Tải bản đầy đủ

skkn một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 18 24 tháng tuổi ở trường mầm non nga thủy

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ 18 – 24 THÁNG TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
NGA THỦY THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NHẬN BIẾT

Người thực hiện: Nghiêm Thị Duyên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Nga Thủy
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC
TT

NỘI DUNG


1

Mục lục

2
3
4
5
6
7
8
9
10

1. LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Thuận lợi.

Trang

11 2.2.2. Khó khăn:

1
1
2
2
2
2
2
4
4
4


12 2.2.3. Kết quả thực trạng:

4

13 2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

5

14

2.3.1. Xây dựng môi trường ngôn ngữ phong phú cho trẻ hoạt
động.

5

15

2.3.2. Làm đồ dùng, đồ chơi, tự tạo để phục vụ cho hoạt động nhận
biết nhằm kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tích cực.

9

16

2.3.3. Tạo hứng thú lôi cuốn trẻ thực hành trải nghiệm phát triển
ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết.

10

17

2.3. 4: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt động nhận biết ở mọi
lúc mọi nơi.

14

18

2.3. 5. Phối kết hợp với phụ huynh rèn luyện phát triển ngôn ngữ
mạch lạc cho trẻ.

16

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt đông giáo
dục, đối với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
20 3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

17

21 3.1. Kết luận

18

22 3.2. Kiến nghị

19

19

23 Tài liệu tham khảo

18


1. LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ chính là phương tiện để tư duy, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ. Nó
đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ và các quá trình tâm lí khác, chính
vì vậy mà trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non cần hình thành và
phát triển ngôn ngữ. Bởi ngôn ngữ phát triển sẽ tạo ra nền tảng vững chắc cho tư
duy của trẻ phát triển. Ngôn ngữ là công cụ, là phương tiện của tư duy. Tư duy
phát triển giúp cho quá trình nhận thức phát triển, thúc đẩy cho việc học tập tốt
hơn. Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất
mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử,
xã hội của nền văn hoá loài người. Nó giúp trẻ tích luỹ kiến thức, phát triển tư duy,
giúp trẻ giao tiếp được với mọi người xung quanh. Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu
khám phá, nhận thức về môi trường xung quanh, thông qua cử chỉ lời nói của
người lớn trẻ sẽ được làm quen với các sự vật hiện tượng có trong môi trường
xung quanh. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ sẽ nhận biết ngày càng nhiều màu sắc, hình
ảnh… của các sự vật hiện tượng trong cuộc sống hằng ngày. Vì vậy trong công tác
chăm sóc giáo dục trẻ, chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo
dục, phát triển toàn vẹn nhân cách trẻ.
Nhờ có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng mà trẻ
được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày. Ngôn ngữ là phương tiện giáo dục đạo
đức cho trẻ, ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ những hiểu
biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ những tình cảm
và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống. Thông qua ngôn ngữ trẻ
biết những gì nên, không nên…, qua đó rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt ở
trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức (ngoan - hư, tốt xấu...) [1] Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện giữ gìn bảo tồn, truyền đạt phát
triển những kinh nghiệm lịch sử và sự phát triển xã hội của loài người và nó gắn bó
mật thiết với con người.
Ngôn ngữ còn là phương tiện để con người giao tiếp với nhau trong cuộc
sống, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ. Đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với
những người xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Mặt khác trẻ cũng có
thể dùng ngôn ngữ để bày tỏ nhu cầu mong muốn của mình với mọi người nhưng
không phải tất cả trẻ ở tuổi này đều bắt đầu giao tiếp rõ ràng. Qua quá trình chăm
sóc trẻ tại nhóm lớp bản thân tôi thấy với một số trẻ có thể nói được những câu
ngắn với từ ngữ đơn giản đi kèm điệu bộ. Nhưng cũng có một số trẻ còn nói
ngọng, nói lắp, nói dấp dính từ và chỉ có bố, mẹ trẻ mới có thể hiểu được trẻ đang
nói gì, việc trẻ phát âm sai là khá phổ biến. Trẻ thường gặp khó khăn với chữ cái
được phát âm gần giống nhau. Có thể trẻ sẽ lắp bắp khi không thể nhớ chính xác từ
cần nói. Vì vậy việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ em trong giao tiếp sẽ
giúp trẻ dễ dàng tiếp nhận những môn học khác nhau như: Hoạt động nhận biết,
tạo hình, âm nhạc, đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch… tạo cho trẻ được hoạt động
nhiều. Việc phát triển vốn từ luyện phát âm và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp không
1


thể tách rời các môn học cũng như các hoạt động của trẻ. Mỗi từ cung cấp cho trẻ
phải dựa trên một biểu tượng cụ thể, có nghĩa, gắn liền với âm thanh và tình huống
sử dụng của chúng.
Như vậy ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người. Ngôn
ngữ là công cụ, phương tiện giúp bé làm quen với thế giới mới và biểu đạt những
suy nghĩ, tư duy của mình. Vì thế vấn đề phát triển ngôn ngữ một cách có hệ thống
cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của mỗi giáo viên chúng ta,
nên tôi đã quyết định nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 18-24 tháng tuổi ở trường Mầm Non Nga Thủy thông qua
hoạt động nhận biết ” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đối với
chương trình giáo dục mầm non mới hiện nay.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Dựa vào đề tài đã chọn nhằm tìm ra những giải pháp để cải tiến, nâng cao
chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 18 - 24 tháng tuổi. Đồng thời đã đề xuất
được 6 biện pháp hướng dẫn cho trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận
biết. Qua đó nâng cao nhận thức của bản thân về lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho
trẻ.
1. 3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc cho trẻ 18 – 24 tháng
tuổi phát triển ngôn ngữ tại trường mầm non Nga Thủy.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp khảo sát chất lượng học sinh trên lớp.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp thực hành trải nghiệm.
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp.
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
Theo E. L. Tikhêeva – Nhà giáo dục học Liên xô cũ đã khẳng định rằng:
“Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh
kho tàng kiến thức của dân tộc, của nhân loại. Do ngôn ngữ giữ vai trò vô cùng
quan trọng trong đời sống con người…”[2]
Không chỉ có vậy, ngôn ngữ tạo nên những con người có linh hồn. Ngôn ngữ
đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nên tư duy, nhân cách của con
người, thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh hành động chính bản thân mình. Ngôn ngữ có
vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người. Nhờ có ngôn ngữ mà con người có

2


thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự
với nhau những nỗi niềm thầm kín.…
Đối với trẻ em, ngôn ngữ là cầu nối để đến với thế giới của nhân loại. Ngôn ngữ
trở thành công cụ để trẻ bày tỏ suy nghĩ, những tâm tư, tình cảm, những mong muốn
của cá nhân mình. Bởi lẽ, trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung
quanh, mong muốn hòa nhập với xã hội của loài người.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thực chất là phát triển hoạt động lời nói. Quá trình
phát triển lời nói của trẻ gắn bó rất chặt chẽ với 2 cơ chế của hoạt động lời nói là
sản sinh ngôn ngữ và tiếp nhận ngôn ngữ. Quá trình hình thành lời nói ở trẻ gắn bó
rất chặt chẽ với hoạt động của tư duy. Sự mạch lạc trong lời nói của trẻ thực chất là
sự mạch lạc của tư duy. Việc tiếp thu ngôn ngữ có nhiều đặc điểm khác với việc
tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác. Ngôn ngữ được hình thành từ rất sớm.
Ban đầu trẻ không có ý thức về ngôn ngữ và học nói theo cách tự nhiên, về sau,
khi tư duy phát triển thì có thể tổ chức học nói có ý thức hơn. Tâm lý của trẻ trước
tuổi học được chia thành nhiều thời kỳ, do vậy cần dựa vào đó để tìm ra phương
pháp, hình thức tổ chức dạy nói cho phù hợp.
Ngôn ngữ tồn tại trong con người không phải do bẩm sinh di truyền mà hoàn
toàn do bên ngoài vào, nhờ có người khác ở xung quanh nói từ ngữ đó mà con người
biết sử dụng ngôn ngữ từ nhỏ. Từ ngữ có thể bị xoá sạch khỏi trí nhớ, thậm chí cả
tiếng mẹ đẻ nếu như con người vì lý do nào đó không sử dụng đến ngôn ngữ đó. Bởi
chỉ có thể nói đến sự tồn tại của ngôn ngữ chừng nào ngôn ngữ đó được sử dụng.
Ở lứa tuổi 18-24 tháng các cơ quan trong cơ thể trẻ đang phát triển và dần dần
hoàn thiện, nhất là hệ thần kinh, trẻ rất hiếu động và ham thích bắt chước cái mới,
cái đẹp, những điều mới lạ…Cảm giác, tri giác của trẻ đã được phát triển nhờ việc
trẻ biết đi và thực hiện được các hành động với đồ vật. Việc xuất hiện ngôn ngữ đã
giúp cho cảm giác của trẻ trở lên chính xác và có căn cứ hơn, trẻ bắt đầu phát triển
tư duy bằng lời nói bên cạnh tư duy trực quan hành động. Tuy nhiên tri giác của trẻ
vẫn còn sơ sài trẻ thích khám phá thế giới xung quanh trẻ nhưng khả năng tập
trung chú ý của trẻ chưa cao, sự ghi nhớ của trẻ còn mang tính không chủ định,
thời gian ghi nhớ ngắn. Vì thế cần tạo mối quan hệ giữa cô và trẻ là tình cảm yêu
thương như mẹ con, thực hiện các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non. Giáo viên phải lắm được nguyên tắc dạy
trẻ: “học mà chơi, chơi mà học” [3]. Trẻ học thông qua các hình thức giờ học, trò
chuyện, vui chơi…Trẻ lĩnh hội các tri thức một cách thoải mái, nhẹ nhàng, hứng
thú chứ không bị gò bó, ép buộc. Trong cuộc sống hàng ngày, khi giao tiếp với
người lớn, với bạn bè trẻ sẽ có cơ hội để nhận thức những biểu tượng về thế giới
xung quanh, từ đó giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của một số loại từ, phát triển năng
lực ngôn ngữ trong tự nhiên.
O. P. Skinner trong tác phẩm Hành vi bằng lời cũng cho rằng: “Ngôn ngữ của
trẻ cũng như mọi hành vi khác được hình thành do thao tác quyết định, và sự “bắt
3


chước” là rất quan trọng. Những thao tác về ngôn ngữ cùng với sự giúp đỡ của
người lớn sẽ cho trẻ nhanh chóng trưởng thành và phát triển về ngôn ngữ.”[4]
Vì thế việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, mở rộng các loại vốn từ là nhiệm vụ
quan trọng của giáo viên mầm non nói chung và bản thân tôi nói riêng. Căn cứ trên
cơ sở của các ngành khoa học và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ tôi đã
tìm ra những cách làm tốt nhất để phát triển lời nói cho trẻ. Đây chính là mục đích
mà tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Thuận lợi:
- Trường mầm non Nga Thủy được sự quan tâm của UBND- HĐND xã, các
cấp lãnh đạo có một ngôi trường đẹp khang trang. Cơ sở trang thiết bị đồ dùng đồ
chơi phong phú phù hợp với sự phát triển của bậc học mầm non, là điều kiện tốt
đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Bản thân là một giáo viên luôn tâm huyết với nghề, yêu nghề và mến trẻ, coi
trẻ như con của mình, và bên cạnh đó còn được tiếp thu đầy đủ các chuyên đề,
được dự giờ dạy mẫu từ đồng nghiệp, luôn tham khảo sách báo, tập san, để có thể
tự tin truyền đạt tri thức cho trẻ.
- Thường xuyên xây dựng các hoạt động cho giáo viên theo từng tháng, tổ
chức đối xứng các chuyên đề, vận dụng và áp dụng phương pháp mới trong việc tổ
chức hoạt động giáo dục mầm non.
- Bản thân tôi cũng nhận được sự động viên giúp đỡ của Ban giám hiệu Nhà
trường, bạn bè đồng nghiệp, sự ủng hộ của gia đình, phụ huynh đã luôn quan tâm
đến các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại nhóm lớp, đặc biệt là tình cảm
yêu quý của các bé dành cho tôi.
2.2.2. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên còn có một số khó khăn như sau:
- Trí nhớ của trẻ đang còn hạn chế chưa nói được câu nói dài và đang còn bị
bỏ bớt từ, bớt âm khi nói.
- Phát âm của trẻ chưa chuẩn còn nói ngọng, nói lắp, nói dính câu.
- Kỹ năng giao tiếp giữa trẻ với trẻ, giữa cô giáo và trẻ còn có nhiều khó khăn
và hạn chế. Đa số trẻ chỉ nói được câu ngắn 1 đến 2 từ, trẻ nói ngọng nói lắp bắp
không rõ tiếng.
2.2.3. Kết quả thực trạng:
Trong quá trình tiếp xúc với trẻ bản thân tôi thấy rất lo lắng về vấn đề này và
tôi cho rằng mình phải tìm tòi, suy nghĩ, nghiên cứu các tài liệu để tìm ra biện
pháp phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ một cách có hiệu quả nhất để có thể
giúp trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người. Vì thế tôi đã khảo sát chất lượng
của trẻ đầu năm như sau.
4


Bảng kết quả khảo sát trẻ tháng 9 năm 2017
STT

Nội dung

Tổng
số trẻ

Đạt yêu cầu
Chưa đạt
Số
Tỷ lệ Số trẻ Tỷ lệ
trẻ

1

Khả năng nghe hiểu lời nói

15

11

73%

4

27%

2

Khả năng nghe, nhắc lại các
âm, các tiếng và các câu

15

10

67%

5

33%

3

Khả năng sử dụng ngôn ngữ để
giao tiếp

15

9

60%

6

40%

Thông qua kết quả của thực trạng trên với tổng số trẻ có khả năng nghe hiểu
lời nói, nhắc lại các âm, các tiếng và các câu, khả năng sử dụng ngôn ngữ để giao
tiếp chưa cao. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa ra những giải pháp và tổ chức
thực hiện đã đem lại kết quả khá khả thi như sau:
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Xây dựng môi trường ngôn ngữ phong phú cho trẻ hoạt động.
Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ đạt kết quả cao thì giáo viên phải chuẩn bị
môi trường cho trẻ hoạt động, vì môi trường đóng vai trò rất quan trọng. Xây dựng
môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một việc làm rất cần thiết góp phần nâng
cao chất lượng thực hiện Chương trình GDMN, tăng cường các điều kiện để đổi
mới hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung
tâm đáp ứng với nhu cầu phát triển của trẻ và nhu cầu đổi mới của ngành học hiện
nay. Ở độ tuổi 18-24 tháng tuổi trẻ thích quan sát và khám phá để tìm hiểu thế giới
xung quanh trẻ. Khi xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động, các hình ảnh tôi trang
trí luôn có nội dung rõ ràng, màu sắc đẹp và hình ảnh sống động, các hình ảnh này
đều mang tính thẫm mỹ và tính giáo dục cao. Chính vì vậy khi xây dựng môi
trường cho trẻ hoạt động thì phải đảm bảo theo các nguyên tắc, quy trình xây dựng
môi trường giáo dục trong trường mầm non.
* Tạo môi trường trong lớp phù hợp với chủ đề.
Để kích thích tính tò mò và ham hiểu biết của trẻ tôi đã tận dụng các mảng
tường trống để trang trí các hình ảnh xung quanh lớp phù hợp với chủ đề mà mình
đang thực hiện.
Mặt khác trẻ ở độ tuổi nhà trẻ, tư duy của trẻ là tư duy trực quan sinh động.
Khả năng tri giác về các sự vật, hiện tượng thông qua sử dụng vật thật, đồ dùng đồ
chơi, tranh ảnh,…Qua đó trẻ được tiếp xúc trưc tiếp, được nhìn, quan sát để giúp
trẻ hình thành và phát triển vốn từ. Vì vậy ở các góc chơi tôi treo tranh ảnh hợp với
chủ đề đang thực hiện.
Ví dụ: Chủ đề: “Những con vật đáng yêu”.
5


Để trẻ nhận biết về các con vật tôi đã trang trí mảng chính của chủ đề bằng
hình ảnh các con vật gần gũi, đồng thời xung quanh lớp các mảng tường trống tôi
cũng trang trí hình ảnh các con vật như con chó, con mèo, con cá, con voi,… có
màu sắc đẹp cho trẻ quan sát, khám phá.
Tôi cho trẻ khám phá các bức tranh vào giờ đón trẻ, trả trẻ, giờ chơi. Tôi cùng
trẻ trò chuyện về các bức tranh, ảnh xung quanh lớp để trẻ nhận biết về tên gọi, đặc
điểm của các con vật đó như ở bức tranh con chó tôi hỏi:
- Con gì đây? (Con chó)
- Đây là gì? ( cái mắt )
- Cá gì đây? ( cái mồm )
- Chó kêu thế nào? (Gâu gâu)
Tôi cho cả lớp, tổ, và cá nhân từng trẻ phát âm nhiều lần từ “Con chó”, “Cái
mắt”, “cái mồm” và bắt chước tiếng kêu “gâu gâu” để cung cấp làm giàu thêm vốn
từ cho trẻ. Khi trẻ phát âm tôi chú ý lắng nghe trẻ, nhưng vẫn có trẻ phát âm sai
“con chó” thành “con tó”, “con ó”, trả lời một từ “mắt”, “ mồm” tôi phải sửa sai
ngay cho trẻ bằng cách là dạy trẻ phát âm chính xác từ “con chó”, dạy trẻ nói đủ
câu “cái mắt”, “Cái mồm” nhiều lần và trong quá trình sửa sai cho trẻ thì tôi phải
phát âm chuẩn, không nói ngọng, nói dính câu mà tôi luôn phát âm chậm, rõ ràng
cho trẻ phát âm theo. Đồng thời tôi luôn chú ý đến khả năng nghe của trẻ trong quá
trình hướng dẫn, cụ thể hơn để giúp trẻ hứng thú biết về con chó tôi cho trẻ nghe
tiếng kêu của con chó qua video và cho trẻ bắt chước lại tiếng kêu, khi cho trẻ
nghe và nói nhiều giúp trẻ có nhiều cơ hội phát triển ngôn ngữ.

Hình ảnh trang trí môi trường trong lớp
Ngoài ra trong lớp học tôi còn bố trí sắp xếp các góc, các khu vực chơi khác
nhau vừa đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện cho trẻ, vừa tạo không gian để tôi
có thể bố trí các các vật liệu, đồ dùng, đồ chơi đa dạng về chủng loại, các con vật,
6


hình khối, các hộp chơi lắp ráp, xếp hình luôn có nhiều màu sắc, hình dạng khác
nhau, các góc chơi được kê thấp, đồ chơi bày đẹp mắt, giúp trẻ dễ lấy và dễ cất. Số
lượng đồ chơi luôn đủ cho trẻ hoạt động tránh chanh giành. giúp trẻ có cơ hội
khám phá và phát triển các giác quan, khả năng quan sát và nhận biết và giúp trẻ
phát triển ngôn ngữ được tốt hơn.
Ví dụ: Trong chủ đề “Những con vật đáng yêu” để cho trẻ chơi khám phá tìm
hiểu về đặc điểm, hình dáng, của những con vật đáng yêu. Tôi đặt các con vật trên
giá khuyến khích trẻ tự lấy chơi, ngoài ra tôi còn treo tranh ảnh về chủ đề ở các
góc cho trẻ được quan sát, gọi tên và nhận xét đặc điểm của các con vật, giúp ngôn
ngữ trẻ phát triển.
Hay ở chủ đề: “Những loại quả thơm ngon bổ dưỡng” ở các góc chơi tôi đã
sắp xếp những đồ dùng đồ chơi tự tạo từ những phế liệu như nhựa, xốp, vải dạ
may nhồi bông như: Cây chuối, quả dâu, quả dưa hấu, quả đu đủ, có màu sắc, hình
dạng đẹp mắt và hấp dẫn bày trên giá vừa tầm mắt cho trẻ được dễ lấy, dễ chơi,
trong quá trình trẻ chơi tôi thường xuyên giao tiếp và hỏi trẻ, giúp trẻ nhận biết và
phát âm tốt hơn như: Hôm nay có những đồ chơi gì? Trẻ trả lời theo những gì quan
sát thấy. Tuy nhiên vẫn có một số cháu gọi sai như “quả xoài” trẻ phát âm là “cả
xài”: “Màu xanh” trẻ phát âm thành “Màu xăn” lúc này tôi sẽ điều chỉnh kịp thời
và hướng dẫn cho trẻ phát âm đúng.

Hình ảnh: Đồ dùng trong lớp học
* Môi trường ngoài lớp:
Trên các mảng tường ở ngoài lớp tôi trang trí bằng cách vẽ hình các con vật
có trong nội dung của câu chuyện, bài thơ phù hợp với lứa tuổi của trẻ nhà trẻ và
để khi cho trẻ đi dạo, chơi cô trò chuyện với trẻ về các bức vẽ trên tường kích thích
trẻ trả lời, và luyện phát âm chuẩn các từ chỉ tên gọi màu sắc của các con vật, các
đồ vật trên mảng tường. Từ đó trẻ nhận biết, gọi tên các con vật, nhân vật, cây hoa,
cây xanh,… một cách chính xác hơn.
7


Môi trường thiên nhiên xung quanh trẻ như vườn rau, vườn hoa, vườn cây
xanh, cây ăn quả,…khi cho trẻ đi dạo chơi ngoài trời tôi luôn chú ý đặt các câu hỏi
cho trẻ phát âm như: “hoa hồng”, “màu đỏ”, “hoa cúc”, “màu vàng”,…giúp trẻ
củng cố và phát triển vốn từ tốt hơn. Bên cạnh đó các đồ chơi ngoài trời: Đu quay,
cầu trượt, bập bênh,…Đó là cơ sở vật chất rất quan trọng trong việc giúp trẻ dạo
chơi, quan sát nhận biết và gọi tên, màu sắc, giúp rèn luyện củng cố và phát triển
vốn từ cho trẻ. Vì thế tôi đã tham mưu với ban giám hiệu nhà trường huy động phụ
huynh và các đoàn thể như hội phụ nữ xã, hội cựu chiến binh, hội cựu giáo chức,
…mua sắm ủng hộ và trồng nhiều cây xanh, cây ăn quả, vườn hoa, vườn rau,… Từ
đó giúp trẻ có môi trường thiên nhiên phong phú để học tập tạo cơ hội cho trẻ nhận
biết, khám phá tìm hiểu về môi trường xung quanh ở mọi lúc mọi nơi giúp cho
nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ được thuận lợi hơn.
Hiệu quả:  Nhà trường đã có khuôn viên với vườn hoa có nhiều loại hoa đẹp,
có nhiều cây xanh, vườn cổ tích và vườn rau với các loại rau theo mùa. Với môi
trường như trên thì trẻ lớp tôi cũng đã tiến bộ rõ rệt về vốn từ và khả năng phát âm
chuẩn. Nếu như ban đầu trẻ phát âm”Cầu trượt” thành “Cầu tượt”, “Bập bênh”
thành “bập ênh” sau một thời gian đa số trẻ đã phát âm chuẩn vốn từ cũng phát
triển hơn với khả năng tự nói được các câu dài hơn.
Để trẻ có nhiều cơ hội phát triển ngôn ngữ tôi luôn chú trọng tạo môi trường
giao lưu ngôn ngữ tích cực thuận lợi giúp cho trẻ thường xuyên được giao tiếp,
tương tác, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa cô với trẻ, trẻ với trẻ, vì muốn
phát triển khả năng nghe nói cho trẻ, không gì nhanh chóng và tích cực bằng việc
thường xuyên cho trẻ nghe - nói. Tôi luôn thường xuyên trò chuyện với trẻ và
khuyến khích trẻ nói. Khi trẻ có khó khăn hay có tâm lý ngập ngừng, nhút nhát, tôi
khích lệ, hỗ trợ, động viên để trẻ tích cực trò chuyện. Trong quá trình chăm sóc
giáo dục trẻ tôi luôn chú trọng việc tạo ra các kênh giao tiếp thường xuyên, được
tiến hành giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với cô và giữa trẻ với mọi người xung quanh.
Khi giao tiếp với trẻ, cô chú ý đến giọng nói và thái độ, giọng nói dịu dàng, ánh
mắt trìu mến, tình cảm nồng ấm của cô sẽ khiến trẻ tự tin hơn rất nhiều.
Ngoài ra, tôi tạo cơ hội để trẻ được nghe các âm thanh khác nhau từ môi
trường.
Ví dụ: Tiếng kêu của các con vật, tiếng đàn, tiếng mưa rơi, âm thanh của các
phương tiện giao thông…Âm thanh từ các môi trường khác nhau có tác dụng kích
thích thính giác cũng như các giác quan của trẻ rất lớn. Bên cạnh đó, tổ chức cho
trẻ hoạt động kết hợp với lời nói trong các trò chơi, bài hát, đóng kịch kết hợp sử
dụng các con rối que, rối bông, rối bóng … là cơ hội để trẻ trải nghiệm, vận dụng
vốn ngôn ngữ đã tích lũy được vào hoạt động của bản thân, là điều kiện rất tốt để
trẻ phát triển khả năng sử dụng ngôn ngữ. Khuyến khích trẻ cố gắng sử dụng ngôn
ngữ để lưu lại những ý tưởng và suy nghĩ của mình. Tôi luôn chú ý đến tác phong
sư phạm và lời nói chuẩn mực, với ngôn ngữ giao tiếp trong sáng luôn biết lắng
nghe một cách trí tuệ và trân trọng trẻ.

8


Hiệu quả: Việc xây dựng môi trường ngôn ngữ trong một cách hiệu quả đã
tạo cho trẻ lớp tôi mạnh dạn, tự tin, và biết giao tiếp, ngôn ngữ của trẻ phát triển.
2.3.2: Làm đồ dùng, đồ chơi, tự tạo để phục vụ cho hoạt động nhận biết
nhằm kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tích cực.
Để tạo điều kiện phát triển ngôn ngữ tốt giúp quá trình hướng dẫn và tổ chức
các hoạt động của giáo viên, kích thích trẻ được nghe, được bắt chước, được nói và
sử dụng từ ngữ thật chính xác thì cần phải có trang thiết bị đồ dùng đồ chơi phong
phú, hấp dẫn, nhiều màu sắc bắt mắt cuốn hút trẻ, các đồ dùng trực quan sinh
động,…Vì thế ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể cho
từng hoạt động, từ đó lên kế hoạch làm, mua sắm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho
từng chủ đề của năm học.
Ngoài những đồ dùng, đồ chơi mua sẵn thì đồ dùng đồ chơi tự tạo cũng vô
cùng quan trọng, vì đồ chơi tự tạo thường có màu sắc rất đẹp, mới lạ, phong phú
và hấp dẫn, muôn hình muôn vẻ, bởi chúng được tạo ra từ những vật có sẵn, dễ
kiếm, dễ làm, nguồn đồ chơi tự tạo là vô tận có thể dùng luôn những đồ vật thông
thường trong sinh hoạt hàng ngày, trực tiếp làm từ những vật liệu tự nhiên làm đồ
chơi, trò chơi bằng những vật liệu thu lượm được. Trong cuộc sống sinh hoạt hàng
ngày của chúng ta thường có rất nhiều những nguyên vật liệu bị loại bỏ sau khi sử
dụng như: Lõi giấy vệ sinh, đĩa CD, chai nhựa, lon bia, giấy báo, và hộp sữa hút,
vỏ sữa chua....đó là những nguyên vật liệu rất phong phú và đa dạng có thể làm
được những việc hữu ích. Trước hết tôi đã xây dựng kế hoạch chuẩn bị sưu tầm,
thu gom nguyên vật liệu để làm thêm đồ dùng, đồ chơi. phục vụ cho các hoạt động
về phát triển ngôn ngữ và đặc biệt là hoạt động nhận biết để giúp trẻ có thêm đồ
dùng trực quan sinh động, hấp dẫn và có thể lôi cuốn trẻ vào hoạt động một cách
dễ dàng, trẻ hào hứng, phấn khởi phát triển tư duy của mình thông qua hoạt động
nhận biết để trẻ có thể phát triển ngôn ngữ mạch lạc hơn.
Ví dụ: Ở chủ đề: “Những con vật đáng yêu” Tôi có thể sưu tầm những cái vỏ
sữa chua, xốp màu, thìa sữa chua, keo nến tôi có thể làm thành những con vật như
con công. Hay để làm con “Gà mái và đàn gà con tôi cần phải có len, keo nến để
làm và tạo ra những con gà con trông thật bắt mắt để cho trẻ vui chơi và trò chuyện
với những con vật đó. Tôi cho trẻ quan sát hình ảnh các con vật được làm từ bông,
len như quan sát đàn gà tôi hỏi trẻ: Đây là con gì? (Con gà) cho cả lớp, tổ và cá
nhân trẻ phát âm từ “con gà”. Khi trẻ có hứng thú với những đồ dùng, đồ chơi mới
lạ và hấp dẫn thì trẻ sẽ chơi và học hỏi tích cực hơn giúp cho quá trình hoạt động
nhận biết của trẻ được tốt hơn, trẻ tích luỹ thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm bổ
ích cho bản thân tạo điều kiện cho trẻ tích lũy vốn từ giúp phát triển ngôn ngữ
phong phú hơn.
Hiệu quả đạt được: Từ những đồ dùng, đồ chơi mới lạ do tôi sưu tầm và tự
tay làm làm thành các đồ chơi như giỏ hoa, con gà, con vịt,…và các loại đồ chơi
luôn có sự chính xác về hình dạng, kích thước, màu sắc sinh động như các loại
quả, hoa, lá,…Các con vật tôm, cua, cá,…Các khối hình, đồ dùng nấu ăn, đồ dùng
gia đình,…Các loại tranh nhận biết, tranh chủ đề,…khi trẻ quan sát chúng, trẻ đã
9


được nhận biết và gọi tên các đồ dùng hoặc con vật mà không cần đến sự giúp đỡ
của tôi nữa như là con gà làm bằng len thì trẻ có thể tự phát âm là “Con gà màu
vàng” hoặc trẻ có thể nói “Con công đẹp quá” như vậy thông qua việc làm đồ dùng
đồ chơi tự tạo tôi có thể nhận thấy ở trẻ lớp tôi đang có sự chuyển biến rõ rệt về
ngôn ngữ, và vốn từ của trẻ phong phú hơn.

Hình ảnh: Đồ dùng đồ chơi tư tạo
2.3.3. Tạo hứng thú lôi cuốn trẻ thực hành trải nghiệm phát triển ngôn
ngữ thông qua hoạt động nhận biết.
Sau khi nghiên cứu và thực nghiệm trên trẻ ở hoạt động nhận biết, tôi đã rất
băn khoăn rất nhiều là làm thế nào để phát triển ngôn ngữ của trẻ tốt và đạt hiệu
quả trong các hoạt động thì ngay từ đầu năm học tôi đã lên kế hoạch cụ thể cho
từng bài dạy, có kế hoạch làm đồ dùng, đồ chơi để trẻ tích cực trong các hoạt động.
Qua thời gian tiếp xúc trực tiếp với trẻ, tôi đã theo dõi, tìm hiểu và nắm bắt được
tình trạng phát âm của trẻ ở trong lớp, trẻ phát âm còn chưa chuẩn, còn nói ngọng,
phát âm sai rất nhiều.
Ví dụ 1: Ở chủ đề “Đồ dùng đồ chơi của bé”.
Đề tài: Nhận biết: Quần, áo, mũ, dép.
Tôi chuẩn bị đồ dùng chu đáo: quần, áo, mũ dép thật, tranh, đồ chơi và tiến
hành dạy. Gây hứng thú cho trẻ bằng cách tạo tình huống bất ngờ, cho trẻ khám
phá chiếc túi kỳ lạ, một bạn lên lấy đồ dùng trong túi ra. Sau đó cho trẻ trực tiếp
quan sát đặc điểm, kết hợp với nhận biết, màu sắc, công dụng tôi đưa ra các câu
hỏi đàm thoại kết hợp từng đồ dùng hỏi trẻ và cho cả lớp, tổ các nhân như:
+ Đây là gì?
+ Đây là áo gì ?
+ Chiếc áo này có màu gì?
+ Chiếc áo này dùng cho bạn trai hay bạn gái?
- Cô đưa chiếc váy hỏi trẻ :
+ Đây là cái gì ?
10


+ Váy màu gì ?
+ Ai đang mặc váy ?
+ Váy con màu gì?
Những cháu nói tốt hơn cho trẻ nói câu dài “ Cái váy của bạn gái”, một số
cháu phát âm chưa rõ, nói ngọng, nói sai, tôi sửa sai cho trẻ: “Cái váy” cháu nói là
“Cái áy”, “Màu xanh” cháu nói là “Màu xăn” “Cái mũ để đội” cháu nói là “Để
ội”.
Khi trẻ phát âm sai thì tôi sửa sai cho trẻ bằng cách là tôi phải phát âm chuẩn
khẩu hình rõ ràng, không nói dính câu, như trẻ nói “Để ội” tôi sửa cho trẻ bằng
cách cho trẻ nhìn miệng cô nói, tôi cho trẻ uốn cong lưỡi lên và nói bật ra thành
chữ “đội”, hay “Màu xanh” trẻ nói thành “xăn” thì tôi sửa cho trẻ nói từ “xăn” tôi
phải mở miệng vừa phải, thẳng lưỡi vào rồi bật nhẹ ra khỏi miệng trong lúc tôi
sửa sai cho trẻ thì trẻ sẽ nhìn theo khẩu hình của tôi để trẻ có thể phát âm một cách
chính xác hơn. Hoặc từ “Cái váy” thì tôi phải phát âm từ “Váy” là tôi mấm môi
nhẹ lại và bật mạnh mở miệng rộng để cho từ “ váy” bật ra.
Từ việc quan sát và sửa sai cho từng các nhân trẻ đã giúp cho trẻ lớp tôi tiến
bộ rõ nét về khả năng phát âm, trẻ không còn nói ngọng, mà trẻ còn tự mình phát
âm và gọi tên những đồ dùng mà trẻ nhìn thấy được, giúp vốn từ của trẻ phong phú
hơn.

Hình ảnh: Nhận biết quần áo, mũ, dép
Đặc biệt trong lớp tôi có cháu Đình Huy và cháu Hữu Vinh nói rất khó, vì
cháu phát âm chưa chuẩn, nhưng khi sửa sai nhiều là cháu lì không nói nữa. Một
phần vì xấu hổ, vì không tự tin, vì thế tôi cảm thấy giờ học hơi gò bó, kết quả
không đạt được như mong muốn. Tôi đã rút kinh nghiệm để dạy trẻ tiết sau được
tốt hơn.
Ví dụ 2. Ở chủ đề “Những con vật đáng yêu”
Đề tài nhận biết “Con gà, con vịt”.
11


Muốn cho hoạt động nhận biết được tốt hơn, và trẻ phát âm chuẩn hơn thì
trước khi vào hoạt động nhận biết tôi đã gây hứng thú cho trẻ bằng cách là tôi đã
dùng các con rối có hình dạng con gà và con vịt được làm bằng vải. Tôi dùng con
rối đưa ra và giả làm tiếng kêu của con gà, con vịt. Tôi và trẻ cùng chơi tạo dáng
kêu tiếng kêu của các con vật: gà trống – gà mái – con vịt. Khi trẻ phát âm thì tôi
lắng nghe và sửa sai cho trẻ. Trẻ phát âm từ “Con gà” thành “Con hà” tôi sửa sai
ngay cho trẻ bằng cách cho trẻ chơi trò chơi với cô. Tôi cho tay vào con rối vừa
chơi vừa nói “Con gà, con gà cục ta cục tác”. Thì ngay lúc đó trẻ rất thích và
hướng mắt nhìn lên tôi, khi đó trẻ đang tưởng như mình đang chơi, nhưng thực
chất là trẻ đang tập phát âm, từ “con gà” được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần trong khi
chơi. Sau khi tổ chức cho trẻ phát âm rồi tôi còn cho trẻ chơi trò chơi tạo tiếng con
gà mái cho trẻ nghe và đố trẻ con gì? Tôi cho trẻ đi tìm trứng gà đẻ, sau đó cho trẻ
xem trứng gà và nói “Gà mái đẻ trứng”. Hay tôi tạo dáng con vịt bơi, đố trẻ con gì?
Và khuyến khích trẻ cùng chơi và nói “ cạp, cạp cạp”. Đến trò chơi củng cố tôi cho
trẻ chơi chọn lô tô theo yêu cầu của cô, tôi nói “tìm con gà”, “ Tìm con Vịt” Trẻ sẽ
tìm tranh lô tô con gà, con vịt giơ lên và gọi tên con gà con vịt nhiều lần. Khi trẻ
nào phát âm sai tôi sửa sai ngay cho trẻ cùng với việc sử dụng các đồ dùng, đồ
chơi, như vậy trẻ không thấy chán như trước nữa và trẻ phát âm cũng chuẩn hơn,
chính xác hơn.
Bên cạnh đó tôi còn kết hợp cho trẻ hát, đọc thơ kể chuyện liên quan đến các
con vật mà trẻ sắp được làm quen như “Rửa mặt như mèo”. Trong quá trình hát tôi
lại tiếp tục sửa sai cho những trẻ phát âm sai các từ: “Leo leo” thành “eo eo” tôi
luôn thay đổi từ hình thức này sang hình thức khác, tôi đã tạo được cho trẻ cảm
giác thoải mái, nhẹ nhàng, không gò bó, trẻ không mặc cảm là mình bị sửa sai
nhiều lần. Thông qua các hình thức khác nhau thì trẻ có thể tự nhận biết tên và đặc
điểm của các con vật sống trong gia đình, tôi đã đưa các con vật thật ra, trẻ rất
thích, trẻ phát âm tên gọi và một số đặc điểm của con vật một cách dễ dàng như:
đầu, chân, đuôi, mỏ, mắt…
Hiệu quả đạt được là thông qua những hoạt động nhận biết này tôi đã phát
huy được hết khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ. Nắm vững được phương pháp
của hoạt động nhận biết với mục đích phát triển ngôn ngữ, mở rộng sự hiểu biết
môi trường xung quanh và thông qua quá trình nhận biết, thúc đẩy sự phát triển các
giác quan và sự phát triển chú ý có chủ định cho trẻ. Vì vậy mà từ lời nói và hình
ảnh mà tôi cung cấp cho trẻ phải có sự hấp dẫn thu hút trẻ. Đồ dùng, đồ chơi luôn
đổi mới, đẹp đảm bảo nội dung phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Muốn phát triển được ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thì việc dạy trẻ quan sát
bằng tranh ảnh và đồ vật thật đó là vai trò rất quan trọng cho hoạt động nhận biết
của trẻ. Đây là kĩ năng giúp trẻ phát âm và nhận biết được nhiều hơn những gì trẻ
đang nhìn thấy, giúp trẻ cảm nhận những thay đổi và sự khác nhau của sự vật, hiện
tượng. Ngoài việc chuẩn bị đồ dùng đầy đủ, đẹp mắt, thì trong hoạt động dạy tôi
còn áp dụng linh hoạt, sáng tạo, thay đổi hình thức dạy, thay đổi các hoạt động để
trẻ tập trung chú ý.
12


Ví dụ 1: Ở chủ đề “Những loại quả thơm ngon và bổ dưỡng ”
Đề tài: Nhận biết quả táo, quả chuối, quả cam.
Tôi đã chuẩn bị quả thật, mô hình vườn cây ăn quả, có màu sắc khác nhau để trẻ
quan sát và nhận biết. Để gây hứng thú tôi cho trẻ thăm mô hình vườn cây ăn quả
có quả thật có màu xanh, màu đỏ để cho trẻ quan sát, trò chuyện gọi tên quả và
màu sắc. Khi vào nội dung chính tôi cho trẻ quan sát từng loại quả thật và đưa ra
các câu hỏi để hỏi về màu sắc hoặc hình dạng của quả như: Hỏi cả lớp: “Cô có quả
gì đây?”, “Quả táo”; “Quả táo màu gì?”, “Màu đỏ”; “Quả chuối màu gì?”, “Màu
xanh”; “Quả cam màu gì?”, “Màu vàng”, ngoài quả cam màu vàng ra còn có quả
cam màu xanh nữa đấy, tôi đưa quả cam màu xanh cho trẻ quan sát) và nói (quả
cam màu xanh), vỏ quả cam này sần sùi đấy! Các con sờ xem vỏ quả cam có sần
sùi không nhé? (Cho trẻ sờ quả cam), tôi hỏi lại: Vỏ quả cam như thế nào?, cho trẻ
nói cả câu: “Vỏ quả cam sần sùi”. Tôi bóc vỏ quả cam ra cho trẻ cùng xem bên
trong quả cam hỏi trẻ “bên trong quả cam có gì?” cho trẻ nói cả câu “Múi cam”, tôi
chỉ vào hạt cam và hỏi trẻ: “Đây là cái gì?” (Hạt cam), “Còn đây là gì?” tôi chỉ vào
phần tép cam và giới thiệu đây là phần mà các con ăn được đấy. Cho cả lớp, tổ, cá
nhân trẻ gọi “ tép cam” rồi hỏi trẻ quả cam này có vị như thế nào cho trẻ nếm
cam đã bóc sẵn để cảm nhận vị của quả cam rồi hỏi “ăn cam có vị như thế nào?”
(rất ngọt) trẻ sẽ rất thích thú và tôi cho trẻ nói lại từ “rất ngọt. Sau khi trẻ phát âm
tôi quan sát thấy một số trẻ còn phát âm chưa được chuẩn thì tôi gọi trẻ đó đến bên
tôi để tôi sửa sai cho trẻ bằng cách là tôi đưa quả cam cho trẻ cầm trên tay và hỏi
trẻ lại nhằm tạo cho trẻ có một cảm giác thoải mái khi tập phát âm từ “quả cam”
cùng với cô. Để củng cố hoạt động nhận biết của mình thì tôi cho trẻ chơi trò chơi
qủa gì biến mất. Tôi cho trẻ chơi trên màn hình chiếu powerpoint tôi lần lượt làm
từng quả một biến mất và hỏi trẻ quả gì đã biến mất lúc đó trẻ quan sát và trả lời
tôi mà không cần đến sự giúp đỡ của cô nữa từ đó mà trẻ đã phát triển ngôn ngữ
của trẻ một cách rõ ràng, mạch lạc hơn, và bổ sung kiến thức về hoạt động nhận
biết được nhiều hơn.
Ví dụ 2: Ở chủ đề “Những bông hoa đẹp”
Đề tài: Nhận biết “Hoa hồng, hoa cúc”.
Tôi mở nhạc bài hát “Ra vườn hoa” cho trẻ nghe và hỏi trẻ bài hát nói về cái
gì, sau đó tôi cho trẻ quan sát chậu hoa hồng thật và hoa cúc thật:
Cô có cây gì đây? (Cây hoa). Đây là hoa gì ? thì trẻ sẽ trả lời là (Hoa hồng)
hoặc là “oa ồng” khi thấy trẻ nói sai tôi lập tức phải sửa cho trẻ ngay tôi phát âm
chuẩn từ “hoa hồng” để cho trẻ học theo. Khi phát âm từ hoa hồng tôi phải há
miệng to ra để cho từ “hoa” bật ra khỏi miệng và từ “hồng” thì tôi phải khép miệng
lại. Tôi làm như thế để thu hút trẻ các hoạt động một cách hăng say, tôi luôn quan
tâm, chơi cùng trẻ, Tôi còn tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Nói từ tiếp theo” để cho
trẻ chú ý đến trẻ chú ý đến các từ còn thiếu của các từ mà tôi đã cung cấp cho trẻ.
Như:
- Cô nói hoa cúc - Trẻ nói: Hoa cúc vàng
13


- Cô nói: Hoa hồng - Trẻ nói: Hoa hồng màu đỏ
Hiệu quả: Bản thân tôi cảm thấy hài lòng với cách tổ chức như trên trong khi
thực hiện trẻ rất hứng thú, tích cực tham gia học tập, tư duy của trẻ phát triển tốt.
Đồng thời ngôn ngữ của trẻ được phát triển một cách có hiệu quả hơn, vì thế khi
trẻ hiểu biết và phát triển ngôn ngữ của mình một cách rõ ràng hơn, vì thông qua
hoạt động nhận biết này đã làm tăng thêm vốn từ cho trẻ.
2.3.4. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt động nhận biết ở mọi lúc mọi
nơi.
Muốn phát triển ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc cho trẻ không chỉ thông qua
những giờ “Nhận biết” mà còn phải lồng ghép, tổ chức vào các nội dung phù hợp
với lứa tuổi ở mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với chủ đề, đề tài mà mình đang thực
hiện, kết hợp với các môn học khác dưới nhiều hình thức khác nhau, để từ đó dạy
trẻ tập nói theo mẫu câu nhằm thay đổi hình thức, luyện phát âm cho trẻ như tôi sử
dụng các trò chơi nhằm củng cố bài học giúp trẻ khắc sâu kiến thức hơn.
Ví dụ: Với đề tài nhận biết các con vật sống trong rừng, thì tôi cho trẻ đọc
bài thơ “Con voi”, chơi trò chơi voi dậm chân.
Đối với cháu nói ngọng, nhút nhát, tôi tạo sân chơi cho trẻ để trẻ hoà nhập
cùng các bạn, để trẻ cảm thấy thoải mái, không lo sợ như đang học. Đây là hình
thức “Chơi mà học” nhằm rèn luyện kiến thức, kĩ năng nghe, kĩ năng nói và kĩ
năng diễn đạt cho trẻ đạt kết quả rất cao.
Ví dụ: Cháu Đình Huy nói ngọng “Con chó” thành “Con ó” tôi cho các cháu
chơi bắt chước tiếng kêu của con vật bằng hình thức: Đưa con chó ra và hỏi trẻ
“Con gì đây”, “Con chó kêu thế nào?” hoặc đố trẻ “Con gì nằm ở xó nhà” Con gì
sủa gâu gâu..?
Đối với cháu Hữu Vinh nhút nhát, không dám nói trước đám đông do ngôn
ngữ cháu phát triển chậm, tôi cho trẻ chơi đóng vai các con vật: Mèo, chim sẻ, thỏ
đi tắm nắng… Những lần chơi đầu tôi cho trẻ chơi với bạn giỏi hơn, mạnh dạn hơn
để lôi cuốn bạn Hữu Vinh vào cuộc chơi, động viên, khích lệ để cháu tự tin hơn.
Trẻ không còn mặc cảm, từ đó trẻ tích cực hoạt động cùng với các bạn,vì thế ngôn
ngữ của trẻ phát triển rõ rệt.
Khi chơi trẻ được tiếp xúc với đồ chơi và các sự vật hiện tượng, để trẻ được
thể hiện mình qua các “vai chơi”. Vì thế tôi chọn những đồ chơi có màu sắc phong
phú và phù hợp với từng góc để trẻ chơi, và trong quá trình chơi để trẻ có thể mạnh
dạn khi giao tiếp giữa trẻ với trẻ.
Ví dụ: Trong trò chơi “Chăm sóc búp bê” ở chủ đề “Bé và các bạn”. Khi cho
trẻ ru búp bê ngủ tôi tạo tình huống búp bê khóc và nói: Em bé khóc buồn ngủ đấy,
tôi bế búp bê, vừa làm động tác vỗ vào người búp bê, vừa nói: “à... ơi ! à ơi sau đó
tôi đưa trẻ bế búp bê và khuyến khích trẻ vừa làm động tác ru (Lắc lư người, vỗ
nhẹ vào người em bé) vừa nói : “À ơi ! à ơi !”. Tôi gợi ý cho trẻ chơi tôi nói “Em
búp bê khát nước rồi, các con cho búp bê uống nước đi!”. Tôi cũng cùng trẻ bế búp
bê cho búp bê uống nước vừa nói : “Bé uống nước nào!”. Khuyến khích trẻ cầm
14


thìa xúc cho búp bê uống nước vừa xúc cho búp bê vừa nói chuyện âu yếm, nựng
em bé, hướng dẫn trẻ cho búp bê ăn tôi nói: “Em búp bê đói rồi, các con cho búp
bê ăn đi ”, tôi bế búp bê, vừa xúc cho búp bê vừa nói : Bé ăn nào !. Cho trẻ tập xúc
cho búp bê ăn, khuyến khích trẻ xúc cho em ăn vừa nói chuyện âu yếm, nựng em
bé. Tôi nhấn mạnh các cụm từ : “Bé uống nước nào” ; “bé ăn nào”; “À ơi ! à ơi !”.
tôi cho trẻ nghe và khuyến khích trẻ chơi với búp bê nhẹ nhàng âu yếm, ru, nựng,
qua đó kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tích cực hơn.

Hình ảnh trẻ chơi chăm sóc búp bê
Trẻ 18- 24 tháng tuổi, ngôn ngữ chủ động của trẻ phát triển rất mạnh. Từ 18 24 tháng tuổi trẻ có thể nói được câu 3 - 5 từ. Trẻ lứa tuổi này đã biết tập trung chú
ý nghe cô nói và trả lời các câu hỏi của cô. Vì vậy tôi luôn luôn dành thời gian để
trò chuyện với từng trẻ, từng tốp trẻ hoặc cả nhóm trẻ. Trong khi trò chuyện với trẻ
tôi đặc biệt chú trọng đến việc đặt ra các câu hỏi: Cái gì đây? Để làm gì? Con gì
đây? Kêu thế nào? Ăn cái gì? Ai đây? Cháu con bố nào? Cháu học lớp cô nào?...
Với hệ thống câu hỏi trên nhằm kích thích trẻ tham gia vào câu chuyện nhằm
phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tích cực. Đồng thời với việc phát triển ngôn
ngữ cho trẻ qua các câu hỏi, trò chuyện Tôi thường xuyên quan tâm giáo dục lễ
giáo cho trẻ, nhắc trẻ cảm ơn khi được ai cho hoặc giúp đỡ việc gì đó và xin lỗi khi
làm gì không đúng.
Hay khi tiến hành đàm thoại cần cung cấp cho trẻ những hiểu biết về chủ để
sắp đàm thoại. Mục đích của đàm thoại là củng cố và hệ thống hóa những biểu
tượng và kiến thức mà trẻ đã thu lượm được.
Ví dụ: Đàm thoại về “Quả cam”
15


Tôi chuẩn bị quả cam thật, vì tư duy của trẻ là tư duy trực quan hành động,
nói đến quả cam trẻ cần được nhìn, sờ, ngửi hoặc nếm quả cam thì những ấn
tượng, biểu tượng của quả cam sẽ đi sâu và gắn liền với trẻ.
Do đó đàm thoại thích ứng với lợi ích và tâm lý trẻ phải được tiến hành nhẹ
nhàng, thoải mái, tự nhiên đáp ứng với những yêu cầu của trẻ. Câu hỏi đàm thoại
cần đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ và tâm lý lứa tuổi.
Thông qua trò chuyện và đàm thoại không chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
mạch lạc, chính xác, sử dụng câu đúng ngữ pháp mà còn góp phần rèn luyện cho
trẻ thói quen mạnh dạn trong giao tiếp.
Như vậy ngoài các giờ hoạt động chính thì phương pháp dạy mọi lúc, mọi nơi
chiếm vai trò vô cùng quan trọng đối với trẻ. Nó giúp hoàn thiện, củng cố các kĩ
năng và tích luỹ kinh nghiệm trong cuộc sống.
Hiệu quả: Thông qua hoạt động mọi lúc mọi nơi bằng hình thức tổ chức các
trò chơi để củng cố các hoạt động tôi thấy ngôn ngữ của trẻ được phát triển một
cách có hiệu quả hơn. Khả năng phát âm của trẻ rõ ràng, chính xác, trẻ không còn
nói ngọng, nói lắp, mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp với cô giáo, các bạn và mọi
người xung quanh.
2.3.5. Phối kết hợp với phụ huynh rèn luyện phát triển ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ.
Tôi đã kết hợp và vận dụng thông tin hai chiều để trao đổi với phụ huynh về
tình hình học tập của trẻ ở lớp. Đồng thời báo cho phụ huynh biết về tình hình của
trẻ trong tuần, trong tháng, cụ thể là bài học hôm đó và những từ trẻ phát âm sai để
gia đình dạy cho trẻ. Cha mẹ tạo điều kiện trò chuyện với trẻ để trẻ mạnh dạn nói
to hơn, rõ ràng hơn.
Một điều hết sức quan trọng là cha mẹ không nên nói tiếng địa phương, nói
nựng trẻ, vô hình dung lại làm trẻ nói ngọng, phát âm không chuẩn ảnh hưởng đến
ngôn ngữ của trẻ.
Thông qua việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường tạo nên sự liên kết giữa
nhà trường và cha mẹ nhằm chia sẻ kinh nghiệm hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình
chăm sóc giáo dục trẻ, góp phần không nhẹ vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Để việc phối hợp đạt kết quả cao tôi đã in các bài thơ, câu chuyện, có trong
chương trình học cho phụ huynh, vận động cha mẹ sưu tầm những bài thơ, câu đố
về môi trường xung quanh để giáo dục trẻ, đồng thời thông báo với phụ huynh biết
là hôm nay con mình học gì, con mình có giao tiếp, có chơi cùng bạn không.
Những trẻ nào hiếu động, nhanh nhẹn, những trẻ nào nhút nhát thì gia đình cần
kích lệ động viên trẻ hơn. Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh vào các hoạt
động đón, trả trẻ để tìm hiểu khả năng cá tính của từng trẻ thông qua đó tôi hiểu về
đặc điểm của từng cháu hơn. Tôi tuyên truyền với phụ huynh về biện pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ để phụ huynh hướng dẫn cho trẻ qua đó trẻ cũng được ôn
luyện những kiến thức cô đã dạy ở lớp, tôi luôn thông báo cho phụ huynh biết
những cháu nói ngọng, phát âm sai để phụ huynh dạy trẻ khi ở nhà.
16


Ví dụ: Ở chủ đề “Cây, rau, quả và những bông hoa đẹp”
Tôi đã tận dụng hết khả năng để trao đổi với phụ huynh về cách cho trẻ hoạt
động nhận biết tại nhà như khi nấu ăn để hỏi trẻ: “Cây gì đây?” “Đây là cái gì?”
“Lá rau có màu gì ?” “Quả chuối, quả cà chua có màu gì?…. và cho trẻ trả lời:
“Cây rau màu xanh”, “Quả chuối màu vàng, quả cà chua màu đỏ”. Qua đó góp
phần làm cho các bậc cha mẹ hiểu rõ hơn về con em mình, để góp phần phát huy
cao hơn khả năng tích cực phát âm và giao tiếp của trẻ, phụ huynh sẽ hiểu được
việc làm của cô giáo và phụ huynh cũng nắm được chương trình học của trẻ để phụ
huynh dạy phát âm chuẩn và sửa sai cho trẻ ngay cả lúc ở nhà.
Hiệu quả: Bằng cách làm này chúng tôi đã thống nhất quan điểm dạy, qua
cuộc họp phụ huynh để trao đổi trực tiếp với các bậc phụ huynh đã quan tâm đến
việc học của con em mình hơn. Với sự cố gắng nỗ lực của tôi cùng với sự giúp đỡ
của phụ huynh, hoạt động nhận biết của trẻ lớp tôi đạt kết cao ngoài sự mong đợi
của tôi, đã kịp thời uốn nắn con, trẻ ngay từ buổi ban đầu giúp trẻ nói đúng, phát
âm chuẩn, góp phần bảo vệ sự trong sáng của Tiếng Việt.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, đối với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Đối với hoạt động Giáo dục:
Sau khi áp dụng những kinh nghiệm giảng dạy một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ trong cả năm học tôi thấy có những chuyển biến rõ rệt, phần lớn
số trẻ trong lớp đã có một số vốn từ rất khá, các cháu nói năng mạch lạc, rõ ràng.
Trẻ mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp.
Ngôn ngữ của trẻ đã phong phú hơn và trẻ đã biết vận dụng vốn từ vào cuộc
sống hằng ngày.
Bằng một số kinh nghiệm của mình tôi đã áp dụng trong việc phát triển ngôn
ngữ của trẻ 18-24 tháng tuổi, trong năm học vừa qua và kết quả đạt được như sau:
*Bảng kết quả của trẻ
STT
1
2
3

Nội dung
Khả năng nghe hiểu lời nói
Khả năng nghe, nhắc lại các
âm, các tiếng và các câu
Khả năng sử dụng ngôn ngữ để
giao tiếp

Tổng
số trẻ

Đạt yêu cầu
Số
Tỷ lệ
trẻ

Chưa đạt
Số
Tỷ lệ
trẻ

15

15

100%

0

%

15

15

100%

0

%

15

14

93%

1

7%

2.4.2. Đối với bản thân:
- Nắm chắc nội dung, phương pháp tổ chức hướng dẫn trẻ phát triển ngôn
ngữ.
17


- Tạo được môi trường, phong phú phù hợp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.
- Sưu tầm đồ dùng, đồ chơi hấp dẫn, sinh động thu hút trẻ tham gia vào các
hoạt động của cô.
- Luôn có sự động viên khuyến khích trẻ kịp thời.
2.4.3. Đối với đồng nghiệp:
+ 100% đồng nghiệp tham khảo các biện pháp và được triển khai, nhân rộng
trong nhà trường.
+ Được đồng nghiệp đánh giá cao với các biện pháp đưa ra trong sáng kiến.
2.4.4. Đối với nhà trường:
Nhà trường liên tục được Phòng giáo dục đánh giá cao về công tác chăm sóc
giáo dục trẻ đặc biệt là nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Để cho trẻ có một nền tảng vững chắc về ngôn ngữ ngay từ khi bắt đầu tập
nói, thì việc cung cấp và phát triển ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng quan trọng, nó
quyết định việc học tập cũng như việc giao tiếp của trẻ, qua một năm nghiên cứu
phát triển đè tài bản thân đã không ngừng tìm tòi suy nghĩ tìm ra những giải pháp
hay mang tính thiết thực với đề tài đó là:
- Làm đồ dùng, đồ chơi, tự tạo để phục vụ cho hoạt động nhận biết nhằm kích
thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tích cực.
-Tạo hứng thú lôi cuốn trẻ thực hành trải nghiệm phát triển ngôn ngữ thông
qua hoạt động nhận biết.
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt động nhận biết ở mọi lúc mọi nơi.
- Phối kết hợp với phụ huynh rèn luyện phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
Từ những giải pháp đã nghiên cứu và thực hiện trên cương vị là một giáo viên
trực tiếp giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy rằng. Để cung cấp ngôn ngữ cho các
cháu một cách có hiệu quả thì người giáo viên phải thực hiện tốt một số công việc
sau:
- Phải thực sự yêu nghề, mến trẻ. Thường xuyên tham khảo học hỏi trau dồi
kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Nghiên cứu tìm hiểu tình hình thực tế về kinh tế xã hội và dân cư tại địa bàn
nơi mình công tác.
- Nghiên cứu kỹ đối tượng trẻ của lớp mình giảng dạy về tâm sinh lý cũng
như khả năng phát triển ngôn ngữ riêng của từng trẻ.
- Xây dựng kế hoạch chi tiết việc cung cấp ngôn ngữ, cung cấp vốn từ cho
các cháu sao cho phù hợp với thực tế nơi địa bàn mình dạy học mà cụ thể là của
nhóm lớp mình dạy.
18


- Xây dựng giáo án tiết dạy sao cho linh hoạt phù hợp với địa phương nơi
mình dạy, để trẻ được học theo phương châm “Học mà chơi, chơi mà học” mà vẫn
đảm bảo theo yêu cầu, nhiệm vụ của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã chỉ đạo.
Có thực hiện như vậy thì việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi từ 18 - 24
tháng tuổi mới đạt hiệu quả cao.
3.2. Kiến nghị.
* Đối với nhà trường
Tăng cường thêm công tác tham mưu với các cấp lãnh đạo đầu tư thêm kinh
phí mua sắm thêm đồ dùng dạy học, đồ chơi, thiết bị phục vụ cho các hoạt động
của trẻ.
* Đối với phòng giáo dục:
Cần tăng cường thêm nữa các lớp chuyên đề do phòng giáo dục huyện mở.
Đề nghị các cấp lãnh đạo, ban ngành đoàn thể tuyên truyền với các bậc phụ
huynh đưa trẻ được đảm bảo.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã thực hiện để phát triển ngôn ngữ
cho trẻ 18-24 tháng tuổi, tôi xin mạnh dạn trình bày với hội đồng khoa học, với các
bạn đồng nghiệp. Bản thân tôi rất mong tôi được sự đóng góp ý kiến của hội đồng
khoa học, các bạn đồng nghiệp để từ đó rút ra được kinh nghiệm sâu sắc hơn./.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Nga Thủy, ngày 10 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm của mình không sao
chép nội dung của người khác
Người viết

Nghiêm Thị Duyên

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lý luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em – Nhà xuất bản
đại học Huế, năm 2003 - Trịnh Thị Hà Bắc
2. Phương pháp nghiên cứu trẻ em. Nguyễn Ánh Tuyết, Nhà xuất bản Đại học
quốc gia Hà Nội, năm 2001.
3. Tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non độ
tuổi nhà trẻ 3-36 tháng tuổi. Của tiến sĩ: Trần Thị Ngọc Trâm.- TS: Lê Thu Hương
- PGSTS. Lê Thị Ánh Tuyết.
4. Chương trình GDMN (Sửa đổi, bổ sung một số nội dung theo Thông tư
28/2016/TT-BGDĐT ngày 30/12/2016, ban hành chương trình GDMN mới.
5. Một số tài liệu như báo, Internet,…
6. Tuyển chọn những bài thơ ca, câu đố, theo chủ đề.
7. Tạp chí GDMN số 03-2016  
8. Các trò chơi và các hoạt động cho trẻ 18-24 tháng tuổi.

20


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ
XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN
XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nghiêm Thị Duyên
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên – Trường Mầm Non Nga Thủy

STT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh
giá, xếp loại
(phòng, sở)

1

Nâng cao chất lượng cho trẻ
làm quen với văn học lớp mẫu
giáo 4- 5 tuổi.

Phòng
GD&ĐT

B

Phòng
GD&ĐT

A

2

Xây dựng môi trường giáo
dục lớp mẫu giáo nhỡ 4- 5
tuổi

Sở GD&ĐT

C

3.

4.

5

Một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 25- 36 tháng
tuổi ở trường mầm non Nga
Thủy
Một số biện pháp gây hứng
thú cho trẻ 24-36 tháng tuổi
học tốt môn kể chuyện ở
trường mn Nga Thủy.
Một số biện pháp giúp trẻ 2436 tháng có thói quen tốt
trong ăn uống ở trường Mâm
non Nga Thủy.

Phòng
GD&ĐT
Phòng
GD&ĐT
Phòng
GD&ĐT

Kết quả
đánh giá

Năm học
đánh giá
xếp loại
2008- 2009

2009- 2010

C

2013- 2014

B

2014- 2015

A
2015- 2016

Sở GD&ĐT

C

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×