Tải bản đầy đủ

skkn một số biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường tại trường mầm non hoằng thái, huyện hoằng hóa


MỤC LỤC
NỘI DUNG
MỤC LỤC
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứuError: Reference source not found
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của Sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Thuận lợi
2.2.2. Khó khăn.
2.3. Các giải pháp thực hiện
Giải pháp 2.3.1: Xây dựng kế hoạch thực hiện
Giải pháp 2.3.2: Tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
trong các hoạt động hàng ngày của trẻ
Giải pháp 2.3.3:Tích Hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
vào các chủ đề
Giải pháp 2.3.4: Tận dụng các nguyên vật liệu phế thải làm đồ
dùng, đồ chơi

Giải pháp 2.3.5: Tăng cường vai trò của các tổ chức đoàn thể
trong nhà trường
Giải pháp 2.3.6: Làm tốt công tác tuyên truyền
1.4. Kết quả nghiên cứu
* Đối với giáo viên:
* Đối với trẻ:
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
- Kết luận
- Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
1- 3
3
3
3
3 -15
3- 4
4-5
4
4-5
6-7
7-9
10 -12
12-13
13- 14
14-15
15-17
15
16
16-17
16
17

1. Mở đầu.
1.1. Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết đất nước ta đang trong thời kỳ phát triển, thời kỳ
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Để đáp ứng với yêu cầu của thời đại
thì đòi hỏi mỗi con người chúng ta phải có thể lực tốt, sức khoẻ tốt. Để có một


thể lực phát triển, có sức khoẻ tốt thì con người phải được sống trong môi


trường trong sạch, lành mạnh và có môi trường trong sạch không bị ô nhiễm
thì việc bảo vệ môi trường là một vấn đề hết sức quan trọng.
Hiện nay môi trường đang bị ô nhiễm và xâm phạm nghiêm trọng đã đe
doạ đến sự sống còn của nhân loại trên toàn cầu. Sức khỏe của con người bị
rình rập bởi nhiều yếu tố đó là: Thực phẩm không an toàn, môi trường bị ô
nhiểm bởi nước thải của các công trình,các nhà máy rồi việc vứt rác bừa bải
không đúng nơi quy định, khói thải từ các loại phương tiện giao thông là một
vấn đề nhức nhối trong toàn xã hội chính vì vậy bảo vệ môi trường nói chung,
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói riêng đã trở thành vấn đề thời sự cấp bách
đối với mỗi quốc gia, mọi cộng đồng trên hành tinh. Bảo vệ môi trường chính
là bảo vệ sự phát triển bền vững của toàn nhân loại và đã trở thành một xu thế
tất yếu của thời đại, việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng và
học sinh là việc làm có ý nghĩa thiết thực và cần thiết nhằm đảm bảo sự trường
tồn của trái đất và đây là ngôi nhà chung đảm bảo sự an toàn cho mỗi chúng ta.
Với cương vị là một cán bộ quản lý tôi nhận thức được rằng bảo vệ môi
trường là bảo vệ chính mình, là bảo vệ sự sống cho nhân loại. Nhưng muốn
bảo vệ được môi trường, làm cho mọi người xung quanh đều có ý thức bảo vệ
môi trường thì Tôi, các bạn, chúng ta phải làm gì để bảo tồn được chúng? Khi
sự suy vong về môi trường đang ngày càng diễn ra khốc liệt ở tất cả mọi nơi
như: Nạn chặt phá rừng lấy gỗ ở Vũng Tàu, Nghệ An, nhà máy VeDan xả nước
thải xuống sông Thị Vải, các khí thải của các khu công nghiệp đổ rác bừa bãi
đã đưa tin lên các kênh phương tiện thông tin đại chúng.
Hình ảnh: Đổ rác thải không đúng nơi quy định
Và gần gũi hằng ngày hơn là chúng tôi thường phải chứng kiến cảnh xả
nước thải sinh hoạt hằng ngày ra bên lề, đường sau trường của một số hộ gia
đình

Hình ảnh: Xả nước thái đường sau trường
Và một số hộ gia đình để rác thải ra trước cổng trường ảnh hưởng không
nhỏ đến cảnh quan môi trường cũng như sức khỏe của con người

Hình ảnh: Rác thải trước cổng trường của một số hộ dân
Vì vậy giáo dục và bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách có tính toàn cầu
và là vấn đề có tính xã hội sâu sắc cần được giáo dục cho con người ngay từ
tuổi thơ, từ lứa tuổi mầm non.
Với các cháu mầm non tâm hồn các cháu còn ngây thơ nếu được giáo
dục về vấn đề bảo vệ môi trường đúng đắn ngay từ khi cháu đang ở trường
mầm non thì sẽ hình thành cho trẻ thói quen, nề nếp tốt trong sinh hoạt hàng
3


ngày ở trường cũng như ở nhà và trẻ có ý thức bảo vệ môi trường trong và
ngoài lớp học cũng như biết giữ gìn vệ sinh cá nhân trẻ.
Giáo dục môi trường cho trẻ lứa tuổi mầm non là cung cấp cho trẻ những
hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và của con người
nói chung, có sự hiểu biết về môi trường, có thái độ, kỹ năng và hành vi tốt
trong việc bảo vệ môi trường, biết cách sống tích cực với môi trường, nhằm
đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất và trí tuệ cho trẻ.
Mục đích của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là nhằm vận dụng những
kiến thức, kỹ năng thực tiễn của trẻ góp phần giữ gìn, bảo vệ môi trường như
giữ gìn thân thể, chăm sóc vật nuôi cây trồng, tiết kiệm điện nước, lau chùi đồ
dùng, đồ chơi giữ gìn vệ sinh lớp học, thu gom rác thải...
Môi trường bên trong và bên ngoài lớp học của trẻ là vấn đề rất quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của trẻ, nếu như chúng ta không có
biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiểm môi trường thì sẽ rất nguy hiểm cho
sức khỏe của cô và trẻ nói riêng và xã hội nói chung. Chính vì lý do đó năm
học 2017- 2018 nhà trường tiếp tục thực hiện chuyên đề:“ Giáo dục và bảo vệ
môi trường” vấn đề đặt ra cho lãnh đạo nhà trường cần tiếp tục làm gì để thực
hiện có hiệu quả chuyên đề này. Với sự cần thiết như trên và đó cũng chính là
lí do tôi đưa ra đề tài có nội dung: “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên thực
hiện tốt nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường tại trường Mầm non Hoằng
Thái – Hoằng Hóa - Thanh Hoá”. Hy vọng rằng sẽ được đón nhận nhiều ý
kiến đóng góp từ các đồng nghiệp
1.2. Mục đích, đối tượng nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận thực tiễn, đưa ra một số biện pháp chỉ đạo
thực hiện có hiệu quả chuyên đề: “giáo dục và bảo vệ môi trường” ở trường
Mầm Non Hoằng Thái - Hoằng Hóa - Thanh Hóa.
Thông qua các đợt tập huấn chuyên đề do Phòng Giáo dục tổ chức, thiết
thực hơn là những buổi lên lớp của giáo viên để từ đó hình thành cho cán bộ
giáo viên và học sinh những hành vi đẹp, có ý thức để bảo vệ môi trường, đoàn
kết, giúp đỡ, có phản ứng mạnh mẽ khi có những hành vi làm ô nhiễm môi
trường. Mặt khác nhằm tổng kết lại những kết quả của giáo viên, các tổ chức
đoàn thể trong nhà trường đã thực hiện chuyên đề:“Giáo dục và bảo vệ môi
trường” trong thời gian qua để rút kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao việc
thực hiện chuyên đề trong thời gian tới. Đồng thời mong muốn được trao đổi
những kinh nghiệm này với các bạn đồng nghiệp và mong muốn được góp ý để
có thêm kiến thức, kỹ năng trong công tác quản lý.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Đề tài tập trung nghiên cứu những biện pháp chỉ đạo để tổ chức thực
hiện chuyên đề:“ Giáo dục và bảo vệ môi trường” trong phạm vi trường Mầm
non Hoằng Thái - Hoằng Hóa - Thanh Hoá
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp xây dựng kế hoạch
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
4


2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của Sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lý luận đầu tiên được xem xét để nghiên cứu đề tài, đó là được xem
xét từ các khái niệm về môi trường, bao gồm: Khái niệm về môi trường; môi
trường tự nhiên; môi trường xã hội; môi trường nhân tạo trong trường mầm non...
Từ cơ sở các khái niệm về môi trường; ta có thể khái quát về xây dựng
môi trường hoạt động giáo dục trong trường mầm non: Là tạo nên môi trường
trong ngoài lớp học của trường mầm non, bao gồm cả môi trường vật chất và
môi trường xã hội. Môi trường đó có tác động trực tiếp đến hoạt động dạy học
học của giáo viên và hoạt động vui chơi học tập của trẻ.
Giáo dục và bảo vệ môi trường cho trẻ là nhiệm vụ cần thiết của mỗi cán
bộ giáo viên mầm non phải thực hiện nghiêm túc.
Môi trường có tác động lớn đối với nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt
động giáo dục trẻ mầm non; giúp trẻ được trải nghiệm để nhận thức thế giới
xung quanh, rèn luyện các kỹ năng cho trẻ, góp phần phát triển toàn diện trẻ
mầm non theo 5 lĩnh vực
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Những thuận lợi
Hoằng Thái là một xã thuần nông. Điều kiện kinh tế phát triển, đời sống
của nhân dân đang từng bước dần dần đi lên, trình độ dân trí ngày một nâng
cao. xã luôn luôn thực hiện tốt các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước, các phong trào văn hóa, thể dục, thể thao đều là những điểm
sáng. Các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương luôn quan tâm đúng mức đến
công tác giáo dục đặc biệt giáo dục mầm non. Bên cạnh đó còn có các tổ chức
đoàn thể luôn kề vai sát cánh để ủng hộ nhà trường trong mọi phong trào thi
đua.
Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp,Năm học 2017 - 2018 Trường
Mầm non Hoằng Thái đang từng bước có những chuyển mình rõ rệt về mọi
mặt như: Mạng lưới quy mô trường lớp tương đối ổn định số lượng trẻ đến
trường Mầm Non ngày càng đông. Trường đã có đội ngũ giáo viên, nhân viên
trẻ, đoàn kết, nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, có tinh thần học hỏi, chịu thương,
chịu khó, kiên trì trong công việc, có trình độ chuyên môn đạt chuẩn 100% và
đạt trên chuẩn 57%. Các bậc phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng
của bậc học Mầm Non
2.2.2. Những khó khăn
Bên cạnh những kết quả đã đạt được xã Hoằng Thái còn có những khó
khăn như dân ở đây chủ yếu làm nông nghiệp, điều kiện kinh tế của nhân dân
trong xã phát triển chưa đồng đều. Nên nhận thức của một số ít nhân dân còn
hạn chế còn coi nhẹ về ý thức bảo vệ môi trường chung.
Trường Mầm non Hoằng Thái được xây dựng tại khu trung tâm của xã
nhà, đường trước là khu dân cư sinh sống nên phần nào cũng làm ảnh hưởng
môi trường từ khu nước thải cũng như khu vệ sinh của các hộ gia đình vì thế
mà cứ vào mùa mưa là lầy lội, nước đọng lại do không có hệ thống thoát
nước…. Tất cả những yếu tố trên đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con
5


người, môi trường tự nhiên đặc biệt ảnh hưởng đến thói quen sinh hoạt, sức
khoẻ và tâm sinh lý của trẻ nhỏ nơi đây
- Đa số trẻ của trường tôi là vùng quê rất ham chơi, ban đầu chưa có ý
thức bảo vệ môi trường, sân trường, lớp nhiều trẻ còn vứt vỏ sữa, vỏ bim
bim…hay nhiều lúc trẻ vẫn chạy một cách vô tư chưa biết nhặt rác ngay dưới
chân mình để bỏ vào thùng, chơi chạy quá đà giẫm hết vào bồn hoa của
trường, thậm chí còn bẻ cành, ngắt hoa ở vườn trường, đi vệ sinh, rửa tay chưa
biết khoá vòi nước lại còn để lãng phí nước…
- Phương tiện phục vụ cho việc giáo dục môi trường chưa được đầu tư
nhiều như: Thùng rác chưa có đủ và đúng quy cách, đồ dùng dụng cụ vệ sinh
còn thiếu..v.v..
2.2.3 Khảo sát thực trạng ban đầu cho thấy
Qua khảo sát thực trạng trên cô và trên trẻ đầu năm về các nội dung giáo
dục và bảo vệ môi trường cho thấy kết quả như sau:
Bảng 1: Kết quả thực trạng giáo dục và bảo vệ môi trường trên giáo viên
Số GV
Số
Số GV
Tỉ lệ
Tỉ lệ
Nội dung tiêu chí khảo sát
chưa
TT
đạt
%
%
đạt
Tích hợp. lồng ghép nội dung
1
8/18
44
10
56
giáo dục và bảo vệ môi trường.
Có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi
2 trường vệ sinh trong và ngoài 10/18
56
8
44
lớp.
Tận dụng các nguyên vật liệu
3
14/18
77,7
4
22,3
làm đồ dùng, đồ chơi.
4 Công tác tuyên truyền.
10/18
56
8
44
Bảng 2: Kết quả thực trạng giáo dục và bảo vệ môi trường trên trẻ
Số
T
Nội dung tiêu chí khảo sát
T
1 Biết chăm sóc bảo vệ cây
Biết giữ gìn trật tự, vệ sinh công
2
cộng
Biết cất dọn đồ dung, đồ chơi
3
đúng nơi quy định
Không vứt rác ra đường, biết
4
gom rác vào thùng rác.
Phân biệt được những hành vi
5 đúng và sai đối với môi trường
và tiết kiệm điện, nước.
Biết tận dụng các nguyên vật liệu
6
làm đồ dùng, đồ chơi.

Số trẻ
Tỉ lệ
chưa
%
đạt
112/235 47,6

Số trẻ
đạt

Tỉ lệ
%

123/235

52,3

120/235

51

115/235

49

121/235

51.5

114/235

48,5

120/235

51

115/235

49%

110/235

46,8

125/235

53,2

100/235

42,5

135/235

57.5

6


Từ những tình hình thực tế của nhà trường như kết quả khảo sát ban đâu
bản thân đã lưạ chọn một số giải pháp sau:
2.3. Các giải pháp thực hiện
2.3.1. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường
2.3.2: Tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hoạt động
2.3.3. Tích hợp nội dung giao dục bảo vệ môi trường vào các chủ đề
2.3.4. Tận dụng các nguyên vật liệu, phế thải làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ
2.3.5. Tăng cường sức mạnh của các đoàn thể trong nhà trường
2.3.6. Làm tốt công tác tuyên truyền
2.3.1. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường
Từ những nội dung, phương pháp đã triển khai bồi dưỡng về giáo dục và
bảo vệ môi trường, bản thân tôi đã sưu tầm tài liệu, sách báo có liên quan để
tham khảo và tìm ra những biện pháp phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế
của nhà trường, từ đó xây dựng kế hoạch chung và kế hoạch cụ thể trình với
Hiệu trưởng, sau khi đã được phê duyệt tôi tiến hành triển khai tới tất cả giáo
viên. Khi đã triển khai xong Tôi lại tổ chức một lần nữa cho tất cả giáo viên ở
tất cả các nhóm lớp báo cáo về tình hình thực hiện cụ thể của lớp mình. Thâu
tóm tất cả các ý kiến tôi lại bổ xung vào kế hoạch của các lớp mà giáo viên đã
đề ra và đưa ra định hướng sát thực, chính xác cho kế hoạch chỉ đạo cũng như
kế hoạch thực hiện của lớp. Trong quá trình chỉ đạo và thực hiện nếu có gặp
vấn đề gì khó khăn, tôi lại tham mưu với Hiệu trưởng tạo điều kiện cho giáo
viên thực hiện đạt hiệu quả cao hơn, và kế hoạch cụ thể như sau:
- Kế hoạch năm: Lấy tiêu đề là những ngày lễ lớn trong năm để đưa vào
làm tiêu chí phấn đấu cho cả tháng, cả năm nhưng phải vận dụng linh hoạt có
nội dung sâu sắc về nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Đồng thời, phân
chia thành 2 kỳ, tháng, tuần, để hoạt động và đánh gía sơ kết một cách hiệu
quả, khoa học vào cuối tháng và có sơ kết tổng kết vào các học kỳ.
Ví dụ: Tiêu đề chung cho cả năm là: Mỗi cô giáo là một tấm gương sáng
trong mọi hành động để các cháu noi theo. Gắn lên tường ở mỗi lớp và ở văn
phòng.
- Kế hoạch cho từng học kỳ:
- Học kỳ I: Tháng 9: Tập trung vào công tác chỉ đạo điểm cho cả nhà trẻ
và mẫu giáo , chú trọng vào từng nội dung của chuyên đề xây dựng góc tuyên
truyền với phụ huynh, xây dựng kế hoạch vệ sinh môi trường cho cả tháng,
tuần, ngày, góc thiên nhiên trang trí góc có nội dung về giáo dục và bảo vệ môi
trường, lồng giáo dục bảo vệ môi trường vào các môn học, các hoạt động mọi
lúc mọi nơi….
Tháng 10 là tiêu đề: Giáo dục về các hành vi văn minh, tiết kiệm, mẫu
mực cho cả cô và trẻ( Phù hợp với từng lứa tuổi) với khẩu hiệu: “Thi đua phát
huy và giữ gìn nếp sống văn minh để chào mừng ngày Phụ Nữ Việt Nam
20/10”.
Từ tháng 11: Với tiêu đề “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng trong
mọi hành động để học sinh noi theo tăng thêm ý nghĩa nhân ngày nhà giáo
Việt Nam 20 /11”.tổ chức hội thi làm đồ dùng,đồ chơi chào mừng ngày nhà
giáo Việt Nam.
7


+ Tháng 12: Rèn luyện thói quen sống tiết kiệm, văn minh, mẫu mực, có
trách nhiệm cao trong công tác, quan tâm và bảo vệ môi trường trong sạch
không bị ô nhiễm, chăm sóc thiên nhiên.
- Học kỳ II: Tiếp tục chỉ đạo thực hiện, đi sâu vào kiểm tra đánh giá học
kỳ II và kế hoạch cuối năm về chuyên đề này ở tất cả các lớp
Tháng: 1, 2: Rèn luyện thói quen sống tiết kiệm, văn minh, mẫu mực, có
trách nhiệm cao trong công tác, quan tâm và bảo vệ môi trường trong sạch
không bị ô nhiễm, chăm sóc thiên nhiên.
Tháng 3, 4: Đoàn kết giúp đỡ mọi người xung quanh, tình cảm đối với cô,
bạn bè, vật nuôi, cây cối và môi trường thiên nhiên xung quanh trẻ.
Tháng 5. Tổng kết đánh giá toàn trường về công tác giáo dục bảo vệ môi
trường
Sau đó tham mưu với Hiệu trưởng tổ chức một buổi bồi dưỡng chuyên
đề,mục đích của buổi bồi dưỡng này là tập chung chủ yếu vào những nội dung
sau:
+. Đánh giá quá trình chỉ đạo thực hiện của các lớp từ đó rút kinh nghiệm
cho các tháng tiếp theo.
+ Để giáo viên nêu ra ý kiến của mình trong quá trình thực hiện chuyên
đề (Những khó khăn và thuận lợi).
+ Thảo luận ý kiến trình với Hiệu trưởng về công tác cơ sở vật chất để
triển khai chuyên đề
Với biện pháp này đạt 90% so với kế hoạch đề ra.
- Kế hoạch tuần.
Song song với việc xây dựng kế hoạch chung và cụ thể hoá cho từng nội
dung ở từng tháng tôi còn chú trọng đến công tác xây dựng kế hoạch cụ thể ở
từng tuần trong tháng. Phát huy những việc làm có hiệu quả và khắc phục
những hạn chế thường xuyên.
Ví dụ: Tuần 1 tháng 9: Làm tốt công tác tuyên truyền đến toàn bộ cán bộ
giáo viên, nhân viên và phụ huynh trong toàn trường, giáo dục ý thức giữ gìn
vệ sinh môi trường chung cho trẻ.
Hình ảnh: GV hướng dẫn trẻ bỏ rác đúng nơi quy định
Kết quả được 100% nhân dân, Cán bộ giáo viên và các đoàn thể ủng hộ
2.3.2: Tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hoạt động
hàng ngày
Khi lên các nội dung hoạt động cần phải tuân theo các nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc 1: Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phải liên quan với
nội dung giáo dục, chăm sóc sức khoẻ trẻ.
* Nguyên tắc 2: Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đưa vào hoạt động
có hệ thống, phù hợp với trẻ, không trùng lặp,không gây quá tải ảnh hưởng tới
việc tổ chức hoạt động chính.
* Nguyên tắc 3: Những hiện trạng môi trường cô giáo nêu ra phải gần
gũi, không xa lạ với trẻ. Cô có thể nêu ở trường hoặc địa phương thật cụ thể.
8


Khi xác định được các nguyên tắc này tôi chỉ đạo giáo viên lồng ghép
hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động trong ngày.
Ví dụ: Hoạt động đón trẻ: Cô trò chuyện cùng trẻ để hỏi về môi trường từ
nhà đến trường có khói bụi của xe ô tô, xe máy để giáo dục trẻ giữ gìn thân thể
bằng cách đeo khẩu trang để tránh hít phải khói bụi …
Hoạt động học tập: Cho trẻ khám phá môi trường xung quanh cho trẻ
quan sát màn hình chiếu về sự ô nhiễm của con sông khi nước thải bẩn chảy ra
làm ảnh hưởng sức khoẻ con người, giáo dục trẻ con sẽ làm gì khi sử dụng
thấy có nước bẩn ở chậu rửa mặt, rửa tay hàng ngày..v..v
Hoạt động lao động: Lao động tự phục vụ, giáo dục trẻ tự phục vụ tốt là
việc làm có lợi cho môi trường như: Trẻ đi đại tiện, tiểu tiện đúng chỗ, đi xong
biết vặn vòi nước chảy để xả, dùng xong biết vặn vòi không để nước chảy lãng
phí nước nhằm tiết kiệm điện..vv... Ngoài ra tôi chỉ đạo giáo viên biết lồng
ghép giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động vui chơi.

Hình ảnh: Cháu tự phục vụ
Hoạt động vui chơi: Mang tính tích hợp cao trong giáo dục trẻ, thông qua
các trò chơi phân vai, trẻ đóng vai và thể hiện các công việc của người làm
công tác bảo vệ môi trường như: Trồng cây, chăm sóc cây, nhặt rác…xung
quanh khu vực của lớp, giáo viên hướng dẫn cho trẻ đóng vai bác sĩ đa khoa
khám chữa bệnh cho mọi người, chú ý giữ gìn vệ sinh phòng khám, xử lý rác
thải y tế…
Trong trò chơi gia đình: Giáo viên giáo dục trẻ phải dọn dẹp nhà cửa, lau
chùi nền nhà sạch sẽ, quần áo gấp gọn gàng, ngăn nắp, đi mua đồ dùng gia
đình giữ gìn không rơi vỡ, quét mạng nhện…trước khi ăn phải rửa tay…
Trò chơi nấu ăn: cô giáo tập cho trẻ làm món ăn đơn giản, làm xong chú ý
vệ sinh nhà bếp và dụng cụ vừa làm sạch sẽ
Ở các góc hoạt động khác giáo viên cũng phải lồng giáo dục vệ sinh và
bảo vệ môi trường cho trẻ
Thông qua hoạt động chơi ngoài trời: Giáo viên giúp trẻ biết ích lợi của
cây đối với sức khỏe con người qua đó giáo dục trẻ cách chăm sóc bảo vệ
cây,nhặt lá rụng bỏ vào thùng rác.

Hình ảnh: Trẻ nhặt lá rung dưới sân trường
Thông qua tổ chức giờ ăn, giờ ngủ của trẻ
Đây là hoạt động nhằm hình thành các nề nếp thói quen trong sinh hoạt,
đáp ứng sinh lý, trẻ được vui vẻ và thoải mái như:
Giáo viên rèn cho trẻ được hoạt động lao động kê bàn ghế ngay ngắn, biết
lấy đĩa đựng cơm rơi vãi và đĩa đựng khăn ướt lau tay. Trước khi ăn ra xếp
hàng để rửa tay bằng xà phòng theo quy trình. Khi ăn giáo dục trẻ nhai kỹ, ăn
hết suất, khi ho phải lấy tay che miệng, không nói chuyện trong khi ăn tạo thói
quen văn minh lịch sự trong khi ăn.ăn xong biết xếp, bát, thìa vào nơi qui định
9


một cách gọn gàng, sau đó trẻ biết tự lau miệng lấy nước uống, giáo dục trẻ
biết tiết kiệm nước bằng cách lấy cốc hứng nước.
Hình ảnh: Tổ chức bữa ăn của trẻ
Giáo viên thường xuyên nhắc trẻ giữ gìn vệ sinh phòng, nhóm sạch sẽ, đi
vệ sinh phải đúng nơi quy định, đi xong để dép lên giá xếp ngay ngắn theo tổ,
trẻ tự lấy gối đi ngủ…
Kết quả: Trẻ có ý thức gọn gàng, ngăn nắp và có ý thức xây dựng bảo vệ
môi trường chung
2.3.3. Tích hợp vào các chủ đề
Chỉ đạo giáo viên khi xây dựng kế hoạch chuyên môn về nội dung giáo
dục bảo vệ môi trường yêu cầu giáo viên phải giúp trẻ có được một số hiểu biết
sau
* Hiểu biết về môi trường mầm non gồm: Các phòng nhóm, sân vườn,
cống rãnh, các đồ dùng của lớp, đồ dùng của cá nhân cô và trẻ
* Trẻ biết phân biệt được môi trường sạch và môi trường bẩn ở trường
mầm non và ở gia đình
- Môi trường sạch: Là ngăn nắp, đủ ánh sáng, không bụi, không khói,
không nấm mốc, không tiếng ồn, có nhiều cây xanh…
- Môi trường bị ô nhiễm: Các đồ dùng sắp xếp không năn nắp, bụi bẩn,rác thải,
nước thải sinh hoạt, tiếng ồn các hoá chất xác động vật, phân người và động vật…
Thông qua những hiểu biết đó trẻ có những hành vi phù hợp với môi
trường như:
- Bỏ rác đúng nơi quy định, không khạc nhổ bừa bãi
- Biết sắp xếp đồ dùng cá nhân như: giầy, dép, ba lô, đồ chơi, đồ dùng học
tập…đúng nơi quy định gọn gàng, ngăn nắp
- Giáo dục trẻ không vẽ bậy lên tường,lên bàn, lên ghế, không nói chuyện
trong khi ăn cơm, nhặt cơm rơi bỏ vào đĩa và lau tay vào khăn. Ăn xong giúp
cô sắp xếp lau chùi bàn ghế, để bát thìa đúng nơi quy định
- Trẻ biết một số biện pháp phòng tránh khi môi trường bị ô nhiễm
- Trẻ biết rửa tay trước khi ăn cơm, ăn chín uống sôi, đeo khẩu trang khi
đi ra ngoài đường, khi ngửi thấy mùi lạ thì không ăn, không uống các loại nước
có nhiều phẩm màu, không chơi các loại đồ chơi độc hại (hoá chất, các đồ dễ
vỡn lồng nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường thông qua các chủ đề sao cho
phù hợp
* Chủ đề: Trường mầm non của bé
Ngoài việc cung cấp cho trẻ kiến thức về chủ đề, yêu cầu trẻ có ý thức giữ
gìn vệ sinh trường lớp sạch sẽ, không vứt rác bừa bãi,không hái hoa bẻ cành
cây xung quanh trường lớp. Thông qua chủ đề trẻ biết cùng cô sắp xếp đồ chơi,
làm đồ chơi trang trí lớp, lau chùi bàn ghế, trồng thêm cây xanh góc thiên
nhiên.
* Chủ đề: Bản thân bé: Mục đích là giáo dục trẻ biết lợi ích của việc giữ
gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường đối với sức khoẻ con người. Trẻ có
hành vi và thói quen tốt trong ăn uống: mời cô, mời bạn, không ăn quà vặt
10


ngoài đường…Nhận biết ký hiệu thông thường: Nhà vệ sinh nam, nữ, thùng
đựng rác…và biết tránh một số vật dụng, nơi nguy hiểm đối với bản thân: dao,
kéo, ổ cắm điện, ao, hồ…
* Chủ đề : Gia đình thân yêu của bé
Giáo viên giúp trẻ thấy được sự thay đổi của môi trường xung quanh nhà
của trẻ, nhận biết được môi trường sạch, môi trường bẩn trong gia đình. Biết
quý trọng giữ gìn đồ dùng trong gia đình, cất đồ dùng, đồ chơi đúng chỗ, bỏ
rác đúng nơi quy định, không khạc nhỗ bừa bãi…có ý thức về những điều nên
làm như: Khoá vòi nước không sử dụng, tắt điện khi đi ra khỏi phòng..
* Chủ đề: Thế giới thực vật
Giáo dục trẻ biết quá trình phát triển của cây ích lợi của cây xanh với môi
trường sống và biết chặt phá rừng bừa bãi làm cho môi trường ô nhiễm, thiên
tai xẩy ra nhiều và nghiêm trọng ảnh hưởng tới đời sống của con người.
Qua chủ đề giáo viên giúp trẻ biết được sự phát triển của cây xanh,biết
chăm sóc cây như bắt sâu, nhổ cỏ, không bứt lá,bẽ cành, nhặt lá rụng, tận dụng
các nguồn nguyên liệu từ thiên nhiên làm một số đồ chơi như: con trâu, chong
chóng, đồng hồ, và các vỏ cây khô, lá khô cắt dán, xé dán thành những bức
tranh tạo hình rất sinh động, đẹp mắt

Hình ảnh: Trẻ đang chăm sóc cây
* Chủ đề giao thông: Giáo viên giúp trẻ hiểu được.
Một số đồ dùng nguy hiểm, một số quy định đơn giản để đảm bảo an toàn
khi tham gia giao thông.
Các hành vi văn minh khi tham gia giao thông.
Cho trẻ xem video hình ảnh của các phương tiện giao thông gây ô nhiễm
môi trường.
Người đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, ngồi trên xe thò đầu qua cửa
sổ, người ngồi sau đứng lên xe đạp, xe máy, đi xe không đeo kính khẩu trang,
người đi bộ đi trên vỉa hè, đi đúng luật giao thông, trẻ em đá bóng dưới lòng
đường hình ảnh người đi xe máy đeo khẩu trang, đeo kính đội mũ bảo hiểm
Thông qua các hình ảnh đó giáo viên phải cho trẻ nói lên được các hành
vi đúng, sai và giáo dục trẻ đi đường biết bịt khẩu trang, đội mũ bảo hiểm tránh
tai nạn, bố mẹ đưa đến trường phải để xe đúng quy định, không cho xe đi vào
sân trường khói bụi làm ô nhiễm môi trường…Trẻ biết nhận ra cái đẹp trong
việc giữ gìn các đồ dùng, phương tiện đi lại của gia đình sạch sẽ, gọn gàng,
ngăn nắp.
Việc lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua tất cả các
chủ đề trong năm học
Thông qua hoạt động đi dạo, đi thăm thông qua hoạt động lao động ngoại
khoá, hoạt động nêu gương và hoạt động lễ hội mọi lúc mọi nơi. Tất cả đều có
thể lồng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ được
Trong thời đại công nghệ thông tin, tất cả các các lớp đều có màn chiếu, ti
vi. Do vậy, tôi đã yêu cầu giáo viên sưu tầm những tài liệu nói về môi trường
11


để trình chiếu cho trẻ xem vào những giờ đón, trả trẻ những hình ảnh như: Tệ
nạn chặt phá rừng, lũ lụt, thiên tai, dịch cúm gia cầm, đốt phá lấy củi…Rồi
những hình ảnh trẻ em tắm bẩn. Bên cạnh đó giáo viên còn sưu tầm những
hình ảnh mang tính giáo dục như: Trẻ tích cực diệt muỗi, rửa tay đúng dưới vòi
nước, rửa mặt sạch sẽ…hình ảnh bé tắt quạt, ti vi để tiết kiệm điện, quét rác đổ
vào thùng, bé tưới cây xanh cùng cô, bé ngồi xe máy đeo khẩu trang và đội mũ
bảo hiểm. Qua những hình ảnh đó giáo viên giúp trẻ khắc sâu kiến thức giáo
dục môi trường cho trẻ.
Giải pháp 2.3.4 Tận dụng các nguyên vật liệu phế thải làm đồ dùng,
đồ chơi cho trẻ
Phát động giáo viên toàn trường tận dụng các nguyên vật liệu, phế thải
làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ để thực hiện trong giờ học và hoạt động góc. Mỗi
chủ đề phát động giáo viên làm một bộ đồ chơi khác nhau
Cô huy động trẻ đem những đồ phế thải từ gia đình như: vỏ chai nước
khoáng, vỏ chai nước rửa chén, vỏ chai nước lau sàn, vỏ hộp sữa chua...đem
đến lớp để làm đồ chơi
Cô giáo hướng dẫn trẻ cùng làm đồ chơi trong giờ hoạt động góc, hoạt
động chiều mọi lúc, mọi nơi thành những sản phẩm đồ dùng, đồ chơi phong
phú, hấp dẫn, phục vụ cho các hoạt động học và chơi của trẻ góp phần nâng
cao chất lượng giờ học của trẻ và qua đó giúp trẻ biết cách sử dụng rác thải,
phân loại rác thải nào là vật liệu có ích,và hình thành ở trẻ thói quen bảo vệ
môi trường
Ngoài ra, nhà trường còn tổ chức cho giáo viên thi làm đồ dùng, đồ chơi
từ nguyên vật liệu phế thải vào đầu tháng 11 để lấy thành tích chào mừng ngày
Nhà giáo Việt nam 20/11. Thông qua hội thi này giúp giáo viên có ý thức được
việc làm đồ chơi từ nguyên vật liệu phế thải. Đây là một việc làm hết sức thiết
thực vừa bảo vệ môi trường vừa có đồ dùng đồ chơi phong phú lạ mắt giúp trẻ
hứng thú hơn trong các hoạt động học tập cũng như hoạt động vui chơi
Hình ảnh: Hội thi đồ dùng,đồ chơi cấp trường
Trong hội thi này nhà trường đã chọn được:
Giải xuất sắc: 1 giải; 200.000 đồng
Giải nhất: 1 giải; 170.000 đồng
Giải nhì: 2 giải; 150.000 đồng
Giải ba: 2 giải; 100.000 đồng
Thông qua hội thi này khuyến khích tất cả giáo viên tích cực làm đồ dùng,
đồ chơi. Nhất là đồ dùng, đồ chơi được làm từ nguyên vật liệu phế thải,vừa
góp phần bảo vệ môi trường vừa tiết kiệm được tiền mua sắm đồ dùng đồ chơi
cho nhà trường
Năm học 2015 - 2016 Phòng GD&ĐT Hoằng Hóa tổ chức hội thi làm đồ
dùng đồ chơi. Trường mầm non Hoằng Thái đạt giải nhì cấp Huyện.
Biện pháp này giúp làm sạch môi trường làm phong phú đồ dùng của trẻ
và cũng giảm bớt được phần nào nguồn ngân sách của nhà trường về đầu tư
cho đồ dùng của cô và trẻ.
12


Biện pháp 2.3.5: Tăng cường sức mạnh của các đoàn thể trong nhà
trường
Tham mưu với Hiệu trưởng tổ chức họp các đồng chí trưởng các đoàn thể
trong nhà trường triển khai nhiệm vụ năm học về công tác môi trường ,đồng
thời nói nên thực trạng vấn đề môi trường bên trong và bên ngoài lớp học của
nhà trường hiện nay đang ảnh hưởng đến sức khỏe của cô và trẻ từ đó thảo
luận lấy ý kiến và đưa ra biện pháp có ính khả thi đưa vào thực hiện
Giao nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức:
Ví dụ:
- Đối với công đoàn nhà trường chụi trách nhiệm về môi trường bên ngoài
đó là:
+ Cống rảnh hai bên nhà trường và trong sân trường
+ Vấn đề rác thải của các hộ dân xung quanh trường
+ Mùi hôi thối từ các nhà vệ sinh của các hộ dân đường trước sân trường
Ví dụ: Chiếu thứ 6 hàng tuần công đoàn tổ chức cho đoàn viên tổng dọn
vệ sinh toàn trường và thau công rảnh trong và đường sau trường

Hình ảnh: Đoàn viên lao động vào chiều thứ 6
Đối với đoàn thanh niên: Chịu trách nhiệm về công tác :
+ Các khu nhà vệ sinh của cô và cháu
+ Trồng và chăm sóc các bồn hoa và cây của trường
+ Vệ sinh sân trường
- Đối với tổ nuôi dưỡng:
+ Chịu tránh nhiệm vệ sinh khu nhà bếp
Từ nhiệm vụ trên các tổ về xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể chi tiết
duyệt trước khi thực hiện
Hàng tháng, học kỳ, cuối năm đánh giá xếp loại đưa vào thi đua của nhà
trường.
Biện phát này mang lại hiệu quả rất cao

Hình ảnh: Họp các tổ chức đoàn thể trong trường
Giải pháp 2.3.6: Làm tốt công tác tuyên truyền
Công tác tuyên truyền có thể nói là một trong những biện pháp rất quan
trọng trong giáo dục bảo vệ môi trường. Chính vì vậy làm tốt công tác tuyên
truyền không chỉ giúp phụ huynh hiểu đúng, hiểu sâu về môi trường mà còn
giúp cho lãnh đạo địa phương, các ban ngành đoàn thể đánh giá đúng tầm quan
trọng của môi trường trong đời sống cộng đồng và cũng là đời sống của chính
bản thân của mỗi con người. Từ đó có sự quan tâm, đầu tư cho nhà trường giúp
nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
Ngoài ra tôi còn viết các bài tuyên truyền về môi trường lên loa truyền
thanh của địa phương nói về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường của nhà
13


trường, công tác tuyên truyền còn được tổ chức thông qua các cuộc họp phụ
huynh, nói lên được tầm quan trọng của môi trường và các hình thức giáo dục
trẻ để trẻ có những hành vi phù hợp với môi trường. Từ đó phụ huynh cũng
thấy được tầm quan trọng của môi trường và cùng kết hợp với nhà trường có
những biện pháp thích hợp để giáo dục trẻ tham gia bảo vệ môi trường khi trẻ
ở nhà, ở trường và bất cứ nơi đâu.
Cũng trong công tác tuyên truyền,tôi chỉ đạo cho các lớp xây dựng góc
tuyên truyền, trong mỗi góc tuyên truyền phải nói lên được nội dung giáo dục
bảo vệ môi trường kết hợp với các nội dung giáo dục khác để phụ huynh biết
được các hoạt động trong ngày của con ở trường, để từ đó có nhận thức đúng
về ngành học mầm non.
Bên cạnh đó trong các giờ đón, trả trẻ giáo viên thường phải tuyên truyền
trao đổi với phụ huynh để kêu gọi họ cùng chung tay với nhà trường, với cô
giáo cùng nhau giáo dục trẻ để trẻ có những hành vi phù hợp với môi trường
và cũng đồng thời kêu gọi phụ huynh phân loại rác thải tại nhà và tận dụng
những phế thải như: Vỏ chai rửa bát, vỏ hộp sữa chua, vỏ chai nước ngọt.... để
trẻ mang đến lớp cùng cô tạo ra những đồ dùng,đồ chơi có ích phục vụ cho các
giờ học,giờ chơi của trẻ.
1.4. Kết quả nghiên cứu
Bằng những kinh nghiệm chỉ đạo và sử dụng các biện pháp trên, qua một
năm trường mầm non chúng tôi đã đạt được một số kết quả như sau:
* Đối với giáo viên:
Số
TT
1
2

Nội dung tiêu chí khảo sát
Tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục và bảo vệ môi
trường
Có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, vệ sinh
trong và ngoài lớp

Số
GV
đạt

Tỉ lệ
%

18

100

18

100

3

Tận dụng các nguyên vật liệu làm đồ dùng, đồ chơi

18

100

4

Công tác tuyên truyền

18

100

14


* Đối với trẻ:
Số
TT
1
2
3
4
5
6

Nội dung tiêu chí khảo sát
Biết chăm sóc bảo vệ cây
Biết giữ gìn trật tự, vệ sinh công
cộng
Biết cất dọn đồ dùng, đồ chơi đúng
nơi quy định
Không vứt rác ra đường, biết gom
rác vào thùng rác
Phân biệt được những hành vi đúng
và sai đối với môi trường và tiết
kiệm điện, nước
Biết tận dụng các nguyên vật liệu
làm đồ dùng, đồ chơi

Tỉ lệ
Số trẻ đạt
%

Số trẻ
Tỉ lệ
chưa
%
đạt
5
2,2

230/235

97,8

230/235

97,8

5

2,2

235/235

100

0

0

235/235

100

0

0

225/235

95,7

10

4,3

220/235

93,6

15

4,4

3. Kết luận, kiến nghị.
3.1. Kết luận.
Trong quá trình chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt nội dung giáo dục và bảo
vệ môi trường để đạt được kết quả cao thì việc đầu tiên người quản lý phải tích
cực tham mưu với lãnh đạo địa phương, các bậc phụ huynh đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất tạo khuôn viên, môi trường, trường lớp học thông thoáng, rộng rãi
cho cô và trẻ thực hiện. Mua sắm đầy đủ các đồ dùng dụng cụ làm vệ sinh môi
trường…
Nắm vững được các nguyên tắc tích hợp nội dung giáo dục và bảo vệ môi
trường để chỉ đạo giáo viên lồng ghép vào với nội dung giáo dục sao cho phù
hợp với chủ đề,chủ điểm, phù hợp với từng môn học,với từng hoạt động trong
ngày của trẻ.
Thường xuyên kiểm tra dự giờ thăm lớp để nắm bắt tình hình thực hiện
nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường của cô và trẻ bằng cách dự giờ đột
xuất, dự giờ có báo trước, kiểm tra giáo án, kiểm tra hồ sơ của trẻ, kiểm tra
trực tiếp trên trẻ. Khuyến khích giáo viên, học sinh các bậc phụ huynh sưu
tầm các nguyên vật liệu phế thải để tạo ra được nhiều đồ dùng, đồ chơi thiết
thực phục vụ cho hoạt động học tập và hoạt động vui chơi của trẻ
Phát động giáo viên sưu tầm cây bóng mát, các loại cây cảnh…để tạo nên
môi trường học tập xanh, sạch, đẹp và cũng là hưởng ứng cuộc vận động “ Xây
dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”.
Giáo viên phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội dung giáo dục bảo vệ
môi trường và môi trường đối với sự phát triển của trẻ. Vì thế đòi hỏi giáo viên
phải nghiên cứu và hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để từ đó có những biện
pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường,mọi lúc mọi nơi không ngại
khó,ngại khổ, ngại bẩn…

15


Tích cực tìm tòi, sáng tạo áp dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy
để áp dụng nội dung chuyên đề một cách phù hợp với khả năng của trẻ và tình
hình thực tế ở trường, lớp
Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, bài giảng điện tử sưu tầm băng
hình chất lượng cao để lưu giữ và sử dụng trên tiết học và các hoạt động
Bên cạnh đó giáo viên và nhà trường còn phải làm tốt công tác tuyên
truyền đến các cấp lãnh đạo, các ngành đoàn thể,phụ huynh học sinh và cùng
toàn thể nhân dân giúp họ hiểu sâu, hiểu đúng về môi trường từ đó họ cùng
chung tay với nhà trường, với cô giáo cùng nhau giáo dục thế hệ trẻ của chúng
ta nhất là trẻ lứa tuổi mầm non để hình thành ở trẻ thói quen tốt, những hành vi
phù hợp với môi trường
3.2. Kiến nghị.
* Đối với địa phương.
Cần quan tâm sâu sắc đến ngành học mầm non, tuyên truyền trên các
thông tin đại chúng, các buổi họp giao ban với trường các ban ngành đoàn thể
và tìm ra những giải pháp tốt nhất tránh tình trạng gây ô nhiễm đồng thời có
biện pháp sử lý phân loại rác thải kịp thời. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, các
trang thiết bị đồ dùng đồ chơi và tạo khuôn viên của trường xanh, sạch , đẹp
tạo môi trường cho trẻ được hoạt động học tập và vui chơi sạch sẽ, khoa học
* Đối với ngành giáo dục.
Mở các lớp chuyên đề, tập huấn cho giáo viên rèn luyện thêm các kỹ năng
về giáo dục bảo vệ môi trường. Mở các lớp tập huấn về giáo dục bảo vệ môi
trường cho giáo viên tìm hiểu và tăng thêm kiến thức
Đầu tư thêm kinh phí cho ngành học mầm non và hỗ trợ thêm các trang
thiết bị có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường như: Đĩa DVD, tập san…về
nạn phá rừng, rác thải, khí thải, khói bụi…
Phát động phong trào sáng tác thơ ca, truyện kể, trò chơi, câu đố… hội thi
của giáo viên, hội thi cháu, hội giảng có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi trong quá trình chỉ đạo giáo viên,
nhà trường thực hiện tốt công tác nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường đã
có kết quả và thành công. Trong quá trình thực hiện cũng còn có những thiếu
xót nên rất mong được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học, các bạn bè
đồng nghiệp để đề tài của tôi hoàn thiện và đạt kết quả cao hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 22 tháng 4 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
không sao chép nội dung của người khác.

Lê Thị Thanh

Nguyễn Thị Phương

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ tài liệu Hướng dẫn thực hiện chương trình Chăm sóc - Giáo dục
mầm non. Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Dự thảo chương trình giáo dục Mầm non (2005). Viện Chiến lược và
Nghiên cứu chương trình Giáo dục và Vụ Giáo dục Mầm non.
3. Xây dựng chương trình đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào các trường
mẫu giáo. Dự án. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hà Nội, 1999.
4. Lê Văn Khoa (2002). Khoa học môi trường. Hà Nội.
5. Lê Xuân Hồng (2005). Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong
chương trình đào tạo giáo viên mầm non (Đề tài cấp bộ và Dự án Môi trường)
6. Hoàng Thị Hồng Mát (2011).Hướng dẫn thực hiện nội dung Giáo dục
bảo vệ môi trường trong trường Mầm non

17


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Phương
Chức vụ và đơn vị công tác: - Phó hiệu trưởng - Trường Mầm non Hoằng Thái
TT

Tên đề tài SKKN

1

Một số biện pháp giúp trẻ học
tốt môm toán

Cấp tỉnh

Kết quả Năm học
đánh giá đánh giá
xếp loại
xếp loại
2000
- 2001
B

Cấp huyện

B

2006 - 2007

2

Một số biện pháp giúp trẻ học
tốt môn văn học

Cấp Huyện

A

2009 - 2010

3

Nâng cao hoạt động dạy và
học thông qua việc hướng dẫn
trẻ khám phá khoa học

B

2013 - 2014

4

Một số biên pháp tổ chưc hoạt Cấp huyện
động góc cho trẻ mẫu giáo

C

2015- 2016

5

Một số biện pháp nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên

Cấp đánh
giá xếp loại

Cấp huyện

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×