Tải bản đầy đủ

Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Cibenza trong khẩu phần đến sinh trưởng của gà Ri lai

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhờ chương trình phát triển chăn nuôi của Hội nghị lần thứ VI Ban chấp
hành Trung ương Đảng khoá VIII, và nghị quyết 06 NQ/TW của Bộ Chính trị về
việc đưa ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất chính, nên trong những năm gần
đây ngành chăn nuôi đã phát triển và đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Trong
đó, ngành chăn nuôi gia cầm đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành
chăn nuôi cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Chăn nuôi gà là một nghề đã có
từ lâu trong các hộ gia đình ở nông thôn. Thực tế đã chứng minh chăn nuôi gà
đem lại hiệu quả kinh tế cao, chu kỳ sản xuất thịt và trứng nhanh hơn nhiều so với
nhiều vật nuôi khác. Nó cung cấp phần lớn sản lượng thịt cho ngành chăn nuôi
nói chung và ngành gia cầm nói riêng. Hơn nữa chu kỳ sản xuất của gà ngắn do
đó, nó đáp ứng được nhu cầu thực phẩm ngày càng cao trong xã hội cả về số
lượng cũng chất lượng sản phẩm. Trong những năm qua, chăn nuôi gà đang phát
triển mạnh ở miền Trung nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng.
Cùng với việc tăng lên về số lượng đàn gia cầm thì dịch bệnh cũng tăng
theo, để giải quyết vấn đề này thì người chăn nuôi đã sử dụng kháng sinh liều cao,
thậm chí không kiểm soát được, gây tồn dư một lượng lớn kháng sinh trong thịt
đã gây ra những hậu quả xấu tới sức khoẻ con người. Vì thế một số quốc gia như:
Mỹ, các nước châu Âu… từ năm 2006, đã đề xuất lệnh cấm sử dụng một số chất

kháng sinh trong chăn nuôi, yêu cầu các cơ sở chăn nuôi phải báo cáo thường
xuyên tên và số lượng thuốc kháng sinh đã mua và sử dụng nhằm xác định lượng
kháng sinh trung bình cho phép được dùng (Đức), hay thực phẩm phải có chứng
chỉ an toàn do Cơ quan Nông sản thực phẩm và Thú y cấp (Singapore). Nước ta
cũng đã thực hiện lệnh cấm sử dụng một số chất kháng sinh trong chăn nuôi, từ
đó việc tìm kiếm các chế phẩm thay thế cho kháng sinh đang được quan tâm hàng
đầu. Đến nay, đã có nhiều thông báo kết quả nghiên cứu về khả năng sử dụng các
chất thay thế kháng sinh, như các probiotic, enzyme, axit hữu cơ, polysacharide,
nhằm kích thích sinh trưởng ở gà (Perić et al., 2009; Sanaa và Abdel-Wareth,
2014; Hedayati et al., 2014). Trong đó, việc sử dụng enzyme protease trong khẩu
phần ăn cho gà không những có thể giúp cải thiện các vấn đề về dinh dưỡng và
sức khỏe, từ đó có thể làm tăng sức sinh trưởng của vật nuôi mà còn không gây
ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng.

1


Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh
giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Cibenza trong khẩu phần đến sinh
trưởng của gà Ri lai.
1.1 Mục tiêu và ý nghĩa đề tài
1.1.1 Mục tiêu đề tài
Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Cibenza (có chứa protease)
trong khẩu phần đến sinh trưởng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà Ri lai.
1.1.2 Ý nghĩa đề tài
1.1.2.1 Ý nghĩa khoa học
Xem xét hiệu quả của việc bổ sung protease vào khẩu phần thức ăn tự phối
trộn đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà Ri lai.
1.1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học, để ứng dụng việc bổ sung chế
phẩm có chứa protease vào khẩu phần thức ăn ở mức thích hợp, nhằm tăng khả
năng sinh trưởng cho gà, tiết kiệm chi phí thức ăn mang lại hiệu quả kinh tế cho
người chăn nuôi.

2


PHẦN 2.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới


Từ lâu nghề chăn nuôi gia cầm đã xuất hiện cùng với chăn nuôi lợn và các
ngành chăn nuôi khác, nhưng chưa được chú trọng. Trong vài thập kỷ trở lại
đây, chăn nuôi gia cầm đã có bước phát triển vượt bậc. Chăn nuôi gia cầm đã
chuyển từ phương thức chăn nuôi “quy mô nhỏ, phân tán, manh mún, tận dụng
phế phẩm nông nhiệp là chủ yếu” sang phương thức chăn nuôi tập trung. Các
tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được nghiên cứu, ứng dụng nhanh chóng trong
chăn nuôi gia cầm. Nhờ việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về di
truyền, giống, dinh dưỡng, công nghệ sản xuất, máy ấp trứng... mà chăn nuôi gia
cầm trên thế giới đã phát triển nhanh cả về số lượng đầu con, sản lượng trứng,
thịt, chất lượng sản phẩm, giá thành trong sản xuất sản phẩm gia cầm giảm đi,
chất lượng dinh dưỡng cung cấp cho con người với giá rẻ ngày càng tăng lên
nhờ vào nguồn trứng và thịt gia cầm (Nguyễn Đức Hưng, 2006).
Năm 2014 (FAO), tổng đàn gia cầm trên thế giới khoảng 23,24 tỷ con.
Tổng đàn gia cầm trên thế giới biến động theo thời gian, cụ thể là năm 2010
tổng đàn gia cầm là 22,24 tỷ con, nhưng đến năm 2011 thì số lượng gia cầm
giảm xuống còn 21,89 tỷ con, sau đó đàn gia cầm tăng dần từ năm 2012 đến
năm 2014 và đạt mức 23,24 tỷ con.
Đàn gia cầm trên thế giới phân bố không đồng đều ở các Châu lục tính đến
thời điểm năm 2014, trong đó Châu Á là khu vực có tổng đàn gia cầm lớn nhất
thế giới với 13,02 tỷ con chiếm 56,02%. Đứng thứ hai là Châu Mỹ có tổng đàn
gia cầm là 5,82 tỷ con chiếm 25,04%, tổng đàn gia cầm Châu Âu 2,33 tỷ con
chiếm 10,03%. Châu Phi là 1,94 tỷ con chiếm. Châu Đại Dương có tổng đàn gia
cầm thấp nhất thế giới là 0,998 tỷ con chiếm 4,29% (bảng 2.1).

3


Bảng 2.1. Số lượng đàn gia cầm trên thế giới và các châu lục năm 2010 - 2014
(Đơn vị tính: tỷ con)
Năm

Châu lục

2010

2011

2012

2013

2014

Thế giới

22,24

21,89

22,44

22,96

23,24

Châu Á

12,58

12,16

12,66

12,96

13,02

Châu Mỹ

5,60

5,61

5,64

5,68

5,82

Châu Âu

2,16

2,22

2,23

2,34

2,33

Châu Phi

1,78

1,77

1,77

1,85

1,94

Châu Đại Dương

0,85

0,93

0,103

0.101

1,00

(Nguồn: FAO, 2014)
Bảng 2.2. Sản lượng thịt và trứng gà trên thế giới năm 2009-2013
Sản phẩm
Thịt gà
(Tấn)
Trứng gà
(Nghìn quả)

Năm
2009

2010

2011

2012

2013

20.084.837 20.633.048 20.788.065 21.120.022 21.331.378

62.896.897 64.162.191 65.267.130 66.293.521 68.262.486

(Nguồn: FAO, 2015)
Qua bảng 2.2 cho ta thấy, sản lượng thịt gà trên thế giới tăng nhanh qua
từng năm, cụ thể 20.084.837 nghìn tấn năm 2009 đến 21.331.378 nghìn tấn năm
2013. Sản lượng trứng gà cũng tăng theo từng năm, cụ thể 62.896.897 nghìn quả
năm 2009 đến năm 2013 là 68.262.486 nghìn quả. Từ đó cho thấy nhu cầu về
thịt gia cầm và các sản phẩm của gia cầm còn rất lớn và không ngừng tăng lên.
Tình hình chăn nuôi gia cầm trên thế giới: Hiện nay trên thế giới các nước
vẫn có ba hình thức chăn nuôi cơ bản đó là: Chăn nuôi quy mô công nghiệp
thâm canh công nghệ cao, chăn nuôi trang trại bán thâm canh và chăn nuôi nông
hộ quy mô nhỏ và quảng canh. Phương thức chăn nuôi gia cầm quy mô lớn thâm
canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao chủ yếu tập trung ở các nước phát triển
của Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc và một số nước Châu Á, Phi và Mỹ La Tinh.
4


Chăn nuôi bán thâm canh và quảng canh gia cầm tại phần lớn các nước thuộc
Châu Á, Phi và Mỹ La tinh.
2.2. Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã có nhiều
biến động về tốc độ phát triển, phân bố địa bàn, phương thức sản xuất và áp
dụng các công nghệ hiện đại vào chăn nuôi. Đồng thời cũng xuất hiện nhiều
nhân tố bất ổn như ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và nhiều
bệnh dịch mới. Diễn biến số lượng đàn gia cầm từng khu vực trong nước từ năm
2010 – 2015 được trình bày trong bảng 2.3
Bảng 2.3.Số lượng gia cầm theo khu vực trong cả nước từ năm 2010 - 2015
Đơn vị: nghìn con
Năm
Khu vực

Sơ bộ
2015

2010

2011

2012

2013

2014

76.535

83.165

81.344

87.885

88.928

90.949

TD và MN
67.002
phía Bắc

65.927

62.526

63.230

66.970

70.567

BTB và DH
64.188
miền Trung

68.726

66.175

65.813

67.990

71.135

Tây Nguyên

11.591

14.268

13.754

14.638

15.513

16.490

Đông Nam Bộ 20.480

24.121

23.335

27.428

30.049

34.306

ĐB sông Cửu
60.703
Long

66.361

61.327

58.703

58.246

58.459

308.461

317.697

327.696

341.906

ĐB
Hồng

Cả nước

sông

300.498 322.569

(Nguồn: Tổng cục thống kê 2016)
Từ bảng 2.3 ta có thể thấy số lượng đàn gia cầm cả nước tăng mạnh, đến
năm 2012 thì có xu hướng giảm từ 322,57 triệu con (năm 2011) xuống 308,46
triệu con (năm 2012). Từ năm 2013 tổng đàn gia cầm cả nước bắt đầu tăng nhẹ
và tiếp tục tăng đến năm 2015 đạt 341,90 triệu con.
Theo Tổng cục thống kê (năm 2015), tổng đàn gia cầm Việt Nam có 341,91
triệu con, sản xuất ra 8,9 tỷ quả trứng và 908,10 nghìn tấn thịt hơi. Sản phẩm thịt
của gia cầm năm 2014 đã tăng 3,15% so với 2013, trong khi đó tốc độ tăng của
5


2015 là 4,3% so với năm 2014. Tương ứng với sản phẩm trứng thì năm 2014
tăng 5,1%, năm 2015 tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy rõ ràng
ngành chăn nuôi gia cầm đã đóng góp một phần to lớn cho ngành chăn nuôi,
cung cấp một lượng lớn sản phẩm thịt và trứng.
2.3. Thực trạng ngành chăn nuôi gia cầm ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Trong những năm vừa qua, ngành chăn nuôi gia cầm đã phát triển mạnh ở
Thừa Thiên Huế, số liệu gia cầm được thể hiện ở bảng 2.4
Bảng 2.4. Số lượng đàn gia cầm tại tỉnh Thừa thiên Huế năm 2009-2013
Đơn vị: Nghìn con
Loại gia cầm
Tổng đàn gia cầm
Số lượng gà
% so với năm trước
Vịt, ngan ngỗng
% so với năm trước

2009
1.835
1.166
100
669
100

2010
2.050
1.371
117,58
679
101,49

Năm
2011
2.115
1.399
102,04
716
105,44

2012
2.126
1.411
100,85
715
99,86

2013
2.048
1.356
96,10
691
96,64

(Nguồn: Cục thống kê Thừa Thiên Huế, 2014)
Số liệu bảng 2.4 cho thấy số lượng đàn gia cầm của tỉnh Thừa Thiên Huế
có xu hướng tăng dần từ năm 2009 đến năm 2012 nhưng giảm đột ngột ở năm
2013. Bảng 2.4 cũng cho thấy trong tổng đàn gia cầm qua các năm thì số lượng
gà chiếm tỷ lệ cao hơn số lượng đàn vịt, ngan, ngỗng. Đối với gà thì giai đoạn
năm 2009 đến năm 2010 tăng mạnh nhất và tăng 117,58% so với năm 2009. Số
lượng vịt và ngan ngỗng cũng tăng nhẹ nhưng cũng giảm xuống ở 2 năm gần
đây, năm 2012 tỉnh Thừa Thiên Huế có số lượng gia cầm cao nhất.
2.4. Thuận lợi, thách thức và định hướng phát triển chăn nuôi gia cầm ở
Việt Nam
2.4.1. Thuận lợi
Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống đã có từ lâu đời của người dân
Việt Nam. Trong những năm gần đây được sự quan tâm của nhà nước, Bộ
NN&PTNT tạo điều kiện cho chăn nuôi gia cầm phát triển từ quy mô nhỏ lẻ cho
tới quy mô công nghiệp.

6


Tình hình chăn nuôi gia cầm trong những năm qua khá thuận lợi, dịch bệnh
cơ bản được hạn chế, không có những đại dịch làm thiệt hại số lượng gia cầm
lớn, giá thành sản phẩm của ngành chăn nuôi gia cầm ổn định.
Nguồn lao động dồi dào, giá thành thấp nên đây là thị trường có nhiều triển
vọng và có nhiều tập đoàn, công ty nước ngoài vào đầu tư.
2.4.2. Thách thức
Dịch bệnh được khống chế nhưng nó vẫn đang là mối đe dọa và gây ra
những hậu quả nghiêm trọng đối với đàn gia cầm trong cả nước tạo ra nhiều rủi
ro lớn đến đầu tư phát triển chăn nuôi. Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt
đới gió mùa ẩm, là nơi hình thành và phát triển thuận lợi của nhiều dịch bệnh
như: H1N1, H5N1, CRD… Hệ thống dịch vụ thú y đang yếu kém nên việc phòng
trừ dịch bệnh cho đàn gia cầm vẫn chưa đạt hiệu quả cao.
Giá thức ăn cao và chất lượng thức ăn chưa được quản lý tốt. So với các
nước trong khu vực và thế giới, thì giá thức ăn ở nước ta rất cao điều này đã tác
động bất lợi cho phát triển chăn nuôi gia cầm trong những năm qua. Vì đây là
yếu tố quan trọng dẫn tới giá thành sản phẩm chăn nuôi cao và lợi nhuận chăn
nuôi thấp.
So với trình độ chăn nuôi của một số nước trong khu vực và thế giới, thì ở
Việt Nam năng suất trong chăn nuôi thấp so với các nước chăn nuôi tiên tiến,
chất lượng sản phẩm chăn nuôi chưa đạt yêu cầu, giá thành sản phẩm chăn nuôi
thường cao hơn so với giá quốc tế.
Chăn nuôi gia cầm nước ta về cơ bản vẫn theo hình thức chăn nuôi quy mô
nhỏ, phân tán trong các nông hộ và mang tính chất tận dụng là chủ yếu (chiếm
trên 70%). Chăn nuôi hàng hóa theo quy mô trang trại đã hình thành nhưng chưa
nhiều. Hệ thống chính sách để phát triển chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ và vừa
chưa đồng bộ, chưa thể hiện được tính chất bền vững trong chăn nuôi.
Chưa quy hoạch rõ những vùng có điều kiện thuận lợi phát triển chăn nuôi
hàng hoá và lợi thế cạnh tranh về sản phẩm.
Công tác thị trường còn yếu. Sản phẩm chăn nuôi chưa có sức cạnh tranh
do chưa có sản phẩm mang tính chất đặc thù, chất lượng sản phẩm thấp, chưa
đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.

7


2.4.3. Giải pháp
Để khắc phục các khó khăn cản trở sự phát triển của chăn nuôi gia cầm,
hiện nay nhà nước đã và đang thực hiện một số giải pháp như:
Quy hoạch lại và nâng cấp các cơ sở gia cầm giống gốc trực thuộc trung
ương trên địa bàn cả nước từ đó, chủ động nguồn giống tốt cung cấp cho sản
xuất.
Khuyến khích phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng công nghiệp, tạo
sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và có
khả năng xuất khẩu.
Tập trung nghiên cứu chế biến thức ăn trong nước, trong đó quan tâm
nguồn thức ăn giàu năng lượng và thức ăn bổ sung, tiến tới hạ giá thành sản
phẩm gia cầm.
Nhà nước đầu tư ngân sách nâng cấp các phòng thí nghiệm thú y, đủ khả
năng để chế tạo vaccine phòng trừ các bệnh cho gia cầm.
Quản lý tốt công tác phòng trừ dịch bệnh cho đàn gia cầm, đặc biệt khống
chế dịch cúm gia cầm.
2.4.4. Định hướng phát triển ngành chăn nuôi gia cầm đến năm 2020
Trong bối cảnh tình hình kinh tế trên thế giới và khu vực có những diễn
biến phức tạp đã ảnh hưởng tiêu cực, đồng thời cũng mang lại thuận lợi, và tạo
cơ hội phát triển kinh tế Việt Nam nói chung, và ngành nông nghiệp Việt Nam
nói riêng, trong đó có nghành chăn nuôi gia cầm.
Định hướng ngành chăn nuôi trong thời gian tới là: chuyển từ chăn nuôi
nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi công nghiệp tập trung theo mô hình trang trại,
gia trại, duy trì chăn nuôi nông hộ theo hình thức công nghiệp và ứng dụng công
nghệ cao. Khuyến khích tổ chức khép kín liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá
trị để cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng, khuyến khích chuyển
dịch dần chăn nuôi từ vùng có mật độ dân số cao đến nơi có mật độ dân số thấp,
hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư. Ưu tiên phát triển chăn
nuôi gia cầm, giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả, tăng cường dịch vụ thú
y, quy định chặt chẽ quản lý và sử dụng thuốc thú y, ứng dụng tiêu chuẩn an toàn
thực phẩm theo chuỗi giá trị, bố trí đủ nguồn lực để chủ động phòng chống dịch
bệnh cho vật nuôi.
8


Các chương trình nhiệm vụ và giải pháp triển khai: Chiến lược phát triển
chăn nuôi đến năm 2020 theo quyết định số 10/2008/QĐ – TTG ngày
16/01/2008 của thủ tướng chính phủ. Đề án tái cơ cấu lĩnh vực chăn nuôi (Quyết
định số 984/QĐ – BNN - CN ngày 9/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn) trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng
tăng quy mô đàn gia cầm. Chương trình phát triển giống vật nuôi, trước hết ưu
tiên đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ giống mới, lai tạo giống mới, giống
chất lượng cao, giống vật nuôi bản địa quý hiếm, các dự án nghiên cứu giống gia
cầm, thủy cầm, phục vụ tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Tiếp tục nhập khẩu, chọn
tạo và đưa vào sản xuất các giống gia súc gia cầm có năng suất, chất lượng cao,
chi phí thức ăn thấp đưa vào sản xuất phù hợp mỗi vùng sinh thái.
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của gia cầm
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình sinh tổng hợp protein
nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình
sinh trưởng. Để đánh giá đặc điểm về khả năng sinh trưởng người ta hay dùng
các chỉ tiêu khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng
tương đối, tốc độ mọc lông. Các tính trạng về sinh trưởng đều là các tính trạng
số lượng nên ngoài phần ảnh hưởng do các yếu tố di truyền của bản thân con vật
như: yếu tố giống, tính biệt, tuổi), chúng còn chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố
môi trường: Nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, hình thức chăn nuôi…
2.5.1. Giống
Tốc độ sinh trưởng của gà phụ thuộc vào giống, dòng và bản thân cá thể.
Các giống khác nhau có tốc độ sinh trưởng, khối lượng khác nhau. Các giống
hướng thịt cao sản sinh trưởng nhanh hơn các giống kiêm dụng, và thấp nhất là
các giống đẻ trứng năng suất cao. Giống hướng thịt, như gà Ross có khối lượng
lớn hơn nhiều so với gà hướng trứng như Loghorn hay Brown Nick. Các dòng
khác nhau trong một giống cũng có tốc độ sinh trưởng khác nhau. Ngày nay
công tác chọn giống càng hiện đại, tốc độ sinh trưởng trong một giống càng
đồng đều và mức cao. Thể trọng là tính trạng số lượng được quy định bởi các
yếu tố di truyền. Hệ số di truyền khối lượng cơ thể cao: 0,3 - 0,64. (Nguyễn Đức
Hưng, 2006)
Yếu tố di truyền có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của sinh
vật nói chung, các dòng trong một giống, các giống khác nhau có năng suất sinh
trưởng khác nhau. Trong chăn nuôi gia cầm, các giống gà khác nhau thì khả
năng cho thịt và sản xuất không giống nhau, các giống gà cho thịt có khả năng
9


sinh trưởng nhanh hơn các giống gà chuyên trứng và kiêm dụng. Nguyễn Mạnh
Hùng và cộng sự (1994) cho biết: Sự khác nhau về khối lượng giữa các giống
gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn giống gà chuyên trứng khoảng
500 - 700g.
2.5.2. Ảnh hưởng của tính biệt
Quá trình trao đổi chất của gà mái và gà trống khác nhau. Con trống luôn
có hệ số trao đổi chất cao hơn con mái (Singh, 1988). Hệ số tích luỹ năng lượng
so với mức ăn vào của gà Plymouth Rock lúc 1 ngày tuổi của con trống là
46,71% còn của con mái là 40,60%. (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Kết quả nghiên cứu của tác giả trong nước cho biết, khối lượng cơ thể của
gà trống cao hơn gà mái 15 - 20% (Bùi Đức Lũng, 1991). Gà trống và gà mái có
quy luật sinh trưởng khác nhau rõ rệt khi cùng nuôi khẩu phần có mức protein
24% và mức năng lượng 3100 Kcal/Kg TĂ (Nguyễn Đức Hưng, 2006).
Theo Summer và Leeson (1984), mức năng lượng trong khẩu phần ảnh
hưởng rất lớn đến tăng trọng của gà mái, trong khi đó ít ảnh hưởng đến tăng
trọng của gà trống. Gà trống giai đoạn 5 - 8 tuần tuổi sử dụng năng lượng trong
khẩu phần hiệu quả hơn so với gà mái (Singh, 1988) (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Nhu cầu mức protein trong khẩu phần của gà mái luôn thấp hơn so với gà
trống khi khẩu phần đó có cùng mức năng lượng. Hàm lượng protein trong khẩu
phần nuôi gà trống phải trên 20% khi năng lượng trao đổi là 3220 Kcal/kg, trong
khi đó mức protein để nuôi gà mái chỉ cần 16%(Bùi Đức Lũng,1991).
Khi tăng đồng thời mức protein và năng lượng trong khẩu phần, phản ứng
của gà trống và gà mái khác nhau. Gà trống có phản ứng mạnh khi thay đổi khẩu
phần về protein tăng từ 22% - 24%, đồng thời với mức năng lượng tăng từ 2445
Kcal lên 3325 Kcal/kg, trong khi đó gà mái không có phản ứng rõ rệt. Gà mái bị
hạn chế phát triển ở khẩu phần có mức protein cao, năng lượng thấp
(Beremski,1987 - dẫn theo Bùi Đức Lũng,1991)
2.5.3. Ảnh hưởng của lứa tuổi
Nhu cầu các chất dinh dưỡng trong thức ăn của gà thịt trong quá trình phát
triển có khác nhau. Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng trong khi nhu cầu các
chất dinh dưỡng khác thì giảm dần theo lứa tuổi. Vì có sự thay đổi về cấu trúc
của cơ thể, gà càng lớn nhu cầu năng lượng cho tăng trọng càng cao, trong khi
đó nhu cầu protein cho tăng trọng càng giảm.

10


Gà càng lớn tuổi, khả năng tích luỹ năng lượng so với mức thức ăn ăn vào
của gà càng giảm dần. Kết quả nghiên cứu trên Plymouth Rock trắng cho thấy,
hệ số tích luỹ năng lượng so với lượng thức ăn ăn vào ở giai đoạn đầu của gà
trống là 46,71% và của gà mái là 40,64%; trong khi đó chỉ số này ở giai đoạn
cuối (lúc 56 ngày tuổi) giảm xuống tương ứng còn 29,43% và 27,93%.
2.5.4. Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông
Tốc độ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan đến trao đổi chất,
sinh trưởng và phát triển của gia cầm. Tốc độ mọc lông liên quan chặt chẽ đến
quá trình sinh trưởng của gia cầm, nó phát triển song song cùng với sự sinh
trưởng của gia cầm. Có mối tương quan thuận giữa tốc độ mọc lông và khả năng
sinh trưởng của gia cầm. Người ta thấy rằng con gà mới nở một ngày tuổi đã
mọc rất nhanh các lông cánh chính là một tiêu chuẩn về mộc lông nhanh và do
đó cũng sinh trưởng nhanh. (Singh, 1988)
2.5.5. Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm chuồng nuôi và ánh sáng
+ Nhiệt độ: Ở gia cầm, các giai đoạn khác nhau chịu ảnh hưởng của nhiệt
độ khác nhau. Gia cầm là động vật đẳng nhiệt, thân nhiệt luôn ổn định mặc dù
nhiệt độ môi trường có thể thay đổi lên xuống. Thân nhiệt bình quân của gà
trưởng thành dao động 41,2 - 42,2oC, cao hơn so với thân nhiệt của loài động vật
có vú (36 – 39oC). Gà con mới nở có thân nhiệt thấp hơn 2 - 3oC, ở gia cầm non
yêu cầu nhiệt độ cao để sưởi ấm cơ thể, khi chúng lớn thì yêu cầu nhiệt giảm. Và
đạt được thân nhiệt của gà trưởng thành lúc 6 ngày tuổi do tích luỹ lớp mỡ dưới
da và phát triển bộ lông bao phủ có tác dụng cách nhiệt. Sự ổn định thân nhiệt
của cơ thể gà được điều khiển bởi trung tâm điều hoà thân nhiệt nằm ở vùng
dưới đồi (hypothalamus) bằng hai quá trình sinh nhiệt và toả nhiệt (Lê Văn Thọ
và Đàm Văn Tiện, 1992).
Khoảng nhiệt độ tối thích của gà trưởng thành là 18 - 26oC, gọi là vùng
nhiệt độ trung bình. Khi nhiệt độ môi trường cao hoặc thấp hơn khoảng nhiệt độ
trên đều gây bất lợi cho cơ thể và có thể gây cho quá trình điều hoà thân nhiệt
khó khăn. Khi nhiệt độ chuồng nuôi dưới vùng nhiệt độ trung bình, gia cầm phải
ăn nhiều thức ăn để sinh nhiệt, gây lãng phí thức ăn. Khi nhiệt độ cao hơn vùng
trung bình thì gà phải chịu hiện tượng stress nhiệt. Gà chịu lạnh tốt hơn chịu
nóng, chính vì thế gà thường bị chết nóng nhiều hơn bị chết lạnh.
+ Ánh sáng: Trong chăn nuôi gia cầm, vấn đề chiếu sáng có ảnh hưởng lớn
đến sự sinh trưởng của gia cầm. Chế độ chiếu sáng phù hợp giúp các phản ứng
sinh lý diễn ra bình thường, kích thích các hoocmone điều hòa sinh trưởng thúc
11


đẩy cơ thể phát triển bình thường, đảm bảo tốc độ sinh trưởng của giống. Gia
cầm nếu nuôi trong điều kiện thiếu ánh sáng sẽ còi cọc, chậm lớn, sức đề kháng
yếu và dễ nhiễm bệnh. Còn trong điều kiện cường độ ánh sáng lớn, kéo dài sẽ
gây ảnh hưởng xấu cho gia cầm, chúng dễ bị stress, giảm khả năng ăn vào, dễ
cắn mổ lẫn nhau.
2.5.6. Ảnh hưởng của chất lượng thức ăn và sự cân bằng các chất dinh
dưỡng
Chất lượng của thức ăn và sự có mặt của các chất dinh dưỡng trong khẩu
phần ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu dinh dưỡng của gà. Chất lượng của
protein rất khác nhau từ các nguồn protein khác nhau. Protein từ nguồn động vật
có tỉ lệ tiêu hoá và hấp thu tốt hơn so với nguồn protein thực vật. Trong các loại
thức ăn thực vật, protein từ hạt nhiều dầu tốt hơn protein từ hạt ngũ cốc (Singh,
1988). Quá trình xử lí nhiệt có ảnh hưởng đến chất lượng protein.
Cơ thể là một khối toàn vẹn, thống nhất vì vậy các quá trình xảy ra trong cơ
thể được thực hiện trong mối tương tác chặt chẽ. Các chất dinh dưỡng cần được
đưa vào cơ thể với số lượng nhất định, và theo một tỷ lệ hài hoà để đảm bảo sự
hoạt động bình thường, và nhịp nhàng của các cơ quan chức năng. Trong tất cả
các loại chất dinh dưỡng, gia cầm luôn cố gắng tiếp nhận thức ăn trước tiên là để
đáp ứng nhu cầu năng lượng. Năng lượng trong khẩu phần càng tăng, mức thu
nhận thức ăn của gà càng giảm và ngược lại nhưng tổng lượng ăn vào gần như
không đổi (Singh, 1988). Tuy nhiên, gà không điều chỉnh chính xác số Kcal
năng lượng ăn vào với khẩu phần có mức năng lượng khác nhau. Khi nuôi khẩu
phần có mức năng lượng cao, gà sẽ tiếp nhận một lượng năng lượng cao hơn và
khi đó tỷ lệ mỡ trong thịt xẻ, tỷ lệ mỡ bụng cao hơn so với gà ăn khẩu phần năng
lượng thấp. Gà ăn khẩu phần có mức năng lượng cao, chi phí thức ăn sẽ giảm.
Cân bằng các chất dinh dưỡng, đáp ứng đúng nhu cầu của gia cầm là biện
pháp tốt nhất để tăng năng suất sản phẩm và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn tốt
nhất. Trước hết khẩu phần ăn đó có hàm lượng và tỷ lệ thích hợp giữa năng
lượng và protein. Tuỳ theo giai đoạn phát triển của gia cầm mà khẩu phần thức
ăn cần có hệ số năng lượng (Kcal)/%protein thô (hệ số C/P) khác nhau.
Như vậy chúng ta có thể thấy, các chất dinh dưỡng đóng vai trò rất quan
trọng trong chăn nuôi gia cầm. Tuỳ theo hướng sản xuất, giai đoạn phát triển của
cơ thể và giống mà nhu cầu về năng lượng, protein, aminoacid, khoáng và
vitamin khác nhau giữa các cá thể (Nguyễn Đức Hưng, 2006).

12


2.6. Kháng sinh và việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi
Kháng sinh (antibiotics) là những chất được tạo ra bởi các sinh vật sống
(nấm men, nấm mốc, vi khuẩn và một số loài thực vật) có đặc tính diệt vi khuẩn
hoặc kìm hãm sự phát triển của chúng (Ensminger, 1990).
Việc phát hiện ra kháng sinh và các đặc tính của chúng đã tạo ra một cuộc
cách mạng trong y học và cứu loài người thoát khởi nhiều thảm dịch do vi trùng
gây ra. Việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn (TA) chăn nuôi được đánh dấu
bằng một thí nghiệm của Stokstad và Juke (1949), khi cho gia cầm ăn TA có bổ
sung aureomycin, nhận thấy tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng TA của gia
cầm tăng rõ rệt. Sau này, đặc biệt ở hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX, công nghệ
sinh học và hóa dược phát triển mạnh, người ta đã tìm ra được rất nhiều loại
kháng sinh mới. Một kỷ nguyên mới của ngành chăn nuôi đã được mở ra khi
kháng sinh được coi như một yếu tố không thể thiếu và đã tạo nên một bước đột
phá về năng suất và hiệu quả chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới.
2.6.1.Lợi ích của việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi
Trong chăn nuôi, kháng sinh (KS) được sử dụng với 3 mục đích: (1) điều
trị bệnh; (2) phòng bệnh và (3) dùng như chất kích thích sinh trưởng. Tuỳ theo
mục đích sử dụng mà liều lượng và phương thức sử dụng KS có khác nhau. Có
nhiều ý kiến khác nhau về lợi ích của việc sử dụng KS bổ sung trong TA như
chất kích thích sinh trưởng:
+ Tăng năng suất sinh trưởng và sinh sản ở gia súc, gia cầm.
+ Tăng hiệu quả sử dụng TA, làm cho vật nuôi thích ứng nhanh chóng với
sự thay đổi bất thường về cơ cấu và chủng loại nguyên liệu trong khẩu phần ăn.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm (giảm tỷ lệ thịt mỡ, tăng tỷ lệ thịt nạc, làm
cho thịt trở nên mềm hơn và không nhiễm mầm bệnh).
+ Phòng các bệnh mãn tính và ngăn chặn xảy ra những dịch bệnh do vi trùng.
+ Tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
2.6.2 Tác hại của việc sử dụng kháng sinh liều thấp và cơ chế kháng kháng
sinh của vi khuẩn
- Sự kháng kháng sinh ở vi khuẩn

13


Việc sử dụng KS liều thấp trong chăn nuôi (sử dụng không đúng cách trong
điều trị, phòng bệnh và dùng trong TA chăn nuôi như chất kích thích sinh
trưởng) đã dẫn đến một hậu quả rất nghiêm trọng là làm tăng hiện tượng kháng
KS của các loài vi khuẩn gây bệnh trên người và vật nuôi. Có ý kiến cho rằng,
việc sử dụng KS liều thấp trong chăn nuôi đã biến vật nuôi thành nơi để một số
loài vi khuẩn học cách vô hiệu hoá tác dụng của các loại KS.
- Cơ chế kháng KS ở vi khuẩn
Mỗi vật nuôi và mỗi con người đều là vật chủ của hàng triệu vi khuẩn với
rất nhiều loài khác nhau. Một số loài có ích, thậm chí sự cộng sinh của chúng là
rất cần thiết, ngược lại một số loài là tác nhân gây bệnh. Nếu KS luôn được sử
dụng với liều không đủ để giết chết vi khuẩn thì chính những vi khuẩn ấy sẽ trở
nên kháng thuốc.
Sự kháng KS ở vi khuẩn diễn ra theo nhiều cách khác nhau như vô hoạt KS
(vi khuẩn kháng penicillin và chloramphenicol), loại bỏ KS và vận chuyển
chúng ra khỏi tế bào (vi khuẩn kháng tetracyclin), thay đổi điểm tác động của
KS theo chiều hướng không có hại đối với vi khuẩn . . .
Khả năng kháng KS của vi khuẩn có được nhờ sự hình thành một nhân tố di
truyền độc lập gọi là plasmid trong chuỗi ADN, khi chúng tồn tại trong môi trường
có KS ở liều không đủ để tổn hại đến chúng, và các vi khuẩn kháng KS có khả
năng truyền bá tính kháng thuốc giữa loài này với loài khác, thậm chí giữa các loài
khác nhau rất xa về di truyền thông qua sự luân chuyển các plasmid.
- Sử dụng KS trong thức ăn chăn nuôi và vấn đề môi trường.
Kháng sinh vào cơ thể vật nuôi thông qua thức ăn hoặc bằng các con đường
khác đều được thải ra môi trường. Ảnh hưởng của việc thải KS đến môi trường
thể hiện ở các khía cạnh sau:
+ Phá vỡ hệ sinh thái vi sinh vật đất
Quần thể vi sinh vật đất có ý nghĩa rất quan trọng trong các chu trình chuyển
hoá vật chất trong đất và cải thiện độ phì nhiêu của đất. KS dù bằng con đường nào
được thải ra môi trường đều phá vỡ sự cân bằng sinh thái hệ vi sinh vật và ảnh
hưởng đến độ phì của đất, tăng ô nhiễm môi trường.
+ Sự tồn tại và luân chuyển của nguồn gen kháng KS trong môi trường
Phân của vật nuôi được nuôi dưỡng bằng các loại thức ăn có KS không chỉ
gồm các cặn bã của quá trình tiêu hoá hấp thu mà còn chứa rất nhiều loài vi sinh
vật, trong đó có nhiều loài vi khuẩn đã có khả năng kháng một hoặc một vài loại
14


KS, chính chúng là vật mang và luân chuyển các gen kháng KS trong môi
trường.
- Tồn dư kháng sinh trong thịt gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng
Phản ứng quá mẫn cảm đối với người nhạy cảm kháng sinh,…
Gây dị ứng sau khi tiêu thụ thịt tồn dư kháng sinh,...
Làm giảm sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Một số kháng sinh, có thể gây ung thư cho người tiêu thụ.
2.6.3 Sơ lược về tình hình sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi ở
Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay, nhiều loại KS vẫn đang được phép sử dụng trong sản
xuất TACN. Trong đó, có những loại KS mà nhiều nước đã cấm sử dụng, trước khi
cấm toàn bộ các loại khác, như Salinomycin, Bacitracin zinc, Virginiamycin,
Tylosin photphate, Lincomycin, Chlortetracyline, Oxytetracyline... Ngoài ra, nhiều
loại hóa chất đã bị cấm sử dụng trong sản xuất TACN ở nhiều nước như
Roxarsone, Tartrazine (chất tạo màu)... vì tính độc hại của chúng, hiện vẫn đang
được sử dụng khá phổ biến trong sản xuất TACN ở nước ta. Mặt khác, KS đã trộn
sẵn vào thức ăn từ nhà máy nên người chăn nuôi không thể tuân thủ quy định
ngưng sử dụng KS trước khi xuất chuồng. Nếu là KS do người chăn nuôi tự trộn
vào thức ăn, hay KS dùng điều trị cho con vật, thì người căn nuôi còn ngưng
được việc dùng KS từ 5 - 7 ngày trước khi xuất bán. Chứ KS đã trộn sẵn từ nhà
máy sản xuất thức ăn chăn nuôi thì khó có thể kiểm soát được.
Do đó để thay thế KS bổ sung vào thức ăn chăn nuôi, các nước có nền chăn
nuôi tiên tiến đã áp dụng các biện pháp sau:
- Bổ sung axit hữu cơ vào thức ăn
- Bổ sung enzyme thức ăn
- Bổ sung các chế phẩm trợ sinh (probiotic) và tiền sinh (prebiotic)
- Bổ sung các chế phẩm giàu kháng thể
- Sử dụng KS có nguồn gốc từ thảo dược
Trong đó sử dụng KS từ thảo dược trong chăn nuôi đang là hướng đi mới
có nhiều triển vọng mang lại hiệu quả kinh tế và lợi ích cho sức khỏe cho người
tiêu dùng.

15


2.7 Nghiên cứu về việc sử dụng protease trong chăn nuôi.
2.7.1 Khái niệm, tác dụng, đặc tính
Protease là một loại enzyme, là các hợp chất có bản chất protein, xúc tác
cho các phản ứng hóa học diễn ra ở bên trong hay bên ngoài cơ thể. Chúng có
khả năng xúc tác đặc hiệu các phản ứng hóa học nhất định, và đảm bảo cho các
phản ứng xảy ra theo một chiều hướng nhất định, với tốc độ nhịp nhàng trong cơ
thể sống (Hồ Trung Thông – Lê Văn An, 2006).
Protease dùng trong chăn nuôi, có tác dụng nâng cao khả năng tiêu hóa
protein cho vật nuôi đặc biệt là gia súc non. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy
protease có thể nâng cao hiệu suất sử dụng acid amin trong thức ăn chăn nuôi có
nguyên liệu thực vật, từ đó giảm thiểu lượng nitrogen bài tiết trong phân và
nước tiểu. Như một cách thay thế cho việc xử lí nhiệt, protease đã chứng minh
một phần thành công trong việc khử các nhân tố kháng dinh dưỡng trong hạt họ
đậu (Bohme, 1997). Khi bổ sung protease vào bột hạt cải không xử lý nhiệt cho
thấy sự tăng trưởng của gà thịt cao hơn đối chứng (Simbaya và cs,1996)
Việc bổ sung protease sẽ giúp phân cắt những phân tử protein lớn thành
nhỏ hơn giúp vật nuôi dễ hấp thu. Tuy nhiên để protease đạt hiệu quả nhất thì nó
phải kết hợp với enzyme hoạt động khác. Việc bổ sung protease trong hỗn hợp
enzyme đã chứng minh có lợi cho gia cầm con (Ranade và Rajmane, 1992);
(Morgan và Bedfor, 1995); (Simbaya và cs, 1996) cải thiện tăng trọng và hệ số
chuyển hóa thức ăn lợn con và gà đẻ trứng (Adam,1989).
2.7.2 Cơ chế tác động của enzyme
Trong phản ứng có enzyme xúc tác, nhờ sự tạo thành phức hợp trung gian
enzyme-cơ chất được hoạt hóa. Khi cơ chất kết hợp vào enzyme, do kết quả của
sự cực hóa, sự chuyển dịch của các electron và sự biến dạng của các liên kết
tham gia trực tiếp vào phản ứng sẽ dẫn tới việc thay đổi động năng cũng như thế
năng, kết quả là làm cho phân tử cơ chất trở nên hoạt động hơn, nhờ đó phản
ứng được thực hiện dễ dàng hơn (Hồ Trung Thông – Lê Văn An, 2006).
Nhiều dẫn liệu thực nghiệm cho thấy quá trình tạo thành phức hợp enzymecơ chất và sự biến đổi phức hợp này thành sản phẩm, giải phóng enzyme tự do
thường trải qua ba giai đoạn theo sơ đồ sau:
E + S  ES  P + E

16


[Trong đó E là enzyme, S là cơ chất (substrate), ES là phức hợp enzyme-cơ
chất, P là sản phẩm]
- Giai đoạn thứ nhất: enzyme kết hợp với cơ chất bằng liên kết yếu tạo
thành phức hợp enzyme-cơ chất (ES) không bền, phản ứng này xảy ra rất nhanh
và đòi hỏi năng lượng hoạt hóa thấp.
- Giai đoạn thứ hai: xảy ra sự biến đổi cơ chất dẫn tới sự kéo căng và phá
vỡ các liên kết đồng hóa trị tham gia phản ứng.
- Giai đoạn thứ ba: tạo thành sản phẩm, còn gọi là enzyme được giải
phóng ra ở dạng tự do (Hồ Trung Thông – Lê Văn An, 2006).
2.8. Thức ăn và dinh dưỡng cho gia cầm
2.8.1. Thức ăn gia cầm
Thức ăn gia cầm bao gồm các loại nguyên liệu từ nguồn động vật, thực vật,
khoáng chất, tổng hợp vi sinh vật, hóa học... ở dạng đơn chất hoặc hỗn hợp chưa
hoàn chỉnh, hoàn chỉnh được chế biến theo nhu cầu dinh dưỡng của từng loại gia
cầm.
2.8.1.1. Nguồn động vật
- Giàu protein, thường cân đối các acid amin.
- Có giá trị sinh học, dinh dưỡng cao, dễ hấp thu, tỷ lệ tiêu hóa cao hơn
nguồn protein thực vật.
Trong nhóm thức ăn protein nguồn động vật có bột cá, bột thịt, bột thịt
xương, bột lông vũ, bột máu. Trong đó bột cá giàu protein hơn.
 Bột cá
Ở nước ta, tiêu chuẩn nhà nước quy định: loại 1 trên 50% protein, loại 2: 45
- 50%, loại 3: 35 - 45% protein và độ ẩm 9 - 10%. Ở nước ngoài quy định loại 1
trên 60%, loại 2: 50 - 60% protein. Không có bột cá chất lượng thấp sử dụng cho
chăn nuôi. Protein bột cá đầy đủ các acid amin không thay thế với hàm lượng
cao và ổn định.
Bột cá cho gia cầm là loại nhạt. Trong khẩu phần gà con thường 10%, gà
dò 6 - 7%, gà đẻ 7 - 8% bột cá loại tốt. Có nguồn acid amin tổng hợp DImetionin, L-lizin bổ sung vào khẩu phần thức ăn thì có thể giảm bột cá xuống tỷ
lệ thấp hơn khoảng 3 - 5% cho gà thịt broiler. Có thể còn thấp hơn, nhưng cần
tăng thêm protein thực vật như đậu, đỗ v.v...

17


Bột cá có mùi tanh, khi thức ăn nhiều bột cá, thịt, trứng sẽ có mùi tanh, cần
điều chỉnh tăng nguồn protein thực vật để có tỷ lệ bột cá không quá 5 - 6% và gà
thịt 4 - 5 ngày trước khi xuất chuồng không nên cho ăn bột cá.
Bột cá cần được bảo quản trong kho thoáng mát, khô ráo, không xếp chung
với các loại nguyên liệu và thức ăn khác.
 Bột thịt
Bột chế biến từ các sản phẩm phụ của các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm
như nội tạng, da, thịt bạc nhạc... thường ở xí nghiệp giết mổ động vật loại lớn có
phân xưởng chế biến bột thịt làm thức ăn có hàm lượng protein cao, hấp sấy khô
đến còn độ ẩm 9%.
Bột thịt có giá trị dinh dưỡng cao (tương tự bột cá) có tỷ lệ protein 55 60%, mỡ 7 - 10%, xơ 2,2%, canxi 2% (nếu có lẫn xương thì cao hơn), photpho
1%, năng lượng trao đổi 2331 – 2660 Kcal/kg.
 Bột xương thịt
Bột chế biến từ xương và tủy còn dính thịt ở các xí nghiệp giết mổ động
vật, được hấp sấy ở nhiệt độ và áp suất cao, khô đến còn độ ẩm 9%.
Bột thịt xương có giá trị dinh dưỡng cao: loại của Mông Cổ 27 - 28%
protein, 4% canxi, 20% photpho; loại của Việt Nam 18 - 25% protein (thịt dính
xương còn ít hơn), 5% canxi, 2,5% photpho. Bột xương thịt bổ sung vào thức ăn
1 - 3% chủ yếu cân đối canxi và photpho.
 Bột lông vũ
Bột chế biến từ lông vũ có tỷ lệ dinh dưỡng khá cao: 6,85% protein, 1,6%
mỡ, 1,25% canxi, 0,6% photpho, 1% lizin, 0,55% metionin, 0,4% tryptophan.
Tuy nhiên, bột lông vũ mức tiêu hóa thấp, nên bổ sung vào khẩu phần thức ăn
chỉ 2 - 3%.
 Bột máu
Bột chế biến từ máu tận thu ở các cơ sở giết mổ động vật, khử trùng, sấy
khô. Bột máu có tỷ lệ dinh dưỡng cao: đến 80% protein, 3,6% mỡ, 0,92% canxi,
0,25% photpho, 2830 Kcal năng lượng trao đổi.
Bột máu có thể thay thế 2 - 3% bột cá cho nuôi gà thịt broiler. Các loại bột
máu, bột lông vũ đòi hỏi công nghệ dây chuyền chế biến cao, phức tạp, tốn kém,
giá thành đắt cho nên hiệu quả không cao.
18


2.8.1.2. Nguồn thực vật
Chủ yếu là các loại hạt hòa thảo giàu tinh bột đường cung cấp năng lượng
và hạt họ đậu giàu protein và acid amin không thay thế.
 Ngô
Giàu năng lượng, có hàm lượng tinh bột và đường cao chiếm 80% chất
khô, 3170 Kcal năng lượng trao đổi/kg chất khô, protein 8 - 12%, xơ thấp 1,5 3,5%, mỡ 4 - 6% (chủ yếu ở mầm) dễ bị oxy hóa và mốc aflatoxin rất độc cho
gia cầm. Tỷ lệ tiêu hóa ngô của gia cầm cao, đến 90%.
 Cao lương
Có tỷ lệ protein 11 - 12% (cao hơn ngô), mỡ 3,0 - 3,1%, xơ 3,1 - 3,2%, dẫn
xuất không đạm 79 - 80%, cung cấp 3000 Kcal năng lượng trao đổi/kg chất khô.
 Cám gạo
Cung cấp năng lượng và protein, loại cám tốt không kém giá trị dinh dưỡng
của ngô. Trong 1kg chất khô có 127g protein, 23,5g tinh bột, 21,5g đường, 100g
xơ, lượng mỡ khá cao 109g cho nên cám dễ bị vón, mốc, oxy hóa mùi khét ôi
đắng. Cám tươi được bảo quản trong thời gian ngắn có mùi thơm, vị ngọt, gia
cầm thích ăn.
 Đậu tương
Nguồn protein thực vật chủ yếu trong thức ăn gà, protein 41 - 43%, mỡ 16 18%, năng lượng trao đổi 3600 - 3700 Kcal/kg chất khô. Cho gia cầm thường
dùng khô đỗ tương, có thể dùng bột đỗ tương rang nhất là cho gà thịt broiler
nhưng với tỷ lệ thích hợp.
 Lạc
Giàu protein, dầu mỡ. Tỷ lệ dầu trong lạc vỏ 38 - 40%, lạc nhân 48 - 50%,
cho chăn nuôi gia cầm dùng khô dầu lạc nhân có lượng protein 45 - 46%, xơ
5,5%; 7 - 7,5% dầu mỡ.
Khô lạc nghèo lizin, canxi, photpho, caroten và vitamin D, dễ bị nấm mốc
aflatoxin gây ngộ độc cao cho gia cầm nhất là vịt.Cần được bảo quản, tránh ẩm,
không để lâu dễ bị oxy hóa do lượng dầu vẫn còn cao.
2.8.1.3. Nguồn bổ sung (vitamin, khoáng, hóa chất tổng hợp, thuốc, enzyne)
 Premix vitamin
19


Hỗn hợp nhiều loại vitamin A, D, K, PP, nhóm B với liều lượng theo nhu
cầu các loại gia cầm.

20


 Premix khoáng
Hỗn hợp 7 nguyên tố vi lượng khoáng Fe, Cu, Zn, Mn, Co, Se, I và 2
nguyên tố đa lượng canxi và photpho (dưới dạng chất phụ gia).
 Premix khoáng – vitamin
Tiến bộ kĩ thuật đã cho sản xuất hỗn hợp bổ sung khoáng – vitamin thay
cho sản xuất 2 loại premix khoáng và vitamin riêng. Thường sản xuất premix
khoáng – vitamin cho từng loại vật nuôi theo lứa tuổi, năng suất, thuận tiện cho
người sử dụng pha trộn thức ăn.
Loại premix khoáng – vitamin của Nhật dùng chung cho gà con, gà dò, gà
đẻ chỉ khác nhau về liều lượng bổ sung. Premix này gồm 13 loại vitamin: A, D,
E, K, B1, B2, B3, B4, B5, B6, B8, B12, cholin và 7 nguyên tố vi lượng: Fe, Cu,
Zn, Mn, Co, Se, I ở dạng sunphat, carbonat hoặc oxit.
 Một số chất (hoặc thuốc) bổ sung làm tăng giá trị thức ăn, phòng bệnh,
kháng vi khuẩn và nấm mốc có hại, còn có tác dụng kích thích sinh trưởng, bao
gồm:
+ Bacteriostat: Chất kháng sinh kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn
bacteria, làm giảm quá trình trao đổi chất, giảm sự nhiễm bacterium. Sự gây hại
của bacterium là bám vào niêm mạc ruột, làm dày niêm mạc, giảm dung tích của
ruột dẫn đến ngừng trệ tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng. Thức ăn lẫn màng nhầy
ruột thải ra ngoài với trạng thái ỉa chảy có chất nhầy màng ruột. Vi khuẩn này
còn gây liệt thần kinh.
Những chất diệt các vi khuẩn gây hại đường ruột có: furazolidon,
amprolium... Cầu trùng có nhiều chủng, cần phối hợp thuốc hoặc thay đổi thuốc
chống sự kháng thuốc. Cầu trùng làm giảm tiêu hóa, hấp thu thức ăn, một số cầu
trùng ảnh hưởng đến hấp thụ metionin ở ruột non, hoặc một số cầu trùng ảnh
hưởng đến hấp thu photpho.
+ Antihelmin: Thuốc chống giun sán, hạn chế và diệt ấu trùng, giun sán
trưởng thành. Gà bị giun sán tiêu hóa kém. Giảm tăng trọng và đẻ kém.
+ Antifugal là các chất chống nấm mốc bao gồm acid acetic, sodium
benzoat, sodium propionat và sunphat Cu: có tác dụng chống sự phát triển
nấm mốc (fungi, mycosis) làm giảm tác hại của mycotoxicosis. Khi sát trùng

21


nên phun hỗn hợp các hóa chất trên để có thể phòng nhiều loại nấm mốc cùng
một lúc.
+ Antioxydan: Chất chống oxy hóa thành phần dinh dưỡng của thức ăn nhất
là lipid và các loại vitamin dễ tan trong dầu: A, D, E, K trong điều kiện nóng ẩm.
Một số chất antioxydan thường dùng:
-

Butylate hydrolotuen – BHT
Dephenylpara phenylone diamone – DPPD
Butylate hydrotoluen anisole – BHA
Ethoxyquine (lượng bổ sung rất ít 0,01 – 0,02%)

+ Các enzyme: Bổ sung men vào thức ăn làm tăng tỉ lệ tiêu hóa kể cả chất
xơ. Các loại men tốt là amilase cho tiêu hóa tinh bột; torula cho thủy phân
cellulose, protease cho thủy phân protein... đều được chiết xuất từ men sinh khối
vi sinh vật.
+ Chất tạo màu pigmentation làm cho da, thịt, lòng đỏ trứng có màu hấp
dẫn. Trong thực vật chất này là carotenoid (beta – apo – 8’ carotenoide) có nhiều
trong rau, bí đỏ, cà rốt, ngô (22mg caroten/kg), bèo dâu (220mg/kg). Hợp chất
hóa học màu vàng xythophyl cũng như caroten làm tăng độ vàng và bóng của
da, lòng đỏ trứng.
2.8.2. Dinh dưỡng gia cầm
2.8.2.1. Nhu cầu năng lượng
Thành phần hữu cơ hydratcarbon, lipid, protein của thức ăn cung cấp năng
lượng cho các hoạt động của cơ thể gia cầm, cho sinh trưởng, cho sản xuất thịt
trứng. Năng lượng của thức ăn không được cơ thể gà sử dụng hoàn toàn mà một
phần mất đi với phân, thải nhiệt. Phần năng lượng được sử dụng khoảng 70 90% năng lượng toàn phần (thô, tổng số).
Trong chăn nuôi gia cầm, năng lượng được tính theo đơn vị năng lượng
trao đổi. Hàm lượng năng lượng thức ăn có tương quan nghịch với lượng thức
ăn ăn vào hàng ngày. Mức năng lượng thức ăn thấp, gà ăn nhiều, ngược lại mức
năng lượng cao gà ăn ít thức ăn hơn.
Gà broiler (gà thịt) cần mức năng lượng cao 3000 - 3300 Kcal/kg thức ăn
hỗn hợp. Gà đẻ nhu cầu năng lượng không vượt quá 3000 Kcal/1kg thức ăn, vì
năng lượng cao gà sẽ tích lũy béo, đẻ giảm, thích hợp là mức 2700 – 2900
Kcak/1kg thức ăn.

22


2.8.2.2. Nhu cầu protein
- Sự sinh trưởng phát triển của cơ thể gà con, tăng trọng của gà thịt, đẻ
trứng của gà mái đều cần được cung cấp protein cân đối các acid amine, đặc biệt
là các acid amine không thay thế.
Ở gà con sự tích lũy protein cao và giảm dần theo tuổi lớn. Tăng protein
thức ăn thúc đẩy tốc độ sinh trưởng, nhưng tăng quá mức nhu cầu sẽ không có
hiệu quả.
Ở gà đẻ và pha đẻ đầu, nhu cầu protein phải tính cho cả ba khẩu phần duy
trì, sinh trưởng, sản xuất. Khi có được các thông số, ví dụ ở gà mái giống
chuyên trứng nhu cầu protein cho tạo trứng 6g/quả (12%) với khả năng sử dụng
protein là 55%; protein cho duy trì cơ thể 3g/ngày; cho sinh trưởng tăng trọng
10g/ngày cần 2g protein, sẽ tính được mức protein/ngày như sau:

Sau thời kì này gà mái đã trưởng thành không tăng thể trọng, nhưng khối
lượng trứng to hơn, vẫn phải tính nhu cầu protein, và phải tính đến nhiều yếu tố
khác về chất lượng thức ăn, thời tiết nóng lạnh v.v...
- Tỉ lệ năng lượng và protein
Mức năng lượng trong khẩu phần thức ăn ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu
hóa đồng hóa, hấp thu protein. Năng lượng tích lũy dưới dạng mỡ, glucogen
tham gia cấu trúc tế bào, men, hoocmone để xúc tác quá trình trao đổi protein và
tiêu hóa, đồng thời cung cấp năng lượng cho chuyển dịch các acid amine từ thức
ăn qua đường tiêu hóa vào tế bào.
Mối tương quan giữa năng lượng trao đổi với protein có hằng số nhất định
trong thức ăn gà theo giai đoạn sinh trưởng và đẻ trứng. Hằng số được biểu thị
bằng Kcal ME/1% protein.
Một số hằng số:
Cho gà thịt: 0 – 3 tuần tuổi 127 – 130
4 – 6 tuần tuổi 145 - 150
7 – kết thúc 160 – 165
Cho gà đẻ: Pha I (21 – 44 tuần tuổi) 170 – 180
23


Pha II (sau 44 tuần tuổi) 180 – 185
Tỷ lệ này thời tiết mát cao hơn (175 – 180) mùa hè nóng thấp hơn (155 –
160) vì mùa hè nóng gà ăn ít hơn cần phải tăng protein để đảm bảo nhu cầu
protein.
2.8.2.3. Nhu cầu vitamin
Vitamin tham gia vào thành phần cấu tạo một số lớn hoocmone và enzyme,
tham gia vào các quy trình xúc tác sinh học trao đổi các thành phần dinh dưỡng,
các hoocmone và enzyme.
 Vitamin A
Tham gia vào quá trình trao đổi chất protid, lipid, glucid; kích thích sự phát
triển các tế bào non và tế bào sinh dục, ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh sản
của gà.Vitamin A cùng với protein tạo hợp chất rodopsin là idopsin điều khiển
thị giác.
Thiếu vitamin A gà mắc bệnh “quáng gà” chậm lớn, lông xù, còi xương,
giảm đẻ, biến dạng tinh trùng, trứng không phôi nhiều, tỉ lệ chết phôi cao ở ngày
ấp 18 – 21.
Hàm lượng vitamin A trong khẩu phần ăn gà con, gà đẻ 8000 – 10000
UI/kg chất khô.
 Vitamin E
Tăng sinh sản của gia cầm, ảnh hưởng đến tổng hợp coenzyme, trao đổi
acid nucleic, quá trình photpho hóa, chống rối loạn đường, teo cơ.
Thiếu vitamin E, trứng ấp nở kém, chết phôi vào ngày ấp thứ 3 – 4, gà con
đầu vặn ra đằng sau hoặc vẹo sang một bên, đi loạng choạng co giật rồi chết, gà
mái giảm đẻ.
Hàm lượng vitamin E trong khẩu phần ăn gà con: 15 – 20UI/kg thức ăn, gà
lớn 20 – 30 UI/kg thức ăn.
Cám gạo, mầm thóc ngô, dầu thực vật có chứa nhiều tocopherol (vitamin E).
 Vitamin D
Có đến 10 loại vitamin D, nhưng cho động vật thì D3 có hoạt tính cao nhất.
Dehydro cholesterol trong cơ thể khi gặp tia cực tím có bước sóng 265 – 300µ sẽ tạo
ra vitamin D3 ở dưới da. Ở gia cầm hoạt tính D2 kém hơn D3 từ 30 – 50 lần.

24


Vitamin D3 chống còi xương, tăng hấp thu canxi, photpho ở ruột non dưới
dạng liên kết vitamin D và Ca++, tăng tích lũy chúng trong xương và vỏ trứng.
Thiếu vitamin D gây còi xương, giảm sinh trưởng, giảm đẻ. Nuôi gà
chuồng kín thiếu ánh sáng tự nhiên cần bổ sung đầy đủ vitamin D3 vào thức ăn.
Hàm lượng vitamin D3 trong khẩu phần ăn gà con 2000 – 2200 và gà đẻ 1500
UI/kg vật chất khô.
 Vitamin K
Vitamin K được tổng hợp trong manh tràng của gà nhờ microflora có tác
dụng làm đông máu (chống chảy máu), tổng hợp protrompin, tham gia vào quá
trình hô hấp mô bào và photphoryl hóa.
Thiếu vitamin K sinh bệnh chảy máu ở đường tiêu hóa nhất là khi bị cầu
trùng, chảy máu ở cơ chân gà con, rụng lông.
Hàm lượng vitamin K trong khẩu phần ăn:
Gà con 0 – 7 tuần tuổi 8,8mg/kg vật chất khô
Gà dò 7 – 17 tuần tuổi 2,2mg/kg vật chất khô
Gà đẻ 2,2mg/kg vật chất khô
Vitamin K có trong rau, cám, ngô, cà rốt...
 Vitamin B
+ Vitamin B1
Dạng bột trắng, mùi thơm đặc biệt.
Có vai trò quan trọng trong trao đổi glucid và decarboxyl, hoạt động của
các men tiêu hóa, tăng độ thèm ăn.
Duy trì hoạt động bình thường của hệ thần kinh.
Thiếu B1 gà con 2 tuần tuổi bị liệt thần kinh, kém ăn, rối loạn tiêu hóa và
thần kinh cơ tim, hô hấp, sinh bệnh mổ cắn. Gà tăng trọng chậm, giảm đẻ, có thể
bại liệt.
B1 có nhiều trong cám gạo, men sinh vật, mầm thóc, bột cá,...
Hàm lượng B1 trong khẩu phần ăn gà con là 2,2mg/kg vật chất khô; gà đẻ
1,8 – 2mg/kg vật chất khô.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×