Tải bản đầy đủ

skkn một số số kinh nghiệm trong việc tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ 5 6 tuổi tại trường mầm non nga điền

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ỨNG DỤNG NHỮNG THÍ NGHIỆM KHOA HỌC VUI
VÀO CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở
TRƯỜNG MẦM NON THỊ TRẤN NGA SƠN

Người thực hiện: Mai Thị Thanh Huyền
Chức vụ : Giáo Viên
Đơn vị công tác : Trường Mầm non Thị Trấn
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA, NĂM 2018
1


MỤC LỤC
Nội dung


Trang

1. Mở đầu

1

1.1. Lý do chọn đề tài

1

1.2. Mục đích nghiên cứu

1

1.3. Đối tượng nghiên cứu

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. Nội dung sánh kiến kinh nghiệm

2

2.1. Cơ sở lý luận

2

2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

3

2.3. Các biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

4

2.3.1. Tạo môi trường cho trẻ ứng dụng thí nghiệm phong phú hấp
dẫn cho trẻ



4

2.3.2. Cho trẻ được ứng dụng trải nghiệm các thí nghiệm vui qua
các hoạt động

6

2.3.3. Tổ chức ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui trong
hoạt động có chủ định

7

2.3.4. Tổ chức cho trẻ ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui
thông qua các hoạt động khác

10

2.3.5. Khả năng ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui thông
qua quan sát vật thật, các trò chơi

11

2.3.6. Tổ chức cho trẻ ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui
thông qua hoạt động ngoài trời

14

2.3.7. Ứng dụng công nghệ thông tin vào khám phá khoa học vui
cho trẻ

15

2.3.8. Tuyên truyền và phối hợp cho các bậc phụ huynh trong việc
cho trẻ ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui

16

2.4 Hiệu quả của sáng kiến

17

3. Kết luận, đề xuất

18

2


1. M U
1.1. Lớ do chn ti
Trong nn kinh t th trng hi nhp v phỏt trin ca nc ta hin nay
khoa hc v cụng ngh, c coi trng, nú l mt phng tin ng dng x
lý v lm vic hin i nht, nhanh nht, hiu qu nht.
Nm hc 2017-2018 nhim v trng tõm cn thc hin l ng dng khoa
hc v cụng ngh, trong trng hc, vic ỏp dng khoa hc v cụng ngh, trong
hot ng dy v hc ó em li nhiu u im ni bt. i vi bc hc mm
non vic xõy dng cỏc trũ chi, cỏc cõu chuyn sinh ng hp dn y mu sc
theo cỏc ch s giỳp tr c chi, c khỏm phỏ v phỏt trin nhn thc
phỏt trin thm m v ton din.
Vi ch trng ca ngnh, a khoa hc v cụng ngh, vo vic ging
dy, PGD& o to ó to iu kin m lp tin hc hng dn khoa hc v
cụng ngh. Tụi v mt s giỏo viờn trong trng mầm non Thị Trấn Nga
Sơn ó tham gia, qua khúa hc, chỳng tụi ó nm bt c mt s k nng c
bn v khoa hc v cụng ngh, phc v cho các hoạt động dy trờn lp.
T ú tụi cựng ng nghip trong trng chuyờn tõm hc hi, rốn luyn thờm,
ng thi tham kho thờm cỏc thớ nghim, khoa hc v cụng ngh, b sung
cho nhng khim khuyt ca mỡnh.
Cho n nay, dự thi gian thớ nghim nhng khoa hc v cụng ngh, cha
c lõu nhng bn thõn tụi cng ó rỳt ra c mt s kinh nghim nh mong
c trao i cựng vi ng nghip cú thờm c hi hc tp ng thi nhn
c nhiu s gúp ý b sung chỳng ta cựng nhau tin b, cựng cú thờm nhiu
iu kin nõng cao chuyờn mụn gúp phn nh vo s nghip giỏo dc chung ca
ngnh. Vỡ th tụi chn ti: ng dng nhng thớ nghim khoa hc vui vo
cụng tỏc giỏo dc tr 5- 6 tui trng mm non Th Trn Nga Sn Vi
mc ớch giỳp tr bit thờm mt vi kinh nghiờm nh trong quỏ trỡnh ng dng
khoa hc v cụng ngh, giỳp cho bn thõn cng c li nhng kin thc ng
thi giỳp cho cỏc ng nghip cú thờm nhng tham kho nh trong quỏ trỡnh
ging dy tr 5- 6 tui trong trng mm non.
1.2. Mc ớch nghiờn cu
Da vo ti ó chn qua ú tin hnh phõn tớch, ỏnh giỏ nhng mt t
c v hn ch tỡm ra nguyờn nhõn v xut nhng gii phỏp tt nht ỏp
1


dụng vào thực tế dạy trẻ. Ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui vào công tác
giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Thị Trấn Nga Sơn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Thị Trấn Nga Sơn
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Qua tài liệu chuyên đề, sách, tập san....
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, khảo sát, thực
nghiệm thống kê.
- Phương pháp xử lý thông tin: Phân tích, đánh giá và so sánh.
- Phương pháp thực hành trải nghiệm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
Trước tốc độ phát triển của khoa học và công nghệ, giáo dục trẻ em nói
chung và giáo dục mầm non nói riêng cũng không ngừng nghiên cứu đổi mới
phương pháp, nội dung dạy học để đáp ứng nhu cầu dân trí của thời đại. Chương
trình đổi mới cho phép người giáo viên phát huy hết khả năng linh hoạt và sáng
tạo của mình trong việc vận dụng những hiểu biết, những tri thức khoa học vào
việc giáo dục trẻ. Từ những tính chất vật lí, hoá học của những sự vật hiện tượng
quen thuộc trong tự nhiên mà chúng ta có thể tiến hành những thí nghiệm nhỏ,
những trò chơi khoa học vui. Qua đó, trẻ mầm non bắt đầu được tìm hiểu những
điều kì thú trong thế giới xung quanh, được tận mắt nhìn thấy những biến hoá
của sự vật hiện tượng mà có lẽ trẻ tưởng chừng chỉ có trong những câu chuyện
cổ tích. Hơn thế, nhờ những thí nghiệm có tính minh chứng này, chúng ta có thể
áp dụng vào trong giảng dạy để giải thích cho trẻ một cách rõ ràng và thuyết
phục về đặc tính của sự vật hiện tượng, đáp ứng được nhu cầu khám phá của trẻ,
vừa kích thích khả năng tư duy tiềm ẩn trong các bé.
Ở lớp tôi chủ nhiệm khả năng nhận thức của trẻ chưa đồng đều, trẻ có tính
tò mò ham hiểu biết nhưng khả năng tư duy chưa tích cực, trong hoạt động trẻ

2


còn thụ động việc tự học tự khám phá phát hiện ra cái mới còn phụ thuộc nhiều
vào sự gợi mở của cô.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
Có thể nói việc cho trẻ làm quen với các thí nghiệm trong trường học với
trẻ mầm non không còn là quá khó khăn mà đó còn là niềm đam mê đối với trẻ
trong đó cô giáo là người thổi lên niềm đam mê đó cho trẻ qua các câu chuyện
bài thơ hay các màu sắc đẹp rực rỡ. Và những thí nghiệm khoa học đóng góp
một phần quan trọng vào sự thành công của một hoạt động học, nhưng một hoạt
động học không chỉ là những thí nghiệm khoa học.
Trường Mầm Non Thị Trấn Nga Sơn là Trường trọng điểm chất lượng
của huyện, Trường có bề dày thành tích dạy và học đã được Sở, Phòng Giáo
Dục Nga Sơn đánh giá cao. Trong những năm gần đây trường luôn duy trì và giữ
vững danh hiệu tiến tiến xuất sắc các cấp. Được Thủ Tướng chính phủ tặng
Bằng khen và nhiều phần thưởng khác.
Nhà trường có một đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ nhiệt tình ham học hỏi và
cùng tiến bộ. Chính vì lẽ đó giáo viên chúng tôi rất phấn khởi và cùng nhau thi
đua học.
Nhà trường quan tâm đến chất lượng tạo điều kiện cho giáo viên đi học
và tổ chức lớp học bồi dưỡng hướng dẫn những thí nghiệm khoa học - Giáo viên
nhiệt tình với nghề luôn tâm huyết với nghề, học hỏi nâng cao tình độ về chuyên
môn nghiệp vụ cũng như tin học. Giáo viên đã được học đạt trên chuẩn về trình
độ chuyên môn.
Giáo viên đã được theo học bồi dưỡng các lớp chuyên đề do Phòng Giáo
dục - Đào tạo tổ chức. Bản thân nghiên cứu học tập tìm tòi những thí nghiệm
vui.
Công nghệ thông tin đối với phụ huynh chưa động đều còn chưa được phổ
biến, khả năng nhận thức của phụ huynh còn hạn chế xem nhẹ việc giáo viên
Qua quá trình công tác, nghiên cứu và thử nghiệm một số thí nghiệm khoa
học, tôi thấy chúng ta có thể ứng dụng một số kiến thức khoa học vào hoạt động
chung (Như các hoạt động khám phá khoa học: Dùng để gây hứng thú cho trẻ
trước khi vào bài mới. Ngoài ra có thể thực hiện trong các hoạt động ngoài trời,
hoạt động ngoại khoá để mở rộng hiểu biết cho trẻ. Trong đó, ta có thể kết hợp
làm một số đồ dùng đồ chơi đơn giản).

3


* Kết quả thực trạng
Năm học 2017 – 2018 tôi được phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo 5- 6
tuổi tôi nhận thấy hoạt động khám phá về môi trường tự nhiên của trẻ còn hạn
chế trẻ chưa thực sự tích cực tham gia hoạt động cùng cô. Vì vậy tôi đã tiến
hành khảo sát trẻ ở mọi lúc mọi nơi và có kết quả như sau:
TS
trẻ

34

Nội dung khảo sát
Khả năng tìm
tòi khám phá

Khả ngăng
nhận biết tên
gọi dặc điểm
của đối tượng

Khả năng so
sánh nhận xét
giữa các đối
tượng

Khả năng
phân nhóm
phân loại theo
dấu hiêu của
đối tượng

Khả năng suy
luận giả thích
về mối liên hệ
giữa các đối
tượng

Đ
ạt

Đ
ạt

Đ
ạt

Đ
ạt

Đ
ạt

Tỉ
lệ
%

C
Đ

Tỉ
lệ
%

Tỉ
lệ
%

C
Đ

Tỉ
lệ

Tỉ
lệ
%

C
Đ

Tỉ
lệ
%

Tỉ
lệ
%

C
Đ

Tỉ
lệ
%

Tỉ
lệ
%

C
Đ

18 53 16 47 20 59 14 41 17 50 17 50 19 56 15 44 14 41 20

Qua khảo sát chất lượng trẻ với kết quả như trên trong quá trình giáo dục
trẻ. Vì thế tôi chọn đề tài: “Ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui vào
công tác giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm nonThị Trấn Nga Sơn” Đạt
được tốt hơn.
2.3 . Các biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Tạo môi trường cho trẻ ứng dụng thí nghiệm phong phú hấp dẫn cho
trẻ.
Muốn cho trẻ Ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui vào hoạt động
trong lớp là việc làm không thể thiếu được đối với giáo viên. Đây là hình thức
giáo dục phù hợp với tâm lý của trẻ, môi trường có lạ, đẹp thì mới hấp dẫn, khơi
gợi được tính tò mò ham hiểu biết của trẻ, từ đó trẻ mới khát khao được tìm
hiểu, khám phá.
Xác định được môi trường rất quan trọng trong quá trình hoạt động của trẻ
ngay từ đầu năm học tôi đã chú trọng trang trí môi trường trong và ngoài lớp để
gây hứng thú cho trẻ. Để khích lệ trẻ tham gia vào hoạt động trải nghiệm khám
phá khoa học về môi trường tự nhiên tôi đã căn cứ vào chủ đề mình thực hiện để

4

Tỉ
lệ
%
59


trang trí cho góc hoạt động thật hấp dẫn tôi treo các loại tranh về môi trường tự
nhiên đồng thời ở dưới góc tôi chuẩn bị các loại đồ dùng như: Ống nhòm, thước
đo, cân để cho trẻ hực hiện.
Ví dụ: Khi thực hiện chủ đề “Thế giới động vật” tôi chuẩn bị bộ tranh sưu
tập về các con vật, các loại vỏ ốc, vỏ ngao, vỏ sò, 1 số loại sỏi, cát đá, tôi làm sa
bàn về các động vật sống dưới nước hay từ các loại lông gà, len, xốp tôi làm sa
bàn về động vật sống trong gia đình, động vật sống trong rừng. Để trẻ được quan
sát cụ thể.
Hay khi thực hiện chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” tôi chuẩn bị
các hình ảnh như: Ông mặt trời, giông bão, lũ lụt, hạn hán, sóng thần. Đồng thời
tôi còn chuẩn bị một số đồ dùng tạo ra các hiện tượng tự nhiên đơn giản như: Đồ
dùng tạo ra hiện tượng sạt lỡ đất. Cô dùng tờ giấy bỏ đất vào vào tờ giấy dùng
hai tay nghiêng nghiêng tờ giấy để cho trẻ quan sát và giải thích đó là hiện tượng
sạt lở đất. Không những thế trên mảng tường tôi trang trí góc mở cho trẻ khám
phá khoa học với tên gọi “Bé làm nhà khoa học”: Ở phía dưới tôi trang bị các
túi đựng lô tô có chứa nội dung mà chủ đề đang thực hiện. Chỉ với nội dung đơn
giản nhưng dễ hiểu trẻ sẽ dễ dàng thực hiện khám phá các đối tượng theo yêu
cầu của cô.
Ví dụ: Thực hiện chủ đề “ Thế giới thực vật” Bé Xuân Minh lên lấy kí hiệu
của mình găm vào cột kí hiệu, lấy hình ảnh cây nhãn làm đề tài nghiên cứu găm
vào cột “Bé nghiên cứu gì?”, và khi khám phá ra cây nhãn có thân, cành, lá. Và
cháu đã lấy lô tô tương ứng và găm vào cột “Bé khám phá được gì nào?
Như vậy từ thực hiện ở góc mở đã giúp cho trẻ rèn luyện được cách tư duy
và suy luận của mình.
Với môi trường ngoài lớp: Tôi xây dựng một góc thiên nhiên ở phía sau
lớp, ở góc này tôi trang trí một giá gỗ trên giá tôi trưng bày các loại đồ dùng tưới
hoa, sỏi, lông gà, gỗ chìm nổi,
Ở phía dưới tôi đặt các chậu nhựa nhỏ gieo các hạt lạc, hạt đậu để trẻ theo
dõi được sự phát triển của cây. Một góc nhỏ khác tôi đặt chậu cá và các chậu cây
cảnh để cho góc thật sự đẹp và sinh động.
Ngoài không gian ở lớp thì trường tôi có “Vườn của bé” với các loại cây
cảnh, các loại rau để trẻ có thể tham quan và khám phá. Tôi thường xuyên cho
tổ chức cho trẻ nhặt lá, tưới rau. Làm cho trẻ luôn luôn phấn khởi và thích thú
khi tham gia.
2.3.2. Cho trẻ được ứng dụng trải nghiệm các thí nghiệm vui qua các hoạt động.
5


Khi cho trẻ ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui thì hoạt động thử
nghiệm là việc làm hữu ích nó giúp trẻ hiểu đối tượng một cách đơn giản, cụ thể.
Với hoạt động này tôi thấy trẻ trải nghiệm rất say sưa và thích thú.
Ví dụ: Với chủ đề “Thế giới thực vật” tôi cho trẻ hoạt động thử nghiệm là
gieo hạt. Cho trẻ gieo hạt giống vào các chậu khác nhau, chậu tưới nước, chậu
không tưới nước, chậu để trong nhà, chậu để ngoài nắng.
Cô cùng trẻ theo dõi sự lớn lên của cây (Nảy mầm, ra lá và lớn lên) cô đàm
thoại:
- Các hạt giống có mọc cùng lên một lúc không? Vì sao?
- Điều gì xảy ra với chậu không có nước?
- Điều gì xảy ra với chậu không để trong bóng tối?
Sau đó tôi cho trẻ mô phỏng lại quá trình lớn lên của cây bằng các cách
khác nhau lời nói, hành động, hình vẽ.
Hoặc chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” Tôi cho trẻ làm thí nghiệm
các vật nổi, vật chìm trong nước giúp trẻ có khả năng suy đoán và thảo luận. Tôi
chuẩn bị 1 chậu nước một số đồ vật như lông gà, hòn sỏi, li nhựa, li thủy tinh, nút
bấc, hạt lúa. Tôi cho trẻ cầm sờ và đoán xem vật nào nổi, vật nào sẽ chìm sau đó
cho trẻ làm thí nghiệm và rút ra kết luận các vật nhẹ như lông gà, đồ làm bằng nhựa
thì sẽ nổi còn các vật như sỏi đồ làm bằng thủy tinh, bằng gỗ thì sẽ bị chìm.
Cũng chủ đề này tôi cho trẻ làm thử nghiệm “Bàn tay trong nước” Tôi
chuẩn bị các chậu nước cho trẻ vận động bàn tay trong nước vỗ tay đánh tay, vỗ
nhẹ sau đó hỏi trẻ:
- Điều gì xảy ra khi chuyển động bàn tay về phía sau, phía trước?
- Cho trẻ vốc nước bằng 2 tay khuyến khích trẻ mô tả điều gì xảy ra khi
chúng thả tay.
Cho trẻ quan sát nước chảy qua các kẻ ngón tay khi chúng cố giữ nước
- Có thể giữ nước trong các bàn tay được không?
- Điều gì xảy ra khi cố giữ nước trong bàn tay?

6


2.3.3. Tổ chức ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui trong hoạt động có
chủ định.
Để thu hút trẻ vào hoạt động một cách tự nhiên thoải mái mà vẫn phát huy
được tính tích cực của mình là điều không dễ dàng gì nó đòi hỏi người giáo viên
phải thật sự đầu tư tâm huyết của mình khi lên hoạt động cho trẻ thực hiện.
Đối với tôi việc cho trẻ vào hoạt động có đạt kết quả hay không thì điều
đầu tiên cần làm là giới thiệu như thế nào cho hay cho lôi cuốn trẻ để trẻ cảm
thấy rằng mình đang chơi nhưng trên thực tế là đang học đang nghiên cứu.
Để thu hút trẻ vào hoạt động tò mò thích thú tôi luôn tìm và thay đổi các
hình thức giới thiệu bài cho hay cho hấp dẫn.
Ví dụ: Chủ đề “Tết và mùa xuân” tôi chuẩn bị các loại quà vào các hộp quà
khác nhau và chia làm 3 tổ cho các tổ lên nhận quà mỗi tổ nhận một phần quà có
loại bao lì xì đang cần khám phá, trẻ đem về tổ của mình khám phá trải nghiệm
thảo luận thực tế. Như vậy làm cho trẻ rất phấn khởi và tích cực tham gia hoạt
động.
Còn ở chủ đề “Thế giới Động vật” đề tài “Động vật trong gia đình” tôi
chuẩn bị 3 con vật khác nhau và chia trẻ thành 3 nhóm cho trẻ quan sát. Trẻ
quan sát đến đâu ghi vào nhật kí. Khi thực hiện quan sát xong trẻ mang bài và
con vật của nhóm mình vừa quan sát và vẽ được lên trưng bày. Sau đó cô và trẻ
cùng khám phá. Đây là hình thức mà tôi thấy trẻ rất hứng thú
7


Còn đối với chủ đề “Thế giới động vật” với đề tài “Một số con vật sống
dưới nước” để gây cho trẻ sự thích thú tham gia hoạt động tôi cho 4 trẻ đóng vai
4 loại con vật sống dưới nước và trình diễn xung quanh lớp giới thiệu về mình
Với chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” với đề tài “Sự kỳ diệu của
nước” để gây hứng thú cho trẻ vào hoạt động tôi làm hiệu ứng powerpoint về
công trình thủy điện, cảnh sinh hoạt của con người khi sử dụng nước, cuộc sống
của các sinh vật dưới nước.
Ngoài ra việc thay đổi hình thức hoạt động luôn là biện pháp làm cho trẻ
luôn thích thú và phát huy tính tích cực sáng tạo của mình.
Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới động vật” với đề tài “Tìm hiểu một số loại côn
trùng” tôi thay đổi hình thức hoạt động với tên gọi rất ngộ nghĩnh “Ngày hội côn
trùng” với các phần hoạt động như sau:
phần 1: Màn trình diễn của các côn trùng
Là phần trình diễn thời trang của các côn trùng đi xung quanh lớp để tất
cả các trẻ được quan sát kỹ, để cho hoạt động này được tốt tôi những bộ trang
phục bằng ni lông, các loại giấy bóng hoa. Trang trí lên đó là các hoa văn thật
sặc sỡ phù hợp với từng loại côn trùng. Khi màn trình diễn bắt đầu trẻ rất hứng
thú và tham gia vào hoạt động một cách rất tích cực.
Phần 2: Tìm hiểu và khám phá
Ở phần này đòi hỏi sự tập trung chú ý và hoạt động tích cực của trẻ. Khi
khám phá đến loại côn trùng nào tôi cho trẻ đóng vai côn trùng đó ra và tự giới
thiệu về mình và yêu cầu trẻ được quan sát phải nhận xét về loại côn trùng đó,
tôi để trẻ tự đàm thoại trao đổi với nhau còn cô chỉ là người hướng lái gợi mở
cho trẻ.
Phần 3: Cùng nhau thi tài
Ở phần này tôi cho trẻ tham gia vào các trò chơi để cũng cố những gì trẻ
vừa được quan sát tôi tổ chức 2 trò chơi một trò chơi động một trò chơi tĩnh. Với
trò chơi tĩnh tôi đọc câu đố theo dấu hiệu của côn trùng để trẻ tìm và giơ hình
ảnh lên còn trò chơi động tôi cho trẻ thi đua theo tổ bật qua suối, hay bật qua
vòng..lên tìm và phân loại côn trùng có ích cho con người.
Như vậy việc thay đổi hình thức là làm cho hoạt động không bị nhàm chán,
đây là điều rất cần thiết đối với giáo viên khi muốn cho trẻ luôn hoạt động tích
cực và đạt hiệu quả.
Trong hoạt động có chủ định để cho trẻ dễ hiểu dễ nhận xét về đối tượng
đang được nghiên cứu thì việc sử dụng hệ thống câu hỏi của người giáo viên là
8


rất quan trọng. Nếu cô đưa ra hệ thống câu hỏi quá dài, rườm rà làm cho trẻ khó
hiểu và không nhận xét được đối tượng cần khám phá vì vậy yêu cầu hệ thống
câu hỏi của cô khi đưa ra cho trẻ phải ngắn gọn, xúc tích, khoa học mà vẫn gần
gũi dễ hiểu đối với trẻ. Hệ thống câu hỏi phải là câu hỏi mở để từ một câu hỏi
nhưng trẻ vẫn suy luận và trả lời theo các cách hiểu khác nhau mà vẫn gần gũi
dễ hiểu đối với trẻ.
Ví dụ: Ở chú đề “Thế giới Thực vật” đề tài “Một số loại Hoa”
- Tôi là Cẩm nhung xin chào các bạn ! (Chúng em chào chị Cẩm nhung)
- Cẩm nhung các bạn biết gì về tôi?
- Thế Cẩm nhung là lòai Hoa như thế nào?
* Để kích thích trẻ hứng thú tò mò khám phá về đặc điểm, dấu hiệu của
đối tượng quan sát mà trẻ chưa biết rõ tôi sử dụng câu hỏi:
Ví dụ: Chủ đề thế giới thực vật với đề tài “Một số loại Quả”
- Các con có nhận xét gì về quả cam?
- Cây quả cam có lợi ích như thế nào đối với chúng ta?
Để trả lời được tốt câu hỏi trên bắt buộc trẻ phải tích cực quan sát và thử
nghiệm
* Trong quá trình khám phá để khuyến khích trẻ tìm kiếm cách khám phá
khảo sát đối tượng tôi sử dụng hệ thống câu hỏi như: “Con có cách nào” “Làm
thế nào để biết”.
* Để giúp trẻ khám phá đặc điểm dấu hiệu đặc trưng của đối tượng và
kích thích sự hoạt động của các giác quan tôi sử dụng câu hỏi:
Ví dụ: Chủ đề: “Thế giới Tết và mùa xuân” đề tài “Một số hoa quả ngày
tết”:
- Ngày tết các con thấy trên bàn thờ thường có gì?
- Mâm ngũ quả thường có những gì?
Với các hệ thống câu hỏi trên không phải cứ cho trẻ hoạt động là ngồi lỳ
một chỗ trả lời mà tôi tổ chức dưới nhiều hình thức như theo tổ, nhóm để trẻ
được bàn bạc, tranh luận với nhau để đưa ra ý kiến của mình.
Qua cách làm này tôi giúp trẻ mở rộng vốn hiểu biết và nâng cao kiến thức
về môi trường tự nhiên hình thành ở trẻ sự hiểu biết về đặc điểm, mối quan hệ,
sự thay đổi của các sự vật hiện tượng.
2.3.4. Tổ chức cho trẻ ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui thông qua
các hoạt động khác

9


Với trẻ mầm non tổ chức hoạt động cho trẻ khám phá khoa học về môi
trường tự nhiên là hoạt động rất cần thiết Vì vậy tôi không chỉ tổ chức cho trẻ
khám phá trong hoạt động có chủ định mà thông qua các hoạt động có chủ định
khác tôi cũng đã tổ chức cho trẻ được khám phá thêm. Ở các hoạt động có chủ
định khác tôi thường cho trẻ khám phá trong phần giới thiệu bài.
* Trong hoạt động âm nhạc khi dạy hát bài “Quả” để giới thiệu bài hát tôi
chuẩn bị một số loại quả để cho trẻ quan sát và đàm thoại sau đó tôi dẫn dắt và
giới thiệu bài hát.
* Trong hoạt động tạo hình để gợi ý đề tài cho trẻ hoạt động ở phần giới
thiệu bài tôi cũng chuẩn bị vật thật cho trẻ quan sát khám khá từ đó trẻ hiểu rõ
về đối tượng và khi vào hoạt động trẻ sẽ thực hiện tốt hơn.
Ví dụ: Cho trẻ hoạt động tạo hình với đề tài “Vẽ vườn hoa ” tôi chuẩn bị
mô hình vườn hoa với nhiều các loại hoa và đàm thoại:
Các con có nhận xét gì về vườn hoa nào ?
Hãy kể về những loại hoa mà các con vừa được quan sát ?
Từ mô hình vườn hoa mà tôi chuẩn bị trẻ sẽ được quan sát được tri giác
vào những bông hoa và nói lên ý kiến của mình. Từ đó trẻ có kiến thức cụ thể về
vườn hoa , bông hoa làm đề tài để vẽ.

*Với hoạt động phát triển ngôn ngữ, tôi cũng đã sử dụng cho trẻ khám
phá khoa học về môi trường tự nhiên cho hoạt động này.
10


Ví dụ : Khi kể cho trẻ nghe câu: “Quả bầu tiên” trong chủ đề “Thế giới
thực vật” vào phần giới thiệu bài tôi chuẩn bị vật thật là cây bầu có quả sau đó
cho trẻ quan sát và đàm thoại về cây bầu, quả bầu rồi dẫn dắt giới thiệu câu
chuyện “Quả bầu tiên”
Như vậy việc tổ chức cho trẻ khám phá khoa học về môi trường tự nhiên
thông qua cacs hoạt động có chủ định khác mà tôi đã tổ chức cho trẻ hoạt động
tôi thấy trẻ rất hứng thú hăng hái tham gia hoạt động đồng thời vốn hiểu biết của
trẻ về môi trường tự nhiên được tăng lên rất nhiều
2.3.5. Khả năng ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui thông qua quan
sát vật thật, các trò chơi.
Với trẻ mầm non thì phương pháp học thông qua vui chơi là phương pháp
hiệu quả nhất vì thông qua các trò chơi trẻ dễ dàng tiếp nhận, khám phá được
các sự vật hiện tượng xung quanh trẻ. Đặc biệt khi cho trẻ khám phá khoa học
về môi trường tự nhiên việc tổ chức cho trẻ chơi, quan sát làm cho trẻ rất hứng
thú. Chính vì vậy mà khi cho trẻ khám phá khoa học tôi lựa chọn và vận dụng
đưa vào hoạt động các trò chơi sáng tạo nhằm thu hút trẻ hoạt động có hiệu quả,
ở bất cứ hoạt động nào thì yêu cầu đồ dùng, đối tượng quan sát cũng phải đẹp và
sinh động hấp dẫn.
* Cho trẻ quan sát vật thật
Cho trẻ quan sát vật thật là kích hích sự tò mò ham hiểu biết của trẻ, đứng
trước sự vật đối tượng cụ thể trẻ rất hiếu động muốn tự tay mình sờ mó nâng niu
đối tượng cần quan sát. Nếu sử dụng tranh ảnh thì trẻ chủ yếu quan sát được
bằng mắt và chỉ quan sát được bề ngoài chính vì vậy mà tôi luôn chọn đề tài có
thể sử dụng bằng vật thật nhằm giúp cho trẻ phát huy hết khả năng của các giác
quan trẻ không chỉ được nghe, được nhìn mà còn được sờ mó vào đối tượng.
Ví dụ: Chủ đề “Thế giới thực vật” với đề tài “Một số loại quả” để trẻ có thể
tri giác và sử dụng các giác quan một cách hiệu quả tôi chuẩn bị các loại quả
thật cho trẻ quan sát, sờ được vào các loại quả, quan sát xong để biết được quả
có vị ngọt hay chua tôi có thể cắt ra cho trẻ nếm thử để trẻ cảm nhận được mùi
vị các loại quả.
Hay chủ đề “Thế giới động vật” đề tài “Một số con vật sống dưới nước”
tôi dùng chậu nước hoặc bể cá thả các con vật như cá, tôm, cua. Để cho trẻ quan
sát và làm cho trẻ rất thích thú.

11


* Qua các trò chơi
Tổ chức cho trẻ khám phá khoa học về môi trường tự nhiên qua các trò
chơi là nhằm cũng cố và nâng cao kiến thức vốn hiểu biết cho trẻ. Tôi luôn sử
dụng các trò chơi từ dễ đến khó từ đơn giản đến phức tạp để khái quát kiến thức
cho trẻ
Ví dụ: Chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên ” đề tài “Gió với đời
sống con người và muôn vật” để cũng cố kiến thức về đặc điểm của gió tôi cho
trẻ chơi trò chơi “Thang đo sức gió”
Cô nói: “Gió bão nổi lên !” Tất cả trẻ nắm tay nhau làm động tác nghiêng
ngả, đổ rạp người sang trái, sang phải miệng nói “Ào…ào…ào…”
Cô nói: “Lốc xoáy” trẻ nghiêng người sang phải, sang trái cúi rạp về phía
trước ngả người về phía sau miệng “Hú…hú…hú.” sau đó xoay tròn và lăn trên
nề nhà
Cô nói “Bão tan” tất cả trẻ đứng dậy sửa sang quần áo ngay ngắn trong
nền nhạc của bài hát “Nắng sớm”
Với chủ đề “Thế giới thực vật” đề tài “Một số loại quả” tôi cũng cố kiến
thức cho trẻ bằng trò chơi “Thử tài đoán vật”

12


Cách chơi: Tôi mời 1 trẻ thò tay vào hộp quà nói lên đặc điểm riêng của
từng loại quả nhiệm vụ của 3 tổ là khi nghe thông tin bạn nói thì chọn ngay quả
ở rổ mà tổ cho là đúng. Khi kết thúc trò chơi tổ nào chọn nhiều quả tổ đó sẽ
chiến thắng
Để giúp cho trẻ hiểu được mối liên hệ giữa các đối tượng trong môi trường
tự nhiên tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi ghép tranh.
Ví dụ chủ đề “Thế giới động vật ” tôi xây dựng một bức tranh liên hoàn với
tựa đề là “Con nào ăn gì?” trong bức tranh có hình ảnh các con vật: Dều hâu, gà
con, con sâu, lá cây yêu cầu trẻ đi theo đường dích dắc lên sắp xếp theo trình tự
tuần hoàn của các con vật trong môi trường tự nhiên.

Hay cũng là trò chơi ghép tranh nhưng tôi lại tổ chức cho trẻ chơi với hình thức
khác hơn trò chơi này giúp trẻ cũng cố khắc sâu kiên thức hơn sau mỗi giờ học
Ví dụ: Chủ đề “Thế giới thực vật” đề tài “Một số loại rau” cho trẻ xếp
thành 2 tổ tôi chuẩn bị cho mỗi tổ là một loại rau( rau bắp cải, rau xu hào), là các
miếng ghép bằng bìa được cắt ra từ các hình ảnh nhiệm vụ của 2 đội là trong
một bản nhạc phải lên bật qua vòng và ghép thành cây rau hoàn chỉnh

13


Với hình thức tổ chức trò chơi như vậy yêu cầu trẻ suy nghĩ, thảo luận và
bàn bạc với nhau để có sự sắp xếp hợp lý đồng thời những hình ảnh sinh động
về các con vật kích thích sự tò mò ham hiểu biết của trẻ.
2.3.6. Tổ chức cho trẻ ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui thông qua
hoạt động ngoài trời.
Nếu như tổ chức cho trẻ khám phá khoa học trong hoạt động có chủ định
nhằm cung cấp kiến thức cơ bản cho trẻ thì việc tổ chức cho trẻ khám phá khoa
học về môi trường tự nhiên thông qua hoạt động ngoài trời là hoạt động bổ trợ
và nâng cao nhận thức về thực tế cho trẻ.
Qua hoạt động ngoài trời trẻ có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường
tự nhiên. Các sự vật hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc vừa phong phú đa dạng
vừa phản ánh thực tế sinh động về các mối quan hệ trong thực tiễn.
Qua hoạt động ngoài trời trẻ được tiếp xúc trực tiếp với các biểu tượng ban
đầu chân thực về thế giới khách quan, giúp trẻ tích lũy được kiến thức thực tiễn
về thế giới khách quan và ứng dụng chúng vào thực tiễn.
Tổ chức khám phá khoa học thông qua hoạt động ngoài trời góp phần phát
triển ở trẻ kỹ năng quan sát, so sánh, phán đoán, đo lường và biết khái quát đối tượng
Khi tổ chức cho trẻ khám khá khoa học qua hoạt động ngoài trời còn giúp
trẻ tăng cường sức khỏe vì khi được tiếp xúc với thiên nhiên là trẻ được tiếp xúc
với không khí trong lành với một không gian rộng thoải mái từ đó hình thành ở
trẻ những ấn tượng cảm xúc tích cực trẻ sẽ gắn bó với thiên nhiên . Tùy vào từng
chủ đề và điều kiện cụ thể mà tôi có thể lựa chọn cho trẻ dạo chơi tham quan với
những nội khác nhau.
Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới thực vật” Tôi tổ chức cho trẻ đi tham quan:
vườn cây ăn quả, tham quan cánh đồng lúa, hay vườn rau của các bác các cô
trong trường đã trồng.

14


Với chủ đề “Thế giới động vật” tôi tổ chức cho trẻ đi tham quan trang trại
chăn nuôi của bác nông dân.
Khi được tiếp xúc với không gian thiên nhiên những đề tài này luôn giúp
cho trẻ hứng thú hoạt động và đạt hiệu quả cao đồng thời thỏa mãn nhu cầu vận
động, khả năng tiếp cận các đối tượng khám phá và tự khám phá của trẻ trong
thiên nhiên.
2.3.7. Ứng dụng công nghệ thông tin vào khám phá khoa học vui cho trẻ
Nếu như trước đây việc chuẩn bị cho một hoạt động giáo viên phải rất vất
vả sưu tầm các hình ảnh phục vụ giảng dạy thì hiện nay việc áp dụng công nghệ
thông tin giúp cho giáo viên dễ dàng truyền tải được nội dung đến với trẻ.
Sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy làm cho hình ảnh đẹp, sinh
động, kết hợp với âm thanh làm cho trẻ rất hứng thú khi tham gia hoạt động. Với
những hình ảnh trừu tượng mà qua các tranh vẽ chưa làm cho trẻ hiểu rõ thì qua
hiệu ứng powerpoint trẻ dễ dàng hình dung ra được. Sử dụng công nghệ thông tin
tôi thấy rất nhiều thuận lợi giáo viên có thể tiết kiệm được thời gian và kinh phí
làm đồ dùng và đặc biệt là cực kì thu hút trẻ. Tùy vào từng đề tài, từng hoạt động
cụ thể tôi đã vận dụng công nghệ thông tin vào để xây dựng hoạt động cho trẻ.
Ví dụ: Ở chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” khi cho trẻ khám phá
thiên nhiên tôi cho trẻ xem hình ảnh mưa,gió, sấm chớp và kèm theo đó là âm
thanh làm cho trẻ rất thích thú.

15


Hay ở chủ đề “Thế giới động vật” đề tài “Một số con vật sống trong gia
đình” khi mở rộng tôi cho trẻ kể thêm về các con vật mà trẻ biết nếu trẻ kể đúng
thì màn hình xuất hiện những con vật đó.
Hoặc ở chủ đề “Thế giới thực vật” đề tài “Một số loài hoa” tôi thiết kế
nhiều loài hoa có màu sắc đẹp, sinh động. Sau đó yêu cầu trẻ tìm hoa gì cánh
tròn mượt như nhung (hoa hồng) hoa cánh dài, nhỏ (Cúc, hoa đồng tiền) và
kiểm tra thông tin trên máy, nếu trẻ kể đúng thì những bông hoa xuất hiện rung
rinh và kèm lời khen ngợi trẻ.
Như vậy sử dụng công nghệ thông tin vào khám phá khoa học là hoạt động
gây nhiều hứng thú cho trẻ. Tuy nhiên không phải hoạt động nào chúng ta cũng
áp dụng mà phải tùy vào từng chủ đề từng hoạt động mà giáo viên lồng ghép
cho hợp lý để biện pháp này thực sự thu hút hoạt động của trẻ và đạt kết quả trên
trẻ cao.
2.3.8. Tuyên truyền và phối hợp cho các bậc phụ huynh trong việc cho trẻ
ứng dụng những thí nghiệm khoa học vui
Chúng ta biết rằng công tác tuyên truyền và phối hợp cho các bậc phụ
huynh để nâng cao khả năng khám phá khoa học vui là việc làm quan trọng và
cần thiết mà giáo viên cần nắm bắt được. Vì ngoài thời gian ở trường thì thời
gian ở nhà của trẻ cũng góp phần tích cực giúp trẻ khám phá và biết thêm nhiều
đối tượng
+ Ở góc trao đổi phụ huynh tôi luôn lên kế hoạch và thông báo cho phụ
huynh được biết những hoạt động , các đề tài mà tôi cho trẻ hoạt động ở trường
để khi về nhà phụ huynh cùng kết hợp cung cấp thêm những hiểu biết có liên
quan đến đề tài hoạt động ở trường
+ Trong khi đón trả trẻ tôi luôn trao đổi với phụ huynh tạo điều kiện để trẻ
được xem các chương trình thiếu nhi có nội dung liên quan đến môi trường tự
nhiên như: chương trình “thế giới động vật” để trẻ xem và biết thêm về các con
vật, chương trình “Lá phổi xanh” để trẻ hiểu biết thêm về các loại cây, chương
trình “Thế giới đại dương” để trẻ biết về các loại động vật sống dưới nước.
+ Trao đổi với gia đình nên động viên khích lệ trẻ khi trẻ đã làm tốt các
công việc đơn giản và phù hợp với trẻ.
Ví dụ: Tạo điều kiện để ngày nghỉ trẻ tự tay cho các con vật nuôi trong gia
đình ăn như: cho gà ăn, cho mèo ăn.

16


Khi trẻ cho các con vật ăn trẻ có cơ hội được quan sát trực tiếp các con vật
từ đó làm tăng khả năng hiểu biết và cách quan sát cho trẻ.
Hoặc cũng có thể khi mẹ nhặt rau trẻ cũng có thể bắt chước mẹ nhặt rau tôi
giải thích cho phụ huynh hiểu không phải trẻ làm theo là nghịch ngợm mà động
viên khuyến khích trẻ cùng làm vì khi trẻ nhặt rau trẻ có cơ hội được tiếp xúc
trực tiếp, được quan sát thực tế và hiểu biết thêm về các loại rau.
Hoặc tôi cũng tuyên truyền với phụ huynh hãy để cho trẻ tự tay múc ca
nước tưới cho các cây cảnh xung quanh nhà khi trẻ được làm trẻ được tiếp xúc
với nước được quan sát sự sinh trưởng của các loại cây từ đó giúp cho trẻ hứng
thú nhiều hơn với môi trường tự nhiên.
+ Trao đổi với phụ huynh cho trẻ đi học đều đặn giúp trẻ tiếp thu bài có hệ
thống và đạt hiệu quả hơn. Sau khi kết hợp với phụ huynh tôi thấy trẻ rất hứng
thú khi được tham gia khám phá khoa học về môi trường tự nhiên, trẻ tự tin lên
rất nhiều khi quan sát mô tả các đối tượng trước cô giáo và bạn bè. Việc cho trẻ
khám phá khoa học về môi trường tự nhiên trở nên nhẹ nhàng và đạt hiệu quả
cao hơn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Qua quá trình thực hiện một số biện pháp trên, tôi thấy chất lượng lớp tôi
đạt kết quả đáng kể.
*Kết quả khảo sát ban đầu:
TS
trẻ

34

Nội dung khảo sát
Khả năng tìm
tòi khám phá

Khả ngăng
nhận biết tên
gọi dặc điểm
của đối tượng

Khả năng so
sánh nhận xét
giữa các đối
tượng

Khả năng
phân nhóm
phân loại theo
dấu hiêu của
đối tượng

Khả năng suy
luận giả thích
về mối liên hệ
giữa các đối
tượng

Đ
ạt

Đ
ạt

Đ
ạt

Đ
ạt

Đ
ạt

Tỉ
lệ
%

C
Đ

Tỉ
lệ
%

Tỉ
lệ
%

C
Đ

Tỉ
lệ

Tỉ
lệ
%

C
Đ

Tỉ
lệ
%

Tỉ
lệ
%

C
Đ

Tỉ
lệ
%

Tỉ
lệ
%

C
Đ

18 53 16 47 20 59 14 41 17 50 17 50 19 56 15 44 14 41 20

*Kết quả sau khi thực nghệm
17

Tỉ
lệ
%
59


TS
trẻ

34

Nội dung khảo sát
Khả năng tìm
tòi khám phá

Khả ngăng
nhận biết tên
gọi dặc điểm
của đối tượng

Khả năng so
sánh nhận xét
giữa các đối
tượng

Khả năng
phân nhóm
phân loại theo
dấu hiêu của
đối tượng

Khả năng suy
luận giả thích
về mối liên hệ
giữa các đối
tượng

Đ
ạt

Đ
ạt

Đ
ạt

Đ
ạt

Đ
ạt

Tỉ C
lệ
Đ
%
34 100 0

Tỉ
lệ
%
0

Tỉ
lệ
%
34 100

C
Đ

Tỉ
lệ

0

0

Tỉ C
lệ Đ
%
34 100 0

Tỉ
lệ
%
0

Tỉ
lệ
%
34 100

C
Đ
0

Tỉ
lệ
%
0

Tỉ C
lệ Đ
%
34 100 0

3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Như vậy, ta có thể nói rằng cho trẻ ứng dụng những thí nghiệm khoa học
vui là việc làm không thể thiếu được ở độ tuổi mầm non bởi thông qua hoạt
động này làm tăng vốn hiểu biết cho trẻ, khả năng nhận thức của trẻ được nâng
cao.
Để làm tốt được điều này giáo viên cần nắm bắt tâm lý và khả năng vốn
có của trẻ để có biện pháp phù hợp
Có biện pháp lôi cuốn trẻ vào hoạt động thoải mái nhẹ nhàng
Tạo điều kiện để trẻ thể hiện khả năng của mình trước bạn bè
Động viên khen ngợi trẻ kịp thời để trẻ hứng thú hoạt động hơn
Luôn lấy trẻ làm trung tâm sử dụng câu hỏi mở để phát triển tính tích cực
ở trẻ
Giáo viên không ngừng học tập nghiên cứu tài liệu tham gia các lớp
chuyên đề
Trao đổi với đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Cần tham mưu với các cấp lãnh đạo đầu tư thêm về cơ sở vật chất giúp
cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ được tốt hơn.
Tổ chức thao giảng, dự giờ thăm lớp thường xuyên hơn nữa để giáo viên
có thể học hỏi kinh nghiêm lẫn nhau.

18

Tỉ
lệ
%
0


Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn để rút ra bài học
kinh nghiêm sau mỗi tuần, mỗi chủ đề.
Thường xuyên mở các lớp tập huấn, chuyên đề cho giáo viên nhằm tăng
hiệu quả trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ và nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ. Trong quá trình thực hiện, tôi thấy trẻ rất hứng thú, phát triển
khả năng tư duy cao. Trẻ biết đặt ra những câu hỏi “Tại sao” trước những hiện
tượng lạ, từ đó thu nhận được những hiểu biết, những vốn kinh nghiệm nhất
định để áp dụng trong đời sống hàng ngày. Hầu hết tất cả các trẻ đều háo hức
chờ đón những thí nghiệm, tập trung cao độ để quan sát hiện tượng xảy ra, kiên
nhẫn chờ đón kết quả. Qua đó khơi gợi ở trẻ nhu cầu khám phá. Trẻ bắt đầu để ý
những biến đổi của sự vật hiện tượng xung quanh, biết tự khám phá bằng nhiều
giác quan và có sự trao đổi với cô, với bạn. Thu được những kết quả tích cực
trên trẻ, tôi càng nỗ lực học hỏi, tìm hiểu và mong ứng dụng được nhiều hơn
những tri thức về khoa học trong công tác giảng dạy của mình. Những điều kì
thú trong khoa học vô cùng phong phú, song không phải bất cứ hiện tượng khoa
học vui nào cũng có thể ứng dụng trong việc dạy trẻ mầm non. Việc lựa chọn
cũng như thực hiện những thí nghiệm khoa học phải đảm bảo tính vừa sức, phù
hợp với lứa tuổi và đặc biệt là đảm bảo an toàn cho trẻ.
Trên đây là một số kinh nghiệm : “Ứng dụng những thí nghiệm khoa
học vui vào công tác giáo dục trẻ 5- 6 tuổi ở trường mầm nonThị Trấn Nga
Sơn”, rất mong được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học nghành để tôi
được hoàn thiện hơn khi áp dụng sáng kiến của mình trong năm học mới
Tôi xin chân thành cảm ơn !

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Mai Thị Hoàn

Thị Trấn, ngày 10 Tháng 04 năm 2018
Tôi xin cam đoan SKKN này là do tôi tự
nghiên cứu và tìm tòi, không sao chép của
người khác.
NGƯỜI LÀM SKKN

Mai Thị Thanh Huyền

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình giáo dục mầm non - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, năm
2009.
2. Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non - nhà trẻ
24-36 tháng (TS. Trần Thị Ngọc Trâm; TS.Lê Thu Hương; PGS. TS. Lê Thị Ánh
Tuyết) đồng chủ biên - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam tháng 6/2015.
3. Một số tài liệu như báo, Internet,…

20


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI
CẤP PHÒNG DG&ĐT, SỞ GD& ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI
TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Mai Thị Thanh Huyền
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường mầm non Thị Trấn
TT

Tên đề tài sáng kiến

1

Một số biện pháp hướng dẫn
trẻ 3-4 tuổi hoạt động tạo
hình và phát triển ý tưởng
sang tạo

Cấp đánh giá
xếp loại

Phòng giáo
dục nga sơn

Kết quả
đánh giá
xếp loại

Năm học đánh
giá xếp loại

B

2009- 2010

2

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ Sở giáo dục và
mẫu giáo 3 tuổi qua ca dao, đào tạo Thanh
đồng dao
Hóa

C

2010- 2011

3

Nâng cao chất lượng hoạt
động góc cho trẻ 4- 5 tuổi

Phòng giáo
dục nga sơn

B

2014 – 2015

4

Một số kinh nghiệm sưu tầm
tuyển chọn các bài đồng dao
cho trẻ 4- 5 tuổi theo chủ đề

Phòng Giáo
dục Nga Sơn

A

2015- 2016

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×