Tải bản đầy đủ

skkn một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non sông âm năm học 2017 2018

I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Có thể nói sức khỏe vốn quý nhất của con người nói riêng và của toàn
nhân loại nói chung. Dinh dưỡng và sức khỏe có mối quan hệ chặt chẽ với tình
trạng thể lực và sự phát triển trí tuệ của con người. Sức khỏe có sự ảnh hưởng
nhất định đến kết quả các hoạt động như: kết quả học tập, năng suất lao động,
hiệu quả công việc của con người.
Mục tiêu cụ thể của Quyết định số: 239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ đã nêu rõ: “Nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục đối với các lớp mầm
non năm tuổi, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, phấn đấu đến năm 2015 có 100%
trẻ em tại các cơ sở giáo dục Mầm non được học Chương trình giáo dục Mầm
non mới, chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp 1”.[1]
Đúng vậy mục tiêu giáo dục mầm non trong chiến lược phát triển giáo
dục nhấn mạnh đến chất lượng giáo dục toàn diện, trong đó phát triển thể chất
được đặt ra trong mối quan hệ tổng thể với các mặt phát triển khác: Nâng cao
chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ dưới 6 tuổi để phát triển một cách toàn diện về
thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ. Cơ thể trẻ em đang phát triển rất nhanh về
thể chất và tinh thần, đặc biệt trong thời kì bào thai và 5 năm đầu của cuộc đời,
do vậy nhu cầu dinh dưỡng của trẻ rất cao. Ở giai đoạn này cơ thể trẻ còn non
yếu và chức năng các bộ phận cơ thể, nhất là chức năng tiêu hóa, là giai đoạn
thích ứng với môi trường, nhạy cảm với bệnh tật và cũng là giai đoạn tiền đề cho

sức khỏe và trí tuệ sau này, tác động trực tiếp vào sự phát triển toàn diện của trẻ.
Việc cung cấp không đầy đủ không đúng khẩu phần dinh dưỡng sẽ làm cho trẻ
dễ mắc bệnh về dinh dưỡng.
Quan tâm chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ chính là vun đắp, xây dựng những
con người mới, những chủ nhân tương lai của đất nước có đủ trí thức và sức
khỏe để đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước trong mọi thời đại đặc biệt là
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngày nay cần có những con người phát
triển toàn diện để đáp ứng mọi nhu cầu về thị hiếu của xã hội, đòi hỏi đứa trẻ
phải có sức khỏe tốt. Vì vậy vấn đề chăm lo cho con em của chúng ta có một
tương lai tươi sáng là nhiệm vụ hàng đầu của gia đình, của nhà trường và cô
giáo.
Trong những năm gần đây hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng bảo vệ sức
khỏe cho trẻ ở Trường Mầm non không ngừng phát triển. Do sức khỏe vô cùng
quan trọng đối với con người. Nếu không có sức khỏe thì con người chậm phát
triển và sinh ra nhiều bệnh tật, đặc biệt là trẻ em ở lứa tuổi mầm non do những
đòi hỏi phát triển nhanh của cơ thể, về ăn uống cần phải thỏa mãn nhu cầu cao.
Tuy nhiên không phải mọi đứa trẻ sinh ra đều khỏe mạnh, bên cạnh những “bé
khỏe” vẫn còn những bé chưa khỏe, đó là trẻ suy dinh dưỡng. Do những vấn đề
ăn uống và cách chăm sóc của người lớn làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ
cơ thể trẻ trong ăn uống không điều độ, không đủ chất, không khoa học những
vấn đề đó làm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cơ thể trẻ.
Nhìn nhận được tầm quan trọng đó bản thân tôi là một cán bộ quản lý phụ
trách nuôi dưỡng tôi luôn suy nghĩ, trăn trở làm thế nào để cải thiện được chất
lượng bữa ăn và cách phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ ở Trường Mầm non. Vì
1


vậy tôi đã mạnh dạn đưa đề tài: “Một số biện pháp chỉ đạo phòng chống suy
dinh dưỡng cho trẻ ở Trường Mầm non Sông Âm năm học 2017-2018” làm
đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu.
Đánh giá tình hình sức khỏe tại Trường Mầm non Sông Âm. Tìm hiểu
tình hình hình chăm sóc sức khỏe cho trẻ ở trường mầm non và gia đình. Trên cơ
sở đó đưa ra biện pháp giúp giáo viên Mầm non trong việc chăm sóc và tổ chức
bữa ăn cho trẻ để đưa ra biện pháp nhằm giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở Trường
Mầm non Sông Âm.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Một số biện pháp chỉ đạo phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở Trường
Mầm non Sông Âm trong năm học 2017-2018.
4. Phương pháp nghiên cứu.


Trong đề tài tôi đã sử dụng một số nội dung và nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý thuyết: đọc thu thập tổng hợp
và khái quát hóa các tài liệu liên quan đến lý luận và thực tiễn của các vấn đề
nghiên cứu làm cơ sở cho đề tài.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: điều tra khảo
sát thực tế về tình hình chăm sóc giáo dục sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ ở
trường.
Điều tra khảo sát thu thập số liệu hiện trạng chăm sóc giáo dục dinh
dưỡng cho trẻ mầm non qua giáo viên, cô cấp dưỡng và phụ huynh thông qua
phiếu điều tra quan sát phỏng vấn trò chuyện trực tiếp.
Phương pháp thống kê, thực nghiệm, xử lý số liệu.
Lựa chọn các biện pháp phù hợp và áp dụng vào thực tế. Đánh giá kết
quả đạt được và so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng biện pháp.

2


II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
Điều 23 Bộ Luật Giáo Dục ghi:“Nội dung giáo dục Mầm non phải đảm
bảo hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với sự phát triển tâm
sinh lý của trẻ, giúp trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn”.[2]
Ở độ tuổi này việc ăn uống của trẻ là rất quan trọng nên việc đảm bảo các
nhu cầu về các chất dinh dưỡng là rất cần thiết đối với cơ thể trẻ. Xong mặc dù
hiện nay có gia đình có điều kiện kinh tế, các bữa ăn của trẻ đều tương đối đầy
đủ nhưng cách chăm sóc nuôi dưỡng không đúng cách, không khoa học kéo dài
cũng dẫn đến sự suy dinh dưỡng.Vậy suy dinh dưỡng ở trẻ là gì? Suy dinh
dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết. Suy dinh
dưỡng có thể xảy ra ở trẻ em từ khi còn trong bào thai cho đến người đã trưởng
thành. Trong đó, tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường của trẻ. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có nhiều nguyên nhân chủ quan
xuất phát từ cha, mẹ của trẻ trong cách chăm sóc cũng như trong chế độ bổ sung
dinh dưỡng hàng ngày cho trẻ ngay khi còn trong bụng mẹ và những năm tháng
đầu đời.
Đúng vậy các Trường Mầm non vấn đề chăm sóc sức khỏe cho trẻ có ý
nghĩa hết sức quan trọng, hầu hết các cháu đều ăn bán trú tại trường, thời gian
các cháu ở trường còn nhiều hơn ở nhà vì vậy việc chăm sóc như thế nào để đảm
bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm là nhiệm vụ vô cùng quan trọng
nó quyết định đến sự phát triển sau này của trẻ. “Nhu cầu khuyến nghị năng
lượng của trẻ trong một ngày là: 1230-1320 kcal, nhu cầu khuyến nghị năng
lượng tại trường của trẻ một ngày chiếm 50 đến 55% nhu cầu cả ngày từ 615
đến 726 kcal”.[3]
Hiện nay ở nước ta tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và suy dinh dưỡng
thể thấp còi theo độ tuổi rất cao, mà theo như tổ chức y tế thế giới đánh giá Việt
Nam là quốc gia có số lượng trẻ em suy dinh dưỡng ở thể thấp còi cao nhất thế
giới, đây là một con số đáng báo động. Vì vậy dinh dưỡng có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với sự phát triển của trẻ. Ngày 22 tháng 2 năm 2012 Thủ tướng
chính phủ phê duyệt chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020
và tầm nhìn đến năm 2030 mà mục tiêu cụ thể là tiếp tục cải thiện về số lượng
nâng cao chất lượng bữa ăn của người dân và cải thiện tình trạng dinh dưỡng
của bà mẹ và trẻ em. Cụ thể giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ 5 tuổi
xuống còn 15% vào năm 2015 và giảm xuống 12,5% vào năm 2020. Tầm nhìn
đến năm 2030 phấn đấu giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em xuống dưới mức có
nghĩa cộng đồng (suy dinh dưỡng thể nhẹ cân xuống 10%).[4]
Suy dinh dưỡng không những là ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn ảnh
hưởng đến sự phát triển trí thông minh của trẻ. Để trẻ em có sức khỏe tốt, trí tuệ
phát triển bình thường thì người lớn cần phải có sự phương pháp chăm sóc trẻ
một cách đặc biệt đáp ứng nhu cầu đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ. Góp
phần quyết định cho sự phát triển tầm vóc, thể lực, trí tuệ của trẻ em sau này.
Cách ăn uống, cách nuôi dưỡng trẻ để phòng chống suy dinh dưỡng ở độ
tuổi này rất quan trọng đó là giai đoạn cần được chăm sóc tốt cũng là thời điểm
3


trẻ được học cách ăn uống, được làm quen với nề nếp ăn uống khoa học hợp lí
những đề xuất trong cách chăm sóc nuôi dưỡng và cách dạy trẻ ăn điều độ có thể
ảnh hưởng nhất định đến sự trưởng thành sau này của trẻ.
2. Thực trạng công tác phòng chống suy dinh dưỡng ở Trường Mầm non
Sông Âm trước khi áp dụng sáng kiến.
Trường Mầm non Sông Âm, thuộc xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh
Thanh Hóa. Nhà trường có bề dày về thành tích chăm sóc giáo dục trẻ. Ban giám
hiệu và đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có trách nhiệm
cao trong công việc chăm sóc, giáo dục trẻ, đã tạo được uy tín và niềm tin đối
với các cấp lãnh đạo địa phương, các bậc cha mẹ và cộng đồng. Chất lượng
chăm sóc giáo dục trẻ được tăng lên rõ rệt, hầu hết trẻ đến trường đã có được nề
nếp thói quen trong giờ ăn, giờ ngủ, giờ học, giờ chơi, chất lượng chăm sóc,
giáo dục trẻ được nhà trường quan tâm. Các món ăn luôn được đáp ứng nhu cầu
dinh dưỡng cho trẻ tại trường. Nhà trường nhiều năm liền luôn đạt trường tiên
tiến cấp huyện, đặc biệt năm 2014 Trường được công nhận trường đạt chuẩn
Quốc gia mức độ 1 và công nhận Cơ quan văn hóa, được liên đoàn lao động tỉnh
Thanh Hóa tặng bằng khen. Năm học 2016- 2017 Trường được Ủy ban nhân dân
tỉnh Thanh Hóa tặng Cờ thi đua.
Năm học 2017 - 2018 tổng số trẻ đến trường là 290 cháu, 11 nhóm lớp.
Trong đó:
Nhà trẻ: 35 cháu / 2 nhóm.
Mẫu giáo: 255 cháu / 9 lớp.
Tổng số trẻ bán trú: 290/290
tỷ lệ: 100%.
2.1. Thuận lợi:
Ban giám hiệu nhà trường đã làm tốt công tác tham mưu với cấp ủy Đảng
và các ban ngành đoàn thể địa phương, sự phối kết hợp của các bậc phụ huynh,
quan tâm đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất. Cho đến nay nhà trường đã được xây
dựng bếp ăn một chiều, các trang thiết bị phục vụ cho công tác bán trú tương đối
đầy đủ, đảm bảo đầy đủ điều kiện cho công tác tổ chức bán trú của nhà trường.
Bên cạnh đó Trường Mầm non Sông Âm có đội ngũ giáo viên tương đối
đồng đều về chuyên môn nghiệp vụ, trong đó số giáo viên có trình độ chuẩn là
47,6% và trình độ trên chuẩn là 52,4%, đội ngũ giáo viên có lòng yêu nghề mến
trẻ, tâm huyết với nghề, đoàn kết và đồng lòng, đồng sức thực hiện tốt nhiệm vụ
năm học. Nhiều đồng chí có năng lực sư phạm xếp loại tốt, đạt giáo viên dạy
giỏi cấp Huyện, cấp Tỉnh, có uy tín với phụ huynh và nhân dân. Nhà trường
nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Ủy ban nhân dân huyện tặng
giấy khen và Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Cờ thi đua.
Nhà trường đã tổ chức bán trú cho 100% trẻ đến trường. Các nhóm lớp
đều chia theo độ tuổi nên thuận tiện việc giảng dạy và chăm sóc.
Thực hiện việc xây dựng thực đơn theo đúng tiêu chuẩn, đúng định lượng
theo từng độ tuổi được quy định trong thông tư 28/TT-BGD ĐT.
2.2. Khó khăn:
Qua khảo sát đầu năm học, số trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi còn chiếm tỉ lệ
cao.
Số trẻ trong lớp đông, dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức nâng cao chất
lượng bữa ăn, giảm trẻ suy dinh dưỡng là một khó khăn đối với nhà trường cũng
4


như giáo viên đứng lớp bởi vì số trẻ trong lớp rất đông và có trẻ khuyết tật học
hòa nhập.
Một số phụ huynh có trẻ suy dinh dưỡng còn chưa thấy được tầm quan
trọng của việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, thiếu kiến thức hiểu biết về dinh dưỡng
của con em mình, việc phối hợp giữa chăm sóc, nuôi dưỡng giữa gia đình và nhà
trường còn hạn chế.
Do phụ huynh đa số làm nông nghiệp nay chuyển sang làm công ty như
công ty may, công ty nhà máy sắn…nhưng điều kiện kinh tế vẫn còn khó khăn
nên ít có thời gian quan tâm chăm sóc trẻ hoặc chăm sóc trẻ chưa đúng cách.
Với những khó khăn trên đã đặt ra cho tôi một câu hỏi làm cách nào để có
biện pháp hữu hiệu nhất để giúp những trẻ kém ăn trẻ suy dinh dưỡng có sức
khỏe tốt, tăng cân để trẻ có thể hòa nhập cùng với bạn bè và giúp trẻ tích cực,
hứng thú tham gia vào các hoạt động học tập, hoạt động vui chơi để giúp tôi có
thêm kinh nghiệm trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ nói trung và việc chăm
sóc trẻ duy dinh dưỡng nói riêng.
2.3. Kết quả thực trạng.
Qua khảo sát sức khỏe của trẻ mẫu giáo đầu tháng 9 năm học 2017 - 2018
tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thực tế ở Trường Mầm non Sông Âm được tổng hợp cụ
thể như sau:
Kết quả đầu năm học
Tổng
Tổng số số trẻ SDD thể nhẹ
SDD thể thấp
STT
Độ tuổi
trẻ đến được
cân
còi
trường cân
số
Tỉ lệ % số trẻ Tỉ lệ %
đo
trẻ
1
NT 25-36 tháng
35
35
1
3
1
3
2
MG 3-4 tuổi
89
89
8
9
8
9
3
MG 4-5 tuổi
68
68
7
10
9
13
4
MG 5-6 tuổi
98
98
10
10
14
14
Tổng số
290
290
26
9
32
11
Những thực trạng trên tôi cảm thấy rất băn khoăn, lo lắng về tình hình sức
khỏe của trẻ mẫu giáo ở trường tôi, qua bảng khảo sát tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng
rất cao. Vì thế tôi đã tìm tòi nghiên cứu tài liệu, sách báo, học tập đồng nghiệp,
các trường bạn các phương tiện truyền thông và đã đưa ra một số biện pháp nâng
cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.
3. Một số biện pháp chỉ đạo phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở Trường
Mầm non Sông Âm năm học 2017-2018.
Năm học 2017-2018 tôi được phân công phụ trách công tác chăm sóc nuôi
dưỡng của nhà trường. Hàng ngày lên thực đơn, tính khẩu phần ăn cho trẻ và
cũng là một người mẹ tôi thấy việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không phải là đơn
giản, một sớm một chiều mà làm được mà cần phải trải qua một quá trình,
không phải chúng ta cứ cho trẻ ăn uống, chơi tập là trẻ phát triển bình thường,
mà chúng ta phải thiết lập được kế hoạch khoa học cho những trẻ kém ăn, suy
dinh dưỡng, để đảm bảo trẻ phải được chăm sóc một cách đặc biệt và vai trò của
người giáo viên là phải năm bắt được đặc điểm, tâm sinh lí của trẻ em qua thực
5


trạng ở trường tôi một cách cụ thể như sau:
3.1. Khảo sát tình trạng sức khỏe của trẻ, tìm hiểu nguyên nhân, xây
dựng kế hoạch.
Việc nắm bắt tình hình sức khỏe của trẻ ngay đầu năm học, tìm hiểu
nguyên nhân số trẻ kém ăn, trẻ suy dinh dưỡng trong các nhóm, lớp và lên kế
hoạch phòng chống duy dinh dưỡng ở trường mầm non là rất cần thiết và quan
trọng là một việc làm không thể thiếu đối với một giáo viên Mầm non đặc biệt là
một người cán bộ quản lý phụ trách công tác chăm sóc nuôi dưỡng.
Nhận định được việc nắm bắt tình hình sức khỏe của trẻ, ngay từ đầu năm
học (đầu tháng 9). Tôi đã tham mưu cho Ban giám hiệu nhà trường tổ chức cho
giáo viên các lớp cân, đo, chấm biểu đồ theo dõi sức khỏe cho trẻ.
Sau khi tổng hợp kết quả từ các lớp, tôi thực sự lo ngại về tình hình sức
khỏe của trẻ. Tổng số trẻ được khảo sát cân, đo 290 trẻ thì có đến 26 trẻ ở thể
suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cân, 31 cháu ở thể suy dinh dưỡng thể thấp còi. Tôi đã
tham mưu với Hiệu trưởng để tổ chức gặp gỡ với những gia đình có trẻ suy dinh
dưỡng để cùng trao đổi, tìm hiểu nguyên nhân trực tiếp dẫn đến trẻ suy dinh
dưỡng. Qua buổi gặp gỡ, tôi đã tổng hợp được một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Nguyên nhân thứ nhất: do cách chăm sóc, nuôi dưỡng của phụ huynh
chưa hợp lý, chưa khoa học, phối kết hợp với nhà trường để chăm sóc trẻ còn
hạn chế dẫn đến tình trạng trẻ bị thiếu các chất dinh dưỡng, gây ảnh hưởng đến
sự phát triển của cơ thể trẻ, dẫn đến trẻ bị duy dinh dưỡng.
Ví dụ: Cháu Bùi Quỳnh Anh, cháu Hà Nhật Linh là cháu suy dinh dưỡng.
Hai cháu Quỳnh Anh và Nhật Linh đều sống trong gia đình có điều kiện kinh tế
còn khó khăn bố mẹ các cháu phải đi làm ăn xa, phải gửi con cho ông, bà nên
không có đủ điều kiện chăm sóc trẻ. Vì thế trẻ không được ăn uống đầy đủ các
nhóm chất dinh dưỡng nên dẫn đến trẻ bị suy dinh dưỡng. Còn cháu Kiều Linh
cháu Hoàng tuy gia đình có kinh tế khá giả hơn nhưng do bố mẹ cháu đi làm
công ty vì công việc phải đi sớm, về muộn nên không có thời gian chăm sóc trẻ,
nên cháu đòi cái gì bố mẹ cũng chiều và chiều theo.
Nguyên nhân thứ 2: là do sức đề kháng của trẻ kém, trẻ thường bị mắc
bệnh như: nhiễm khuẩn đường ruột, viêm phế quản, sâu răng, các loại bệnh tật
ảnh hưởng đến cơ năng tiêu hóa của trẻ, rồi từ đó ảnh hưởng đến việc hấp thụ
thức ăn, hấp thu các chất dinh dưỡng gặp trở ngại. Khi trẻ mắc bệnh trẻ sẽ mệt
mỏi và không muốn ăn.
Ví dụ: Cháu Bùi Ngọc Bích cháu bị mắc bệnh đường ruột, bộ máy tiêu
hóa của cháu kém, cháu ăn hay nôn, ăn ít hay bị táo bón vì vậy cháu bị suy dinh
dưỡng.
Nguyên nhân thứ 3: là do trẻ thích nghi kém với thức ăn.
Ví dụ: Cháu Bùi Minh Hoàng ở nhà cháu không bao giờ ăn cá nên ở lớp
hôm nào ăn cá là cháu không muốn ăn.
Từ những nguyên nhân trên tôi đã tham mưu với Hiệu trưởng, lập kế
hoạch phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.
Triển khai kế hoạch đến giáo viên và người chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở
trường, kế hoạch cụ thể như sau:
Tuyên truyền phổ biến tầm quan trọng của việc giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng
6


thấp còi trẻ Mầm non cho các ban ngành, cộng đồng và xã hội.
Phối hợp, tuyên truyền với gia đình cho trẻ ăn đủ bữa, phù hợp theo tháng
tuổi, nên chia thành nhiều bữa ăn để cung cấp đủ năng lượng, chú ý bổ sung dầu
mỡ trong các bữa ăn như:
- Ưu tiên các thức ăn chứa nhiều chất đạm: thịt gà, thịt bò, cá, trứng...
- Thay đổi thức ăn thường xuyên để kích thích trẻ ăn ngon miệng.
- Ăn nhiều rau xanh và các loại quả chín để giúp trẻ phát triển chiều cao.
- Cho trẻ uống thêm các loại sữa tăng chiều cao, tăng cân.
- Gia đình nên có thực đơn phù hợp với nhà trường đảm bảo đủ chất, đủ
dinh dưỡng cho trẻ.
- Thường xuyên tắm rửa vệ sinh sạch sẽ cho trẻ.
- Phải giữ ấm về mùa đông, phòng ở thoáng mát về mùa hè, đảm bảo đủ
ánh sáng.
- Ăn uống phải hợp lí về thời gian không nên cho trẻ tự do ăn uống.
- Ngoài ra phụ huynh nên cho trẻ ăn thêm các loại quả chín theo nhu cầu
của trẻ. Tìm ra các nguyên nhân trẻ suy dinh dưỡng để có biện pháp cụ thể, phù
hợp với mỗi trẻ suy dinh dưỡng.
Tổ nuôi dưỡng nhà trường thống nhất cùng phụ huynh trẻ tăng khẩu phần
ăn cho trẻ suy dinh dưỡng, đảm bảo chế độ ăn cho những trẻ suy dinh dưỡng để
hạ số trẻ bị suy dinh dưỡng thấp nhất có thể.
Qua kết quả khảo sát thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và xây dựng kế
hoạch phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ, tôi đã thống kê được tổng số trẻ bị
suy dinh dưỡng thể cân nặng và suy dinh dưỡng thể thấp còi của nhà trường
ngay từ đầu năm học. Nắm rõ về đặc điểm tâm sinh lí và hoàn cảnh gia đình,
cũng như sở thích của từng trẻ. Từ đó tìm xây dựng kế hoạch sát với thực tế và
ra các biện pháp để phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.
3.2. Bồi dưỡng những kiến thức và kĩ năng chăm sóc nuôi dưỡng cho
cán bộ, giáo viên Mầm non.
Ở Trường Mầm non, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên đều mong muốn
cho trẻ khỏe mạnh, phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ. Muốn đạt được
như vậy thì mỗi giáo viên phải có kiến thức khoa học trong việc chăm sóc nuôi
dưỡng và giáo dục trẻ. Những kiến thức này luôn đồng hành với mỗi chúng ta
trong cuộc sống, nó không chỉ giúp cho nghề nghiệp của giáo viên Mầm non
mà còn giúp ích cho mỗi cá nhân cũng như gia đình chúng ta trong việc tổ chức
ăn uống đảm bảo vệ sinh, dinh dưỡng phù hợp với lứa tuổi. Vì vậy mọi việc bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức khoa học trong việc chế biến các món
ăn phù hợp khẩu vị, đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh an toàn cho trẻ là rất quan
trọng và cần thiết.
Để giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng và nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục
cho trẻ thì đội ngũ cán bộ, giáo viên phải nắm vững về các kiến thức chăm sóc
nuôi dưỡng, về cách phòng chống suy dinh dưỡng và chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Cho nên, việc đầu tiên là tôi bồi dưỡng kiến thức bằng lý thuyết cho đội ngũ
những nội dung sau:
Chăm sóc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ dưới 6 tuổi.
Chế độ dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng cho từng độ tuổi.
7


Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm trong Trường Mầm non.
Cách tính khẩu phần bằng phần mềm, lên thực đơn hàng tuần, cách chọn
thực phẩm, thực phẩm thay thế, cách chế biến các món ăn.
Cách theo dõi và chấm biểu đồ phát triển của trẻ theo các độ tuổi (Theo
mẫu mới).
10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lí giai đoạn 2006 - 2010( Tài liệu bồi
dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên Mầm non năm học 2009 – 2010).
Tổ chức cho đoàn viên thảo luận về quy chế nuôi dạy trẻ.
Thực hiện chế độ chăm sóc trẻ: chăm sóc bữa ăn, giấc ngủ, học tập, vui
chơi cho trẻ theo từng độ tuổi.
Thực hiện vệ sinh phòng bệnh trong các nhóm lớp ở trường mầm non:
như vệ sinh môi trường (Vệ sinh không khí, giữ sạch nguồn nước, xử lý chất
thải...)
Vệ sinh nhóm lớp: phòng học, đồ dùng, đồ chơi, nhà bếp...
Vệ sinh cá nhân: vệ sinh cá nhân giáo viên, cán bộ, nhân viên trong toàn
trường. Vệ sinh trẻ: thao tác rửa tay, lau mặt, đi tiểu tiện... Những nội dung trên
tôi tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau như giảng trực tiếp, cấp phát tài liệu,
tọa đàm, thảo luận...
Trong năm học 2017 - 2018, tôi đã tham mưu cho Hiệu trưởng tổ chức
các lớp bồi dưỡng cho giáo viên, kiểm tra kiến thức, kỹ năng thực hành, thường
xuyên tổ chức cho giáo viên giao lưu chuyên môn, dự giờ, thăm lớp, trao đổi
kinh nghiệm, tiếp cận với phương pháp dạy học theo chương trình giáo dục
mầm non mới, thông qua các lớp tập huấn chuyên đề giáo dục dinh dưỡng, vệ
sinh an toàn thực phẩm và phát động phong trào thi đua để giáo viên tham gia
như: ngày 20 - 10 thi tìm hiểu về kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng, ngày 8 - 3 hội
thi “Phụ nữ đa tài”, các cô giáo viên Mầm non đăng kí tham gia thể hiện: hiểu
biết kiến thức ngành, nấu ăn (làm bánh, nấu chè...)
Ngoài ra, theo kế hoạch của nhà trường, qua các buổi họp chuyên môn 2
buổi/ tháng. Ngoài thời gian trao đổi, thảo luận về chuyên môn, tôi luôn dành
thời gian để trao đổi kinh nghiệm về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Bồi dưỡng kiến
thức thực hành dinh dưỡng để thực hiện tốt công tác phòng chống suy dinh
dưỡng cho trẻ, khuyến khích giáo viên vận động cho 100% trẻ lớp mình ở bán
trú tại trường.
Tham mưu với Hiệu trưởng tạo điều kiện cho giáo viên học tập bồi dưỡng
chuyên đề chuyên môn nghiệp vụ do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ngọc
Lặc triển khai về nội dung chăm sóc trẻ tại Trường Mầm non. Chuyên đề giáo
dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm đặc biệt bồi dưỡng kiến thức chăm
sóc nuôi dưỡng cho nhân viên nhà bếp như: cách chọn, mua thực phẩm, cách
chế biến các món ăn cho trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Hàng tháng xây dựng kế hoạch cụ thể, bồi dưỡng cách chế biến các món
ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cách lựa chọn thực phẩm tươi sống, mua
đúng hợp đồng, đảm bảo chất lượng, giá cả phù hợp với thực tế ở tại địa
phương.
Triển khai kiến thức nhận biết một số bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi
đến giáo viên và người làm công tác bán trú cho trẻ ở trường. Qua triển khai để
8


giúp cho giáo viên và người làm công tác bán trú ở trường nhận rõ được một số
bệnh và nguyên nhân gây nên những bệnh đó.
Ví dụ: Bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ thường gây nên do nhiều nguyên nhân
khác nhau như: thiếu chất protein và năng lượng, bị tiêu chảy cấp tính hoặc kéo
dài vì thức ăn không thích hợp nên không hấp thụ được, bị nhiễm vi khuẩn, vi
rút có liên quan đến điều kiện vệ sinh môi trường, khả năng kinh tế, chỗ ở, tập
quán sinh hoạt...
Ngoài ra, những thói quen và tật xấu của người lớn cũng rất có hại làm
ảnh hưởng đến trẻ như ăn uống không điều độ, hút thuốc lá ở những nơi có
nhiều trẻ em, đánh mắng trẻ thô bạo... Những thói quen, tật xấu này có tác động
đến sức khỏe, thể lực và tâm thần của trẻ trước mắt và có thể để lại hậu quả lâu
dài suốt cuộc đời của trẻ. Một vấn đề phải hết sức thận trọng khi sử dụng thuốc
kháng sinh cho trẻ vì một số loại kháng sinh như thuốc tetracycline có thể tiêu
hủy mầm răng của trẻ, làm răng không mọc được vĩnh viễn hoặc gây vàng răng,
sún răng; thuốc streptomycine có thể làm trẻ bị điếc suốt đời, thuốc prednisolone
dùng nhiều dễ làm trẻ loãng xương, béo phì và nguy hiểm nhất là che dấu các
triệu chứng nhiễm khuẩn trong cơ thể, ức chế khả năng miễn dịch của trẻ. Lưu ý
các loại kháng sinh khác đều có khả năng gây độc hại, dị ứng, thậm chí gây sốc
phản vệ hoặc làm cho vi khuẩn kháng thuốc. Vì vậy nên cho trẻ dùng thuốc
kháng sinh hết sức hạn chế, không được tùy tiện, chỉ khi nào bác sĩ cho đơn
thuốc mới được sử dụng kháng sinh.
Hướng dẫn cho giáo viên hình thành nếp sống thói quen vệ sinh trước và
vệ sinh trong giờ ăn, giờ ngủ, giờ học, giờ chơi của trẻ. Tổ chức xây dựng lớp
điển hình thành nề nếp thói quen cho trẻ trong giờ ăn, ngủ, vệ sinh trước và sau
khi ăn, giờ học, giờ chơi rửa tay bằng xà phòng cho trẻ. Các lớp học tập và nhân
rộng ra diện đại trà, ban giám hiệu thường xuyên sát sao, kiểm tra và xếp loại thi
đua hàng tháng và cuối kì, cuối năm.
Qua việc bồi dưỡng những kiến thức và kĩ năng chăm sóc nuôi dưỡng cho
cán bộ, giáo viên trong nhà trường. Tôi thấy rằng, giáo viên đã nắm được
những nội dung cần thiết trong công tác chăm sóc sức khỏe, vệ sinh môi trường,
vệ sinh dinh dưỡng trong Trường Mầm non và cộng đồng, góp phần giảm tỉ lệ
trẻ suy dinh dưỡng trong năm học.
3.3. Tổ chức các bữa ăn cho trẻ một cách hợp lý khoa học đảm bảo đủ
về chất lượng cũng như về số lượng.
Tổ chức bữa ăn một cách hợp lí và khoa học là vấn đề rất quan trọng,
trong bữa ǎn phải có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp nǎng lượng), cần
có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu
phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và
các chất dinh dưỡng bổ sung, luân phiên thay đổi món ăn giúp trẻ ngon miệng.
Như chúng ta đã biết nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày của trẻ hết sức quan
trọng nhưng trái lại trẻ không thể ăn một lượng thức ăn lớn. Do vậy trong bữa ăn
của trẻ tôi luôn phải tổ chức và tính toán làm sao để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu
sau đây:
* Đảm bảo đủ lượng calo :
9


Năng lượng được cung cấp chủ yếu từ bột đường (G) và chất béo (L). G
có nhiều ở trong các loại ngũ cốc và đường. L có nhiều trong dầu mỡ và các loại
hạt có tinh dầu. Khi xây dựng thực đơn ta nên chú ý kết hợp giữa hai loại thực
phẩm nhiều calo và thực phẩm ít calo với nhau để đảm bảo lượng calo cần thiết
cho trẻ một ngày.
Ví dụ: Bữa chính sáng: món mặn: Cá viên sốt thịt. Canh thập cẩm (khoai
tây, su hào, cà rốt…Bữa chiều: Xôi vừng dừa.
Món cá viên sốt thịt(vì là cá đồng nên lượng calo thấp) nên ta kết hợp với
món canh thập cẩm vì rau có tỷ lệ calo cao.
* Cân đối tỷ lệ giữa các chất: P – L – G
Trong bữa ăn của trẻ hàng ngày ta cần phải đảm bảo đầy đủ các loại thực
phẩm. Qua đó ta cần phải tính toán làm sao để cân đối giữa các chất: P – L -G
theo tỉ lệ thích hợp của trẻ là : 14 -16 ; 18 – 20 , 64 – 68. Muốn cân đối được tỉ
lệ các chất ta cần phải chú ý đến những đặc điểm sau đây :
+ Đạm có nguồn gốc từ động vật rất nhiều nhưng giá thành lại đắt, ngược
lại đạm có nguồn gốc từ thực vật lại rất rẻ. Tiền ăn của các cháu đóng hàng ngày
thì hạn chế, vì vậy phải biết kết hợp giữa đạm cung cấp từ thịt, cá, trứng với đạm
cung cấp từ đậu, lạc, vừng. Qua đó kết hợp với các loại canh rau có độ đạm
tương đối cao như rau ngót, rau muống, giá đỗ .
Muốn đảm bảo được lượng Lipid trong mỗi bữa ăn của trẻ có thể chế biến
thành các món rán, xào. Để đảm bảo được lượng Glucid cho trẻ và cân đối giữa
hai bữa chính và bữa phụ trong ngày, bữa chính sáng trẻ ăn cơm, bữa phụ chiều
có thể chế biến một số món ăn từ gạo nếp, mỳ, chè các loại.
*Thực đơn đa dạng phong phú, dùng nhiều loại thực phẩm:
Tất cả các chất dinh dưỡng đều hết sức cần thiết cho cơ thể trẻ ở lứa
tuổi Mầm non vì thế trong mỗi bữa ăn hàng ngày của trẻ ta phải kết hợp nhiều
loại thực phẩm. Mỗi loại thực phẩm lại cung cấp một số chất nhất định, cách tốt
nhất để trẻ ăn đủ chất là phải đan xen thêm nhiều loại thực phẩm trong bữa ăn,
có như vậy thực đơn mới phong phú đa dạng.
Ví dụ: Thực phẩm từ đậu phụ có thể chế biến thành đậu rán sốt cà chua,
đậu nhồi thịt, trứng hấp thịt đậu phụ …
Thực phầm từ cua đồng ngoài nấu canh riêu cua có thể kết hợp rau mùng
tơi, rau đay, mướp, rau dền, rau rút, rau muống, khoai sọ … chất nọ bổ sung cho
chất kia làm cho giá trị dinh dưỡng của ba chất tăng lên rất nhiều.
Để tăng thêm phần hấp dẫn của món ăn trên cùng một loại thực phẩm ta
có thể kết hợp hợp với một số gia giảm khác tạo ra nhiều món ăn khác nhau, nên
tránh các loại gia dảm cay, nóng.
* Thực đơn theo mùa :
Ở lứa tuổi Mầm non đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng và năng lượng cũng vô
cùng quan trọng, vì thế khi chế biến các món ăn cũng phải đặc biệt quan tâm về
khẩu vị và trạng thái của thức ăn.
Khi xây dựng thực đơn phải chú ý đến các món ăn của trẻ nhất là khâu
chế biến như băm nhỏ, thái nhỏ, nấu phải nhừ, mềm kể cả rau. Các món ăn mặn
ta có thể chế biến thêm nước sốt kèm theo để trẻ dễ ăn hơn.
10


Ăn uống còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu theo từng mùa. Như mùa hè
nóng bức nhu cầu về các món có nhều nước tăng lên và những món canh chua,
canh cua … trẻ rất thích ăn. Còn về mùa đông thời tiết lạnh ta có thể sử dụng các
món sào, rán thuộc các món ăn hầm nhừ ăn nhiều hơn.
Còn về thực phẩm các loại rau quả ta nên dùng mùa nào thức đó không
cần thiết phải sử dụng thực phẩm trái mùa.
* Tổ chức bữa ăn đảm bảo hợp vệ sinh, động viên trẻ ăn hết xuất.
Việc tổ chức bữa ăn đảm bảo hợp vệ sinh, động viên trẻ ăn hết xuất là việc
làm quan trọng và cần thiết, nhận thực được điều này nên tôi đã hướng dẫn cho
giáo viên và thường xuyên theo dõi việc giáo viên tổ chức bữa ăn cho trẻ ở các
lớp như: trước khi ăn cho trẻ rửa mặt, tay sạch sẽ, chuẩn bị bàn ghế đủ cho trẻ
ngồi ăn, khăn trải bàn, khăn lau tay đĩa đựng thức ăn khi bị rơi vãi, chén thìa đầy
đủ cho mỗi trẻ. Cô giáo phải rửa tay sạch, đầu tóc, quần áo gọn gàng sạch sẽ khi
chia thức ăn cho trẻ và giáo viên luôn có cử chỉ nhẹ nhàng, những lời nói gợi
mở, thái độ niềm nở, khuyến khích trẻ ăn ngon miệng và ăn hết xuất.
Trước khi cho trẻ ngồi vào bàn ăn, cần cho trẻ rửa tay bằng xà phòng và
sau đó rửa tay lại bằng nước sạch rồi lau khô tay. Tôi luôn nhắc nhở giáo viên,
nhân viên đeo khẩu trang trong khi chia thức ăn để phòng tránh các bệnh truyền
nhiễm.
Đồ dùng đồ ăn, uống như bát thìa cốc... giáo viên phải vệ sinh đồ dùng
sạch sẽ, khô ráo và trước khi trẻ ăn phải tráng bằng nước đun sôi. Thực phẩm
khi vận chuyển lên lớp phải được đậy cẩn thận để tránh ruồi, muỗi đậu vào. Nấu
xong phải cho trẻ ăn ngay. Trong khi ăn giáo viên luôn nhắc nhở trẻ có các hành
vi văn minh như: không nhổ, khạc… trong khi tổ chức cho trẻ ăn.
Phân chia thức ăn cho trẻ đảm bảo tính công bằng, giới thiệu món ăn và
dinh dưỡng trong các món ăn, động viên trẻ ăn hết xuất, ăn không để rơi vãi,
không kén ăn, giúp trẻ ăn chậm, ăn yếu. Thức ăn cho trẻ vừa ấm phải cho trẻ ăn
ngay không để trẻ chờ đợi, tuyệt đối không được quát mắng khi trẻ ăn. Sau khi
ăn cô nhắc trẻ cất chén thìa vào rổ, vệ sinh tay, mặt, uống nước, khen những trẻ
ăn hết xuất, gọn gàng.
Qua việc xây dựng thực đơn đảm bảo, cân đối thì chất lượng bữa ăn của
trẻ đã được đảm bảo. Việc cân đối nguồn thu được phụ huynh ủng hộ để nâng
cao chế độ ăn cho trẻ. Việc sử dụng phần mềm quản lý để tính khẩu phần ăn cho
trẻ ngày càng thấy hiệu quả, chế độ ăn được điều chỉnh phù hợp. Qua công tác
kiển tra thường xuyên trong bữa ăn, tôi thấy trẻ ăn ngon miệng hơn, ăn hết xuất,
không có hiện tượng bỏ bữa, chán ăn. Điều này đã khẳng định kết quả bước đầu
đem lại sau khi tôi áp dụng sáng kiến này trong nhà trường nơi tôi công tác.
3.4. Phối kết hợp với gia đình và cộng đồng để chăm sóc trẻ.
Như chúng ta đã biết việc chăm sóc và giáo dục trẻ em được chia sẻ trách
nhiệm giữa gia đình, các nhà giáo dục và cộng đồng. Trường Mầm non chia sẻ
trách nhiệm với gia đình và cộng đồng để thúc đẩy và tạo điều kiện tối ưu cho
việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. Chăm sóc giáo dục trẻ là một trong những
nhiệm vụ quan trọng không chỉ riêng của bậc học Mầm non. Dù có thực
hiện phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ theo hướng nào nếu như chỉ có nhà
11


trường và giáo viên nỗ lực cố gắng mà không có sự phối kết hợp với gia đình và
cộng đồng về cách chăm sóc giáo dục trẻ thì hiệu quả giáo dục sẽ không cao.
Vì thế, trong năm qua tôi tham mưu với Hiệu trưởng, sử dụng rất nhiều
hình thức phối hợp khác nhau với các bậc phụ huynh trong công tác phòng,
chống suy dinh dưỡng cho trẻ như: tổ chức cho phụ huynh nghe báo cáo về dinh
dưỡng: “Giá trị dinh dưỡng cho trẻ Mầm non”; “Nấu ăn duy trì dinh dưỡng”;
“Dinh dưỡng hợp lý và cân đối”; “Chăm sóc bà mẹ khi mang thai”; “Lựa chọn
thực phẩm an toàn”; “Dinh dưỡng cho trẻ dưới 6 tuổi”… thông qua các buổi họp
phụ huynh...
Tuyên truyền để phụ huynh tăng mức ăn của trẻ lên 14.000 đồng đối với
trẻ mẫu giáo và 13.000đ đối với trẻ nhà trẻ, nhằm đảm bảo năng lượng cho trẻ ở
trường.
Hiện nay nhiều dịch bệnh đang có nguy cơ lan nhanh nên công tác tuyên
truyền phòng chống cũng được nhà trường thực hiện tích cực ở các “kênh” của
trường như: truyền thông ở bảng tin và các nhóm lớp, phát các tài liệu về các
nguyên nhân và cách phòng chống dịch bệnh cho cha mẹ trẻ. Tham mưu với
Hiệu trưởng, chỉ đạo giáo viên thường xuyên trao đổi với cha mẹ trẻ về tình hình
sức khỏe của trẻ, các món ăn mà trẻ ưa thích, các thói quen... của trẻ tại trường
qua các giờ đón, trả trẻ.
Tổ chức cho phụ huynh tham quan bếp ăn, hướng dẫn cách chế biến thức
ăn, tham quan giờ ăn của trẻ cũng như tham quan họat động bé tập làm nội trợ.
Hàng tháng phụ huynh kết hợp với nhà trường kiểm tra nhà bếp 1-2 lần về thuchi trong ngày, cách chế biến, vệ sinh an toàn thực phẩm, cân đong ...
Ngoài ra, hiện nay trên thị trường đã xuất hiện loại đồ chơi độc hại ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của trẻ, đặc biệt là loại đồ chơi không có nguồn
gốc đăng ký chất lượng, nhà trường đã phối hợp với phụ huynh để phòng tránh
không cho trẻ chơi các loại đồ chơi nói trên, ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.
Song song với việc phối hợp với phụ huynh thì việc phối hợp với hội phụ
nữ, ban chăm sóc trẻ em xã để cùng truyên truyền đến các bậc cha mẹ nuôi con
theo khoa học, xoay quanh nội dung: “Những điều cần cho sự sống” cũng được
thực hiện thường xuyên và có hiệu quả. Phối hợp với các ban ngành và phụ
huynh để triển khai các công văn khẩn cấp của Trung ương, địa phương về dịch
bệnh theo mùa, tuyên truyền tháng vệ sinh an toàn thực phẩm...
Phối hợp với Trạm Y tế xã để khám sức khỏe định kỳ cho trẻ vào tháng 9
và tháng 3 hàng năm. Ngoài ra trạm y tế cũng cung cấp cho trường rất nhiều tài
liệu có liên quan để nhà trường có điều kiện tổ chức giáo dục, tuyên truyền có
hiệu quả.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua việc áp dụng một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng, thấp còi
ở Trường Mầm non Sông Âm trong năm học 2017 - 2018 đã mang lại hiệu quả
như sau:
* Đối với trẻ:
Tôi thấy rất vui mừng vì các cháu đã ăn ngon, ngủ ngon, và đặc biệt là các
cháu đã tăng cân. Kết quả khảo sát cụ thể như sau:
12


Kết quả cuối năm học
SDD thể SDD thể
T
Độ
nhẹ cân thấp còi
T
tuổi
Tỉ
số
Tỉ lệ
số
số Tỉ lệ
số trẻ Tỉ lệ %
lệ
trẻ
%
trẻ
trẻ %
%
1 25-36 tháng
35
1
3
1
3
0
0
0
0
2 3-4 tuổi
89
8
9
8
9
3
3
3
3
3 4-5 tuổi
68
7
10
9
13
2
3
2
3
4 5-6 tuổi
98
10
10
14
14
4
4
4
4
Tổng số
290
26
9
32
11
9
3
9
3
Nhìn vào bảng trên ta thấy: sau khi thực hiện biện pháp phòng chống suy
dinh dưỡng cho trẻ, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở trường so với đầu năm học đã
giảm đáng kể. Trẻ phát triển cân đối, hài hòa, hoạt bát, tích cực tham gia vào các
hoạt động của lớp và các hoạt động hàng ngày.
* Đối với giáo viên:
- 100% cán bộ, giáo viên đã được học tập chuyên đề về vệ sinh an toàn
thực phẩm do Trung tâm Y tế huyện tổ chức.
- 100% cán bộ, giáo viên, cấp dưỡng nắm vững thêm kiến thức về chăm
sóc nuôi dưỡng trẻ.
* Đối với phụ huynh:
Tin tưởng gửi con vào nhà trường, quan tâm đến chất lượng chăm sóc,
nuôi dưỡng và phối kết hợp chặt chẽ với nhà trường trong công tác chăm sóc,
giáo dục trẻ.
Phụ huynh có kiến thức về dinh dưỡng, cách phòng bệnh cho trẻ, nhận
rõ trách nhiệm và tham gia cùng với nhà trường thực hiện có hiệu quả hơn. Ủng
hộ nhà trường trong việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ.
Trên đây là kết quả mà tôi đã thu được trong năm học 2017-2018. Tuy
rằng kết quả chưa cao nhưng đó là sự cố gắng rất lớn, là nguồn động viên đáng
khích lệ trong công tác quản lý nuôi dưỡng, chăm sóc sức khoẻ trẻ trong Trường
Mầm non.
Tổng
số trẻ
được
cân
đo

Kết quả đầu năm học
SDD thể
SDD thể
nhẹ cân
thấp còi

13


III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Người quản lý phải ý thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình không
ngừng nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi đồng nghiệp về kiến thức chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ, học hỏi kinh nghiệm chăm sóc nuôi dưỡng qua các phương tiện
truyền hình, tài liệu, tạp chí, sách báo... để đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng
và giáo dục trẻ.
Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên để
giáo viên nắm vững kiến thức, kĩ năng chăm sóc nuôi dưỡng, nắm vững đặc
điểm tâm sinh lí của trẻ từ đó giáo viên sẽ chăm sóc trẻ tốt hơn. Đối với nhân
viên nuôi dưỡng luôn cập nhật hoá các phương pháp chế biến món ăn, vệ sinh an
toàn thực phẩm, chế biến thực phẩm đảm bảo hấp dẫn, ngon miệng, hợp khẩu vị,
trẻ ăn hết khẩu phần của mình, giúp trẻ tăng cân đều hàng tháng, luôn thay đổi
cách chế biến các món ăn theo mùa phù hợp với địa phương. Ngoài ra còn cần
phải thường xuyên bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên về mọi mặt như: phẩm chất
đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, hội thảo sáng kiến kinh nghiệm, học hỏi kinh
nghiệm của các trường điểm, cung cấp tài liệu, tạp chí, tập san về giáo dục Mầm
non cho giáo viên học tập nghiên cứu, đặc biệt là khâu nuôi dưỡng cách chọn
mua thực phẩm đúng hợp đồng tươi ngon, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Làm tốt công tác tuyên truyền đến nhân dân, các bậc phụ huynh học
sinh kiến thức nuôi con theo khoa học, làm cho mọi người nhận thức được về
vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại Trường Mầm non là rất cần thiết. Mặt khác
tạo niềm tin cho các cấp lãnh đạo địa phương, các bậc phụ huynh qua từng việc
làm cụ thể trong nhà trường.
Thống nhất với phụ huynh học sinh về yêu cầu, nội dung, biện pháp và
phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng hình thành cho trẻ những thói quen văn minh
trong ăn uống, giao tiếp ở trường cũng như ở gia đình và ngoài xã hội.
Ban giám hiệu có kế hoạch thường xuyên kiểm tra giám sát việc thực
hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng như chế biến các món ăn, tổ chức bữa ăn, tổ
chức giấc ngủ, hình thành nề nếp thói quen vệ sinh văn minh trong ăn uống, học
tập, vui chơi đối với trẻ.
Cân đo khám sức khoẻ cho trẻ theo định kỳ để báo cáo tình hình sức
khoẻ của trẻ cho nhà trường và gia đình để có biện pháp chăm sóc giáo dục kịp
thời.
Với những kinh nghiệm trên tôi đã thực hiện trong quá trình chỉ đạo
chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tại trường đạt được một số kết quả góp phấn
nhỏ bé vào sự nghiệp giáo dục trẻ ở Trường Mầm non.
2. Kiến nghị:
Sau khi nghiên cứu, qua thực tế và kết quả đạt được tôi xin đưa ra một số
kiến nghị sau:
Phòng giáo dục cần cung cấp thêm cho giáo viên những tài liệu về chăm
sóc sức khỏe dinh dưỡng và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Giúp giáo
viên có kiến thức và kinh nghiệm để phòng chống trẻ suy dinh dưỡng cho trẻ
qua các đợt tập huấn chuyên đề hè.
14


Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm“Một số biện pháp phòng chống suy
dinh dưỡng cho trẻ ở Trường Mầm non Sông Âm năm học 2017-2018”. Trong
quá trình thực hiện đề tài này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận được sự đóng góp, bổ sung ý kiến của Hội đồng các cấp, các ban
ngành, các đồng nghiệp để đề tài tôi được hoàn thiện hơn và tôi có kinh nghiệm
hơn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác chăm sóc nuôi dưỡng ở
trường Mầm non.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

……………………………………………….
……………………………………………….
……………………………………………….
……………………………………………….
……………………………………………….
……………………………………………….
……………………………………………….

Nguyệt Ấn, ngày tháng năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm của bản thân, không sao
chép nội dung của người khác.

Người viết sáng kiến

Ninh Thị Tuệ

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Quyết định số: 239/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2010 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phổ cập giáo dục trẻ em năm tuổi giai đoạn
2010 – 2015.
[2] Luật Giáo Dục số: 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005.
[3]. Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ
Trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo sửa đổi, bổ sung của chương trình giáo dục mầm
non ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009- TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm
2009 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo.
[4] Quyết định số 226/QĐ-TTg ngày 22/2/2012 quyết định phê duyệt
chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm
2030 của Thủ tướng Chính phủ. Nguồn lấy ở trang web:
hethongphapluatvietnam.net

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×