quyền mua, nhà đầu tư không được nhận lại
tiền đặt cọc.
Ngay từ sau khi áp dụng Nghị định 59/2011/NĐ-CP về chuyển DN 100%
vốn nhà nước thành công ty cổ phần ở góc độ thị trường, giới đầu tư và các


17

chuyên gia đã nhận diện rõ một số bất cập, vướng mắc về giải quyết công nợ,
xác định giá trị đất đai, xác định giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, họ phải đợi
gần 2 năm sau mới được chứng kiến những bất cập trên được sửa đổi, khi Chính
phủ ban hành Nghị định 189/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 59/2011/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/1/2014.
Về hướng giải quyết vướng mắc trong xử lý công nợ, Nghị định
189/2013/NĐ-CP quy định, tại thời điểm DN CPH được cấp giấy chứng nhận
đăng ký DN lần đầu, khi lập báo cáo tài chính để bàn giao từ DN 100% vốn nhà
nước sang công ty cổ phần, nếu các khoản công nợ vẫn chưa được đối chiếu,
xác nhận, thì đối với nợ phải trả, DN đã làm đủ thủ tục đối chiếu nợ, nhưng
không xác nhận được chủ nợ, thì được hạch toán ghi tăng vốn nhà nước tương
ứng và công ty cổ phần mới có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ, tiếp tục kế thừa, theo
dõi để thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi chủ nợ yêu cầu...
Đối với nợ phải thu, DN đã làm thủ tục đối chiếu, nhưng vẫn chưa đối
chiếu được, thì phải xử lý trách nhiệm bồi thường đối với tập thể, cá nhân có
liên quan. Giá trị khoản nợ còn lại sau khi bù trừ khoản bồi thường của các bên
liên quan, quỹ dự phòng nợ phải thu khó đòi, được hạch toán vào chi phí sản
xuất kinh doanh của DN CPH…
Một điểm mới khác của Nghị định 189/2013/NĐ-CP là các quy định liên
quan đến việc xử lý những bất cập cho khâu xác định giá trị đất đai, trong đó
phức tạp nhất là xác định giá trị lợi thế vị trí địa lý của đất. Theo đó, trường hợp
diện tích đất DN được giao bao gồm cả diện tích sử dụng cho các hoạt động sản
xuất cung ứng dịch vụ, sản phẩm công ích, phúc lợi công cộng như: công viên
cây xanh, môi trường đô thị, bến bãi xe khách… không phải nộp tiền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật, thì được loại trừ những diện tích này khi xác
định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị DN CPH… Ngoài hình thức
giao đất, DN CPH được thực hiện hình thức thuê đất và không phải tính bổ sung
giá trị lợi thế vị trí địa lý khi xác định giá trị DN.
Đặc biệt, Nghị định 189/2013/NĐ-CP cũng quy định rõ: Đối với các DN
đã hoàn thành CPH hoặc đang thực hiện CPH trước ngày Nghị định
189/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện giao đất, thuê đất và
tính giá trị quyền sử dụng đất theo phương án đã được phê duyệt, không thực
hiện điều chỉnh.


18

Để giải quyết bế tắc trong quá trình xác định giá trị DN, nhất là đối với
các trường hợp CPH là công ty mẹ của các tập đoàn, tổng công ty khi các đơn vị
này có nhiều công ty con là các đơn vị sự nghiệp có thu như: bệnh viện, trường
học, viện nghiên cứu…, Nghị định 189/2013/NĐ-CP quy định, trường hợp công
ty CPH tiếp tục kế thừa, thì phải tổ chức định giá tính vào giá trị DN CPH.
Trường hợp DN CPH không kế thừa, thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét,
quyết định chuyển giao cho các bộ, ngành liên quan để thực hiện xã hội hóa…
Để sửa đổi, bổ sung một số điều nhằm hoàn thiện chế định CPH DNNN,
không chỉ ban hành Nghị định 189/2013/NĐ-CP; ngày 11 tháng 11 năm 2015
Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 116/2015/NĐ-CP tiếp tục sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2011
của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ
phần. Theo Nghị định số 116/2015/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền quyết định
phương án CPH lựa chọn tổ chức tư vấn CPH theo quy định của pháp luật. Đối
với các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước và một số doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực đặc biệt (như bảo hiểm, ngân hàng, viễn thông, hàng không,
khai thác than, dầu khí, khai thác mỏ quý hiếm khác), khi thực hiện CPH mà
phương án CPH thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ
trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lựa chọn tổ
chức tư vấn CPH (lựa chọn tổ chức tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, lựa
chọn tư vấn xây dựng phương án cổ phần hóa).Cũng theo Nghị định số
116/2015/NĐ-CP, các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các
khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa,
công trình xây lắp; khoản chênh lệch tỷ giá được sử dụng để bù đắp các tổn thất
theo quy định hiện hành, số còn lại tính vào giá trị phần vốn nhà nước tại doanh
nghiệp CPH.
Riêng đối với dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp,
từ thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp đến thời điểm chính thức chuyển
sang công ty cổ phần (đối với các hợp đồng đã ký, thời gian bảo hành còn hiệu
lực) doanh nghiệp cổ phần hóa được trích theo hợp đồng đã ký và được giữ lại
tại công ty cổ phần để thực hiện bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây
lắp theo hợp đồng. Doanh nghiệp CPH phải lập bảng kê chi tiết đối với từng


19

loại sản phẩm, hàng hóa, công trình kèm theo hồ sơ cổ phần hóa. Hết thời gian
bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp nếu khoản trích lập dự phòng
này không chi hết, còn số dư thì công ty cổ phần có trách nhiệm phải nộp về
Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp trong thời gian 30 ngày kể từ
ngày hết thời hạn bảo hành theo hợp đồng.
Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa không thực hiện nộp đúng và kịp
thời thì doanh nghiệp phải chịu thêm tiền lãi tính theo lãi suất do Ngân hàng nhà
nước Việt Nam công bố tại thời điểm gần nhất với thời điểm doanh nghiệp nộp
tiền vào quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp đối với số tiền chậm nộp
và thời gian chậm nộp; phải chịu các biện pháp cưỡng chế được quy định tại
Quyết định số 21/2012/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng quỹ hỗ trợ sắp xếp và
phát triển doanh nghiệp.
Thay vì quy định trong thời gian 30 ngày làm việc như Nghị định số
59/2011/NĐ-CP, thì Nghị định số 116/2015/NĐ-CP tăng lên trong thời gian 60
ngày làm việc kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
lần đầu, doanh nghiệp CPH phải hoàn thành việc lập báo cáo tài chính tại thời
điểm đăng ký doanh nghiệp, thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, đề nghị cơ
quan thuế kiểm tra quyết toán thuế, thực hiện quyết toán, xác định giá trị phần
vốn nhà nước tại thời điểm chính thức chuyển thành công ty cổ phần và các tồn
tại về tài chính cần tiếp tục xử lý.Nghị định cũng quy định, cơ quan có thẩm
quyền quyết định phương án CPH lựa chọn tổ chức tư vấn định giá thực hiện tư
vấn xác định giá trị doanh nghiệp theo nguyên tắc: đối với các gói thầu, tư vấn
định giá có giá trị không quá 03 tỷ đồng thì cơ quan có thẩm quyền quyết định
phương án CPH có thể lựa chọn hình thức chỉ định thầu để lựa chọn hình thức
tư vấn định giá trong danh sách do Bộ Tài chính công bố; trường hợp xét thấy
cần phải tổ chức đấu thầu thì thực hiện đấu thầu theo quy định của pháp luật về
đấu thầu; đối với các gói thầu tư vấn không thuộc quy định nêu trên thì cơ quan
có thẩm quyền quyết định phương án CPH quyết định tổ chức đấu thầu lựa chọn
đơn vị thực hiện tư vấn định giá theo quy định.
Từ những thay đổi mang tính đột phá này, tính riêng giai đoạn từ 2011
đến cuối năm 2014, quy mô huy động vốn qua TTCK đạt khoảng 806 nghìn tỷ
đồng, gấp 3 lần so với giai đoạn 2006- 2010. Bình quân mỗi năm huy động hơn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×