Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp trẻ 5 6 tuổi học tốt môn văn học

MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19

20

Nội dung

Trang
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1
1.1. Lý do chọn đề tài:
1
1.2. Mục đích nhiên cứu.
2
1.3. Đối tượng nhiên cứu.
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2
2. NỘI DUNG
2
2.1. Cơ sở lý luận
2
2.2. Thực trạng của vấn đề
4
2.3. Biện pháp thực hiện
5
Biện pháp 1:Tích cực học tập rèn luyện để nâng cao trình độ
5
chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm về môn văn học
Biện pháp 2: Đổi mới phương pháp dạy học theo phương pháp
7
dạy học lấy trẻ làm trung tâm.
Biện pháp 3: Thông qua giờ hoạt động chung
8
Biện pháp 4: Thông qua các giờ học khác
12
Biện pháp 5: Thông qua mọi lúc mọi nơi
13
Biện pháp 6: Thông qua các ngày hội ngày lễ
14
2.4. Hiệu quả của đề tài
16
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ


17
3.1.Kết luận
17
3.2. Kiến nghị
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
19

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chän ®Ò tµi
Như chúng ta đã biết Giáo dục mầm non là ngành học mở đầu trong hệ
thống giáo dục Quốc dân, chiếm vị trí rất quan trọng. Giáo dục mầm non có
nhiệm vụ xây dựng những cơ sở ban đầu, đặt nền móng cho việc hình thành
nhân cách con người. Đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, ở cái thời
điểm ấy tất cả mọi việc đều bắt đầu: Bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn
và vận động bằng đôi chân, đôi tay của mình ….Tất cả những cử chỉ đó đều làm
nên những thói quen tốt, kể cả thói quen xấu. Vì vậy giáo dục mầm non đã góp
phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của nước nhà.
Trẻ em luôn ngây thơ, hồn nhiên trong sáng và luôn dành được sự quan
tâm chăm sóc của mọi người. Đặc biệt khi Bác Hồ còn sống dù bận rất nhiều
1


việc nhưng Bác vẫn dành thời gian quan tâm đến mọi người nhất là các cháu
thiếu niên nhi đồng. Như nhạc sỹ Phong Nhã đã viết:
“ Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh
Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” ‘1’
Đúng vậy! Sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng ta khi còn sống Bác rất
quan tâm đến mọi người, nhất là các cháu thiếu niên nhi đồng. Bác luôn quan
tâm đến từng bữa ăn, giấc ngủ và sự tiến bộ của các cháu. Bác Hồ nói: “Trẻ thơ
như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Thông qua hoạt
động dạy và học dưới hình thức như tạo hình, hoạt động với đồ vật, môi trường
xung quanh… sẽ giúp trẻ phát triển trí tuệ, óc sáng tạo, nhân cách con người
“làm quen văn học” là một hoạt động không thể thiếu được đối với trẻ ở lứa tuổi
mầm non, vì thông qua các hoạt động làm quen với các tác phẩm văn học là loại
hỉnh nghệ thuật, đặc sắc, nghệ thuật không thể thiếu được trong đời sống con
người. Đặc biệt nó rất gần gũi với trẻ thơ, từ buổi đầu thơ ấu trẻ đã sống tran hòa
trong không khí lời ru “ầu ơ” đầy yêu thương tận tình của mẹ, bà… và đó cũng
là cánh cửa mở ra chân trời nhận thức cho trẻ. Từ khi lọt lòng mẹ đến lúc chập
chững tập đi, tập nói, đến lúc trẻ biết viết, đọc thì văn học là chiếc cầu nối, là
phương tiện dẫn dắt trẻ. Nói những tiếng nói, đi những bước đi đầu tiên, ngôn
ngữ trau chuốt của trẻ, ca dao, chuyện kể là tấm gương mẫu mực về lời ăn tiếng
nói cho trẻ học tập là phương tiện hữu hiệu trong việc giáo dục trẻ lòng yêu
thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, tình yêu mến bạn bè, với những người
thân, biết được việc làm tốt, biết yêu cái đẹp, cái thiện, ghét cái ác, phê phán
những việc xấu.
Song song với việc giáo dục trẻ ở trường mầm non thì sự phối hợp nhịp
nhàng giữa nhà trường, gia đình và xã hội là một khâu quan trọng nhằm hình
thành và phát triển trẻ một cách toàn diện. Ngay từ khi mới lọt lòng mẹ chúng ta
đã được nghe những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ, những lời ru đó đã đi vào
trong tâm trí chúng ta cho đến khi trưởng thành, lời ru nhắn nhủ chúng ta về tình
yêu quê hương đất nước, về vẻ đẹp của quê hương, về tình cảm con người với
nhau...
Lớn lên chút nữa ta lại được bay bổng trong thế giới cổ tích như được vui
chơi những trò chơi gắn với những câu ca dao, đồng dao “ Chi chi chành chành
” hay “ Nu na nu nống ”.
Chúng ta lớn lên bằng những tiếng ru ấy và cũng lớn lên bằng những câu
chuyện thần tiên. Ta lớn lên về thể xác và cũng mở rộng dần đôi cánh của tâm
hồn và tình cảm. Chính vì lẽ đó việc cho trẻ mầm non ở độ tuổi 5- 6 tuổi làm
quen với các tác phẩm văn học là hết sức quan trọng và cần thiết bởi vì : Thông
qua văn học giúp cho trẻ nhận biết được thế giới xung quanh, mở rộng vốn hiểu
biết của trẻ đối với thiên nhiên và cuộc sống xung quanh thông qua đó trẻ biết
tích luỹ được những kinh nghiệm sống.
Đặc biệt thông qua việc làm quen với văn học giúp cho ngôn ngữ của trẻ
phát triển, làm phong phú thêm vốn từ của trẻ, trẻ biết dùng từ chính xác biểu cảm.
Văn học còn giúp cho trẻ nhận biết được cái hay, cái đẹp, cái thiện, cái ác.
Xuất phát từ vấn đề trên hơn nữa bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp
đứng lớp dạy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nên tôi mạnh dạn chọn đề tài "Một số biện
2


pháp giúp trẻ 5- 6 tuổi học tốt môn văn học " với mục đích giúp trẻ dễ dàng
hơn trong việc cảm nhận ngôn ngữ nghệ thuật của thơ chuyện và biết thể hiện nó
bằng chính ngôn ngữ hành động của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu khả năng cảm thụ tác phẩm văn học (Truyện của trẻ mẫu giáo 56 tuổi) Từ đó tôi đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cho trẻ làm
quen với tác phẩm văn học một cách tốt nhất.
Văn học còn có tác dụng giáo dục về mọi mặt đối với trẻ như: Phát triển đạo
đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể lực và đạc biệt là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện
để giao tiếp và dùng ngôn ngữ để bày tỏ nguyện vọng của mình đồng thời ngôn
ngữ là công cụ của tư duy vì vậy các nhà giáo dục sử dụng nhiều phương pháp
văn học khác nhau vào trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ.
1.3.Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giúp trẻ 5- 6 tuổi học tốt môn văn học
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài
- Phương pháp dùng lời nói
- Phương pháp cho trẻ được thực hành trải nghiệm
- Phương pháp dùng hình ảnh minh họa.
2. NỘI DUNG
2.1.Cơ sở lý luận.
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em
Việt Nam. Phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp, các
ngành và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
Giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với con người nhất là tuổi mầm non
khi mới đến trường, đòi hỏi những nhà giáo dục trẻ phải là người có đạo đức,
mẫu mực, có trình độ, yêu nghề, mến trẻ .
Giáo dục môn văn học cho trẻ mầm non nói chung và cho trẻ làm quen với các
tác phẩm văn học nói riêng là một trong những môn học vô cùng quan trọng.
Tình yêu thiên nhiên là điểm khởi đầu của tình yêu quê hương đất nước,
yêu con người, giáo dục lòng nhân ái cho trẻ. Việc cho trẻ làm quen với các tác
phẩm văn học giúp cho trẻ thêm yêu quê hương đất nước, yêu lãnh tụ, yêu ông
bà cha mẹ, anh chị em và bạn bè của mình hơn.
Trong chương trình giáo dục mầm non, hoạt động học của trẻ rất phong
phú, đa dạng với nhiều hoạt động học khác nhau và được tổ chức với nhiều hình
thức ...một cách linh hoạt để giúp trẻ lĩnh hội tri thức, phát triển kỹ năng của
hoạt động học theo nội dung của chủ đề. Trong đó hoạt động làm quen văn học
chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Làm quen
văn học nhằm tạo tiền đề cho việc phát triển ngôn ngữ, phát triển trí tưởng
tượng, phát triển nhân cách, phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội, phát triển
thẩm mỹ cho trẻ; chuẩn bị cho trẻ vào học ở lớp một. Trẻ được tiếp xúc với tác
phẩm văn học từ rất sớm: Từ khi lọt lòng mẹ trẻ đã được nghe những câu ru
thấm đợm tình người. Lớn hơn một chút trẻ được sống trong thế giới kỳ diệu của
những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích..., những ước mơ của trẻ cứ
3


thế chắp cánh bay xa... Thông qua hoạt động cho trẻ làm quen văn học, giúp trẻ
có được vốn hiểu biết, vốn từ nhất định và tạo cho trẻ tâm thế vững vàng khi
bước vào lớp một.
Qua các tác phẩm văn học còn giúp cho trẻ phát triển về mặt thẩm mỹ,
thông qua những từ ngữ, hình ảnh đẹp trong tác phẩm văn học giúp cho trẻ cảm
nhận được cái hay, cái đẹp trong cuộc sống xung quanh mình .
Trẻ khi mới sinh ra chưa có khả năng sáng tạo. Khả năng sáng tạo chỉ
được hình thành trong quá trình trẻ tham gia vào cuộc sống xã hội dưới tác động
có mục đích, mọi trẻ em bình thường đều có khả năng sáng tạo nghệ thuật nếu
được hướng dẫn đúng đắn về mặt sư phạm
Với vai trò là giáo viên chủ nhiệm lớp cô là người trực tiếp chăm sóc giáo
dục cho trẻ, bản thân tôi luôn suy nghĩ, trăn trở và chọn cho mình những nội
dung, hình thức, giải pháp phù hợp với điều kiện của lớp mình từ đó xây dựng
kế hoạch và tiến hành triển khai thực hiện để giúp trẻ học tốt môn văn học, biết
được sự tích của các danh lam thắng cảnh đất nước, biết được sự tích của các
câu chuyện cổ tích....
Mục tiêu chiến lược phát triển của giáo dục mầm non từ nay đến 2020 đã
đưa ra quan điểm xác định vị trí của giáo dục mầm non đặt nền móng cho sự
phát triển nhân cách thông qua hệ thống giáo dục quốc dân tạo tiền đề để phổ
cập giáo dục tiểu học
Mục tiêu chung của phát triển giáo dục mầm non đến 2010 là nhanh
chóng mở rộng phạm vi phạm vi chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ 0-6 tuổi trên
cơ sở xây dựng một đội ngũ giáo viên hiểu biết nghiệp vụ , tâm huyết với nghề.
Giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với con người nhất là trẻ ở lứa tuổi
mầm non khi mới đến trường, đòi hỏi những nhà giáo dục phải là người có đạo
đức, mẫu mực, có trình độ, yêu nghề, mến trẻ.
Giáo dục môn văn học cho trẻ mầm non là môn học vô cùng quan trọng.
Thông qua các tác phẩm văn học còn giúp cho trẻ phát triển về mặt thẩm mỹ từ
những từ ngữ, hình ảnh đẹp trong tác phẩm văn học giúp cho trẻ cảm nhận được
cái hay, cái đẹp trong cuộc sống xung quanh mình và cũng từ những câu chuyện
bài thơ trẻ biết được cái tốt cái xấu, cái thiện cái ác từ đó hoàn thiện nhân cách
trẻ một cách toàn diện.
2.2.Thực trạng
2.2.1.Tình hình thực tế của lớp
Trong năm học 2017 – 2018 được sự phân công của nhà trường, Tôi
chú nhiệm lớp A1(trẻ 5- 6 tuổi ). Lớp có 26 trẻ. Trong đó:
+ Trẻ nam: 13 cháu
+ Trẻ nữ: 13 cháu.
Các cháu đều khỏe mạnh, đi học chuyên cần, có một số cháu khá hiếu động.
Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường về trang bị đầy đủ cơ sở
vật chất, phòng học rộng rãi, thoáng mát, tài liệu, đồ dùng đồ chơi cho cô và trẻ
đầy đủ, được góp ý xây dựng bồi dưỡng kiến thức chuyên môn qua các buổi dự
giờ, thăm lớp…và được sự ủng hộ của các bậc phụ huynh.

4


Tuy nhiờn la tui mu giỏo ln tr nhn thc vn cũn cn phi cú
nh hng v lụi cun tr vo bi hc, cho nờn cụ giỏo phi dnh nhiu thi
gian to ra cỏc tỡnh hung hp dn a tr vo bi hc.
Lp vn cũn mt s tr phỏt õm cha rừ rng, cũn núi ngng, núi nh, tr
cha t tin khi tham gia cỏc hot ng.
Mụi trng gia ỡnh, xó hi mt s ni tr vn hc c nhng iu cha
tt, ớt nhiu cng nh hng n vic giỏo dc tr.
T tỡnh hỡnh thc t ca lp tụi ó c gng bng cỏch khụng ngng hc hi
ng nghip, tỡm hiu tõm sinh lý tr, yờu ngh, mn tr v luụn to ra nhiu
dựng, chi phong phỳ hp dn, su tm nhiu cỏch vo bi phự hp vi ni
dung ch , la tui cho tr c hc v tip cn vi cỏc tỏc phm vn hc
giu cm xỳc tr phỏt trin mt cỏch ton din
* Thun li:
- Trng nm ngay trung tõm xó nờn cú nhiu thun li. 5 nm lin
trng c cụng nhn l "Tp th lao ng tiờn tin " õy cng chớnh l ng
lc v nim t ho Cỏn b giỏo viờn , nhõn viờn t nõng cao trỡnh chuyờn
mụn nghip v ca chớnh mỡnh.
- c s quan tõm, ch o, hng dn ca Ban Giỏm hiu v t chc
hot ng vn hc ca tr.
- Luụn nhn c s giỳp , nhng kinh nghim ca ng nghip v c
s vt cht tng i y , phc v cho vic dy v hc mụn vn hc.
- Giáo viên đợc quán triệt, tiếp thu, bồi dỡng nội dung kế
hoạch chuyên đề một cách đầy đủ, sử dụng nguyên vật liệu
sẳn có ở địa phơng và đã thể hiện đồng bộ về chơng trình
đổi mới cho từng độ tuổi.
- Cú sự quan tâm giúp đỡ, s ng h nhit tỡnh ca cỏcc bc
ph huynh.
* Khú khn:
Bờn cnh nhng thun li nờu trờn, nh trng v i ng giỏo viờn cũn
gp khụng ớt khú khn nh.
- Trang thit b, dựng cha ng b
- Cha cú iu kin cho tr i tham quan cỏc khu di tớch lch s trc tip
tr c quan sỏt tri nghim c th.
- S tr trong lp cha ng u v cht lng, mt s chỏu cũn nhỳt nhỏt
trong khi tham gia vo hot ng.
* Kt qu kho sỏt cht lng u nm:
-Tng s tr ca lp: 26 chỏu.
- S tr c kho sỏt: 26 chỏu
TT
Cỏc ni dung
S chỏu t T l%
1.
Tr nh tờn truyn
21/26
80,6
2.
Hiu ni dung th, truyn
19/26
73,2
3.
Tr li cỏc cõu hi ca cụ
20/26
76,9
4.
Th hin c ng iu ging cỏc nhõn vt 18/26
69,2
5.
Bit nhp vai v úng kch theo vai
18/26
69,2
5


6.

Biết kể chuyện sáng tạo

18/26

69,2

7.
Trẻ thuộc thơ và đọc diễn cảm
21/26
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

80,6

Từ những thực trạng trên của môn Làm quen tác phẩm văn học cho trẻ 56 tuổi trong năm học 2017– 2018. Trên thực tế Tôi xin chia sẻ một số biện pháp,
hy vọng nhằm nâng cao và cải thiện hơn nữa chất lượng môn văn học cho trẻ 56 tuổi như sau:
*Biện pháp 1: Tích cực học tập rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm về môn văn học
Đứng trước thời kì đổi mới của đất nước, người GVMN rất cần thiết phải rèn
luyện và nâng cao năng lực nghề nghiệp của mình, đặc biệt là Năng lực sư
phạm. Giáo viên có những năng lực sư phạm là người đã tích lũy được vốn tri
thức, hiểu biết về kĩ năng nhất định để làm được những công việc chăm sóc và
giáo dục trẻ mầm non.
Ngoài ra, để thuận lợi trong quá trình lựa chọn việc làm, hay có thể thành công
hơn trong nghề nghiệp sau này, bản thân cần phải có năng lực sư phạm chuyên
biệt, như: hát hay, múa dẻo, đàn giỏi, vẽ tranh đẹp, làm đồ chơi tài tình, kể
chuyện hấp dẫn, ... Những năng lực chuyên biệt này sẽ giúp tôi có được những
hoạt động mang tính hấp dẫn, sinh động, gây được nhiều hứng thú đối với trẻ
nhỏ, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cảm xúc thẩm mĩ, đạo đức của các em.
Đây cũng là những mặt mạnh, là những đánh giá nổi bật về khả năng của bản
thân trong quá trình giáo dục trẻ. Bên cạnh đó, mỗi GVMN đều phải hiểu được
đặc điểm lao động của nghề là: luôn thể hiện các chức năng chăm sóc, giáo dục,
bảo vệ trẻ thơ, lấy quan hệ tình cảm yêu thương mẹ - con làm yếu tố quyết định.
Vì thế, lòng yêu trẻ là phẩm chất số 1 trong nhân cách một GVMN đích thực.
GVMN không chỉ là người thầy vun đắp tri thức, mà còn thực sự là người mẹ
hiền thứ hai của các em. Nếu không yêu thương trẻ và đam mê với nghề thì việc
trở thành GVMN trong thời đại mới đã khó, mà trụ vững được với nghề còn khó
khăn hơn nhiều. Hàng năm tôi thường được tham gia các lớp tập huấn về chuyên
môn nghiệp vụ, không chỉ vào thời gian đầu năm học do trường, phòng tổ chức,
mà trong suốt quá trình làm Giáo viên tôi đều có ý thức tự học: tham gia các
buổi dự giờ, sinh hoạt chuyên môn cùng đồng nghiệp, tham quan các trường bạn
về cách sắp xếp, tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ; tìm hiểu chương trình
CSGD của các trường, qua các cuộc họp, hội thảo; tham dự các hội thi của
ngành, tham gia các lớp học nâng cao trình độ; xem phim ảnh, học trực tuyến
qua truyền hình và internet những nội dung liên quan đến chuyên ngành GDMN
và đặc biệt là với môn văn học; tôi đã học và tìm hiểu thêm các kĩ năng đọc kể
diễn cảm theo các tác phẩm văn học cũng như các bài thơ, học các phương pháp
dạy học và học cách truyền đạt cho trẻ đạt hiệu quả;
Có thể nói, GVMN là người quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo ở bậc
học đầu tiên này. Mỗi đứa trẻ sau này sẽ là ai, sẽ trở thành người như thế nào,
nhân cách của trẻ sẽ phát triển ra sao?... Một phần trách nhiệm thuộc về các cô
nuôi dạy trẻ, “người mẹ hiền thứ hai” của các em.
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ, nền giáo dục Việt Nam
6


đang đứng trước những cơ hội và thách thức. GDMN cần khẳng định vai trò và
vị trí của mình, mỗi giáo viên MN cần không ngừng tu dưỡng rèn luyện phẩm
chất và năng lực, cần tạo cho mình bản lĩnh nghề Đối với giáo viên mầm non,
khác với giáo viên các bậc học khác, để thực hiện tốt hoạt động cụ thể của
mình, đó là nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các cháu, người giáo viên phải có
những năng lực nhất định như:
- Khi nói đến hoạt động giáo dục trẻ thì người giáo viên cần có năng lực xây
dựng chương trình giáo dục, năng lực lập kế hoạch giáo dục dài hạn, năng lực
xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho trẻ, năng lực tổ chức các hoạt động
giáo dục..., và kèm theo các kĩ năng cụ thể.
- Khi nói đến hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho trẻ thì người giáo
viên cần có: năng lực trong thái độ ứng xử và ý thức trong việc chăm sóc sức
khỏe cho trẻ nhỏ, năng lực truyền đạt và hướng dẫn trẻ thực hiện những yêu cầu
của giáo viên, năng lực tổ chức thực hiện việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ.
Những năng lực này được thể hiện qua hàng loạt các kĩ năng trong khi làm việc
với trẻ như những kĩ năng tổ chức cho trẻ ăn, ngủ, kĩ năng tổ chức cho trẻ vệ
sinh cá nhân,...
Thông qua văn học cần phải bắt đầu từ việc làm thế nào phát triển được
năng lực tri giác cái đẹp của trẻ. Các tác phẩm văn học viết cho trẻ như 1 khung
cửa sổ rộng lớn với bao sắc màu, bao âm thanh kỳ diệu về cuộc sống và vô vàn
sự vật hiện tượng chuyển động, biến đổi không ngừng. Do đó trẻ cô cần giúp trẻ
có khả năng, kỹ năng tri giác bằng tất cả các giác quan một cách có ý thức về cái
đẹp, hướng dẫn cho trẻ cách quan sát, chú ý những sự vật, hiện tượng trong tự
nhiên được phản ánh trong tác phẩm; giúp trẻ biết tìm và phát hiện ra cái đẹp,
biết phân biệt cái đẹp và cái xâú.
Trẻ được nghe cô đọc, trẻ đọc theo hay tự đọc thì trong quá trình đó trẻ
bắt đầu cùng cô tri giác, cảm nhận tác phẩm để quan sát và khám phá cái đẹp.
Trẻ có thể sử dụng nhiều giác quan để tri giác tác phẩm. Bài thơ Hoa kết trái
được viết bằng những câu từ ngắn gọn, trong sáng, gần gũi với trẻ thơ, đã mở ra
trước mắt trẻ những bông hoa đẹp rực rỡ sắc màu: vàng vàng, đốm lửa, trắng
tinh…đang tỏa hương thơm dưới ánh nắng mặt trời. Thông qua những hình ảnh
đó, không chỉ giúp trẻ cảm nhận được vẻ đẹp lộng lẫy, tươi tốt của các loài hoa
trong vườn, biết trân trọng, gìn giữ bảo vệ cái đẹp mà còn biết nhìn và phát hiện
ra cái đẹp trong ngôn ngữ với biện pháp so sánh nhân hóa, điệp vần, liên
tưởng....đem đến cho trẻ cảm xúc tươi mới về thế giới xung quanh.

7


Thông qua giờ học thơ
* Biện pháp 2: Đổi mới phương pháp dạy học theo phương pháp dạy học lấy
trẻ làm trung tâm.
Thực chất của quan điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm là hệ phương
pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm còn gọi là hệ phương pháp
dạy- tự học, được xem là một hệ thống phương pháp dạy học có thể đáp ứng
được các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
Dạy học lấy trẻ làm trung tâm là đặt trẻ vào vị trí trung tâm của hoạt động
dạy – học với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người – vừa là chủ
thể vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học
tập và sự trợ giúp của phương tiện thiết bị hiện đại, để cho tiềm năng của mỗi
học sinh được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả vào việc xây dựng cuộc
sống cho cá nhân, gia đình và xã hội.
Phương pháp dạy- học lấy trẻ em là trung tâm là phương pháp học tập tích
cực, khác với phương pháp dạy học truyền thống. Giáo viên được tập huấn
cách thiết kế và giảng dạy theo phương pháp dạy- học tích cực, lấy học sinh làm
trung tâm, áp dụng các kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng đặt câu hỏi,
phương pháp đóng vai, tự làm đồ dùng đồ chơi bằng nguyên vật liệu sẵn có, sử
dụng trò chơi học tập… tổ chức hoạt động luôn đặt trẻ vào trung tâm của quá
trình giáo dục, có nghĩa là tạo mọi cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động:
8


*Hoạt động trải nghiệm : Trẻ được trực tiếp tham gia vào nội dung câu truyện
thông qua đóng vai các nhân vật
Ví dụ 1: Truyện “Chú Dê Đen”
- Giọng Dê Trắng thì yếu ớt, run sợ và nói ngắt quãng, chân tay run
lên vì sợ sệt
- Giọng Dê Đen: đanh thép, dáng vẻ bình tĩnh.
- Giọng Chó Sói to, quát nạt dữ tợn khi nói với Dê Trắng
- Giọng Chó Sói nói với Dê đen đầu tiên quát nạt sau đó chuyển sang lo
lắng ngần ngừ, sợ sệt.
Sau khi trẻ đã tham gia đóng kịch tôi có thể đặt ra một số câu hỏi để hỏi và
khích lệ trẻ.
+ Hôm nay các con học được điều gì?
+ Chúng mình làm được những gì?
+ Ai thích điều gì nhất?
- Tôi đã gây hứng thú trực tiếp cho trẻ bằng trải nghiệm như quan sát qua vật
thật hay qua hình ảnh minh họa.
- Trẻ được khuyến khích và chủ động nói ra những điều mình cảm nhận được
để nói lên nhận xét cá nhân.
- Tôi khuyến khích trẻ nói ra càng nhiều càng tốt, có thể đầy đủ hay chưa đầy
đủ; đúng hay chưa đúng không quan trọng mà chỉ cần trẻ dám nói và được nói
ra. Nhờ đó mà trẻ của tôi rất tự tin nói ra những điều mình suy nghĩ.
- Qua hoạt động này tôi muốn trẻ được tự điều chỉnh hiểu biết của mình qua
câu trả lời của bạn và qua việc trực tiếp quan sát.
- Trẻ được tự suy ngẫm và đánh giá hiểu biết kỹ năng của mình.
- Thông qua trò chơi trẻ được củng cố lại hệ thống kiến thức mà trẻ đã học
nhằm khắc sâu cho trẻ kiến thức cần cung cấp mà không bị nhàm chán và lặp
lại.
* Biện pháp 3: Làm quen văn học trên giờ hoạt động chung
Do đặc điểm của lứa tuổi nên giáo dục học sinh mẫu giáo cần tiến hành
theo phương châm " Học mà chơi, chơi mà học" để mang lại hiệu quả và
hứng thú cho trẻ. Vào đầu giờ học cô trò chuyện với trẻ theo nội dung đề tài
hoặc cho trẻ đi tham quan mô hình, tranh ảnh đồng thời trò chuyện theo nội
dung bức tranh để dẫn dắt trẻ đến nội dung tác phẩm văn học. Khi trò chuyện
cô cần sử dụng từ tượng thanh, tượng hình, các từ láy hoặc có thể gợi hỏi để
trẻ nói cảm xúc của mình qua bài thơ, câu chuyện. Có thể tích hợp qua một số
môn học khác: Toán- Khám phá khoa học- giáo dục âm nhạc... Một cách nhẹ
nhàng để giờ học sinh động phong phú, sau đó cô giới thiệu bài thơ hoặc
câu chuyện sắp học.
Cô đọc hoặc kể diễn cảm câu chuyện bài thơ một hai lần, giúp trẻ cảm
nhận âm điệu, tình tiết, nội dung bài thơ, câu chuyện.
Sau đó giảng nội dung bài thơ cho trẻ hiểu rồi cô kể trích dẫn làm rõ
những ý chính trong bài thơ, câu chuyện, giảng một vài từ khó trong bài thơ câu
chuyện, giúp trẻ hiểu nghĩa của từ và cung cấp vốn từ cho trẻ.
Tiếp đến đàm thoại theo nội dung bài thơ, câu chuyện giúp trẻ hiểu nội
dung và nhớ trình tự nội dung, phân biệt các nhân vật trong chuyện nhớ lại trình
9


tự chuyện đặc biệt là để trẻ tự do giao lưu với cô hoặc thảo luận với nhau về các
nhân vật trong truyện.
Bây giờ cô mới cho trẻ đọc thơ cùng cô hoặc kể truyện khi trẻ đọc thơ cô
cần chú ý sửa sai khi trẻ phát âm, cách ngắt nhịp thơ hoặc nhấn nhá giọng
của nhân vật, cho trẻ thi đua với nhau nhằm giúp trẻ học tốt.
Sau đó cho trẻ đọc thơ hoặc kể truyện theo tranh, có thể cô viết nội dung
bài thơ câu chuyện dưới bức tranh để trẻ có thể kể theo ngôn ngữ của trẻ
và khắc sâu qua tranh vẽ.
Có những câu chuyện cô có thể cho trẻ đóng kịch theo nội dung chuyện
trẻ tự phân các vai đóng kịch. Nhằm giúp trẻ nhớ lại trình tự chuyện và
trẻ thể hiện bằng ngôn ngữ vì đóng kịch là một hình thức để phát triển
ngôn ngữ, phát triển trí nhớ và giáo dục tinh thần tập thể cho trẻ. Qua
đóng kịch trẻ truyền lại được nội dung chuyện, làm sống lại tâm trạng,
hành động, ngôn ngữ của các nhân vật trong chuyện đồng thời thể hiện
tình cảm và sự đánh giá của trẻ đối với các nhân vật.
Kết thúc giờ học cho trẻ chơi một trò chơi nhẹ có nội dung phù hợp với
nội dung bài thơ, câu chuyện đang học.
Trẻ làm tranh chuyện, cắt dán tranh để trẻ nhớ lại trình tự nội dung câu
chuyện.
Kinh nghiệm qua việc dạy trẻ tôi nhận thấy: Muốn cho trẻ cảm thụ tốt âm
điệu, nhịp điệu bài thơ khi đọc mẫu cho trẻ nghe cô nên đọc thật êm dịu,
nhẹ nhàng, chú ý ngắt nhịp, đọc nhấn mạnh vào các từ mang tính nhịp
điệu hoặc khi kể chuyện trẻ nghe cô kể phải diễn cảm, thể hiện giọng nói
điệu bộ,cử chỉ từng nhân vật trong truyện, thơ.
Ví dụ : Thơ “Giữa vòng gió thơm”
+ Đọc diễn cảm: 8 câu thơ đầu đọc với giọng chậm rãi thể hiện sự băn
khoăn, lo lắng khi bà bị ốm, 4 câu thơ tiếp theo đọc với nhịp độ bình thường,
nhấn vào các từ “nhỏ nhắn”; “phe phẩy”; “ đều đều”; “ rung rinh”. Các câu thơ
tiếp theo đọc chậm rãi thể hiện tình cảm yêu mến, quan tâm chăm sóc đến bà.
Bài thơ chủ yếu đọc theo nhịp: 2: 2
Chỉ có một số câu sau đọc theo nhịp 1. 1.2
Này/ chú/ gà Nâu
Chớ/ gào/ ầm ĩ
Nắm vững được đặc điểm sinh lý của trẻ, tư duy trực quan hình tượng do vậy
mà việc sử dụng đồ dùng trực quan trong tiết học có vai trò cực kỳ quan trọng,
nó giúp trẻ hứng thú với tác phẩm.
+ Tôi sử dụng đồ dùng trực quan để giới thiệu tác phẩm.
Ví dụ 1: Cô đưa rối tay “ Xin chào các bạn! Đố các bạn biết mình là ai nào?
Mình là Cậu bé Mũi Dài. Có một câu chuyện rất hay nói về chiếc mũi của mình
đấy! Hôm nay mình sẽ kể cho các bạn nghe nhé: Truyện “Cậu bé Mũi Dài”
+ Tôi còn sử dụng hình ảnh trên máy chiếu để giảng từ khó, minh hoạ
cho lời kể
Ví dụ 2: Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao hoặc hình ảnh của
những bông hoa trong bài thơ: “Bó hoa tặng cô”
10


Tôi đưa hình ảnh cho trẻ xem kết hợp với lời giảng giải. Trẻ rất thích thú khi
xem các hình ảnh đó.
+ Minh hoạ cho câu chuyện
Tôi luôn dành thời gian sưu tầm những sản phẩm như rối tay, rối dẹt và cách
sử dụng khác nhau để minh hoạ cho câu chuyện, bài thơ thêm hấp dẫn.
Ví dụ: Rối bông, rối dẹt, thơ, quả chín, nhím, dê trắng, dê đen….
+ Sử dụng đồ dùng trực quan để giúp trẻ kể lại truyện
Ví dụ: Qua bức tranh cô giáo vẽ về truyện: “Chú dê đen” trẻ không chỉ hiểu
nội dung bức tranh mà còn tái hiện lại trình tự của truyện qua việc trẻ tự lên sắp
xếp lại trình tự của truyện.
Để tạo không khí vui tươi, sôi nổi và gây được hứng thú trong tiết học giúp
cho trẻ tiếp thu bài có hiệu quả, dễ nhớ và nhớ lâu tôi đã lồng bài hát và trò chơi
vào các hoạt động có chủ định.
Ví dụ: Để tạo không khí sôi nổi, hứng thú vui tươi nhẹ nhàng trong tiết học
thu hút trẻ một cách thích thú, tôi tổ chức tiết học thành một chương trình vui có
những trò chơi hấp dẫn như chương trình “ Vườn cổ tích”; “Những nhà thông
thái hoặc chương trình”; “Trò chơi âm nhạc”; “Bé làm nghệ sĩ” và mở đầu các
chương trình bao giờ cũng có bài hát hướng trẻ vào nội dung của bài học.
Trong chương trình “Bé làm nghệ sĩ ” trẻ được tìm hiểu và tham gia các phần
thi kiến thức, trả lời các câu hỏi mang nội dung của từng phần, thi lồng tiếng cho
các nhân vật, trẻ thi kể chuyện theo tranh và được thi trổ tài(trẻ đóng kịch, ngâm
thơ, hát)
Và với đặc điểm tâm lý của trẻ lứa tuổi này là hiếu động mà hoạt động cho trẻ
làm quen với văn học là hoạt động tĩnh đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý cao vì
vậy những trò chơi hấp dẫn trẻ thì việc sử dụng câu đố, trò chơi, đồng dao có nội
dung liên quan tới tác phẩm là cần thiết.
Những bài đồng dao, ca dao có thể cô ngâm cho trẻ nghe. Trong hoạt động
làm quen với văn học cần đảm bảo các nội dung : thay đổi các hình thức giới
thiệu, cô kể chuyện hoặc đọc thơ hay, kết thúc cho trẻ chơi một trò chơi nhẹ có
nội dung phù hợp, tiết học được tổ chức thực hiện như trẻ được chơi với cô,
được gần gũi trò chuyện cùng cô để trẻ thoải mái không gò bó. Về đội hình
không cứng nhắc mà thay đổi liên tục nhiều đội hình khác nhau trong một giờ
học để trẻ thoải mái, nhanh nhẹ.
Trong một giờ học cô nên tuyên dương trước lớp kịp thời những trẻ đọc thơ,
kể chuyện hay, đóng kịch tốt để khuyến khích trẻ học tốt hơn. Tuyệt đối không
chê trách trẻ, nhẹ nhàng sửa sai đối vơi những trẻ thực hiện chưa đúng. Kết quả
dạy học phụ thuộc vào việc giáo dục. Do đó nội dung các bài dạy không chỉ đơn
thuần là một nội dung cần dạy cho trẻ, mà còn là một phương tiện giáo dục giúp
trẻ biết cách cư xử đúng mực, lễ phép với người lớn, yêu quý những người thân
yêu gần gũi, yêu quý thiên nhiên, đất nước mình.

11


Thông qua giờ làm quen tác phẩm văn học
- Dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
Dạy trẻ kể chuyện sáng tạo với nhiều đề tài khác nhau có thể là thực
hiện( Sinh nhật của Thỏ, chú vit xám, bác gấu đen, dán hoa tặng mẹ…)có thể là
truyện cổ tích, truyện đồng thoại ( cuộc phưu lưu của nhím con, sự tích cây tre,
cô bé quàng khăn đó…) Tôi có thể gợi ý để trẻ tự nghĩ ra nội dung câu chuyện,
cấu trúc logic thể hiện trong hình thức lời nói tương ứng với nội dung câu chuyện

Phát triển thông qua giờ kể chuyện sáng tạo
12


* Biện pháp 4 : Làm quen văn học qua các giờ học khác
Trong các giờ học khác đều có thể tích hợp môn làm quen văn học có thể là
những bài thơ, đồng dao, câu chuyện đã học hoặc chưa được học.
Ví dụ: Giờ học: Tìm hiểu về môi trường xung quanh chủ đề gia đình
" Gia đình của bé". Cô trò chuyện với trẻ về gia đình, gia đình con có
những ai, có bao nhiêu người, thuộc gia đình đông con hay ít con, gia đình lớn
hay gia đình nhỏ. Trong giờ học cô nên giáo dục trẻ thương yêu những người
trong gia đình, giúp đỡ bố mẹ, ông bà. Cho trẻ đọc thơ " Thương ông”, “ Giúp
mẹ”. Hoặc khi dạy trẻ "Làm chú bộ đội" trong chủ đề nghề nghiệp. Có thể tích
hợp văn học để cung cấp vốn từ cho trẻ qua việc cô trò chuyện với trẻ về chú bộ
đội đưa vào bài thơ " Chú bộ đội hành quân trong mưa"... Qua các giờ học khác
ta tích hợp cho trẻ làm quen văn học vào những lúc trò chuyện với trẻ theo đề tài
đưa vào thơ chuyện, đồng dao vào giờ học. Bên cạnh việc cung cấp vốn từ cho
trẻ còn giúp trẻ tìm hiểu về xung quanh. Hình thành cho trẻ tình cảm đối với con
người, cuộc sống, giúp cho các giờ học sinh động, hấp dẫn tránh sự nhàm chán
và giúp trẻ lĩnh hội kiến thức dễ dàng.

Thông qua giờ Làm quen với môi trường xung quanh

13


*Biện pháp 5: Làm quen văn học ở mọi lúc mọi nơi
Vào buổi sáng đón trẻ, giờ hoạt động ngoài trời, ngoài công việc nhắc trẻ
chào bố mẹ, giữ vệ sinh, tôi thường hay trò chuyện với trẻ theo chủ đề của
chương trình học.
Ví dụ: Chủ đề một số ngành nghề. Tôi trò chuyện với trẻ về gia đình có bao
nhiêu người bố mẹ con làm nghề gì, anh chị làm nghề gì, làm ở đâu, làm ra
những sản phẩm gì, hoặc trò chuyện với trẻ về công việc của một số ngành nghề
trong xã hội, ích lợi của công việc đó, nghề đó làm ra những sản phẩm gì, con
lớn lên thích làm nghề gì... Tôi cảm thấy có tác dụng rất lớn đối với trẻ. Trong
lúc trò chuyện cô đã cung cấp cho trẻ nhiều vốn từ giúp trẻ hiểu nghĩa của câu,
nói trọn câu, diễn đạt mạch lạc. Không những trẻ được tìm hiểu về thế giới xung
quanh, làm quen với kiến thức mới, mà còn giúp trẻ bước vào tiết học một cách
dễ dàng. Vì vậy trong lúc trò chuyện với trẻ cô phải nói rõ ràng, chính xác, ngắn
gọn, đủ nghĩa giúp trẻ học nói tốt hơn. Qua thời gian thực hiện tôi nhận thấy các
cháu mạnh dạn hồn nhiên, rất thích trò chuyện với người lớn. Đặc biệt có một
vốn từ rất đáng kể.

Phát triển thông qua các hoạt động ngoài trời
- Làm quen văn học thông qua giờ hoạt động góc
14


Trong một giờ hoạt động học có chủ định trẻ không thể thuộc được câu
chuyện hoặc thuộc bài thơ, cần cho trẻ làm quen văn học ở mọi lúc mọi nơi và
hoạt động góc. Gìờ hoạt động góc trẻ được tham gia chơi rất thoải mái, tự nhiên
thể hiện vai chơi, mạnh dạn, tôi cho trẻ chơi trò chơi :" cô giáo " ở góc phân vai,
một cháu làm cô giáo dạy các bạn đọc thơ hoặc kể chuyện giúp trẻ nhớ lại trình
tự chuyện hoặc củng cố những bài thơ đã học .
Ví dụ : Chơi về chủ đề: Trường Mầm non, thì trẻ chơi ở góc phân vai trò
chơi " Cô giáo " dạy các bạn khác đọc thơ :" Cô giáo của em "; "Trường em” ...
Hoặc trẻ được chơi ở góc học tập xem sách, truyện tranh chữ to, tạo cho trẻ cảm
giác là trẻ có thể đọc được quyển truyện đó hoặc có thể biết rằng quyển truyện
đó nói về điều gì, trẻ có thể dựa vào tranh để khám phá ra các nhân vật hoặc trẻ
có thể tự vẽ, cắt dán, tập làm sách, truyện tranh theo chủ đề. Tôi nhận thấy qua
giờ họat động góc trẻ mạnh dạn, thích giao tiếp và phát triển nhiều vốn từ, cũng
cố được những kiến thức đã học. Đặc biệt là trẻ rất thích tự lập trong lúc tự làm
sách truyện tranh, hào hứng và rất thích tham gia chơi ở góc này .

Thông qua giờ hoạt động góc

15


* Biện pháp 6: Làm quen văn học thông qua các ngày hội, ngày lễ
Vào các ngày hội, ngày lễ ở trường, tôi lên ý tưởng kịch bản và cho trẻ
tham gia đóng các vai trong ngày hội, Lễ hội Tết trung thu trẻ đóng chú cuội,
trẻ đóng chị Hằng , lễ Nô en trẻ đóng các bạn nhỏ đối thoại với nhau về ông gia
Nô en, ước mơ của mình.. , khi trẻ được tham gia các vai trên sân khấu trẻ tự
tin, mạnh dạn và nói rõ ràng mạch lạc hơn. Thỉnh thoảng tôi lại tổ chức cho tất
cả trẻ trong lớp tham gia hội thi " Bé kể chuyện, đọc thơ hay " có nhận xét và có
quà cho những cháu đạt giải. Trong hội thi có mời đông đảo phụ huynh của lớp
tham dự. Nhận thấy nhiều phụ huynh rất phấn khởi về những kết quả của con
mình, có tác dụng rất lớn đến kết quả giáo dục trẻ. Để phụ huynh có hướng phát
huy năng khiếu ở trẻ, trong cuộc thi trẻ rất hào hứng, mạnh dạn, tự tin tham gia
vào hoạt động, thích được biểu diễn và say mê khi biểu diễn .
- Dạy trẻ đóng kịch.
Đóng kịch là một hoạt động trẻ rất yêu thích vì nó giúp trẻ vừa chơi vừa
học tập hiệu quả. Trẻ được tham gia, khám phá câu chuyện bằng những trải
nghiệm của bản thân. Đối với xây dựng kịch bản, giáo viên cùng với trẻ xây
dựng kịch bản và lựa chọn nhân vật, kết hợp sử dụng tất cả các hình thức ngôn
ngữ cùng nghệ thuật sân khấu ( Ngôn ngữ đối thoại, đọc thoại, kịch nói, lối nói
bằng thơ, đọc thơ trong kịch thơ, những ca khúc, điệu múa trong nhạc kịch) để
tiến hành cho trẻ đóng kịch.
Trong quá trình tham gia, trẻ được rèn luyện các kỹ năng cần thiết thể
hiện nội dung hoạt động nghệ thuật đó, những năng lực để thực hiện thành công
một loại hình nghệ thuật được hình thành và như vậy năng lực sáng tạo nghệ
thuật được phát triển ở trẻ. Điều đó sẽ mang đến cho trẻ niềm vui, ham mê,
những định hướng nhất định trong sự phát triển nhân cách và nó là cơ sở để hình
thành thị hiểu thẩm mĩ cho trẻ.

16


Thông qua dạy trẻ đóng kịch
Qua việc áp dụng một số biện pháp trong và ngoài giờ học. Lớp tôi chất
lượng về môn Làm quen văn học tăng lên khá rõ, các cháu rất thích học môn
học này và mạnh dạn hơn khi giao tiếp, thích trò chuyện cùng người lớn và
đặc biệt rất thích tham gia vào các hoạt động khác chứ không chỉ có làm
quen văn học .
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục với bản thân,
đồng nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực của trẻ khi
làm quen với văn học tôi đã thường xuyên cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm văn
học bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm phát huy tính tích cực của trẻ . Qua
thực tiễn giảng dạy tôi thấy học sinh lớp tôi đã có những tiến bộ rõ rệt về kiến
thức văn học, về việc tham gia vào các vai trong các câu truyện, trẻ phát triển tốt
về ngôn ngữ, mạnh dạn, tự tin hơn khi được lên “sân khấu” để thể hiện các bài
thơ, câu truyện.
Đối với bản thân tôi sáng kiến kinh nghiệm đã giúp tôi có thêm kinh
nghiệm trong khi cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học sao cho hiệu quả nhất.
Tôi cũng mạnh dạn đầu tư thời gian nghiên cứu học hỏi trong tài liệu, sách
báo, học hỏi từ các bạn đồng nghiệp để có thêm kiến thức cung cấp đến trẻ sao
cho các giờ học làm quen với văn học có hiệu quả, có nhiều niềm vui, hứng thú
cho trẻ trong lớp của mình.

17


Trẻ hào hứng với cảm xúc yêu thích nghệ thuật khi tiếp xúc với tác phẩm
văn học, thể hiện tình cảm yêu ghét rõ ràng với nhân vật. Từ đó, tôi đưa các bài
học giáo dục trẻ một cách tự nhiên, nhẹ nhàng.
Trẻ yêu thích các bài thơ, câu truyện, đồng dao, ca dao và có nhu cầu tham
gia vào các hoạt động tự tin, mạnh dạn.
Trẻ được mở rộng kiến thức về thế giới xung quanh, phát âm chính xác,
phát triển vốn từ, ngôn ngữ cũng như khả năng diễn đạt. Bước đầu thể hiện tác
phẩm văn học bằng nhiều hình thức khác nhau.
Việc giáo dục trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, cô giáo là người gợi mở,
tạo cơ hội cho trẻ hoạt động, trả lời câu hỏi để hiểu nội dung . Trẻ hoạt động không
bị áp đặt nhằm phát huy năng lực bản thân, được trả lời, được tự tin thể hiện các
bài thơ, các vai trong các câu truyện được học giúp trẻ năng động.
Đối với các bạn đồng nghiệp: Qua các buổi dự giờ, rút kinh nghiệm tôi cũng
được trao đổi những gì mình đã thực hiện có hiệu quả để cùng nhau áp dụng khi
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, nhiều đồng nghiệp cũng thấy đó là kinh
nghiệm hay và đưa vào trong các bài dạy của mình và mang lại kết quả tốt.
Sau khi thực hiện và áp dụng các biện pháp giúp trẻ học tốt văn học, bản
thân tôi không ngừng phấn đấu học tập, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp. Qua
các tiết học trẻ rất hứng thú tham gia vào các hoạt động học tập, ngôn ngữ của
trẻ trở nên mạch lạc, rõ ràng hơn so với trước đây.
* Khảo sát chất lượng lần 2:
TT
Các nội dung
Số cháu đạt Tỉ lệ%
1.
Nhớ tên truyện
24/26
92,3
2.
Hiểu nội dung thơ, truyện
23/26
88,4
3.
Trả lời các câu hỏi của cô
24/26
92,3
4.
Thể hiện được ngữ điệu giọng các nhân vật
22/26
84,6
5.
Biết nhập vai và đóng kịch theo vai
20/26
76,9
6.
Biết kể chuyện sáng tạo
21/26
80,7
7.

Trẻ thuộc thơ và đọc diễn cảm
24/26
92,3
Qua việc giảng dạy có áp dụng những sáng kiến này tôi thấy trẻ lớp tôi rất
hứng thú và tích cực tham gia vào các bài học của môn văn học.
* Bảng so sánh kết quả khảo sát đầu năm và cuối năm
Nội dung khảo sát

Trước khi chưa áp
dụng
biện pháp
Số cháu
Tỉ lệ

Sau khi áp dụng
biện pháp
Số cháu

Tỉ lệ

Nhớ tên truyện

21/26

80,6

24/26

92,3

Hiểu nội dung thơ, truyện
Trả lời các câu hỏi của cô
Thể hiện được ngữ điệu giọng các nhân vật
Biết nhập vai và đóng kịch theo vai
Biết kể chuyện sáng tạo
Trẻ thuộc thơ và đọc diễn cảm

19/26
20/26
18/26
18/26
18/26
21/26

73,2
76,9
69,2
69,2
69,2
80,6

23/26
24/26
22/26
20/26
21/26
24/26

88,4
92,3
84,6
76,9
80,7
92,3
18


Kết quả đã đạt được ở trên cho thấy việc đưa nội dung cho trẻ làm quen với
tác phẩm văn học và sử dụng những biện pháp để phát huy tính tích cực của trẻ
khi làm quen với văn học tôi đưa vào áp dụng tại lớp là đúng và phù hợp với trẻ,
mang lại hiệu quả cao.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1.Kết luận
Nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen
với văn học nên tôi đã cố gắng học hỏi, tìm tòi, sưu tầm các bài hát, bài thơ câu
truyện mới để thường xuyên thay đổi nội dung giáo dục cho phù hợp với chủ đề,
với bài dạy nhằm thu hút sự tập trung chú ý và phát huy tính tích cực của trẻ
Nghiên cứu trước các nội dung giáo dục để đưa ra các phương pháp, biện
pháp phù hợp với từng loại tiết học.
Đồ dùng, đồ chơi sử dụng để dạy học phải có màu sắc đẹp, kích thước phù
hợp. Cần học hỏi và nâng cao thủ thuật lên lớp, cách xử lý tình huống sư
phạm.
Dạy trẻ ở mọi lúc, mọi nơi, trong các hoạt động để có kế hoạch bồi dưỡng
cho những trẻ yếu, tiếp thu bài chậm,động viên khen ngợi kịp thời với trẻ có tiến
bộ để trẻ cố gắng phát huy khả năng của mình.
Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong công tác chăm sóc giáo
dục trẻ.
Nên chọn lựa những trò chơi phù hợp với trẻ để lồng ghép kiến thức cần
cung cấp cho trẻ .
Giáo viên nắm vững mục tiêu cũng như phương pháp giảng dạy của
môn học
Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý cũng như đặc điểm nhận thức của trẻ để
xây dựng giáo án mang tính sáng tạo, phù hợp lứa tuổi.
Luôn tìm tòi, khai thác sử dụng sáng tạo các đồ dùng trực quan, tận dụng
các hiệu ứng của giáo án điện tử để thu hút trẻ.
Làm tốt công tác tuyên truyền đến các bậc phụ huynh trong việc nâng cao
khả năng thể hiện của trẻ khi được giao nhiệm vụ đóng các vai, thể hiện các bài thơ...
Những biện pháp tôi đã áp dụng trên đây đã đem lại những kết quả nhất
định và trở thành kinh nghiệm của bản thân trong công tác chủ nhiệm. Do đó
phương hướng tới là tiếp tục áp dụng những biện pháp trên và nâng cao yêu cầu
để trẻ học ngày càng tốt hơn, bản thân phải luôn luôn rèn luyện và hành động,
phát huy những biện pháp tốt mang lại hiệu quả cao. Đồng thời cũng rút ra
những hạn chế trong các biện pháp, luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi suy nghĩ, phát
hiện những điều hay, những cái mới của các lớp tập huấn, của đồng nghiệp để
vận dụng tốt hơn vào công tác giáo dục trẻ trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, tôi không ngừng học hỏi, tìm hiểu thực tế, học tập kinh nghiệm
của các đồng nghiệp đã làm tốt công tác này để nghiên cứu, vận dụng một cách
linh hoạt vào tình hình của đơn vị mình nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của
môn học cũng như chất lượng trên trẻ.

19


Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi đã thực hiện đạt kết quả tốt trong
lớp, trong trường, rất mong nhận được sự góp ý của chị em đồng nghiệp và các
cấp lãnh đạo để tôi dần hoàn thiện hơn.
3.2. Kiến nghị
*Đối với phòng Giáo dục:
- Thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
cho cán bộ quản lý và giáo viên
- Tổ chức cho cán bộ quản lý và giáo viên các nhà trường được tham quan
học tập ở các trường trọng điểm của Tỉnh của Huyện.
* Đối với Sở giáo dục:
- Hỗ trợ về thiết bị, đồ dùng đồ chơi để giáo viên có cơ hội phát huy hết
năng lực của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Thọ Xuân, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Hiệu trưởng
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác .
Người thực hiện

Trịnh Thị Kim Thoa

Nguyễn Thị Nhiên

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trước khi viết sáng kiến kinh nghiệm này tôi tham khảo các tài liệu như sau:
1. Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non, mẫu giáo lớn
(5- 6 tuổi)
2. Chương trình giáo dục mầm non - Bộ giáo dục và đào tạo
3. Tập san của vụ Giáo dục mầm non ( hàng năm).
4. Các tiết dạy mẫu, dự giờ.
5. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non.
6. Các tài liệu bồi dưỡng chuyên đề hè
7. ‘1’ Trong tuyển tập bài hát nhà trẻ mẫu giáo (Vụ Giáo dục mầm non)

20


21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×