Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trình doanh thu tại Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng số 1 Thừa Thiên Huế

Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập vào nền kinh tế Thế giới đã
mang đến cho các doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội mới để phát triển nhưng
bên cạnh đó cũng chứa đựng không ít những khó khăn và thách thức. Và để hạn
chế những khó khăn và thách thức đó thì đòi hỏi các doanh nghiệp cần chú ý
trong việc quản lý rủi ro và KSNB trong quá trình thiết kế và thực thi chiến lược
của mình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Do đó, KSNB đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Việc xây dựng hệ thống KSNB vững mạnh trong doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm bớt rủi ro tiềm ẩn trong quá trình sản
xuất, bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát do hao hụt, gian lận, trộm cắp...;
đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính; đảm bảo
mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của Công ty cũng
như các quy định của luật pháp; đảm bảo Công ty hoạt động hiệu quả, sử dụng
tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra. Đối với nhà quản lý, việc nhận
dạng các sai phạm và đề ra các giải pháp kiểm soát thích hợp và chọn lọc những
sai phạm trong phạm vi kiểm soát của chu trình doanh thu sẽ mang lại hiệu quả
công việc, không lãng phái thời gian và công sức. Việc xây dựng hệ thống kiểm

soát nội bộ có hữu hiệu đối với chu trình doanh thu sẽ đảm bảo thu được tiền
khách hàng, cung cấp cho khách hàng sản phẩm có chất lượng tốt,... từ đó nâng
cao uy tín, vị thế cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Bên
cạnh đó, các thủ tục và chất lượng kiểm soát đối với chu trình doanh thu còn thể
hiện quan điểm, thái độ, năng lực quản lý, điều hành của Ban giám đốc nhằm
chống lãng phí, thất thoát tài sản của doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm soát chu trình doanh thu
trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng với những kiến thức đã được trang
bị trên ghế nhà trường và kinh nghiệm thực tế thu nhận được trong thời gian
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 1


Khóa luận tốt nghiệp
thực tập tại Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng số 1 Thừa Thiên Huế nên tôi
chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trình doanh
thu tại Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng số 1 Thừa Thiên Huế”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận về chu trình doanh thu và kiểm soát nội
bộ đối với chu trình doanh thu trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
- Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ
đối với chu trình doanh thu tại Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng số 1 Thừa
Thiên Huế.
- Đề ra những giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội
bộ đối với chu trình doanh thu tại Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng số 1 Thừa
Thiên Huế.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chú trọng nghiên cứu các thủ tục kiểm soát nội bộ đối với chu trình
doanh thu tại Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng số 1 Thừa Thiên Huế.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Về không gian
Văn phòng Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng số 1 Thừa Thiên Huế.
3.2.2. Về thời gian
Số liệu liên quan đến tình hình tài chính của Công ty Cổ phần vật liệu số 1
Thừa Thiên Huế trong 3 năm 2012 – 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn: trực tiếp phỏng vấn nhân viên văn phòng của
công ty để tìm hiểu thực tế công tác kiểm soát đối với chu trình doanh thu để từ


đó phân tích hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Phương pháp quan sát: là quá trình quan sát, ghi chép lại những công
việc mà nhân viên công ty thực hiện.

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 2


Khóa luận tốt nghiệp
- Phương pháp thu thập số liệu: thu thập các thông tin liên quan đến
công ty như: tình hình tài sản, nguồn vốn, lao động, kết quả kinh doanh,...từ văn
phòng công ty.
- Phương pháp phân tích số liệu: phân tích, so sánh số liệu thu thập được
để từ đó tổng hợp những dữ liệu cần thiết phục vụ cho việc đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ.
5. Cấu trúc đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trình
doanh thu trong doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trình doanh
thu tại Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng số 1 Thừa Thiên Huế
- Chương 3: Biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát đối với chu
trình doanh thu tại Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng số 1 Thừa Thiên Huế.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI
CHU TRÌNH DOANH THU TRONG DOANH NGHIỆP
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 3


Khóa luận tốt nghiệp
1.1. Khái quát chung về hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.1. Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
Kiểm soát luôn là một khâu quan trọng trong mọi quy trình quản trị, do đó
các nhà quản lý thường chú tâm đến việc hình thành và duy trì các hoạt động
kiểm soát để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Quá trình nhận thức và nghiên
cứu về kiểm soát nội bộ đã dẫn đến sự hình thành các định nghĩa khác nhau từ
đơn giản đến phức tạp về hệ thống kiểm soát nội bộ. Hiện nay có rất nhiều quan
điểm về hệ thống KSNB:
 Theo liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC), kiểm soát nội bộ là một hệ
thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được 4 mục tiêu sau:
- Bảo vệ tài sản của đơn vị không sử dụng lãng phí, gian lận hoặc kém
hiệu quả.
- Đảm bảo độ tin cậy của các thông tin báo cáo.
- Đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và các chính sách của đơn vị.
- Đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của các hoạt động.
 Theo quan điểm của COSO (Committee of Sponsoring Organizations
of Treadway Commission tạm dịch là Ủy ban các tổ chức tài trợ): “Kiểm toán
nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của
đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực
hiện ba mục tiêu: báo cáo tài chính đáng tin cậy, các luật lệ và quy định được
tuân thủ, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả”.
 Theo chuẩn mực kế toán Quốc tế số 400: “Hệ thống KSNB là toàn bộ
những chính sách và các thủ tục do Ban giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm
bảo việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có
thể. Các thủ tục này đòi hỏi việc tuân thủ các chính sách quản lý, bảo quản
tài sản, ngăn ngừa và phát hiện các sai sót hay gian lận, tính chính xác và
đầy đủ của các ghi chép kế toán và đảm bảo lập các báo cáo trong thời gian
mong muốn.
 Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: “Hệ thống KSNB là các
quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp
dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định; để kiểm tra,
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 4


Khóa luận tốt nghiệp
kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập BCTC trung thật và
hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”.
Như vậy, từ các quan điểm trên cho thấy hệ thống KSNB được nhà quản
lý thiết kế để điều hành mọi nhân viên, mọi loại hoạt động không chỉ giới hạn
trong chức năng tài chính và kế toán, mà còn phải kiểm soát mọi chức năng khác
về hành chính, quản lý sản xuất,... Do đó, KSNB chính là một hệ thống nhằm
huy động mọi thành viên trong đơn vị cùng tham gia kiểm soát các hoạt động, vì
chính họ là nhân tố quyết định mọi thành quả chung của tổ chức.
1.1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.2.1. Mục tiêu
- Đối với báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ phải đảm bảo về tính trung
thực và đáng tin cậy, bởi vì chính người quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập
báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.
- Đối với tính tuân thủ, kiểm soát nội bộ trước hết phải đảm bảo hợp lý
việc chấp hành luật pháp và các quy định. Điều này xuất phát từ trách nhiệm của
người quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị. Bên cạnh đó,
kiểm soát nội bộ còn phải hướng mọi thành viên trong đơn vị vào việc tuân thủ
các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị, qua đó bảo đảm đạt được những
mục tiêu của đơn vị.
- Đối với mục tiêu sự hiện hữu và hiệu quả của các hoạt động, kiểm soát nội
bộ giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng
cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị.
1.1.2.2.Nhiệm vụ
- Giúp cho việc quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách
có hiệu quả.
- Bảo đảm rằng các quyết định và chế độ quản lý được thực hiện đúng thể
thức và giám sát mức hiệu quả của chế độ và quyết định đó.
- Đảm bảo việc chấp hành chính sách kinh doanh như: phát hiện kịp thời
những vấn đề trong kinh doanh để đề ra các biện pháp giải quyết.

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 5


Khóa luận tốt nghiệp
- Ngăn chặn, phát hiện các sai phạm và gian lận trong các hoạt động, các
bộ phận của doanh nghiệp.
- Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức về các nghiệp vụ và
hoạt động kinh doanh.
- Đảm bảo việc lập các BCTC kịp thời, hợp lệ và tuân theo các yêu cầu
pháp định có liên quan.
- Bảo vệ tài sản và thông tin không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích.
1.1.3. Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh
nghiệp
Trong một tổ chức bất kì, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung –
quyền lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song
hành. Nếu không có hệ thống KSNB, làm thế nào để người lao động không vì
quyền lợi riêng của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn
tổ chức, của người sử dụng lao động? Làm sao quản lý được các rủi ro? Làm thế
nào có thể phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác,
khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính?
Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đem lại cho tổ chức các lợi
ích như: giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong sản xuất kinh doanh (sai sót vô
tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lượng
sản phẩm,...). Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa
gạt, trộm cắp. Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài
chính. Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động
của tổ chức cũng như các quy định của pháp luật. Đảm bảo tổ chức hoạt động
hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra. Bảo vệ
quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và xây dựng lòng tin đối với họ.
Từ đó việc thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ đang trở thành nhu cầu
cấp thiết trong quản lý tại mỗi doanh nghiệp.
1.1.4. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.4.1. Môi trường kiểm soát
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 6


Khóa luận tốt nghiệp
Theo VAS 400 thì môi trường kiểm soát bao gồm nhận thức, quan điểm,
sự quan tâm và hành động của nhà quản lý đối với hệ thống KSNB trong đơn vị.
Tuy nhiên, môi trường kiểm soát mạnh không đồng nghĩa với hệ thống KSNB
mạnh. Để xây dựng hệ thống KSNB cho DN cần tìm hiểu các nhân tố thuộc về
môi trường kiểm soát:

 Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý
Triết lý quản lý thể hiện qua quan điểm và nhận thức của người quản lý;
phong cách điều hành lại thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ của họ khi điều
hành đơn vị. Một số nhà quản lý rất quan tâm đến việc lập báo cáo tài chính và
rất chú trọng đến việc hoàn thành hoặc vượt mức kế hoạch. Một số nhà quản lý
khác lại rất bảo thủ và quá thận trọng với rủi ro... Sự khác biệt về triết lý quản lý
và phong cách điều hành có thể ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát và tác
động đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị.
Triết lý quản lý và phong cách điều hành cũng được phản ánh trong cách
thức nhà quản lý sử dụng các kênh thông tin và quan hệ với cấp dưới. Có nhiều
nhà quản lý trong quá trình điều hành thích tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với các
nhân viên. Ngược lại, có những nhà quản lý chỉ thích điều hành công việc theo
một trật tự đã được xác định trong cơ cấu tổ chức của đơn vị...

 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức trong một đơn vị phản ánh việc phân chia quyền lực, trách
nhiệm và nghĩa vụ của mọi người trong tổ chức ấy cũng như mối quan hệ hợp
tác, phối hợp, kiểm soát và chia sẻ thông tin lẫn nhau giữa những người khác
nhau trong cùng một tổ chức. Một cơ cấu tổ chức hợp lý không những giúp cho
sự chỉ đạo điều hành của nhà quản lý được thực hiện thông suốt mà còn giúp cho
việc kiểm soát lẫn nhau được duy trì thường xuyên và chặt chẽ hơn.

 Chính sách nhân sự
Là các chính sách và thủ tục của nhà quản lý về việc tuyển dụng, huấn
luyện, bổ nhiệm, đánh giá, sa thải, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật. Chính sách nhân
sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát thông qua

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 7


Khóa luận tốt nghiệp
việc tác động đến các nhân tố khác trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về
năng lực, tính chính trực và các giá trị đạo đức.

 Công tác kế hoạch
Hệ thống kế hoạch thống nhất trong các đơn vị gồm các kế hoạch sản xuất
- kỹ thuật - tài chính. Trong đó kế hoạch tài chính với các dự toán ngân sách
tổng thể và dự toán chi tiết cho các bộ phận các khoản mục nếu được xây dựng
chắc chắn, có nền nếp và ổn định sẽ là điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát
nội bộ tốt, là mục tiêu cho hành động và là căn cứ cho việc đánh giá kết quả.

 Kiểm toán nội bộ
Chức năng của kiểm toán nội bộ ở các đơn vị là giám sát, kiểm tra à đánh
giá một cách thường xuyên về toàn bộ hoạt động của đơn vị, trong đó có cả hệ
thống kiểm soát nội bộ. Bộ phận KSNB hoạt động có hiệu quả sẽ giúp cho đơn
vị có những thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động nói chung, chất
lượng công tác kiểm soát nói riêng. Tuy nhiên bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ có
thể phát huy tác dụng tốt nếu nó được tổ chức và đảm bảo sự độc lập so với tất
cả các bộ phận khác trong đơn vị, được giao quyền hạn đầy đủ theo chức năng
và thực hiện báo cáo trực tiếp cho cấp có quyền hạn cao nhất trong đơn vị.

 Các nhân tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài đơn vị cũng ảnh hưởng đến các quá trình kiểm soát
bên trong đơn vị. Thuộc các nhân tố này là: ảnh hưởng của các cơ quan chức
năng của nhà nước, các chủ nợ và các trách nhiệm pháp lý. Chẳng hạn, yêu cầu
cung cấp báo cáo hàng quý của Ủy ban giao dịch chứng khoán sẽ giúp các đơn
vị nhận thức được tầm quan trọng trong công tác ghi sổ kế toán chính xác và lập
báo cáo kịp thời, trung thực,..
1.1.4.2. Đánh giá rủi ro
Để giới hạn được rủi ro ở mức chấp nhận được, người quản lý phải dựa
trên mục tiêu đã được xác định của đơn vị, nhận dạng và phân tích rủi ro, từ đó
mới có thể quản trị được rủi ro.

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 8


Khóa luận tốt nghiệp
- Xác định mục tiêu của đơn vị: mục tiêu tuy không phải là một bộ phận
của KSNB nhưng việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro. Rủi
ro quan trọng đối với tổ chức hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ tác động tiêu
cực của nó đến mục tiêu của đơn vị. Xác định mục tiêu bao gồm việc đưa ra sứ
mệnh, hoạch định các mục tiêu chiến lược cũng như những chỉ tiêu phải đạt
được trong ngắn, trung và dài hạn.
- Nhận dạng rủi ro: Rủi ro có thể tác động đến tổ chức ở mức độ toàn
đơn vị( sự đổi mới kỹ thuật, nhu cầu của khách hàng thay đổi, sự cải tiến sản
phẩm của các đối thủ cạnh tranh, sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước,
trình độ nhân viên không đáp ứng yêu cầu hoặc thay đổi cán bộ quản lý,...) hay
chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể( hoạt động bán hàng, mua hàng, kế
toán,...) trước khi gây ảnh hưởng đến toàn đơn vị. Nhà quản lý có thể sử dụng
nhiều phương pháp khác nhau để nhận dạng rủi ro, từ việc sử dụng các phương
tiện dự báo, phân tích các dữ liệu quá khứ cho đến việc rà soát thường xuyên các
hoạt động. Trong các doanh nghiệp nhỏ, nhà quản lý có thể tiến hành dưới dạng
những cuộc tiếp xúc với khách hàng, ngân hàng,...hoặc các buổi họp giao ban
trong nội bộ.
- Phân tích và đánh giá rủi ro: Vì rủi ro rất khó định lượng nên đây là
một công việc khác phức tạp và có nhiều phương pháp khác nhau. Một quy trình
bao gồm: ước lượng tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng có thể có của nó đến mục
tiêu của đơn vị, xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử
dụng để đối phó với rủi ro.
1.1.4.3. Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và những thủ tục để đảm bảo
cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện, có nhiều loại hoạt động kiểm
soát khác nhau có thể được thực hiện:
- Phân chia trách nhiệm đầy đủ: là không cho phép một thành viên nào
được giải quyết mọi mặt của nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc.
Chẳng hạn, không thành viên nào được kiêm nhiệm các chức năng phê chuẩn,
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 9


Khóa luận tốt nghiệp
thực hiện, ghi chép nghiệp vụ và bảo quản tài sản. Mục đích của phân chia trách
nhiệm nhằm để các nhân viên kiểm soát lẫn nhau; nếu có các sai sót xảy ra sẽ
được phát hiện nhanh chóng; đồng thời giảm cơ hội cho bất kỳ thành viên nào
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có thể gây ra và giấu giếm những sai phạm
của mình.
- Kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ: để thông tin đáng
tin cậy cần phải thực hiện nhiều hoạt động kiểm soát nhằm kiểm ta tính xác
thực, đầy đủ và việc phê chuẩn các nghiệp vụ. Khi kiểm soát quá trình xử lý
thông tin, cần phải kiểm soát chặt chẽ hệ thống chứng từ, sổ sách và việc phê
chuẩn các loại nghiệp vụ phải đúng đắn.
- Kiểm soát vật chất: Hoạt động này được thực hiện cho các loại sổ sách
và tài sản, kể cả những ấn chỉ đã được đánh số thứ tự trước nhưng chưa sử dụng,
cũng như cần hạn chế sự tiếp cận với các chương trình tin học và những cơ sở
dữ liệu. Việc so sánh, đối chiếu giữa sổ sách kế toán và tài sản hiện có trên thực
tế bắt buộc phải được thực hiện định kỳ. Từ việc điều tra và xem xét nguyên
nhân sẽ phát hiện được những yếu kém về các thủ tục bảo vệ tài sản và sổ sách
có liên quan.
- Kiểm tra độc lập việc thực hiện: là việc kiểm tra được tiến hành bởi các
cá nhân( hoặc bộ phận) khác với cá nhân( hoặc bộ phận) đang thực hiện nghiệp
vụ. Nhu cầu phải kiểm tra độc lập xuất phát từ hệ thống kiểm soát nội bộ thường
có khuynh hướng bị giảm sút tính hiện hữu trừ khi có một cơ chế thường xuyên
kiểm tra soát xét lại. Yêu cầu quan trọng đối với những thành viên thực hiện
kiểm tra là họ phải độc lập với đối tượng được kiểm tra. Sự hữu hiệu của hoạt
động này sẽ mất đi nếu người thực hiện kiểm tra lại là nhân viên cấp dưới của
người đã thực hiện nghiệp vụ, hoặc không độc lập vì bất kỳ lý do nào.
- Phân tích và rà soát hay soát xét lại việc thực hiện: là việc xem xét lại
những việc đã được thực hiện bằng cách so sánh số thực tế với số liệu kế hoạch,
dự toán, kỳ trước và các dữ liệu khác có liên quan như những thông tin không có
tính chất tài chính. Soát xét lại quá trình thực hiện giúp nhà quản lý biết được
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 10


Khóa luận tốt nghiệp
một cách tổng quát là mọi thành viên có theo đuổi mục tiêu của đơn vị một cách
hữu hiệu và hiệu quả hay không. Nhờ thường xuyên nghiên cứu về những vấn
đề bất thường xảy ra trong quá trình thực hiện, nhà quản lý có thể thay đổi kịp
thời chiến lược hoặc kế hoạch hoặc có những điều chỉnh thích hợp.
1.1.4.4. Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập,
duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành
các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao
gồm cả cho nội bộ và bên ngoài.
Thông tin được cung cấp thông qua hệ thống thông tin.Hệ thống thông tin
của một đơn vị có thể được xử lý trên máy tính, qua hệ thống thủ công hoặc kết
hợp cả hai, miễn là bảo đảm các yêu cầu chất lượng của thông tin là thích hợp,
kịp thời, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện.
Truyền thông là một phần của hệ thống thông tin nhưng được nêu ra để
nhấn mạnh vai trò của việc truyền đạt thông tin. Cần chú ý các khía cạnh sau:
- Mọi thành viên của đơn vị phải hiểu rõ công việc của mình, tiếp nhận
đầy đủ và chính xác các chỉ thị từ cấp trên, hiểu rõ mối quan hệ với các thành
viên khác và sử dụng được những phương tiện truyền thông trong đơn vị.
Điều này, sẽ được thực hiện nhờ việc tổ chức các kênh thông tin hữu hiệu
trong nội bộ.
- Các thông tin từ bên ngoài (khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng,...)
cũng phải được tiếp nhận và ghi nhận một cách trung thực và đầy đủ, nhờ đó
đơn vị mới có thể có những phản ứng kịp thời. Các thông tin cho bên ngoài cũng
cần được truyền đạt kịp thời, đảm bảo độ tin cậy và phù hợp với yêu cầu của
pháp luật.
Hệ thống thông tin kế toán thường bao gồm hai phần có quan hệ chặt chẽ
với nhau là hệ thống thông tin kế toán tài chính và hệ thống thông tin kế toán
quản trị.

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 11


Khóa luận tốt nghiệp
Ngoài những yêu cầu thông thường của bất kỳ hệ thống thông tin nào
(tính kịp thời, hiệu quả,..), các mục tiêu chủ yếu của hệ thống thông tin kế toán
tài chính phải đạt được như sau:
- Xác định và ghi chép tất cả các nghiệp vụ có thật
- Ghi nhận và diễn giải nghiệp vụ một cách đầy đủ, chi tiết và phân loại
đúng đắn các nghiệp vụ
- Đo lường giá trị của các nghiệp vụ để ghi chép đúng giá trị
- Xác định đúng kỳ hạn của các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra để ghi chép
đúng kỳ
- Trình bày đúng đắn và công bố đầy đủ thông tin cần thiết trên báo cáo
tài chính.
1.1.4.5. Giám sát
Giám sát là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng của hệ thống
kiểm soát. Điều quan trọng trong giám sát là phải xác định KSNB có vận hành
đúng như thiết kế hay không và có cần sửa đổi cho phù hợp với từng giai đoạn
phát triển của đơn vị hay không. Giám sát bao gồm giám sát thường xuyên (tiếp
cận các ý kiến, góp ý từ khách hàng, nhà cung cấp, các biến động bất thường...)
và giám sát định kỳ (các cuộc kiểm toán định kỳ do KTV nội bộ hoặc do các
KTV độc lập thực hiện).
1.1.5. Các nguyên tắc và các thủ tục kiểm soát
1.1.5.1. Các nguyên tắc kiểm soát
Ba nguyên tắc chỉ đạo chung trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ
có hiệu quả đó là: Phân công, phân nhiệm; bất kiêm nhiệm và phê chuẩn, ủy quyền.

 Nguyên tắc phân công, phân nhiệm
Trong một tổ chức có nhiều người cùng làm thì các công việc trong tổ
chức phải được phân công cho tất cả mọi người trong tổ chức, không để một số
người phải làm quá nhiều việc trong khi đó một số người khác lại không có việc
để làm. Mỗi cá thể trong tổ chức đều có mục tiêu theo đuổi riêng của mình,
nhưng để mọi người cùng nhau thực hiện mục tiêu chung của tổ chức thì các
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 12


Khóa luận tốt nghiệp
công việc của tổ chức phải được phân công và giao nhiệm vụ rõ ràng, gọi là
“phân công phân nhiệm”. Phân công phân nhiệm rõ ràng được xem là nguyên
tắc quan trọng của kiểm soát.

 Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
Bất kiêm nhiệm hay còn gọi là sự cách ly thích hợp về trách nhiệm. Cách
ly thích hợp về trách nhiệm trong nhiều trường hợp rất có tác dụng trong việc
ngăn ngừa những sai phạm nhất là những sai phạm cố ý. Đặc biệt trong những
trường hợp sau, nguyên tắc bất kiêm nhiệm phải được tôn trọng:
- Bất kiêm nhiệm trong việc bảo vệ tài sản với kế toán.
- Bất kiêm nhiệm trong việc phê chuẩn các nghiệp vụ kinh tế với việc thực
hiện các nghiệp vụ ấy.
- Bất kiêm nhiệm giữa việc điều hành với trách nhiệm ghi sổ.

 Nguyên tắc phê chuẩn, ủy quyền
Để thõa mãn các mục tiêu kiểm soát thì tất cả các nghiệp vụ kinh tế phải
được phê chuẩn đúng đắn. Trong một tổ chức, nếu ai cũng có thể mua hoặc bán
tài sản thì sự hỗn loạn phức tạp sẽ xảy ra.
Phê chuẩn là biểu hiện cụ thể của việc quyết định và giải quyết một công
việc trong một phạm vi nhất định. Quá trình ủy quyền được tiếp tục thực hiện
xuống cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn
mà vẫn không làm mất tính tập trung của đơn vị. Nguyên tắc phê chuẩn, ủy
quyền yêu cầu tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được cấp có thẩm
quyền phê chuẩn.
1.1.5.2. Các loại thủ tục kiểm soát
Có rất nhiều thủ tục kiểm soát khác nhau có thể được thực hiện ở các đơn
vị. Tuy nhiên chúng thường được chia thành hai loại: kiểm soát trực tiếp và kiểm
soát tổng quát.

 Kiểm soát trực tiếp
Kiểm soát trực tiếp là các thủ tục, quy chế, quá trình kiểm soát được thiết
lập nhằm trực tiếp đáp ứng các mục tiêu chi tiết của kiểm soát đã được nghiên
cứu, gồm có:
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 13


Khóa luận tốt nghiệp
- Kiểm soát bảo vệ tài sản, thông tin: Là các biện pháp, quy chế kiểm soát
nhằm bảo đảm an toàn về tài sản và các thông tin trong đơn vị.
- Kiểm soát xử lý: Là loại kiểm soát được đặt ra để trong quá trình xử lý,
ghi sổ các nghiệp vụ kinh tế đảm bảo rằng nghiệp vụ đó xảy ra và việc ghi
chúng vào sổ kế toán là đúng đắn.
- Kiểm soát quản lý: Là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ do những
nhân viên độc lập với người thực hiện hoạt động đó tiến hành.

 Kiểm soát tổng quát
Là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều công việc khác
nhau. Đối với những đơn vị có sử dụng hệ thống vi tính, tin học trong công tác
kế toán thì công việc kiểm toán cần phải sử dụng đến những chuyên gia có am
hiểu về lĩnh vực máy tính, tin học.
1.1.6. Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống KSNB chỉ có thể giúp hạn chế tối đa những sai phạm mà thôi, vì
nó có các hạn chế tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
- Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn,
đãng trí, đánh giá hay ước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo
cáo của cấp dưới...
- Khả năng đánh lừa, lẫn tránh của nhân viên thông qua sự thông đồng với
nhau hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị.
- Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các nghiệp vụ thường xuyên
phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những
sai phạm trong các nghiệp vụ này thường hay bị bỏ qua.
- Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho
hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do sai sót hay gian
lận gây ra.
- Luôn có khả năng là các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng
quyền hạn của mình nhằm phục vụ cho mưu đồ riêng.
- Điều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi nên dẫn tới những thủ tục kiểm
soát không còn phù hợp...
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 14


Khóa luận tốt nghiệp
1.2. Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trình doanh thu
1.2.1. Các khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Doanh thu
Là tổng giá trị các lợi ích doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát
sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp
phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
1.2.1.2. Các khoản giảm trừ
- Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết
cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.
- Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém
phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
- Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ
bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
- Chiết khấu thanh toán: là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua,
do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.
1.2.1.3. Các khái niệm khác

 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Là số chênh lệch giữa tổng doanh thu với các khoản giảm giá hàng bán, doanh
thu của số hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại và số thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất nhập khẩu, thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp.

 Doanh thu hoạt động tài chính
Là toàn bộ các khoản doanh thu bao gồm tiền lãi ( lãi cho vay, lãi tiền gửi,
lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu,...), cổ tức được
hưởng, lợi nhuận được chia từ hoạt động liên doanh, liên kết, chênh lệch tăng tỷ
giá ngoại tệ và các khoản khác.

 Thu nhập khác
Là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các
hoạt động tạo ra doanh thu.

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 15


Khóa luận tốt nghiệp
1.2.2. Nguyên tắc hạch toán và điều kiện ghi nhận doanh thu
1.2.2.1.

Nguyên tắc hạch toán doanh thu

- Doanh thu chỉ được ghi nhận khi thõa mãn đồng thời các điều kiện ghi
nhận cho doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh thu tiền lãi,
tiền bản quyền, cổ tức và lợi tức được chia được quy định tại chuẩn mực “Doanh
thu và thu nhập khác”.
- Doanh thu và chi phí liên quan đến cùng một giao dịch phải được ghi
nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp và theo năm tài chính.
- Trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ trao đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
tương tự về bản chất và giá trị thì không được ghi nhận là doanh thu
- Doanh thu (kể cả doanh thu nội bộ) phải được theo dõi riêng biệt theo
từng loại doanh thu như doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ,
doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi tức được chia
- Cần hạch toán riêng các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại phát
sinh trong kỳ. Các khoản giảm trừ doanh thu được tính trừ vào doanh thhu ghi
nhận ban đầu để xác định doanh thu thuần làm căn cứ xác định kết quả kinh
doanh của kỳ kế toán.
- Cuối kỳ kế toán phải kết chuyển toàn bộ doanh thu thuần thực hiện trong
kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh.
1.2.2.2.

Điều kiện ghi nhận doanh thu

Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả 5 điều
kiện sau :
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm cho người mua.
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý sản phẩm như người
sở hữu sản phẩm hoặc quyền kiểm soát sản phẩm.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch
bán hàng.
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 16


Khóa luận tốt nghiệp
1.2.3. Các phương thức bán hàng và phương thức thanh toán
1.2.3.1.

Các phương thức bán hàng

Phương thức bán buôn: đây là hình thức vận động đầu tiên của hàng
hóa từ khâu sản xuất đến tay người phân phối. Hàng hóa trong giai đoạn này
chưa thể hiện được giá trị sử dụng của nó. Hàng hóa được mua vào với số lượng
lớn và giá cả cạnh tranh hơn so với bán lẻ. Có 2 hình thức bán buôn như sau:
bán buôn qua kho và bán buôn không qua kho.
Phương thức bán lẻ: là hình thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu
dùng, hàng hóa sẽ không tham gia vào quá trình lưu thông, thực hiện hoàn toàn
giá trị, giá trị sử dụng của hàng hóa.
1.2.3.2.

Các phương thức thanh toán

Để nhanh chóng thu được tiền để tiến hành tái sản xuất kinh doanh thì các
doanh nghiệp sử dụng nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Việc thanh toán
tiền hàng của người mua thường được thực hiện bằng các phương thức sau:
- Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt.
- Thanh toán bằng phương thức chuyển khoản qua ngân hàng với điều
kiện người mua đã chấp nhận thanh toán.
- Phương thức thanh toán theo hợp đồng.

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 17


Khóa luận tốt nghiệp
1.2.4. Tài khoản sử dụng, chứng từ sử dụng và báo cáo kế toán
1.2.4.1. Tài khoản sử dụng
Tài khoản 511, 512: “ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu
bán hàng nội bộ”
TK 511, 512
Bên nợ

Bên có

- Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất - Doanh thu bán sản phẩm hàng hóa và
khẩu, thuế GTGT theo phương pháp cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp
trực tiếp
phải nộp tính trên doanh thu bán hàng

trong kỳ hạch toán.
- Số thu từ trợ cấp, trợ giá cho doanh
nghiệp.

và cung cấp dịch vụ trong kỳ.
- Các khoản giảm giá hàng bán, hàng
bán bị trả lại và chiết khấu thương mại.
- Kết chuyển doanh thu thuần vào tài
khoản XĐKQKD.
- Kết chuyển số trợ cấp, trợ giá vào tài
khoản XĐKQKD.

- Kết chuyển doanh thu nội bộ vào - Tổng doanh thu nội bộ trong kỳ.
XĐKQKD.
TK này không có số dư
Tài khoản 521: “ Chiết khấu thương mại”
TK 521
Bên nợ

Bên có

- Chiết khấu thương mại đã chấp nhận

- Kết chuyển toàn bộ số chiết khấu

thanh toán cho khách hàng.

thương mại sang TK doanh thu trong
kỳ để xác định doanh thu thuần của kỳ
hạch toán.

TK này không có số dư
Tài khoản 531,532: “ Hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán”
TK 531, 532
Bên nợ

Bên có

- Giá bán của hàng tiêu thụ bị trả lại.
SVTH: Hồ Thị Nhung

- Kết chuyển giá trị của hàng bán bị trả

Trang 18


Khóa luận tốt nghiệp
lại vào doanh thu trong kỳ.
- Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp - Kết chuyển toàn bộ số giảm giá hàng
thuận với khách hàng.

bán vào doanh thu trong kỳ bán.

TK này không có số dư
1.2.4.2. Chứng từ sử dụng
- Hợp đồng kinh tế
- Hóa đơn thuế GTGT
- Hóa đơn bán hàng thông thường
- Phiếu xuất kho
- Phiếu giao hàng
- Bảng kê hàng hóa gửi bán đã tiêu thụ
- Các chứng từ thanh toán: Phiếu thu, séc chuyển khoản, giấy báo có của
ngân hàng
- Biên bản xác nhận hàng bán bị trả lại
- Biên bản xác nhận giảm giá hàng bán
- Phiếu chi
- Giấy báo nợ
- Các chứng từ gốc khác...
1.2.4.3. Báo cáo kế toán
- Báo cáo tổng hợp doanh thu
- Báo cáo tổng hợp công nợ phải thu
- Báo cáo tổng hợp nhập xuất tồn
1.2.5. Quy trình kiểm soát nội bộ chu trình doanh thu trong doanh nghiệp
1.2.5.1.

Xử lý đơn đặt hàng của người mua

Khi người mua có nhu cầu mua hàng thường gửi đơn đặt hàng đến bên
bán. Thông thường nội dung của đơn đặt hàng sẽ là đề nghị về mua hàng (chủng
loại, quy cách, số lượng,...) và theo một phương thức cụ thể (giao hàng, thanh
toán,...)
Xử lý đơn đặt hàng là việc xem xét lời đề nghị của người mua và cân đối
với khả năng đáp ứng của bên bán để chấp nhận (phê duyệt) đối với đơn đặt
hàng đó, cụ thể về chủng loại, phẩm cấp, số lượng hàng bán,...
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 19


Khóa luận tốt nghiệp
1.2.5.2.

Kiểm soát tín dụng và phê chuẩn bán chịu

Đồng thời với việc xem xét nhu cầu mua hàng, bên bán còn cân nhắc khả
năng thanh toán hay sự tín nhiệm đối với bên mua để phê chuẩn việc bán chịu
một phần hay toàn bộ lô hàng. Khi xem xét để phê chuẩn bán chịu cần cân nhắc
đến lợi ích của cả hai bên và thường khuyến khích việc thanh toán nhanh bằng
hình thức chiết khấu thích hợp. Nội dung của phê chuẩn bán chịu thường bao
gồm: phương thức trả chậm, thời hạn và mức tín dụng trả chậm,...
Kết thúc việc xử lý đơn đặt hàng và phê chuẩn bán chịu thường là giữa 2
bên (bán và mua) cùng nhau ký kết một hợp đồng thương mại ( hợp đồng bán
hàng), ghi nhận những thỏa thuận về mua bán hàng hóa và trách nhiệm, quyền
hạn, nghĩa vụ của từng bên. Hợp đồng thương mại là căn cứ để thực hiện việc
mua bán và xử lý các tranh chấp phát sinh (nếu có).
1.2.5.3.

Chuyển giao hàng

Trong hoạt động trao đổi hàng và tiền thì chuyển giao hàng được xem là
điểm bắt đầu (trao). Bước công việc này là thực hiện việc gửi hàng đi hoặc
chuyển giao cho người mua. Trong trường hợp bên bán đảm nhận việc vận
chuyển còn phải tổ chức công việc vận chuyển hàng đến địa điểm giao cho
khách hàng. Khi chuyển giao hàng cho người mua phải thực hiện các thủ tục
giao nhận. Đối với trường hợp cung cấp dịch vụ (sửa chữa, xây lắp,...) thì công
việc này chính là thực hiện cung cấp dịch vụ cho người mua. Các chứng từ sổ
sách ghi nhận và theo dõi việc chuyển giao hàng hóa cung cấp dịch vụ thường
chứng từ xuất kho, chứng từ vận chuyển (nếu có vận chuyển), sổ theo dõi xuất
kho, theo dõi vận chuyển,...
1.2.5.4.

Chuyển hóa đơn cho người mua và theo dõi, ghi sổ nghiệp

vụ
Khi thực hiện giao nhận hàng hóa hay cung cấp dịch vụ hoàn thành, bên
bán lập và chuyển hóa đơn tính tiền cho người mua. Nội dung của hóa đơn phải
thể hiện đầy đủ các yếu tố quy định (chủng loại hàng hóa, mẫu mã, phẩm cấp, số
lượng, giá bán,...)

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 20


Khóa luận tốt nghiệp
Cùng với việc chuyển giao hóa đơn cho người mua, bên bán thực hiện
việc ghi sổ theo dõi cho từng nghiệp vụ. Tổ chức ghi sổ theo dõi về doanh thu
bán hàng, cung cấp dịch vụ, theo dõi công nợ phải thu,... là một phần quan trọng
trong kế toán bán hàng và thu tiền.
1.2.5.5.

Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền bán hàng

Xử lý, phê chuẩn các trường hợp thanh toán phức tạp như khấu trừ hay
chuyển tiền thu để trả cho một bên khác. Mọi trường hợp thu tiền thông thường
khác ( thu trực tiếp hay qua ngân hàng) hoặc thu tiền không thông thường đều
phải đảm bảo việc ghi sổ kịp thời, đầy đủ. Cần đặc biệt chú ý khả năng dấu giếm
hoặc bỏ sót các khoản thu tiền, đặc biệt là đối với thu tiền mặt trực tiếp.
1.2.5.6.

Xử lý và ghi sổ các khoản giảm doanh thu bán hàng phát

sinh
Các trường hợp phát sinh về chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán
sau khi đã viết hóa đơn và hàng đã bán bị trả lại vì lỗi thuộc về bên bán đều phải
được xử lý và ghi sổ đầy đủ, đúng đắn, kịp thời.
1.2.5.7.

Thẩm định và xóa sổ khoản phải thu khó đòi

Có thể có những trường hợp người mua không chịu thanh toán hoặc
không còn khả năng thanh toán. Sau khi thẩm định, nếu thấy khoản thất thu này
là “ bất khả kháng”, cần xem xét xóa sổ khoản phải thu đó.
1.2.5.8.

Dự phòng nợ khó đòi

Được lập với yêu cầu đủ trang trải các khoản đã tiêu thụ kỳ này song
không có khả năng thu được cả trong tương lai. Tuy nhiên, ở nhiều công ty, dự
phòng này là số dư do điều chỉnh cuối năm của quản lý về giảm giá đối với các
khoản không thu được tiền.

1.2.6. Mục tiêu kiểm soát nội bộ chu trình doanh thu
Bảng 1.1: Mục tiêu tổng quát kiểm soát nội bộ chu trình doanh thu
Mục tiêu KSNB
SVTH: Hồ Thị Nhung

Mục tiêu KSNB cụ thể
Trang 21


Khóa luận tốt nghiệp
tổng quát
Các nghiệp vụ bán hàng chỉ được ghi nhận khi quyền sở
Tính có thật

hữu đối với hàng hóa đã được chuyển giao, dịch vụ đã được

(hiện hữu)

hoàn thành cung cấp cho khách hàng và công ty đã nhận

Tính đầy đủ
(trọn vẹn)

được tiền hoặc một khoản phải thu.
Các nghiệp vụ bán hàng phát sinh, số tiền thu được và các
khoản phải thu khách hàng đều được ghi sổ và không được
bỏ sót bất cứ nghiệp vụ nào.
Các nghiệp vụ bán hàng phải được phê chuẩn đúng đắn, các

Sự phê chuẩn

nghiệp vụ phát sinh phải được phê duyệt đầy đủ của những

Quyền và nghĩa

cá nhân có thẩm quyền liên quan thì mới được coi là hợp lệ.
Hàng hóa đã bán thuộc quyền sở hữu của đơn vị và các

vụ
Sự đánh giá

khoản phải thu có người sở hữu.
Doanh thu và khoản phải thu phải được phản ánh đúng số

Sự phân loại và

tiền thực tế đã phát sinh và ghi sổ chính xác.
Các nghiệp vụ bán hàng – thu tiền đều được phân loại và

trình bày
Tính chính xác

trình bày đúng đắn và khai báo đầy đủ.
Các khoản phải thu được tính toán đúng và các nghiệp vụ

cơ học

ghi vào sổ tổng hợp, sổ chi tiết thích hợp.

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 22


Khóa luận tốt nghiệp
Bảng 1.2: Mục tiêu kiểm soát nội bộ chu trình doanh thu
Mục tiêu KSNB
-

Thủ tục kiểm soát
Kiểm tra hóa đơn bán hàng tương ứng của khoản

doanh thu bán hàng đã ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế
toán chi tiết doanh thu.
- Kiểm tra hồ sơ phê chuẩn cho nghiệp vụ bán hàng
Sự phát sinh
(tính có thật)

tương ứng với nghiệp vụ đã ghi sổ nói trên.
- Kiểm tra xem nghiệp vụ bán hàng nói trên có chứng
từ xuất kho, chứng từ vận chuyển tương ứng (nếu có) hay
không.
- Kiểm tra việc ghi chép, theo dõi về các chuyến hàng
tương ứng trên các sổ nghiệp vụ.
- Kiểm tra danh sách khách hàng và xin xác nhận từ
khách hàng về nghiệp vụ bán hàng.
- Tiến hành kiểm tra các thông tin
+ Kiểm tra về số lượng hàng đã bán ghi trên hóa đơn bán

Sự tính toán,
đánh giá

hàng
+ Kiểm tra về đơn giá hàng bán ghi trên hóa đơn bán
hàng
- Kiểm tra kết quả tính giá của đơn vị
- So sánh số lượng bút toán ghi nhận doanh thu bán
hàng với số lượng các hóa đơn bán hàng để kiểm tra tính

Sự hạch toán

đầy đủ trong hạch toán doanh thu
- Kiểm tra tính liên tục của số thứ tự của các hóa đơn

đầy đủ

bán hàng đã hạch toán trên sổ ghi nhận doanh thu bán
hàng.
- Sự thiếu hụt bút toán ghi sổ doanh thu bán hàng so

Sự phân loại và

với số lượng nghiệp vụ bán hàng.
- Kiểm tra nội dung ghi chép trên chứng từ về sự rõ

hạch toán đúng

ràng và tính đầy đủ, chính xác, để đảm bảo không lẫn lộn

đắn
(chính xác)

nghiệp vụ bán hàng với các nghiệp vụ khác
- Xem xét việc hạch toán các nghiệp vụ bán hàng vào
các sổ theo dõi doanh thu bán hàng và phải thu khách hàng
tưng ứng có đảm bảo đúng đắn.
- Phát hiện và loại bỏ các nghiệp vụ không thuộc bán

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 23


Khóa luận tốt nghiệp
hàng nhưng bị ghi nhầm vào doanh thu bán hàng
- Tiến hành đối chiếu giữa bút toán đã ghi nhận doanh
thu với từng hóa đơn bán hàng
- Kiểm tra việc hạch toán đồng thời vào các sổ kế toán
của tài khoản đối ứng để đảm bảo các nghiệp vụ đã được
ghi nhận đúng quan hệ đối ứng
- Tiến hành xem xét tính hợp lý trong việc chia cắt
Sự phân loại và

niên độ và hạch toán, tổng hợp doanh thu bán hàng của đơn

hạch toán đúng

vị.
-

kỳ

So sánh đối chiếu giữa ngày ghi nhận nghiệp vụ vào

sổ kế toán với ngày phát sinh nghiệp vụ tương ứng
- Tiến hành kiểm tra việc tính toán tổng hợp lũy kế số
phát sinh trên từng sổ kế toán chi tiết cũng như sổ kế toán
tổng hợp về doanh thu bán hàng
- Kiểm tra bảng tổng hợp doanh thu bán hàng của đơn
vị (nếu có) hoặc tiến hành lập bảng tổng hợp các loại
Sự cộng dồn và

doanh thu bán hàng từ các sổ kế toán chi tiết
- Đối chiếu số liệu của bảng tổng hợp doanh thu bán

báo cáo

hàng với số liệu trên sổ kế toán tổng hợp doanh thu bán
hàng.
- Kiểm tra việc trình bày doanh thu bán hàng trên báo
cáo tài chính xem có phù hợp với chế độ kế toán quy định.
- So sánh số liệu doanh thu bán hàng trên báo cáo tài
chính với số liệu trên sổ kế toán doanh thu bán hàng của
đơn vị.

1.2.7. Các rủi ro thường xuyên xảy ra
- Bán hàng nhưng không thu được tiền ( do khách hàng không có khả
năng trả tiền hay có tiền nhưng không chịu trả)
- Bán hàng không đúng giá, tính toán sai chiết khấu
- Giao hàng trễ
- Giao hàng sai quy cách, phẩm chất, số lượng
- Phát hành hóa đơn sai
SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 24


Khóa luận tốt nghiệp
- Tiền bán hàng bị lạm dụng
- Sai sót trong ghi chép nghiệp vụ
Tóm tắt chương 1: Nền kinh tế phát triển đòi hỏi nhà quản lý phải giám
sát chặt chẽ và thường xuyên tất cả các hoạt động của doanh nghiệp mình. Điều
này không thể thực hiện dựa vào kinh nghiệm của bản thân nhà quản lý mà cần
phải có các hệ thống các phương pháp và chính sách được thiết kế để kiểm tra,
giám sát các hoạt động của DN thông qua hệ thống kiểm soát nội bộ.
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh; các DN đều quan tâm đến việc làm
sao để bán hàng tăng doanh thu, bán hàng thu được tiền và tối đa hóa lợi nhuận.
Để đạt được điều đó, các DN cần phải kiểm soát đối với chu trình doanh thu
thông qua hệ thống kiểm soát nội bộ thường xuyên và hiệu quả nhất.
Kiểm soát nội bộ đối với chu trình doanh thu được thực hiện tốt sẽ giúp
cho các DN ngăn chặn và phát hiện kịp thời các sai phạm và từ đó có thể đề ra
các biện pháp nhằm ngăn ngừa cụ thể, đưa các hoạt động vào khuôn khổ. Góp
phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và ý thức trách nhiệm của người lao
động đối với chu trình doanh thu trong DN.

SVTH: Hồ Thị Nhung

Trang 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×