Tải bản đầy đủ

ĐẮP DA BẰNG GLUCOSE ƯU TRƯƠNG KẾT HỢP VỚI HÚT ÁP LỰC VẾT THƯƠNG DO NHIỄM PSEUDOMONAS AERUGINOSA

ĐẮP DA BẰNG GLUCOSE ƯU
TRƯƠNG KẾT HỢP VỚI HÚT ÁP
LỰC VẾT THƯƠNG DO NHIỄM
PSEUDOMONAS AERUGINOSA :
BÁO CÁO 3 TRƯỜNG HỢP
Tóm tắt
Tổn thương các mô mềm do chấn thương cấp tính hoặc mãn
tính là một thách thức đối với bác sĩ phẫu thuật. Để tìm kiếm
một phương pháp đẩy nhanh sự hình thành mô hạt để chuẩn bị
cho ghép da (STSG), bệnh án của 3 bệnh nhân - 2 người đàn
ông với những vết thương do chấn thương và 1 trẻ sơ sinh bị
viêm cân mạc hoại tử, tất cả đều nhiễm Trực khuẩn mủ xanh(
Pseudomonas aeruginosa )- đã được kiểm tra. Tất cả các vết
thương được phẫu thuật mở và đắp gạc ngâm trong glucose
50% liên tục, điều trị vết thương với áp lực âm (NPWT) trước khi
ghép da thực sự.
NPWT đã được áp dụng ở áp lực -80 mm Hg cho 2 người đàn
ông (39 tuổi và 25 tuổi) và -50 mm Hg cho trẻ nam 7 tháng
tuổi. Băng được thay 2-3 ngày/ lần. Không có bất thường xảy ra
và vết thương đã kín thành công sau ghép da khoảng 7
ngày. Trong trường hợp 1, NPWT giúp đóng kín (bộ phận sinh

dục). Sự kết hợp của glucose ưu trương và NPWT đã được chứng
minh an toàn, hiệu quả trong việc chuẩn bị vết thương để
ghép.

Mất mô mềm sau chấn thương, các bệnh mãn tính và các vết
thương phẫu thuật mở có thể dẫn đến kém lành, đau đớn và
phải phẫu thuật lại. 1 Ngoài ra, nhiễm trùng vết mổ là một yếu
tố nguy cơ làm chậm lành vết thương và thời gian nằm viện kéo
dài, tăng gánh nặng kinh tế
Pseudomonas aeruginosa là vi khuẩn hay gặp gây nhiễm
trùng vết mổ.
Nhiều phương pháp, bao gồm cả kháng sinh và
điều trị không kháng sinh để điều trị các vết thương bị


nhiễm P. aeruginosa. Thuốc sát trùng đã được chứng minh là có
hiệu quả trong việc điều trị các vết thương mô mềm bị
nhiễm P. aeruginosa . Nagoba và cộng sự nghiên cứu thấy axit
axetic có thể sử dụng sát trùng trong trường hợp
nhiễm P. aeruginosa . Danielsen và cộng sự đánh giá hiệu quả
lâm sàng và hiệu quả bôi cadexomeroid vào vết loét ở chân
do P. aeruginosa .
Đắp gặc tẩm Bạc (kể cả sulfadiazine bạc, nitrat bạc và
nanocrystalline bạc) đã được sử dụng rộng rãi trong điều trị vết
thương trong nhiều năm qua, 10-12 và một số dược phẩm thương
mại có sẵn, chẳng hạn như Aquacel Ag ™ (CONVATEC, Skillman,
NJ), Acticoat ™ (Smith & Nephew, Inc, London, Vương quốc
Anh), Arglaes ™ (Maersk Medical Inc, NY), Urgotul-SSD ™ (Urgo
Medical, ChenoveKhách, Pháp), và Silvasorb ™ (Medline
Industries, Munedelein, IL). Mặc dù sử dụng gạc tẩm bạc thường
ít độc tính nhưng 1 số bệnh về da gây lắng đọng và tăng nồng
độ bạc trong huyết thanh. Trop và cộng sự báo cáo trường hợp
tăng men gan sau khi bị bỏng 30% diện tích da được băng bằng
dung dịch bạc Acticoat ™.
Microcyn( nước oxy hóa) (Viện khoa học sáng tạo, Ptaluma,
California), một giải pháp siêu ôxi hóa tại chỗ với độ pH trung
tính, gây sức kháng khuẩn và khử trùng mạnh; in vitro nghiên
cứu lâm sàng và 16-19 đã chứng minh hoạt động kháng khuẩn và
kháng virus thỏa đáng của sản phẩm này như một thuốc khử
trùng.


Nghiên cứu thấy mật ong có hoạt tính kháng khuẩn đặc biệt
cao trong các vết thương nhiễm P.aeruginosa . 21,22 Tuy nhiên,
nguy cơ phản ứng dị ứng mật ong cũng khá cao
Muối ưu trương. thúc đẩy quá trình ổ nhiễm khuẩn phân
hủy và hấp thụ dịch tiết, vi khuẩn và các chất hoại tử để tạo
một rào cản tự nhiên giữa mô nhiễm và mô tái sinh. 24,25 Muối
ưu trương đã được báo cáo là hiệu quả trong điều trị ổ loét, tổn
thương da mãn tính trong một nghiên cứu lâm sàng 26 (N = 11)
và trong chữa lành vết thương do chấn thương trong một case
báo cáo. 27 một nghiên cứu lâm sàng 24 (N = 53) cho thấy kết
quả áp suất thẩm thấu cao có thể làm khô mô hoại tử ở vết
thương; Trong khi đó, áp suất thẩm thấu có thể làm giảm phù
nề khoảng kẽ của mô và sau đó giảm bớt áp lực trên các mao
mạch và cải thiện tưới máu trong đáy vết thương. Sản phẩm
thương mại có sẵn bao gồm Curasalt Sodium Chloride Dressing


(Covidien Kendall, Mansfield, MA) và Mesalt Hypertonic Saline
Dressing and Hypergel (Thụy Điển). Mặc dù muối ưu trương có
thể được sử dụng cho việc điều trị các vết thương da trong
những nghiên cứu, nhưng việc nghiên cứu thêm là cần thiết để
xác định hiệu quả của nó trong việc điều trị các vết thương với
nhiễm P.aeruginosa. 28
Ngoài ra, glucose ưu trương, thường được sử dụng, 29 có thể
giúp tăng sinh mô đáy và cải thiện vi tuần hoàn của vết
thương, 30 sẽ rút ngắn thời gian điều trị. Glucose ưu trương đã
được báo cáo là có hiệu quả trong việc điều trị các bệnh cơ
xương mãn tính hoặc bệnh mô liên kết (thường là dây chằng)
do chấn thương. Ngoài những ưu điểm thẩm thấu của dung
dịch ưu trương, glucose ưu trương cũng tăng tốc chữa lành vết
thương. Shi và cộng sự 34 phân tích và xem xét lại hệ thống các
thử nghiệm ngẫu nhiên để xác định xem tiêm dưới da insulin
với glucose ưu trương thúc đẩy quá trình lành vết mổ sau phẫu
thuật gây hóa lỏng mỡ vô trùng làm giảm đáng kể thời gian
chữa bệnh tăng 6,33 ngày so với điều trị thông thường
( P <0,01 ) và với chi phí ít hơn. Các tác giả nghiên cứu kết luận
glucose 50% ưu trương, có thể ức chế sự tăng trưởng của vi
khuẩn -ngăn ngừa phù nề mô hạt và kích thích sự tăng trưởng
của mô hạt. Trong một nghiên cứu quan sát lâm sàng, Zhou và
cộng sự 30 báo cáo glucose ưu trương có thể rút ngắn đáng kể
thời gian chữa bệnh trung bình của một vết loét tỳ đè giai đoạn
III (24,8 ± 3,9 so với 22,3 ± 4 ngày, tương ứng; P <0,05).
Điều trị VT dưới áp lực âm (NPWT). NPWT thường dùng
để điều trị vết thương trong nhiều năm. 35-37 Nhiều tác dụng có
lợi đã được ghi nhận với áp lực thấp (75 mm Hg), nghiên cứu
NPWT ở 3 bệnh nhân với vết thương mô mềm rộng. Trong
nghiên cứu của Dunn và cộng sự 39 , điều tra lâm sàng 131
bệnh nhân, dựa trên NPWT đã khẳng định làm giảm đáng kể
tổn thương ( P <0,001) và cải thiện tình trạng tiết dịch
( P <0,001) và đáy vết thương. Một nghiên cứu ngẫu nhiên, có
kiểm soát 40 (N = 60) đã chứng minh sử dụng polyurethane (vật
liệu mới có độ thấm cao) dựa trên NPWT làm giảm đáng kể diện
tích phải ghép da ( P = 0,001) và rút ngắn thời gian nằm viện
( P <0,001);
Một tài liệu thấy rằng 41 NPWT sử dụng trong việc làm lành
vết thương có sự khác biệt lớn của áp suất âm (từ -50 mm Hg
xuống -125 mm Hg). áp lực âm thấp 75 mm Hg đối với mô mềm
và 100 mm Hg cho cơ bắp khi điều trị có thể có lợi.


Mặc dù các nghiên cứu thực nghiệm trước đó ở chuột 52,53 và
dê 54 NPWT có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc làm
giảm hoặc làm sạch VT do P. aeruginosa và thúc đẩy quá trình
liền vết thương, một số nghiên cứu NPWT có khả năng kiểm
soát tải lượng vi khuẩn ở vết thương. Trong 54 bệnh nhân, thử
nghiệm ngẫu nhiên, Moues và cộng sự 55 so sánh hiệu quả của
NPWT dựa trên điều trị những vết thương hở được chứng minh
là có hiệu quả trong việc giảm kích thước của vết thương
( P <0,05).
Một phương pháp an toàn và hiệu quả trong việc làm giảm
lượng vi khuẩn và đồng thời có tác dụng hiệp đồng với NPWT để
kích thích sự hình thành của mô hạt hoặc điều kiện chữa bệnh
chắc chắn sẽ có giá trị thực tiễn rất lớn trong điều trị vết
thương bị nhiễm P. aeruginosa .Theo nghiên cứu của các tác
giả, về việc sử dụng glucose ưu trương để chuẩn bị cho ghép da
ở những bệnh nhân nhiễm P. Aeruginosa hoặc kết hợp với
NPWT đã được công bố. Mục đích của nghiên cứu này là để mô
tả tác động của glucose 50% và NPWT dựa trên các vết thương
bị nhiễm P. aeruginosa .





Trường hợp 1. Ông Z, nam thanh nhiên 39 tuổi, đã bị tai nạn
giao thông gây tổn thương vùng sinh dục; 14 ngày sau tai nạn,
da của khu vực bộ phận sinh dục hoại tử.Dịch từ vết thương cấy
nhiễm P.aeruginosa và Enterobacter cloacea . 3 ngày sau phẫu
thuật, vết thương đã được bao phủ bởi chất tiết và mô hoại tử
(xem hình 2b); sau khi mở VT cẩn thận và tưới bằng nước muối
bình thường, lau khô vết thương bằng gạc khô sạch trước khi
đặt gạc tẩm glucose 50% vào vết thương. NPWT -80 mmHg
liên tục trong suốt thời gian điều trị (xem hình 2c-2f). Mỗi khi
thay băng, mở VT và tưới rửa nước muối sinh lý. sau 7 ngày kể
từ ngày áp dụng NPWT, mô hạt được hình thành (xem hình 2g).
5 ngày sau khi phẫu thuật ghép da, da ghép còn nguyên vẹn.
Mười ngày sau khi phẫu thuật, kết quả thẩm mỹ và chức năng
đã thu được khá tốt (xem Hình 2h).



Một cậu bé 7 tháng tuổi chi dưới sưng to, sốt cao, khó thở, thiểu
niệu hoại tử một số bộ phận của cơ thể ( phần thấp chi dưới,
vùng hạ vị, vùng chậu) (xem hình 3a). Cấy máu và nuôi cấy vi


khuẩn vết mổ dương tính với P. aeruginosa. Hoại tử cân mạc
được chẩn đoán, và mở vết thương rộng rãi. Mười hai ngày sau,
vết thương đã được bao phủ bởi chất tiết và mô hoại tử trong
quá trình thay băng gạc (xem Hình 3b); mở ổ VT trước khi áp
dụng NPWT. Gạc ngâm với glucose 50% đã được đặt lên vết
thương tại vùng dùng NPWT. Áp lực -50 mmHg liên tục trong
thời gian điều trị. Đứa trẻ đáp ứng với phương pháp này tốt;
ngày 22 khi mô hạt xuất hiện và không thấy có dịch tiết (Da
ghép sống sót hoàn toàn khi băng đã được gỡ bỏ 3 ngày sau khi
phẫu thuật (xem Hình 3d)

Thảo luận


áp suất thẩm thấu của glucose 50% cao hơn nhiều so với mô
bình thường 30 do đó có thể hoạt động như một chất hút nước
để giảm phù nề và chất viêm từ vết thương. Thứ hai, môi
trường thẩm thấu cao có thể gây tình trạng mất nước vi khuẩn
và chết, 68 có thể giúp kiểm soát nhiễm khuẩn. Các tác giả cho
rằng, khi được sử dụng kết hợp với NPWT, glucose ưu trương có
thể bù đắp cho sự thiếu kiểm soát nhiễm trùng ở vết thương bị
nhiễm khuẩn nặng.
glucose ưu trương có thể đẩy nhanh sự hình thành mô hạt và
cải thiện vi tuần hoàn của vết thương, 30 có thể rút ngắn thời
gian điều trị.

References:
1. Caniano DA, Ruth B, Teich S. Wound management with
vacuum-assisted closure: experience in 51 pediatric patients. J
Pediatr Surg. 2005;40(1):128– 132.
2. Green JW, Wenzel RP. Postoperative wound infection: a
controlled study of the increased duration of hospital stay and
direct cost of hospitalization. Ann Surg. 1977;185(3):264–268.
3. Belusic-Gobic M, Car M, Juretic M, Cerovic R, Gobic D,
Golubovic V. Risk factors for wound infection after oral cancer
surgery. Oral Oncol. 2007;43(1):77–81.
4. Gjødsbøl K, Christensen JJ, Karlsmark T, Jørgensen B, Klein
BM, Krogfelt KA. Multiple bacterial species reside in chronic
wounds: a longitudinal study. Int Wound J. 2006;3(3):225–231.


5. Mayhall CG. The epidemiology of burn wound infections:
then and now. Clin Infect Dis. 2003;37(4):543–550.
6. Nagoba BS, Selkar SP, Wadher BJ, Gandhi RC. Acetic acid
treatment of Pseudomonal wound infections—a review. J Infect
Public Health. 2013;6(6):410–415.
7. Danielsen L, Cherry GW, Harding K, Rollman O. Cadexomer
iodine in ulcers colonised by Pseudomonas aeruginosa. J Wound
Care. 1997;6(4):169–172.
8. Hirsch T, Seipp HM, Jacobsen F, Goertz O, Steinau HU,
Steinstraesser L. Antiseptics in surgery. Eplasty. 2010;10:e39.
9. Lineaweaver W, Howard R, Soucy D, McMorris S, Freeman J,
Crain C, et al. Topical antimicrobial toxicity. Arch
Surg. 1985;120(3):267–270.
10. Klasen HJ. Historical review of the use of silver in the
treatment of burns. I. Early uses. Burns. 2000;26(2):117–130.
11. Klasen HJ. A historical review of the use of silver in the
treatment of burns. II. Renewed interest for silver. Burns.
2000;26(2):131–138.
12. White RJ. An historical overview of the use of silver in
wound management. Br J Community Nurs. 2001;6(1 suppl):3–
8.
13. Lansdown AB. A guide to the properties and uses of silver
dressings in wound care. Prof Nurse. 2005;20(5):41–43.
14. Coombs CJ, Wan AT, Masterton JP, Conyers RA, Pedersen J,
Chia YT. Do burn patients have a silver lining? Burns.
1992;18(3):179–184.
15. Trop M, Novak M, Rodl S, Hellbom B, Kroell W, Goessler W.
Silver-coated dressing Acticoat caused raised liver enzymes and
argyria-like symptoms in burn patient. J Trauma.
2006;60(3):648–652.
16. Allie DE. Super-oxidized Microcyn Technology in lowerextremity wounds introduction and early experience. Wounds.
2006;18(1 suppl):3–6.
17. Landa-Solis C, González-Espinosa D, Guzmán-Soriano B,
Snyder M, Reyes-Terán G, Torres K, et al. Microcyn: a novel
super-oxidized water with neutral pH and disinfectant activity. J
Hosp Infect.2005;61(4):291–299.


18. Gutiérrez AA. The science behind stable, super-oxidized
water. Exploring the various applications of super-oxidized
solutions. Wounds. 2006;18(1 suppl):7–10.
19. Wolvos TA. Advanced wound care with stable, superoxidized water. A look at how combination therapy can optimize
wound healing. Wounds. 2006;18(1 suppl):11–13.
20. Drosou A, Falabella A, Kirsner RS. Antiseptics on wounds:
an area of controversy. Wounds. 2003;15(5):149–166.
21. Maddocks SE, Jenkins RE, Rowlands RS, Purdy KJ, Cooper
RA. Manuka honey inhibits adhesion and invasion of medically
important wound bacteria in vitro. Future Microbiol.
2013;8(12):1523–1536.
22. Carnwath R, Graham EM, Reynolds K, Pollock PJ. The
antimicrobial activity of honey against common equine wound
bacterial isolates. Vet J. 2014;199(1):110–114.
23. Lombardi C, Senna GE, Gatti B, Feligioni M, Riva G,
Bonadonna P, et al. Allergic reaction to honey and royal jelly
and their relationship with sensitization to compositae. Allergol
Immunopathol (Madr). 1998;26(6):288 –290.
24. Mangete ED, West KS, Blankson CD. Hypertonic saline
solution: an effective wound dressing solution. East Afr Med
J. 1993;70(2):104–106.
25. Junger WG, Liu FC, Loomis WB, Hoyt DB. Hypertonic saline
solution as disinfectant. East Afr Med J. 1994;71(2):83.
26. Upright CA, Salton C, Roberts F, Murphy J. Evaluation of
Mesalt dressings and continuous wet saline dressings in
ulcerating metastatic skin lesions. Cancer
Nurs. 1994;17(2):149–155.
27. Wood S. Case study: traumatic pressure sore of the left
lateral malleolus. Ostomy Wound Manage. 1992;38(9):30–36.
28. St Jean G, Chengappa MM, Staats J. Survival of selected
bacteria and fungi in hypertonic (7.2%) saline. Aust Vet
J. 1997;75(2):137–138.
29. Rabago D, Zgierska A, Fortney L, Kijowski R, Mundt M,
Ryan M, et al. Hypertonic dextrose injections (prolotherapy) for
knee osteoarthritis: results of a single-arm uncontrolled study


with 1-year follow-up. J Altern Complement Med. 2012;18
(4):408–414.
30. Zhou DP, Lu LQ, Mao XL. Insulin and hyperosmotic
glucose solution external used for treating pressure
sore. Hunan Yi Ke Da Xue Xue Bao. 2001;26(5):475–476.
31. Yoshii Y, Zhao C, Schmelzer JD, Low PA, An KN, Amadio
PC. Effects of hypertonic dextrose injections in the rabbit carpal
tunnel. J Orthop Res. 2011;29(7):1022–1027.
32. Ohgi S, Johnson PW. Glucose modulates growth of gingival
fibroblasts and periodontal ligament cells: correlation with
expression of basic fibroblast growth factor. J Periodontal
Res. 1996;31(8):579–588.
33. McGinn S, Poronnik P, King M, Gallery ED, Pollock CA. High
glucose and endothelial cell growth: novel effects independent
of autocrine TGF-beta 1 and hyperosmolarity. Am J Physiol Cell
Physiol.2003;284(6):C1374–C1386.
34. Shi Z, Ma L, Wang H, Yang Y, Li X, Schreiber A, et al.
Insulin and hypertonic glucose in the management of aseptic
fat liquefaction of post-surgical incision: a meta-analysis and
systematic review. Int Wound J. 2013;10(1):91–97.
35. Kostiuchenok BM, Kolker II, Karlov VA, Ignatenko SN,
Muzykant LI. Vacuum treatment in the surgical management of
suppurative wounds. Vestn Khir I I Grek. 1986;137(9):18–21.
36. Argenta LC, Morykwas MJ. Vacuum assisted closure: a new
method for wound control and treatment: clinical
experience. Ann Plast Surg. 1997;38(6): 563–576.
37. Xie X, McGregor M, Dendukuri N. The clinical effectiveness
of negative pressure wound therapy: a systematic review. J
Wound Care. 2010;19(11):490–495.
38. Nease C. Using low pressure, NPWT for wound preparation
and the management of split-thickness skin grafts in 3 patients
with complex wound. Ostomy Wound Manage. 2009;55(6):32–
42.
39. Dunn R, Hurd T, Chadwick P, Cote J, Cockwill J, Mole T, et
al. Factors associated with positive outcomes in 131 patients
treated with gauze-based negative pressure wound therapy. Int
J Surg. 2011;9(3):258–262.


40. Llanos S, Danilla S, Barraza C, Armijo E, Piñeros JL,
Quintas M, et al. Effectiveness of negative pressure closure in
the integration of split-thickness skin grafts: a randomized,
double-masked, controlled trial. Ann Surg. 2006; 244(5):700–
705.
41. Mouës CM, Heule F, Hovius SE. A review of topical
negative pressure therapy in wound healing: sufficient
evidence? Am J Surg. 2011;201(4):544– 556.
42. Argenta LC, Morykwas MJ, Marks MW, DeFranzo AJ, Molnar
JA, David LR. Vacuum-assisted closure: state of clinic art. Plast
Reconstr Surg. 2006;117(7 suppl):127S–142S.
43. Iusupov IuN, Epifanov MV. Active drainage of a
wound. Vestn Khir Im I I Grek. 1987;138(4):42–46.
44. Wackenfors A, Sjögren J, Gustafsson R, Algotsson L,
Ingemansson R, Malmsjö M. Effects of vacuum-assisted closure
therapy on inguinal wound edge microvascular blood
flow. Wound Repair Regen. 2004;12(6):600–606.
45. Wackenfors A, Gustafsson R, Sjögren J, Algotsson L,
Ingemansson R, Malmsjö M. Blood flow responses in the
peristernal thoracic wall during vacuum-assisted closure
therapy. Ann Thorac Surg.2005;79(5):1724–1730.
46. McCord SS, Naik-Mathuria BJ, Murphy KM, McLane KM,
Gay AN, Bob Basu C, et al. Negative pressure therapy is
effective to manage a variety of wounds in infants and
children. Wound Repair Regen. 2007;15(3):296–301.
47. Miller MS, Lowery CA. Negative pressure wound therapy:
“a rose by any other name.” Ostomy Wound
Manage. 2005;51(3):44–49.
48. Chariker ME, Jeter KF, Tintle TE, Bottsford JE. Effective
management of incisional and cutaneous fistulae with closed
suction wound drainage. Contemp Surg. 1989;34(1):59–63.
49. Campbell PE. Surgical wound case studies with the
versatile 1 wound vacuum system for negative pressure wound
therapy. J Wound Ostomy Continence Nurs. 2006;33(2):176–
185.
50. Miller MS, Ortegon M, McDaniel C. Negative pressure
wound therapy: treating a venomous insect bite. Int Wound
J. 2007;4(1):88–92.


51. Campbell PE, Smith GS, Smith JM. Retrospective clinical
evaluation of gauze-based negative pressure wound
therapy. Int Wound J. 2008;5(2):280– 286.
52. Liu Y, Hu DH, Dong ML, Wang YC, Liu JQ, Bai L, et al.
Efficacy of vacuum sealing drainage in mice infected
with Pseudomonas aeruginosa and its mechanism. Zhonghua
Shao Shang Za Zhi. 2011;27(4):255–259.
53. Liu Y, Zhou Q, Wang Y, Liu Z, Dong M, Wang Y, et al.
Negative pressure wound therapy decreases mortality in a
murine model of burn-wound sepsis involving Pseudomonas
aeruginosa infection. PLoS One. 2014;9(2):e90494.
54. Lalliss SJ, Stinner DJ, Waterman SM, Branstetter JG, Masini
BD, Wenke JC. Negative pressure wound therapy
reduces Pseudomonas wound contamination more
than Staphylococcus aureus. J Orthop Trauma. 2010;24(9):598–
602.
55. Moues CM, Vos MC, van den Bemd GJ, Stijnen T, Hovius
SE. Bacterial load in relation to vacuum-assisted closure wound
therapy: a prospective randomized trial. Wound Repair Regen.
2004;12(1):11–17.
56. Moues CM, van den Bemd GJ, Heule F, Hovius SE.
Comparing conventional gauze therapy to vacuum-assisted
closure wound therapy: a prospective randomised trial. J Plast
Reconstr Aesthet Surg2007;60(6):672–681.
57. Armstrong DG, Lavery LA: Diabetic Foot Study
Consortium. Negative pressure wound therapy after partial
diabetic foot amputation: a multicentre, randomised controlled
trial. Lancet. 2005;366(9498):1704–1710.
58. Blume PA, Walters J, Payne W, Ayala J, Lantis J.
Comparison of negative pressure wound therapy using vacuumassisted closure with advanced moist wound therapy in the
treatment of diabetic foot ulcers: a multicenter randomized
controlled trial. Diabetes Care. 2008;31(4):631–636.
59. Phillips PL, Yang Q, Schultz GS. The effect of negative
pressure wound therapy with periodic instillation using
antimicrobial solutions on Pseudomonas aeruginosa biofilm on
porcine skin explants. Int Wound J. 2013;10(1 suppl):48–55.


60. Davis K, Bills J, Barker J, Kim P, Lavery L. Simultaneous
irrigation and negative pressure wound therapy enhances
wound healing and reduces wound bioburden in a porcine
model. Wound Repair Regen. 2013;21(6):869–875.
61. Brem MH, Blanke M, Olk A, Schmidt J, Mueller O, Hennig
FF, et al. The vacuum-assisted closure (V.A.C.) and instillation
dressing: limb salvage after 3 degrees open fracture with
massive bone and soft tissue defect and
superinfection. Unfallchirurg. 2008;111(2):122–125.
62. Ngo QD, Vickery K, Deva AK. The effect of topical negative
pressure on wound biofilms using an in vitro wound
model. Wound Repair Regen. 2012;20(1):83–90.
63. Stinner DJ, Waterman SM, Masini BD, Wenke JC. Silver
dressings augment the ability of negative pressure wound
therapy to reduce bacteria in a contaminated open fracture
model. J Trauma.2011;71(1 suppl):S147–S150.
64. Negosanti L, Aceti A, Bianchi T, Corvaglia L, Negosanti F,
Sgarzani R, et al. Adapting a Vacuum Assisted Closure dressing
to challenging wounds: negative pressure treatment for
perineal necrotizing fasciitis with rectal prolapse in a newborn
affected by acute myeloid leukaemia. Eur J Dermatol.
2010;20(4):501–503.
65. Poulakidas S, Kowal-Vern A. Facilitating residual wound
closure after partial graft loss with vacuum assisted closure
therapy. J Burn Care Res. 2008;29(4):663–665.
66. Boone D, Braitman E, Gentics C, Afthinos J, Latif J, Sordillo
E, et al. Bacterial burden and wound outcomes as influenced by
negative pressure wound therapy. Wounds. 2010;22(2):32–37.
67. Bosetti M, Massè A, Tobin E, Cannas M. Silver coated
materials for external fixation devices: in vitro biocompatibility
and genotoxicity. Biomaterials. 2002;23(3):887–892.
68. Tang LH, Wang XY, Hong L. A clinical research of
hyperosmotic glucose combined with insulin by the local
dressing change in treating pharyngeal fistula. Clin
Misdiagnosis Mistherapy, 2012;25(8):73–76.
69. Psoinos CM, Ignotz RA, Lalikos JF, Fudem G, Savoie P,
Dunn RM. Use of gauze-based negative pressure wound


therapy in a pediatric burn patient. J Pediatr Surg.
2009;44(12):e23–e26.
70. Russell JW, Golovoy D, Vincent AM, Mahendru P, Olzmann
JA, Mentzer A, et al. High glucose-induced oxidative stress and
mitochondrial dysfunction in neurons. FASEB J.
2002;16(13):1738–1748.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×