Tải bản đầy đủ

Xã hội học văn hóa

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI CƠ SỞ II
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

TIỂU LUẬN HẾT MÔN
XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
ĐỀ TÀI : VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA LỐI SỐNG CỦA CON
NGƯỜI TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

Giảng viên :
HTSV

: Phạm Quang Tiến

Lớp

: Đ14CT2

MSSV

: 1457601010271


Ngành

: Công tác xã hội

Khóa

: 2014 – 2018

Tp Hồ Chí Minh. Ngày 8 tháng 1 năm 2018


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................

CHỮ KI
GIẢNG VIÊN 1
GIẢNG VIÊN 2

DIỂM
BẰNG CHỮ

MỤC LỤC


BẰNG SỐ



TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
PHẦN I : MỞ ĐẦU
I : Lý do chọn đề tài:
Hiện nay toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu khách quan, có tác động sâu rộng tới
tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Việt Nam có những cơ hội đi tắt, đón đầu,
rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, những giá trị
văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt là sự thay đổi về văn hóa lối sống của con
người cũng đứng trước những nguy cơ, thách thức không nhỏ. Chính vì vậy, xây
dựng văn hóa lối sống cho các tầng lớp trong xã hội đang là vấn đề nóng được mọi
người quan tâm và chú ý đến.
Có thể nói, lối sống là một hình thức biểu hiện của văn hóa. Nói đến lối sống là
nói đến cả khía cạnh văn minh nhân loại và truyền thống của một dân tộc, cả các giá
trị phổ quát và cả các giá trị phù hợp với điều kiện lịch sử của từng thời kỳ nhất
định. Văn hóa lối sống hiểu một cách chung nhất là một tập hợp những nét cơ bản,
tiêu biểu, ổn định của các hình thức hoạt động sống đặc trưng cho mỗi dân tộc, quốc
gia, vùng địa lý, nhóm xã hội và cá nhân trong những điều kiện chính trị - kinh tế văn hóa - xã hội cụ thể. Đó là cách thức hoạt động, ứng xử của chủ thể (cá nhân, tập
thể) để đáp ứng nhu cầu sống, từ ăn, mặc, ở, đi lại, tái tạo giống nòi đến học hành,
vui chơi, giao tiếp và thoả mãn nhu cầu trí tuệ, thẩm mỹ,vv..; từ hoạt động kinh
doanh, chính trị, văn hoá đến việc tổ chức đời sống cá nhân, gia đình và xã hội.
Ở các nước châu Á trong đó có Việt Nam những năm gần đây người ta nói rất
nhiều về cái gọi là nhiệm vụ giữ gìn bản sắc dân tộc. Đúng là không thể phủ nhận sự
bành trướng của văn hoá phương Tây trên thế giới trong vòng hơn một thế kỷ qua.
Nhưng cũng không thể không thấy rằng cùng với sự gia tăng ảnh hưởng của văn hoá
phương Tây là sự gia tăng tương ứng những cố gắng khắp nơi trên thế giới nhằm
chống lại sự bành trướng đó. Nhiều người gióng chuông báo động về sự xâm lăng
văn hoá và cho rằng những nỗ lực theo hướng bảo vệ bản sắc dân tộc cần được thúc
đẩy hơn nữa. Riêng bản thân tôi, ngay cả trong trường hợp nhiệm vụ là thực sự cần
thiết thì cũng rất khó thực hiện, bởi vì cuộc sống đang hàng ngày hàng giờ thúc ép
người ta phải làm quen với nhau. Trong thời đại ngày nay, kết quả của bất kỳ việc gì
1


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
cũng cần được chấp nhận ở những cộng đồng rộng lớn hơn chứ không chỉ ở cộng
đồng nhỏ hẹp mà người ta cư trú. Con người phải sống làm sao để được chấp nhận
không chỉ trong cộng đồng của mình, mà cả trong các cộng đồng mà mình có quan
hệ. Hơn thế nữa, cả lối sống của cộng đồng mà mình làm đại diện cũng phải được
chấp nhận bởi các cộng đồng khác.
Trong thời đại hội nhập, sự tương tác giữa văn hóa lối sống
phương Đông và văn hóa lối sống phương Tây là tất yếu. Trong quá
trình tương tác đó, không chỉ có phương Đông hấp thụ được những
giá trị văn hóa của phương Tây, mà ngược lại phương Tây cũng có
thể học phương Đông được rất nhiều điều. Theo bản thân tôi,
nhiệm vụ của chúng ta là nhận thức những cái hay, cái dở trong lối
sống của dân tộc mình và nỗ lực xây dựng văn hóa lối sống của
con người hiện đại, loại bỏ những thủ tục lạc hậu, rờm rà không
còn phù hợp với chuẩn mực của xã hội ngày nay. Vấn đề xây dựng
văn hóa lối sống của con người hiện đại không chỉ là nhiệm vụ của
mỗi cá nhân đó là nhiệm vụ của toàn thể mọi người, vì khi xây
dựng được văn hóa lối sống nó làm cho tinh thần mỗi cá nhân càng
ngày lạnh mạnh, xây dựng được tình đoàn kết hữu nghị giữa các
nước, ở góc độ phạm vi hẹp nó xây dựng được tình cảm hàng xóm
láng giềng khắng khít, làm cho cuộc sống bình yên hạnh phúc. Đó
chính là điểm mấu chốt mục tiêu của “ Vấn đề xây dựng văn hóa
lối sống của con người trong xã hội hiện đại ngày nay”.
Chúng ta có thể thành công và phát triển nhanh chóng, để
không chỉ không bị tụt hậu thêm nữa mà còn đuổi kịp và vượt các
quốc gia tiên tiến trên thế giới - điều đó phụ thuộc rất nhiều vào
khả năng tự thay đổi để làm bạn đồng hành với toàn nhân loại.

2


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA

PHẦN II : NỘI DUNG
1 : Cơ sở lý luận.
1.1 Khái niệm văn hoá.
Cho đến nay người ta đã thống kê có tới hàng trăm định nghĩa văn hoá. Có thể
nói có bao nhiêu nhà nghiên cứu thì có bấy nhiêu khái niệm về văn hoá. Nhưng ta có
thể hiểu sơ lược về hai từ văn hoá là một sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo
ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa
lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của
con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện
trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như
trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.

Theo tự điển của Viện Hàn lâm Pháp, từ “văn hóa” (tiếng Pháp: culture)
được định nghĩa là: “Toàn bộ những thủ đắc về văn chương, nghệ thuật, thủ
công nghiệp, kỹ thuật, khoa học, phong hóa, luật lệ, cơ chế, tục lệ, truyền
thống, những cách suy nghĩ và những cách sống, những cách ứng xử thuộc
mọi lãnh vực, những lễ nghi, những thần thoại và tin tưởng tạo nên một di sản
cộng đồng và cá tính của một nước, một dân tộc hay một sắc dân, một quốc
gia”
1.1.1 Các loại hình văn hóa.
Văn hóa tinh thần Văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là
những ý niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực,... tạo nên một hệ
thống. Hệ thống đó bị chi phối bởi trình độ của các giá trị, đôi khi có thể phân biệt
một giá trị bản chất. Chính giá trị này mang lại cho văn hóa sự thống nhất và khả
năng tiến hóa nội tại của nó. Văn hóa vật chất Ngoài các yếu tố phi vật chất như giá
3


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
trị, tiêu chuẩn,... nền văn hóa còn bao gồm tất cả những sáng tạo hữu hình của con
người mà trong xã hội học gọi chung là đồ tạo tác. Những con đường, tòa cao ốc,
đền đài, phương tiện giao thông, máy móc thiết bị...đều là đồ tạo tác. Văn hóa vật
chất và phi vật chất liên quan chặt chẽ với nhau. Khảo sát một nền văn hóa có thể
thấy văn hóa vật chất phản ánh những giá trị văn hóa mà nền văn hóa đó coi là quan
trọng. Ở các nước Hồi giáo, công trình kiến trúc đẹp nhất và hoành tráng nhất
thường là thánh đường trong khi ở Mỹ, nó lại là trung tâm thương mại. Văn hóa vật
chất còn phản ánh công nghệ hiểu theo khái niệm xã hội học là sự áp dụng kiến thức
văn hóa vào sinh hoạt trong môi trường tự nhiên
1.2

Văn hoá - Xã hội học.
Dưới cái nhìn của xã hội học thì văn hoá là những chân lí, chuẩn mực, giá trị,

mục đích mà con ngườii chia sẻ với nhau trong tương tác thời gian:
1.2.1 Các khái niệm văn hoá trong xã hội học.
1.2.1.1 Tiểu văn hoá
Là văn hoá của các cộng đồng xã hội mà có những sắc thái với nền văn hoá
chung của toàn xã hội.
Người ta thường hay nhắc đến tiểu văn hoá của thanh niên, của một dân tộc ít
người nào đó hay tiểu văn hoá của một cộng đồng dân sinh sống lâu đời ở một
nước... Thực chất tiểu văn hoá là một bộ phận của nền văn hoá chung, góp phần
làm cho nền văn hoá chung thêm phong phú, sinh động. Song các tiểu văn hoá
không mâu thuẫn đối lập với nền văn hoá chung mà vẫn hướng tới bảo vệ nền giá
trị của nền văn hoá chung.
- Các loại hình tiểu văn hoá:
+ Tiểu văn hoá địa lí: đựoc hình thành trên cơ sở của các vùng lãnh thổ hay địa
cực.
+ Tiểu văn hoá xã hội: lại xuất phát từ đặc trưng của chúng trong cơ cấu xã hội, hệ
thống phân tầng xã hội.

4


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
+ Tiểu văn hoá tôn giáo: hình thành trên cơ sở có sự đồng nhất về niềm tin vào cái
siêu nhiên, vào phép lạ, tức là vào những điều mà lí tính thông thường không giải
thích được.
+ Tiểu văn hoá nghề nghiệp: được ra đời từ thực tiễn của những người có chung
một nghề nghiệp.
1.2.1.2 Phản văn hoá.
Trong khi tiểu văn hoá hướng tới bảo vệ những gái trị của nền văn hoá
chung thì phản văn hoá công khai bác bỏ nhiều chuẩn mực, giá trị của nền văn hoá
chung. Phản văn hoá có thể xem như một tập hợp các chuẩn mực giá trị của một
nhóm người trong xã hội mà đối lập, xung đột với các chuẩn mực, giá trị chung
của toàn xã hội. Như vậy, so với tiểu văn hóa thì sự khác biệt giữa phản văn hóa và
văn hóa chung là lớn hơn nhiều. Phản văn hóa là điều thường thấy trong mọi xã
hội.xã hội và chính nó là các kích thích sự thay đổi văn hoá xã hội khác nhau. Phản
văn hoá có hai mặt:tích cực và tiêu cực. Tích cực: là phản văn hóa của một nhóm
người sáng tạo, nhạy bén, luôn luôn là yếu tố kích thích cho sự biến đổi của xã hội.
Tiêu cực: là không kích thích cho xã hội phát triển, gây bất ổn cho xã hội.
1.2.1.3 Văn hoá nhóm
Là hệ thống các giá trị, các quan niệm, tập tục được hình thành trong nhóm.
Văn hóa nhóm được hình thành từ khi các mối quan hệ trong nhóm được thiết lập
và cùng với thời gian các quy chế được hình thành, các thông tin được trao đổi và
các thành viên cùng trải qua các sự kiện. Tất cả các nhóm nhỏ đều có văn hóa của
mình, nhưng đồng thời cũng là một phần của nền văn hóa toàn xã hội. Như vậy,
văn hóa nhóm cho thấy trong nền văn hóa chung còn có thể có những nét riêng biệt
của các tập đoàn, các tổ chức xã hội khác nhau.
1.3 Khái niệm lối sống
Lối sống là một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các
dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một
hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Lối sống tổng hòa những hình thức hoạt động cơ
bản phụ thuộc vào điều kiện và những nhu cầu của con người do những điều kiện
5


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
đó qui định. Lối sống bị qui định bởi hoàn cảnh khách quan của xã hội, bởi những
điều kiện sống củ các giai cấp, dân tộc. Nghĩa là lối sống một mặt, do quan hệ thực
tế của con người với tự nhiên, do trình độ trang bị kỹ thuật, năng suất lao động của
họ, trạng thái của lực lượng sản xuất và do đó cả tính chất tiêu dùng, mặt khác do
tính chất quan hệ sản xuất, chế độ kinh tế của xã hội là cơ sở của toàn bộ hệ thống
quan hệ xã hội, qui định.
1.4

Đoàn kết xã hội
Ông đã dùng khái niệm đoàn kết xã hội để chỉ các mối quan hệ giữa cá nhân

và xã hội, giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với nhóm xã hội. Nếu như
không có sự đoàn kết xã hội thì các cá nhân riêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành
xã hội với tư cách là một chỉnh thể.
1.4.1

Các loại hình thức đoàn kết

1.4.1.1 Đoàn kết cơ học
Khái niệm đoàn kết cơ học là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự thuần nhất, đơn
điệu của các giá trị và niềm tin. Các cá nhân gắn bó với nhau vì sự kiềm chế mạnh
mẽ từ phía xã hội và vì lòng trung thành của cá nhân đối với truyền thống, tập tục
và quan hệ gia đình. Sức mạnh của ý thức tập thể có khả năng chi phối và điều
chỉnh suy nghĩ, tình cảm và hành động của các cá nhân. Trong xã hội kiểu cơ học,
quyền tự do, tinh thần tự chủ và tính độc lập của các cá nhân rất thấp. Sự khác biệt
và tính độc đáo của cá nhân là không quan trọng. Xã hội gắn kết kiểu cơ học
thường có quy mô nhỏ, nhưng ý thức cộng đồng cao, các chuẩn mực, luật pháp
mang tính chất cưỡng chế.
1.4.1.2 Đoàn kết hữu cơ
Khái niệm đoàn kết hữu cơ là kiểu đoàn kết dựa trên sự phong phú, đa dạng của
các mối liên hệ, tương tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu thành nên xã hội.
Trong xã hội kiểu hữu cơ, mức độ và tính chất chuyên môn hóa chức năng càng
cao thì các bộ phận trong xã hội càng phụ thuộc, gắn bó và đoàn kết chặt chẽ với
nhau. Xã hội đoàn kết hữu cơ thường có quy mô lớn, ý thức cộng đồng yếu, nhưng
6


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
tính độc lập, tự chủ cá nhân được đề cao; Các quan hệ xã hội chủ yếu mang tính
chất trao đổi và được luật pháp, khế ước kiểm soát và bảo vệ.

2 : Nội dung xây dựng văn hóa lối sống của con người trong xã hội hiện đại.
Lối sống là tổ hợp toàn bộ các mô tỉ hình, cách thức và phong thái sống của
con người thể hiện trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản
xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con
người với con người, giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và
mục đích sống. Trong lối sống tổng hoà những nét cơ bản, khắc hoạ những đặc
điểm cuộc sống của các cá nhân, các nhóm người, của giai cấp, dân tộc trong một
xã hội nhất định.
Xây dựng văn hóa lối sống hiện đại mà tất cả các nước trên thế giới đều
hướng tới trong đó có Việt Nam vì nó là một nhu cầu tất yếu của hội nhập quốc tế.
Mỗi dân tộc, mỗi đất nước đều có một lối sống khác nhau, lịch sử hình thành
và phát triển dân tộc là yếu tố hình thành lối sống cũng như nét đặc trưng của mỗi
dân tộc trên thế giới. Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, chống giặc
ngoại xâm, dũng cảm kiên, trung bất khuất, tình cảm tương thân tương ái, đó là
những gì khi nói đến Việt Nam.
Nó được vun đắp được làm phong phú và đậm đà thông qua hoạt đông lao
động sản xuất, chiến đấu, học tập, giao tiếp xã hội trong nội bộ quốc gia, trong đó
quan trọng là sự giao lưu văn hoá với các dân tộc khác. Trải qua quá trình giao lưu,
tiếp biến văn hoá mà văn hoá Việt Nam nói chung, lối sống người Việt Nam nói
riêng được phát triển và ngày càng phong phú, đa dạng đậm đà. Với bản sắc truyền
thống của mình là nhẹ nhàng, tế nhị, kín đáo, giản đơn hoà với thiên nhiên, qua quá
trình tiếp biến các lối sống văn hoá phương Đông, phương Tây và văn hoá xã hội
chủ nghĩa.
2.1 Sơ lược về sự khác nhau trong cách ứng xử của hai nền văn hóa Đông và
Tây
7


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
2.1.1 Phương thức sống
Ngay từ khi bắt đầu, người phương Tây đã dạy học sinh lối sống tự lập, họ dạy cho
trẻ con những cách để đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống, tôn trọng
quyết định của con cái, nhưng người phương Đông hoàn toàn ngược lại, không yên
tâm với con trẻ, phải luôn theo sát hỗ trợ, giúp đỡ
2.1.2Thời tiết và tâm trạng
Tâm trạng người phương Tây thay đổi theo thời tiết, trời nắng sẽ vui và mưa sẽ…
hơi buồn nhưng người phương Đông thì dù mưa hay nắng đều… không vấn đề gì.
2.1.3 Phát biểu ý kiến
Người phương Tây thường nói thẳng vào vấn đề nhưng người phương Đông thích
nói hàm xúc, khéo léo để tránh làm tổn thương người khác.
2.1.4 Khi tụ tập
Khi tụ tập, người phương Tây thích tổ chức theo hình thức Party, tạo thành những
nhóm nhỏ 3-5 người còn ở phương Đông, mọi người sẽ ngồi vào một cái bàn tròn
cùng ăn uống nói chuyện.
2.1.5 Thời thượng
Trong khi người phương Tây cố gắng học cầm thìa và đũa thì ở phương Đông, thời
thượng chính là việc học cách dùng dao và dĩa vốn thuộc về văn hóa Âu Mỹ.
2.1.6. Thói quen tắm rửa
Người phương Tây tắm vào buổi sáng để tinh thần cả ngày thoải mái còn người
phương Đông tắm vào buổi tối để tiêu tan mệt mỏi.
2.1.7 Cảnh tượng vào cuối tuần
Vào những ngày nghỉ cuối tuần, ở phương Tây thường vắng vẻ nhưng ở phương
Đông thì ngược lại họ thường tụ tập ăn uống vui chơi.
2.1.8 Ba bữa ăn trong ngày
Người phương Đông thích ăn nóng cho cả ba bữa trong ngày nhưng ở phương Tây,
đôi khi họ chọn cà phê, sa-lát để thay đổi.
2.1.9 Quan niệm thời gian

8


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
Chuẩn giờ hẹn với người phương Tây là một phép lịch sự cơ bản nhưng ở phương
Đông, giờ giấc vẫn xảy ra hiện tượng “cao su”.
2.1.10 Bảo vệ làn da
Phụ nữ phương Tây thoải mái phơi mình trên bãi biển nhưng phụ nữ phương Đông
thì không.
2.1.11 Độ tự tin
Người phương Tây rất tự tin về bản thân, dám thể hiện mình. Đây là điều người
phương Đông làm chưa tốt.
2.1.12 Vị trí của “Sếp”
Quan niệm của phương Tây là: Ông chủ trả lương để mua của họ 8 tiếng làm việc
mỗi ngày. Sau giờ làm việc, quan hệ của họ bình đẳng trừ khi ông chủ tiếp tục bỏ
tiền ra thuê họ làm thêm giờ. Nhưng ở các nước phương Đông, những ông chủ
luôn luôn ở vị trí cao.
2.1.13 Xử lý vấn đề
Đối mặt với các vấn đề, người phương Tây khá lạc quan, dũng cảm nhưng người
phương Đông thường chọn cách né tránh, không muốn nghĩ hoặc đối mặt.
2.1.14 Âm lượng khi ăn ở nhà hàng
Người phương Tây thường giữ im lặng không để ảnh hưởng đến người khác khi ăn
uống ở nhà hàng. Đây là một phép lịch sự nhưng với người phương Đông thì chưa
được như vậy.
2.1.15 Cuộc sống hằng ngày của người già
Người già ở phương Tây thường nuôi thú cưng còn người già ở phương Đông phải
chăm sóc cháu nhỏ.
2.1.16 Cách thể hiện sự phẫn nộ
Người phương Tây không ngần ngại biểu lộ một cách thẳng thắn sự bực tức của
mình nhưng với nhiều người phương Đông, trong lòng dù rất bất mãn nhưng
miệng vẫn nở nụ cười.
2.1.17 Khi đi du lịch

9


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
Khách du lịch phương Tây khi đi tham quan thường thích đi bộ tận hưởng cảnh
quan thiên nhiên, uống rượu, bơi, ghi nhớ cảnh đẹp vào trong trí óc còn người
phương Đông ghi nhớ những kỷ niệm nhờ máy ảnh.
2.1.18 Xếp hàng
Người phương Tây thường tôn trọng trật tự, làm gì cũng sẽ xếp hàng nhưng nhiều
người phương Đông duy trì quan niệm “ăn cỗ đi trước lội nước theo sau”, “đến
trước được trước”, sợ bị thua thiệt.
2.1.19 Phương tiện giao thông
Người phương Tây chuyển đổi phương tiện giao thông từ ô tô sang xe máy còn
người phương Đông thì ngược lại.
2.1.20 Đối xử với trẻ con
Trong suy nghĩ của người phương Tây, trẻ con được đối xư ngang bằng với người
lớn còn với người phương Đông, trẻ con là trung tâm thu hút sự quan tâm của cả
gia đình.
Qua sơ lược về sự khác nhau giữa phương Đông và phương Tây thì đa số mọi
người trong xã hội hiện đại ngày nay thì họ có xu hướng Tây hóa, vì cơ bản văn
hóa phương tây thể hiện trí thức, thái độ lịch sự, công bằng, thẳng thắng.
2.3 Xu hướng của lựa chọn lối sống của giới trẻ ngày nay đều theo xu hướng
văn hóa lối sống phương Tây.
2.3.1 Tích cực
2.3.1.1 Quan điểm của giới trẻ:
Thích lựa chọn con đường đi của riêng mình, để khẳng định bản thân, thích trải
nghiệm cuộc sống, các bạn thường cháy hết mình với quan điểm tuổi trẻ không
sống và làm việc hết mình thì khi trôi qua sẽ hối tiếc. Quan điểm của các bạn là
tuổi trẻ cứ sai vì cuộc đời cho phép. Từ đó các bạn luôn cố gắng sống vì bản thân
cứ làm thất bại sẽ làm lại.

10


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
VD: Đa số các bạn trẻ hiện nay đều đồng tình và ủng hộ xu hướng tự khởi nghiêp,
hoạt động độc lập, vì khi lựa chọn các bạn sẽ được trải nghiệm, được cháy hết
mình vì đam mê, được đi trên chính đôi chân của các bạn lựa chon.
2.3.1.2 : Lựa chọn lối sống
Có hai vấn đề nổi cộm trong lối sống của thanh niên Viêt Nam đương đại tại
các đô thị lớn. Những hiện tượng này đã xuất hiện được một thời gian và đang
ngày càng trở nên phổ biến đó là quan hệ tình dục trước hôn nhân và kiểu bắt
chước lối sống phương Tây. Tuy hai hiện tượng này có một điểm chung đó là quan
niệm rất ‘thoáng’ rất ‘mở’ trong quan hệ tình dục, cả hai vẫn có những nét khác
biệt.
Ở kiểu bắt chước lối sống phương Tây mà đối tượng chủ yếu ‘tôn thờ’ lối sống
này là các cô gái trẻ, các cô ủng hộ kiểu quan hệ theo ‘hợp đồng’, ngắn hạn, dài
hạn đều có. Theo họ, kiểu sống thực nghiệm này rất ‘an toàn’ vì khi không còn hợp
nhau thì đường ai nấy đi không ràng buộc gì và không lúc nào là muộn cả.
2.3.1.3 Xu hướng thời trang :
Hầu như xu hướng thời trang hiện nay của giới trẻ đều là xu hướng thời trang
theo phong cách phương Tây, trẻ trung, năng động, sáng tạo. Nó phù hợp với tính
cách của người trẻ tuổi.
Thậm chí những người lớn tuổi đều có gu thời trang tây hóa không thua kém giới
trẻ bận quần jeans, veton, áo sơ mi, giầy tây, một số người lớn tuổi còn mang
những đôi giày thể thao để trở nên trẻ trung, năng động.
Thậm chí một số bạn nữ bận áo dài mang giầy thể thao để thể hiện sự trẻ trung phá
cách của mình, không theo truyền thống bận áo dài phải mang giày búp bê, giầy
cao gót.
2.3.1.4 Sở thích
Đa số các bạn trẻ ngày nay đều thích chơi những môn thể thao năng động bóng đá,
bóng rỗ, bóng chuyền, thể thao điện tử,.. không còn chơi những trò như nhảy lò cò,
nhảy dây như những năm 2000.
11


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
Về âm nhạc và nghệ thuật, các bạn trẻ thường thích nghe nhạc pop, r&b, rap hoặc
rock không giống như giới trẻ ngày xưa nghe cải lương, bolero, nhạc quê hương
dân ca. Đa số các bạn trẻ ngày nay đều thích nghe nhạc Âu Mỹ, thần tượng những
ngôi sao như Ladygaga, Charlie Puth, Justin,…

2.3.2 Tiêu cực
Sự hội nhập của nền văn hóa phương tây ở Việt Nam là đều tất yếu nó tác động
mạnh mẽ đến nền kinh tế, an toàn trật tự xã hôi. Bên cạnh những mặt tích cực thì
vẫn còn nhiều hạn chế.
Đặc biệt sự có mặt của internet làm tăng khả năng kết nối, giao thương của mọi
người bên cạnh đó nó có mặt tiêu cực của nó là xuất hiện các hình ảnh khiêu dâm
đồi trụy, các thông tin sai sự thật, và một số thành phần cơ hội lợi dụng để xuyên
tạc không đúng sự thật về Đảng và nhà nước.
Tuy có sự đặc thù về thể chế chính trị, giúp chúng ta hạn chế bớt được những
tác động tiêu cực của nền kinh tế tư bản, nhưng chính bản sắc truyền thống của văn
hóa Việt Nam cũng đang bị những biến thái do toàn cầu hóa từ văn hóa phương
Tây đưa tới những ảnh hưởng rất xấu. Vốn theo truyển thống văn hóa, tâm linh lâu
đời của người Việt thì hạnh phúc được đặt nền tảng trên những giá trị tinh thần
nhiều hơn là trên những giá trị vật chất. Vậy mà những giá trị tinh thần ấy, như đạo
lý, nhân nghĩa, đạo làm người theo quan niệm truyền thống Á Đông, thì đang bị
xói mòn trầm trọng bởi thời buổi “kinh tế thị trường”, nhất là qua lối sống của lớp
dân thành thị mới giàu lên nhờ “mở cửa”, “kinh tế thị trường” và một số khá lớn
thanh niên nam nữ. Vào lúc đã thóat khỏi gánh nặng học hành, thi cử, các bạn trẻ
lại chỉ biết đổ xô vào những chỗ làm có thu nhập cao, tức tìm kiếm thành đạt. Làm
ra tiền thì tiếp tục “năng động” trong tiêu xài, hưởng thụ vật chất. Có thể là đã phải
“cày” miệt mài kiếm tiền, giàu lên, thì các bạn xứng đáng xài bộ quần áo hàng
hiệu, cái điện thoại di động tối tân nhất hay cái xe gắn máy “mốt” nhất – tất cả là
12


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
dành cho sinh hoạt về mặt vật chất, nhưng các bạn trẻ lại đang bị nghèo đi rất
nhiều về mặt tinh thần, cảm xúc. Báo chí trong nước thường đưa tin về tình trạng
vô cảm, dửng dưng của các bạn trẻ trước những tình cảnh khốn khó, cần giúp đỡ
giữa đường của người già, em bé, phụ nữ mang thai. Cả phép lịch sự tối thiểu như
tiếng “cám ơn” cũng thiếu sót đối với người lớn tuổi hay khách nước ngoài.
Yêu cuồng, sống vội, sống thử…, cũng là sự nhanh, gọn thảm hại của nhiều bạn trẻ
trong lãnh vực tình yêu. Lao vào yêu nhau mà không cần nghĩ đến trách nhiệm và
tương lai. Có thống kê rằng: .“Mỗi năm Việt Nam có khoảng 1,4 triệu ca nạo phá
thai, trong đó 500 ngàn ca ở tuổi vị thành niên, 25% số ca chưa lập gia-đình và
20% ca nạo phá thai khi còn ở tuổi vị thành niên.”. Sl (2016)
2.3.3 Giải pháp
Khi giới trẻ thời nay lớn lên, đa số đều tiếp cận không chỉ với văn hóa lối sống
phương tây, mà còn ảnh hưởng bởi văn hóa lối sống của người Hàn Quốc, Nhật
Bản, Trung Quốc, thay vì cấm đoán giới trẻ tiếp thu nền văn hóa mới chúng ta nên
hướng họ đến những cái hay cái đẹp của mỗi nền văn hóa cái gì cần phải học, cần
phải loại bỏ, tiếp thu một cách có chọn lọc.
Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử dân tộc Việt Nam qua đó giúp các bạn có
một sân chơi lành mạnh, góp phần phát huy giá trị của dân tộc.
3 :Kết luận

Nhìn chung, trong quá trình toàn cầu hóa, văn hóa, tư duy, cung cách làm
ăn… của phương Tây cũng đem lại những lợi ích nhất định cho Việt Nam ta,
như về các mặt kinh tế, thu nhập quốc dân, mức sống, tiện nghi vật chất.v.v..,
nhưng đồng một trật lại gây những tổn hại đáng báo động về mặt tinh thần,
đạo lý và các giá trị truyển thống. Văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam đang
thật sự bị xâm hại, đến nỗi rất bức bối nên người ta đang hô hào thực hiện
nếp sống văn minh, cách sống “có văn hóa”. Trước nguy cơ có thật này, cần
có ngay những giải pháp thích hợp để chỉnh đốn lại những nền nếp truyển
thống, đồng thời tìm cách phát huy cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của bản sắc
Việt Nam trên đường hội nhập vào kho tàng văn hóa toàn cầu.
13


TIỂU LUẬN : XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×