Tải bản đầy đủ

skkn một số biện pháp giúp trẻ hứng thú khi tham gia hoạt động kể chuyện nâng cao chất lượng giáo dục trẻ 5 6 tuổi trường mầm non yên thọ, huyện yên định

MỤC LỤC

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Văn học là một loại hình nghệ thuật đến với trẻ từ rất sớm. Ngay từ
thuở ấu thơ các em đã được làm quen với giai điệu nhẹ nhàng thiết tha của lời
ru, lớn hơn một chút các câu chuyện cổ tích, truyện hiện đại, các tác phẩm
thơ, ca dao, đồng dao đã gieo vào tâm hồn ngây thơ trong trắng của trẻ sự yêu
mến thế giới xung quanh, biết tỏ lòng yêu cái thiện, biết căm thù cái ác. Từ
các câu chuyện, bài thơ, ca dao, đồng dao… giúp trẻ em hiểu về truyền thống
lao động chiến đấu bền bỉ nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc ta, mở rộng
kiến thức cho trẻ về các mối quan hệ xã hội, về phong tục tập quán, về những
cảnh đẹp quê hương đất nước để trẻ cảm nhận được mối quan hệ giữa người
với người, cảm nhận vẻ đẹp trong các hành động cao thượng của các nhân
vật, tạo cho trẻ rung cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước.
Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học con người, cảnh vật trở nên gần nhau
hơn, sống với nhau thân tình hơn, cảm thông chia sẻ cho nhau những điều tốt đẹp
nhất. Làm quen với tác phẩm văn học chỉ ra mức độ, giới hạn, yêu cầu của việc
cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghệ thuật đọc và kể chuyện của cô
giáo. Hoạt động này nhằm dẫn dắt, hướng dẫn trẻ cảm nhận những giá trị nội dung,
nghệ thuật phong phú trong tác phẩm, khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú đối

với văn học, có ấn tượng về những hình tượng nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác
phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ
thuật như đọc thơ, kể chuyện, chơi trò chơi đóng kịch; Cao hơn là tiến tới sáng tạo
ra những vần thơ, câu chuyện theo tưởng tượng của mình, góp phần hình thành và
phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng, việc giúp
trẻ cảm thụ tác phẩm văn học là giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và mở rộng nhận thức
về thế giới xung quanh; từng bước tích lũy kinh nghiệm sống và nâng cao hiểu biết
của trẻ về cuộc sống con người, về cỏ cây hoa lá và các hiện tượng của thiên nhiên,
tình yêu quê hương đất nước, kính yêu Bác Hồ... Qua việc cho trẻ làm quen văn
học chính là hình thành ở trẻ những tình cảm đạo đức tốt đẹp, những cảm xúc thẩm


mỹ, phát triển trí tưởng tượng như: Tình yêu thiên nhiên, lòng kính trọng, yêu
thương gần gũi và giúp đỡ những người thân xung quanh trẻ như ông bà, bố mẹ, cô
giáo, anh chị em. Thông qua hoạt động này trẻ làm tái tạo và sáng tạo thêm những
tình tiết của tác phẩm một cách hồn nhiên, phù hợp với nội dung của tác phẩm, phù
hợp với sự hiểu biết, trí tưởng tượng của trẻ. Đồng thời trẻ đọc thuộc thơ, kể lại
được chuyện theo khả năng một cách hứng thú.
Bên cạnh đó văn học còn đem lại cho trẻ niềm vui và những cảm xúc đẹp từ
những câu chuyện, bài thơ, giúp trẻ nhận thức cái đẹp trong cuộc sống. Với tác
phẩm văn học thì ông mặt trời thật là đẹp, không phải là những tia nắng chói chang
mà là những tia nắng “óng ánh” thân thuộc hay chàng Sơn Tinh tài giỏi “Dời núi,
lấp bể…”, trẻ được trở về với cuộc sống ngày xưa của cha ông ta. Từ đó bước đầu
hiểu được truyền thống đấu tranh anh dũng của cha ông trong qúa trình dựng nước
và giữ nước của dân tộc.
Trong chương trình văn học Việt Nam “truyện” là món ăn tinh thần không
thể thiếu đối với trẻ mầm non. Truyện giúp các em hiểu được cuộc sống hiện thực
của cha ông ta. Truyện có ý nghĩa giáo dục to lớn, giáo dục về tư tưởng tình cảm,
trân trọng những con người lao động, yêu quê hương đất nước, sống trung thực,
chăm chỉ, ghét cái ác, yêu cái thiện, ở hiền gặp lành.
Nhưng trên thực tế, thời gian trẻ được người lớn kể chuyện cho nghe
ngày càng ít đi thay vào đó những nhu cầu giải trí hấp dẫn hơn như xem phim
hoạt hình trên ti vi, chơi game trên điện thoại thông minh, máy tính bảng…
đã làm hạn chế khả năng giao tiếp giữa trẻ với người lớn, giữa trẻ với mọi
người xung quanh.
Mặt khác, trên lớp giờ học làm quen với truyện mang tính khuôn mẫu, áp
đặt, trẻ trả lời theo ý cô, ngôn ngữ của người lớn không mang tính hồn nhiên nên
chưa phù hợp với trẻ nhỏ. Trẻ chưa được giao tiếp một cách thoải mái, chưa
khuyến khích trẻ tự nói, tự kể kèm theo cử chỉ, điệu bộ hay hành động, cảm xúc


phù hợp.
Việc tổ chức, hướng dẫn trẻ làm quen với truyện mới chỉ dừng lại ở việc
đọc, kể cho trẻ nghe một cách đơn thuần mà chưa chú ý nhiều đến việc thay đổi
hình thức tổ chức, đầu tư thời gian nghiên cứu tác phẩm để truyền tải một cách
sinh động, đúng tinh thần tác phẩm đến với trẻ; chưa giúp trẻ hiểu một cách sâu sắc
nội dung tác phẩm và rèn luyện kỹ năng kể diễn cảm cho trẻ. Vì thế, trẻ không thực
sự thích thú khi tham gia vào hoạt động này…
Với lòng yêu nghề và xác định nhiệm vụ của mình tôi chọn đề tài: “Một số
biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi hứng thú khi tham gia hoạt động kể chuyện ở trường
mầm non Yên Thọ, năm học 2017-2018”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu một số biện pháp giúp trẻ hứng thú khi tham gia hoạt
động kể chuyện. Từ đó góp phần xây dựng tình yêu văn học cho trẻ, đặc biệt
là những câu chuyện cổ tích trong kho tàng văn học Việt Nam đối với trẻ trẻ
em nói chung và đối với trẻ mầm non nói riêng.
2


1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Trẻ 5- 6 tuổi lớp A1, trường mầm non Yên Thọ, huyện Yên Định, năm
học 2017-2018.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: bản thân tôi tiến hành đọc và
nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến những biện pháp giúp trẻ hứng
thú khi tham gia hoạt động kể chuyện cho trẻ 5-6 tuổi.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tiến hành quan sát các hoạt động
của trẻ khi sử dụng các biện pháp giúp trẻ hứng thú khi tham gia hoạt động
kể chuyện cho trẻ 5- 6 tuổi tại trường mầm non Yên Thọ, huyện Yên Định.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu đã điều tra trước và sau
khi sử dụng các biện pháp.
- Phương pháp phân tích đánh giá: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa
kiến thức để xây dựng cơ sở khoa học của đề tài, làm sáng tỏ việc vận dụng
một số biện pháp giúp trẻ hứng thú khi tham gia hoạt động kể chuyện.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trẻ em nhất là trẻ bậc học mầm non nói chung rất nhạy cảm với những âm
điệu, hình tượng của các câu chuyện cổ tích sớm đi vào tâm hồn của tuổi thơ.
Trong kho tàng văn học Việt Nam thì những câu chuyện cổ tích, thần thoại, ngụ
ngôn đặc biệt hấp dẫn đối với trẻ. Khi được tiếp xúc với chuyện trẻ còn được làm
quen với ngôn ngữ giàu đẹp của dân tộc, những câu chuyện ấy đã gieo vào lòng trẻ
tình yêu của con người đối với con người, đối với những sự vật hiện tượng xung
quanh, qua đó các em được hiểu về những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Chuyện cũng đưa trẻ tới khắp mọi miền đất nước, kể chuyện còn giúp trẻ phát triển
khả năng tư duy, sáng tạo, óc tưởng tượng, và cũng thông qua chuyện trẻ được phát
triển ngôn ngữ, từ đó giúp trẻ mạnh dạn tự tin giao tiếp. Chính vì vậy, việc giúp trẻ
hứng thú khi tham gia hoạt động kể chuyện là điều hết sức cần thiết.
Nhận thức rõ ý nghĩa của việc giáo dục trẻ thông qua các hoạt động kể
chuyện nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ, đặc biệt phát triển thẩm mỹ, ngôn ngữ và
phẩm chất đạo đức. Tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với các câu
chuyện, góp phần phát triển ngôn ngữ, hình thành sự tự tin, tính sáng tạo, nhân
cách cho trẻ. Giúp trẻ biết phân biệt điều hay lẽ phải, biết phân biệt tốt - xấu, đúng
- sai, biết chia sẻ, giúp đỡ mọi người... Tạo điều kiện và cơ hội cho giáo viên được
trao đổi, học tập kinh nghiệm với nhau góp phần làm chuyển biến nhận thức của
cha mẹ học sinh đối với giáo dục mầm non.
Có thể nói mỗi đứa trẻ ngay từ khi ra đời đã là một cá thể độc lập, có cá tính
và những mong muốn độc lập của riêng mình. Bất kể là cô giáo hay bố mẹ đều
không có đặc quyền chi phối và hạn chế hành vi của trẻ. Vì vậy, việc áp dụng các
biện pháp giáo dục phù hợp với mục tiêu giảng dạy đòi hỏi phải có sự linh hoạt và
mềm dẻo phù hợp với khả năng cũng như hứng thú của trẻ.
3


2.2. Thực trạng vấn đề trước khi ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Thuận lợi:
Trường mầm non Yên Thọ luôn được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương
và Phòng giáo dục nên cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, đảm bảo yêu cầu cho việc
chăm sóc, giáo dục trẻ.
Tất cả các nhóm lớp đều tập trung học tại một trường, các cháu được phân
chia nhóm lớp theo đúng độ tuổi.
Đội ngũ giáo viên đa số có trình độ trên chuẩn, luôn yêu nghề, mến trẻ,
không ngại khó, ngại khổ luôn thực hiện tốt nhiệm vụ mà nhà trường giao cho.
Phần lớn phụ huynh luôn quan tâm ủng hộ đến các hoạt động của trường.
Một số phụ huynh nhận thức được việc chăm sóc giáo dục trẻ lứa tuổi này là rất
quan trọng và đặt lên hàng đầu, động viên trẻ, đưa trẻ đến lớp, tạo điều kiện cho trẻ
ăn ngủ tại lớp.
Bản thân luôn được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm và chỉ đạo sát sao
về chuyên môn, thường thăm lớp dự giờ để nâng cao chất lượng giảng dạy.
2.2.2. Khó khăn:
Khi thực hiện chương trình giáo dục mầm non hiện nay, với quan điểm lấy
trẻ làm trung tâm thì hầu như các giáo viên đang còn gặp một số vướng mắc, giáo
viên chưa thiết kế cho mình được tiết dạy thực sự đổi mới và khoa học mà đang
còn bắt chước, sao chép nhau.
Đồ dùng trực quan, giáo viên: Chưa phát huy hết được công dụng của đồ
dùng sẵn có trong thực tế; việc sử dụng công nghệ thông tin, giáo án điện tử vào
trong tiết dạy còn chưa thường xuyên.
Một số phụ huynh chưa thật sự coi trọng việc học của con, cho con đi học
không đúng giờ, một số trẻ gia đình hoàn cảnh khó khăn, một số phụ huynh có thói
quen cưng chiều con một cách thái quá dẫn đến ở cùng một độ tuổi nhưng khả
năng hoà nhập của các trẻ là không đồng đều, việc phối kết hợp giữa gia đình và
nhà trường chưa được thường xuyên liên tục.
Về cơ sở vật chất đồ dùng trang thiết bị vẫn chưa đáp ứng với yêu cầu chăm
sóc giáo dục ngày càng cao hiện nay.
2.2.3. Kết quả thực trạng:
Để có cơ sở nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp giúp trẻ hứng thú tham
gia vào hoạt động kể chuyện, tôi tiến hành khảo sát trẻ đầu năm học vào tháng 9
năm 2017 với số trẻ là 32. Các tiêu chí và kết quả đạt được như sau:
Tiêu chí
Trẻ thích thú khi nghe cô kể chuyện

Kết quả
Trẻ đạt
Trẻ chưa đạt
Số trẻ
Tỷ lệ Số trẻ Tỷ lệ
14/32

43,8

18/32

56,2
4


Trẻ có nhu cầu chơi đóng kịch
Trẻ hứng thú khi tham gia các hoạt động văn
học
Trẻ có khả năng tự sáng tạo và thể hiện tính
cách nhập vai một cách linh hoạt
Trẻ biết kể chuyện sáng tạo, kể theo trí tưởng
tượng một cách phong phú và đa dạng

09/32

28,1

23/32

71,9

10/32

32,3

22/32

67,7

08/32

25,0

24/32

75,0

08/32

25,0

24/32

75,0

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy: Ở cùng một độ tuổi nhưng khả năng ngôn
ngữ và sự tập trung chú ý của mỗi trẻ không đồng đều, hơn 40% trẻ chưa trả lời
câu hỏi xoay quanh nội dung câu chuyện cô vừa kể.
Đầu năm, tôi khảo sát trẻ có biểu hiện rụt rè, thiếu tự tin khi phát biểu trước
đám đông, khả năng diễn đạt của trẻ còn hạn chế, thường trả lời đồng thanh cùng
tập thể thì trả lời to, nhưng gọi từng cá nhân trả lời được thì nhút nhát phát âm nhỏ.
Khoảng 70% trẻ nhớ được một phần nội dung câu chuyện, chưa tự nói, tự kể
một nội dung dài khoảng 7 - 8 câu kèm theo cử chỉ, điệu bộ của riêng mình.
Chưa tạo tình huống, khuyến khích trẻ cùng thảo luận, tranh luận về đề tài,
câu chuyện để trẻ mạnh dạn tự tin nêu ý kiến riêng mình, chưa chú ý đến phát triển
trí tưởng tượng của trẻ qua kể chuyện sáng tạo.
Nhiều trẻ chưa phát huy được tính sáng tạo, chưa tạo môi trường thuận lợi
cho trẻ tự rèn luyện và phát triển ngôn ngữ thông qua việc trẻ thể hiện giọng nhân
vật, tự kể lại chuyện và khuyến khích kể chuyện sáng tạo.
Một số giáo viên chưa thật sự đầu tư, sáng tạo trong việc làm đồ dùng trực
quan để phục vụ cho hoạt động kể chuyện, gây khó khăn trong quá trình tập trung
hứng thú cho trẻ. Từ kết quả khảo sát trên, trong năm học qua tôi đã trăn trở và
thực hiện một số biện pháp giúp trẻ hứng thú khi tham gia hoạt động kể chuyện ở
trường mầm non Yên Thọ, Huyện Yên Định.
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Biện pháp 1: Tạo môi trường văn học phong phú; sưu tầm, đầu
tư, sáng tạo trong việc làm giáo cụ trực quan đa dạng, phong phú để tạo hứng
thú cho trẻ khi tham gia hoạt động kể chuyện.
Môi trường lớp học cho trẻ hoạt động tác động trực tiếp đến quá trình tìm
hiểu, nắm bắt, kể, kể sáng tạo truyện với các yếu tố như: không gian lớp học, đồ
dùng trực quan, sự thân thiện giữa cô và trẻ, trẻ với trẻ... Môi trường cho trẻ hoạt
động tốt thì sẽ kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ, tích cực tham gia vào các hoạt
động và đạt được kết quả cao. Theo đặc điểm tâm lý của trẻ là tư duy trực quan
hình ảnh, khi kể chuyện tôi luôn chú ý đến yếu tố nhân vật, các hình vẽ về nhân vật
phải thẩm mỹ, được nhân cách hóa. Đặc biệt nhân vật ở dạng động như: tôi kể đến
lời thoại nhân vật thì tay chân, đầu nhân vật đó cử động thì mới lôi cuốn trẻ nhìn.

5


Ví dụ: Tôi kể câu chuyện “Bác Gấu đen và hai chú Thỏ” lần đầu tiên tôi kể
với mô hình, với nhân vật Gấu đen và hai chú Thỏ để cử động được tôi nối phần
đầu - phần mình bằng lò xo. Khi tôi kể đến đoạn Gấu đen nói chuyện với hai chú
Thỏ cho cổ của Gấu đen, cổ hai chú Thỏ cử động trẻ nhìn thấy tưởng thật là Gấu,
Thỏ biết nói chuyện, đây là yếu tố quan trọng để trẻ được sống trong thế giới nhân
vật.

Ở mỗi loại đồ dùng trực quan đều có tính năng riêng, dễ thương, nghộ
nghĩnh đối với trẻ. Nhưng có một loại hình nghệ thuật mà trẻ yêu thích nhất đó
chính là múa rối. Do đó khi tôi kể chuyện kết hợp với rối đều được hưởng ứng
nhiệt tình từ phía trẻ, đó là động lực cho tôi không ngại khó khăn để chuẩn bị vở
rối cho trẻ xem. Đầu tiên, tôi nghiên cứu trong truyện có bao nhiêu nhân vật thì
chuẩn bị bấy nhiêu con rối, kế tiếp làm sân khấu để diễn. Trước khi múa rối diễn
ra, các diễn viên múa rối phải đứng sau sân khấu không cho trẻ thấy mặt. Kể đến
nhân vật nào thì nhân vật rối đó xuất hiện cùng với giọng nói, cử chỉ, điệu bộ và
hành động khớp với lời kể. Một vỡ rối diễn ra thuần thục, nhuần nhuyễn là cả một
quá trình tập luyện của tôi, tôi thường tập luyện trước đó nhiều lần để lời kể phải
khớp với thao tác múa rối. Thực tế đã chứng minh, khi múa rối diễn ra mọi sự chú
ý của trẻ đều hướng về các nhân vật rối, từng cử chỉ, điệu bộ của rối thì trẻ đều
hưởng ứng theo.
Ví dụ: Kể chuyện: “Chàng gà trống” kết hợp với các nhân vật rối: Gà trống,
họa mi, chim gõ kiến, Quạ. Khi tôi kể đến gà trống đập cánh, vươn cổ gáy vang thì
tôi làm động tác đập cánh, động tác vươn cao cổ để gáy. Hay tôi kể đến dáng đi
phục phịch của gà trống thì tôi cũng cho nhân vật rối đi ra với dáng vẽ nặng nề,
chậm rãi…Múa rối là một loại hình nghệ thuật mà trẻ rất say mê và hứng thú nên
thường được tôi sử dụng trong giờ kể chuyện.

6


Để mỗi trẻ có thể cảm thụ được nội dung câu chuyện là một quá trình phức
tạp, nó bao gồm các hoạt động cảm giác, tri giác, xúc cảm và nhận thức. Xong cảm
xúc của trẻ ở mức độ nào không chỉ do nội dung câu chuyện, mà phụ thuộc vào đồ
dùng trực quan. Ở giai đoạn này trí tưởng tượng của trẻ phát triển rất mạnh, nhưng
vẫn còn phụ thuộc từ bên ngoài. Vốn kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nên rất
cần hình ảnh minh họa, chi tiết về các tình tiết, hành động, tính cách nhân vật sẽ
giúp trẻ hiểu và cảm thụ nhanh hơn.
Với cuộc sống của trẻ, việc đầu tư làm ra nhiều đồ dùng mới có tầm quan
trọng đặc biệt, tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động tích cực, tìm tòi, học hỏi và
khám phá. Có thể nói đây là giai đoạn đầu tiên, để trẻ tri giác trực tiếp từ nội dung
câu chuyện qua lời cô kể chuyện thì tai trẻ nghe, mắt trẻ phải nhìn đồ dùng trực
quan. Tôi luôn cho rằng, hoạt động kể chuyện thành công trước tiên người giáo
viên phải có giọng kể thật ấn tượng, kế tiếp sự chuẩn bị đồ dung trực quan luôn đổi
mới, lôi cuốn được sự tập trung của trẻ. Nhận thức của trẻ là trực quan hình tượng
nên các đồ dùng trực quan đặc biệt là tranh ảnh, con rối... sẽ thu hút sự chú ý, tìm
hiểu, kể truyện, kể sáng tạo. Sưu tầm, bổ sung đồ dùng trực quan và tạo môi trường
kể chuyện. Chính vì vậy mà bản thân tôi không ngừng học hỏi để ngày càng sáng
tạo hơn trong việc làm đồ dùng dạy học.
Phương tiện đồ dùng trực quan rất đa dạng và phong phú, đòi hỏi người giáo
viên luôn tìm tòi và sáng tạo tận dụng hết công năng đồ dùng đó để gây hứng thú
cho trẻ. Đồ dùng trực quan phải có màu sắc phù hợp với nhân vật trong truyện, đa
dạng về màu sắc, tuyệt đối an toàn với trẻ, bám sát vào nội dung và tình tiết của
câu chuyện.
Riêng phần sử dụng tranh để kể chuyện, bản thân tôi cũng rút ra bài học cho
mình. Trước đây tôi kể chuyện bằng tranh in sẵn, trong quá trình kể chuyện tôi
thấy trẻ không tập trung, mau chán. Tôi mới suy nghĩ thay đổi hình khác, để lôi
cuốn trẻ vào hoạt động chung. Đó là tôi vẽ tranh phông phù hợp với nội dung câu
chuyện, nhân vật, tôi cũng vẽ rời để di chuyển theo từng tình tiết câu chuyện.
Ví dụ: khi kể câu chuyện “ Giọt nước tí xíu” :
7


Giọt nước, đám mây tôi đều vẽ rời. Khi
tôi kể, giọt nước bốc hơi, tôi di chuyển
giọt nước bằng nam châm bay khắp nơi
liền cuốn hút trẻ vào câu chuyện, gây
cho trẻ sự ngạc nhiên. Trẻ hỏi: “ Làm thế
nào mà giọt nước bay được? ”. Chỉ cần
thay đổi chi tiết nhỏ cũng đủ làm thay
đổi thái độ học tập của trẻ, làm cho trẻ
thích thú hơn khi mỗi lần tham gia hoạt
động kể chuyện.
Qua quá trình công tác, tôi nghiệm
ra một điều môi trường giáo dục, sưu
tầm, đầu tư, sáng tạo trong việc làm đồ
dùng trực quan đa dạng, phong phú sẽ
gây hứng thú cho trẻ và cho cả bản thân
giáo viên, góp phần hình thành và nâng
cao mối quan hệ thân thiện, tự tin giáo
viên với trẻ, giữa trẻ với trẻ.
2.3.2. Biện pháp 2: Đọc, kể diễn cảm, hệ thống câu hỏi gợi mở của giáo
viên để tạo hứng thú cho trẻ khi tham gia hoạt động kể chuyện.
Trẻ cảm thụ ngôn ngữ nghệ thuật bằng cách nghe, đọc kể. Do vậy giáo viên
có thể sử dụng mọi sắc thái giọng kể của mình, làm phương tiện để đọc, kể biểu
cảm khác nhau làm cho tác phẩm cất lên tiếng nói, tạo cho tác phẩm bức tranh
tương ứng, hấp dẫn đối với trẻ.
Vì vậy, khi muốn trình bày một tác phẩm, giáo viên cần tìm hiểu, suy nghĩ và
nghiên cứu tác phẩm để hiểu được ý nghĩa mà tác giả muốn gửi vào tác phẩm. Cô
giáo là người trung gian, là chiếc cầu nối đưa các câu chuyện đến với trẻ. Khi kể
chuyện, giọng kể và ngữ điệu là phương tiện rất quan trọng. Có thể nói rằng câu
chuyện trở nên hấp dẫn nhờ giọng kể và ngữ điệu của giáo viên. Giáo viên kể
chuyện phải có giọng kể hấp dẫn, biết sử dụng ngữ điệu thích hợp để tả tính cách
nhân vật. Trẻ tập trung chú ý cao độ vào ngôn ngữ kể chuyện của cô, lắng nghe
cách phát âm, ngữ điệu của cô. Trên cơ sở đó trẻ học được cách phát âm, dùng ngữ
điệu thích hợp và kể chuyện theo sự sáng tạo của mình. Việc phát triển ngôn ngữ
của trẻ ở lứa tuổi này diễn ra rất mạnh, những câu nói của cô chính là vốn từ ngữ in
sâu trong đầu của trẻ. Không phải ai cũng có được một giọng đọc kể hay, diễn cảm
mà đòi hỏi sự rèn luyện và học tập kinh nghiệm của mọi người xung quanh. Tôi
sưu tầm những cuốn băng kể chuyện mầm non hay để nghe, đọc tác phẩm thật kỹ
để nắm rõ nội dung và nghệ thuật của câu chuyện. Từ đó sẽ giúp tôi rất nhiều trong
việc thu hút trẻ.
Tôi luôn phân biệt giữa giọng đọc với giọng kể và cố gắng nhập tâm vào tác
phẩm để truyền tải tới các em tất cả những thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm
qua giọng kể diễn cảm, sắc thái khuôn mặt cử chỉ điệu bộ, ánh mắt... Ngữ điệu
8


giọng kể là một yếu tố vô cùng quan trọng, vì nó là phương tiện của việc truyền tải
nghệ thuật, cường độ của giọng kết hợp với cử chỉ nét mặt.
Ví dụ: Khi kể chuyện: “ Chú Dê Đen”
- Giọng Dê Trắng: yếu ớt, run sợ, nói ngắt quãng và chân tay run lên vì sợ
sệt.
- Giọng Dê Đen: bình tĩnh, đanh thép, dáng vẻ bình tĩnh.
- Giọng Chó Sói: to quát nạt dữ tợn khi nói với Dê Trắng.
- Giọng Chó Sói nói với Dê đen đầu tiên quát nạt sau đó chuyển sang lo lắng
ngần ngừ, sợ sệt.
Muốn làm được điều này đòi hỏi tôi có sự tập luyện cả một quá trình.
Thường tôi đứng trước gương tập luyện về cách kể có ngữ điệu truyền cảm, kết
hợp dáng điệu, nét mặt, cử chỉ có phù hợp với tính cách nhật vật để khi kể truyền
cảm xúc đến cho trẻ. Vì vậy giọng kể của cô phải diễn cảm, phù hợp với nội
dung câu chuyện. Cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, sắc thái tình cảm của cô khi kể
chuyện làm trẻ nhanh chóng hiểu và nắm bất được nội dung, tình cảm, ý
nghĩa của câu chuyện. Đồng thời thu hút trẻ, trẻ sẽ chú ý hơn, tránh tình trạng
thiếu tập trung, không chú ý của trẻ.
Tiếp theo cũng quan trọng không kém là cách giáo viên sử dụng câu hỏi khi
đàm thoại với trẻ để khắc họa thêm ý nghĩa, sự chân chính, những tình cảm cao
đẹp cho trẻ nhỏ. Tùy theo khả năng của từng trẻ mà tôi đặt ra những câu hỏi phù
hợp có hệ thống đi từ dễ đến khó, trước tiên sẽ là câu hỏi đóng. Khi thấy trẻ có khả
năng tôi sẽ đặt những câu hỏi mở cho trẻ và lưu ý những câu hỏi này phải hướng
đến “vùng phát triển gần nhất” của trẻ. Là vùng mà ở đó dưới sự hướng dẫn, người
học có thể vươn tới tiếp thu những cái mới.
Đặt câu hỏi cũng là cách gây sự chú ý và húng thú của trẻ đến nội dung câu
chuyện. Câu hỏi khuyến khích trẻ tư duy và sử dụng lời nói một cách sáng tạo. Có
nhiều dạng câu hỏi:
- Câu hỏi gây sự chú ý, tò mò cho trẻ trước khi kể chuyện:
+ Truyện này nói về điều gì?
+ Theo con chuyện gì sẽ xảy ra …?
+ Con nghĩ (nhân vật) sẽ như thế nào /sẽ làm gì?...
- Dạng câu hỏi giúp trẻ nhớ lại những sự việc diễn ra, nhớ lại nội dung câu
chuyện
+ Trong truyện có những nhân vật nào?
+ Lúc đầu chuyện gì sẽ xảy ra với…?
+ Sau đó thì sao?...
- Dạng câu hỏi đòi hỏi trẻ biết huy động và vận dụng kinh nghiệm của trẻ để
trả lời.
9


Ví dụ: Câu chuyện "Cóc kiện trời"
- Cô hỏi trẻ:
+ Vì sao Cóc lại lên kiện trời?
+ Cùng đi với Cóc có những ai?
+ Khi lên đến trời thì chuyện gì đã xảy ra?
+ Khi về đến trần gian thì thấy hiện tượng gì?
- Lột tả hành động nhân vật trung tâm: Nhân vật trung tâm thường xuất hiện
xuyên suốt câu chuyện, là điểm để trẻ nhớ được nội dung câu chuyện. Giáo viên
có thể trao đổi với trẻ theo hoạt động của nhân vật để trẻ tự kể lại nhữngchuỗi
hành động của nhân vật.
Ví dụ: Truyện “Cây tre trăm đốt”
Cô giáo có thể trao đổi với trẻ theo hoạt động nhân vật như nhân vật anh
nông dân cô giáo có thể hỏi:
+ Anh nông dân làm thuê cho ai?
+ Anh nông dân có tin lời của tên nhà giàu không? Anh làm như thế nào?
+ Anh nông dân đi vào rừng có tìm được cây tre trăm đốt không? Vì sao?
- Trao đổi với trẻ theo hệ thống câu hỏi hướng vào các yếu tố thần kỳ. Câu
hỏi phải luôn kích thích sự sáng tạo trong diễn đạt ngôn ngữ và hoạt động kể của
trẻ.
- Truyện “Cây tre trăm đốt” yếu tố thần kỳ là phép lạ của ông Bụt.
Cô hỏi: Bụt đã giúp đỡ anh nông dân như thế nào?
- Truyện "Tấm cám" yếu tố thần kỳ là sự hóa thân của cô Tấm.
Cô hỏi: Cô Tấm đã được biến hóa như thế nào?
Trong một giờ hoạt động kể chuyện, tôi có thể sử dụng đa dạng các loại câu
hỏi với trẻ. Bản thân tôi thấy có sự thay đổi rõ rệt ở trẻ, trẻ tiến triển về nhận thức,
ngôn ngữ và tình cảm. Trong quá trình đàm thoại tôi sử dụng câu hỏi một cách
linh hoạt, tùy thuộc vào sự phát triển của từng trẻ. Khi đặt câu hỏi, tôi xác định
mục đích yêu cầu giờ học kể chuyện ở tiết đa số trẻ chưa biết hay đã biết, từ đó
xác định hệ thống câu hỏi cho phù hợp.
2.3.3. Biện pháp 3: Kích thích hứng thú qua việc khuyến khích trẻ tự kể
chuyện.
Hiện nay các trường mầm non rất quan tâm đế phương pháp giáo dục coi
“trẻ là trung tâm”. Ở phương pháp này, trẻ được tăng cường hoạt động, khuyến
khích trẻ tích cực hoạt động, tích cực suy nghĩ để giải quyết vấn đề. Để chuẩn bị
cho trẻ 5 tuổi chuẩn bị vào trường phổ thông, không thể chỉ bằng những lời giải
thích, khuyên răn, không chỉ bằng những phân tích lý lẻ, mà điều quan trọng là
phải tổ chức các hoạt động cho trẻ tham gia để thực hiện những yêu cầu của việc
chuẩn bị đến trường. Một yêu cầu mang tính nguyên tắc là khi tổ chức hoạt động
cần phải phát huy tính tích cực của trẻ, biến yêu cầu giáo dục của giáo viên thành
nhu cầu, hứng thú hoạt động của trẻ, giúp trẻ thấy được đây là việc của chính mình
và cố gắng thực hiện cho bằng được.
10


Lấy trẻ làm trung tâm cũng có nghĩa là cần phải tính đến đặc điểm riêng của
từng trẻ. Vì mỗi đứa trẻ là một con người riêng biệt, có ý muốn riêng, hiểu biết
riêng, có cách nghĩ, tình cảm riêng. Do đó, chuẩn bị cho trẻ đến trường cần phải
chú ý tới cá tính của từng trẻ. Đặc biệt cần kích thích sáng kiến ở mỗi trẻ và tránh
lối giáo dục đồng loạt như đúc từ một khuôn ra.

Tổ chức cho trẻ tự kể chuyện cũng là một hình thức “lấy trẻ làm trung tâm”,
khuyến khích trẻ kể lại theo trí nhớ hoặc kể lại theo sự sáng tạo của trẻ. Là biện
pháp tốt nhất để phát triển ngôn ngữ nghệ thuật cũng như óc sáng tạo ở trẻ. Không
phải ngay từ đầu trẻ đã biết kể chuyện. Để có thể kể được truyện, trẻ cần phải có
quá trình tập luyện, giáo viên có thể tập cho trẻ kể chuyện bằng nhiều cách khác
nhau như : Đối với những câu chuyện mới trẻ chưa biết nội dung, khi cô kể lần hai
cô khuyến khích gợi ý cho trẻ kể cùng cô nhằm khắc sâu tình tiết câu chuyện, lời
thoại nhân vật và tính cách nhân vật. Là tiền đề cho trẻ thuộc truyện để trẻ tự kể
chuyện sau này.

11


Khi trẻ tự kể câu chuyện theo ý riêng, trẻ kể lại bằng lời nói và vốn kinh
nghiệm ngôn ngữ của trẻ. Trẻ có thể kể thêm chi tiết, thêm nhân vật, thêm lời thoại
nhân vật. Tùy thuộc vào nội dung câu chuyện, có những câu chuyện có lời thoại
của nhân vật dài, trẻ không nhớ hết trẻ có quyền rút ngắn hay kể theo ngôn ngữ
mình. Có những câu chuyện có ít nhân vật, lời thoại ít trẻ có thể thêm nhân vật,
thêm lời thoại nhằm cho trẻ bộ lộc hết khả năng và kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ.

Ví dụ: Câu chuyện “ Chú Thỏ tinh khôn” câu chuyện chỉ có hai nhân vật:
Thỏ và Cá Sấu. Tôi có thể gợi ý cho trẻ thêm nhân vật, thêm chi tiết và lời thoại
nhân vật như: Một hôm, Thỏ trắng ra bờ sông để cỏ non để ăn, do mãi mê bắt
bướm không chú ý ở gần đó có một con cá Sấu, đang rình bắt Thỏ. Nó rón rén đi
tới, bổng đâu nó đớp Thỏ trắng vào mồm, Thỏ hoảng sợ van xin “ Bác Sấu ơi, tha
cho con đi, con sợ quá, sợ quá mẹ ơi !, mẹ ơi!. Cá Sấu đắc chí nuốt chửng Thỏ
trắng vào bụng. Một ngày nọ, Thỏ nâu cũng ra bờ suối tìm những ngọn cỏ non nhai
nghiến ngấu và hát “ là, lá, la, la…”. Bỗng đâu, Cá Sấu từ từ bò đến đớp thỏ vào
mồm, thỏ cũng sợ lắm nhưng bình tĩnh tìm cách thoát thân. Thỏ nâu nói “ Bác kêu
hu hu hu con chẳng sợ đâu, bác kêu ha ha con mới sợ” . Khi Cá Sấu kêu ha ha Thỏ
nâu liền nhảy phốc khỏi miệng Cá Sấu và quay đầu lại cười chế nhạo con Cá Sấu
12


già, độc ác và chạy biến vào rừng.

Trẻ tự kể chuyện là biện pháp giúp cho trẻ độc lập thể hiện cảm xúc, phát
triển ngôn ngữ, kỹ năng diễn đạt lời nói và điệu bộ. Cũng là biện pháp ôn luyện,
mở rộng kiến thức nhằm phát huy khả năng sáng tạo ý tưởng và lời kể của trẻ. Đó
là, trẻ có thể thay đổi đoạn kết câu chuyện, thay đổi phần mở đầu và giữa câu
chuyện…
Ví dụ: Câu chuyện “ Tấm Cám” ở phần kết của câu chuyện Tấm giết chết
Cám và làm mắm đem về cho bà dì ghẻ ăn, khi ăn gần hết mới thấy đầu của Cám
bà lăn ra chết. Một kết thúc không có hậu, không mang tính giáo dục đối với trẻ.
Nên tôi sẽ khơi gợi ý tưởng cho trẻ thay đổi đoạn kết câu chuyện này theo ý của
trẻ.

Kể chuyện theo tranh, rối và vật thay thế, là cách mô phỏng lại một cách
sáng tạo các hoạt động của cuộc sống thực hoặc theo sự tưởng tượng của trẻ.
Đôi khi nó cũng là việc thể hiện hành động, lời nói, cử chỉ, điệu bộ của các
nhân vật trong câu chuyện ưa thích của trẻ. Đây là cơ hội tốt để trẻ sáng tạo
và phát triển ngôn ngữ. Phương pháp này thường được sử dụng ở phần hoạt
13


động nhóm trong giờ kể chuyện.
Ví dụ: Câu chuyện “Chú Dê Đen” với đa số trẻ đã biết. Sau khi củng cố lại
nội dung truyện bằng cách cho trẻ kể chuyện theo tranh. Tôi và trẻ cùng qui ước
nhiều biểu tượng thay thế cho nhân vật như: Mặt trời, hình vuông, bông hoa thay
thế dê đen, mặt trăng, hình tròn, chiếc lá thay thế cho dê trắng, đám mây, hình tam
giác, lốc xoáy thay thế cho chó sói. Trẻ về nhóm cùng bàn bạc, thảo luận với nhau
để phân vai, chọn biểu tượng thay thế theo nhân vật mình chọn. Sau đó, trẻ cùng kể
lại câu chuyện “Chú dê đen” với những biểu tượng mới. Trẻ tự kể lại chuyện là
hình thức trình bày có cảm xúc về một sự kiện theo trình tự phát triển của nó. Kể
chuyện giúp trẻ phát triển lời nói, trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự vật hay
sự kiện nào đó bằng lời nói cá nhân. Trẻ có cơ hội phát triển kĩ năng làm việc,
hợp tác với nhau: thảo luận, bàn bạc vì mục đích chung của nhóm. Tạo điều
kiện để trẻ học từ trẻ khác, học lẫn nhau để mô phỏng lại một cách sáng tạo
các hoạt động theo sự tưởng tượng của trẻ.
2.3.4. Biện pháp 4: Sử dụng công nghệ thông tin giúp trẻ hứng thú khi
hoạt động kể chuyện.
Ngày nay đưa công nghệ thông tin vào việc dạy và học cho trẻ sẽ giúp cho
giáo viên giải quyết được những khó khăn về giáo cụ trực quan, phát triển được
nhiều hình thức luyện tập, tích hợp các hoạt động thuận lợi hơn. Trẻ có nhiều trò
chơi linh hoạt, giờ học, giờ chơi sinh động phong phú và dễ tiếp thu hơn. Nhờ sự
phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, việc áp dụng công nghệ thông tin đã
giúp ích và hỗ trợ tích cực trong quá trình dạy học với những hình ảnh sinh động,
những video - clip có gắn liền hình ảnh, âm thanh, bài hát gây ấn tượng, bắt mắt
với trẻ và phù hợp với chủ đề giảng dạy thì việc sử dụng công nghệ thông tin cho
linh hoạt, phù hợp với từng hoạt động để thu hút sự chú ý của trẻ.
Đây là nguồn tư liệu, thiết bị, đồ dùng dạy học phong phú, đa dạng, hấp dẫn
tạo hứng thú và sáng tạo cho trẻ trong học tập, vui chơi nói chung, trong kể chuyện
nói riêng. Việc sưu tầm những video, những tranh ảnh trên mạng cần được lựa
chọn phù hợp với câu chuyện theo chủ đề, đảm bảo tính phù hợp, tính thẩm mỹ,
tính giáo dục... Với những hình ảnh sinh động, hấp dẫn sẽ kích thích được trí tưởng
tượng sáng tạo của trẻ, trẻ hứng thú tham gia kể truyện và kể một cách sáng tạo.
Để thu hút sự chú ý, gây hứng thú của trẻ tôi đã sử dụng công nghệ thông tin
vào một số bài dạy cụ thể sau :
Ví dụ: Kể truyện: “Quả bầu tiên”
Với câu chuyện này tôi đã sử dụng phần mềm PowerPoint để soạn giáo án
điện tử xuyên suốt cả tiết dạy.
Để làm được giáo án điện tử trước hết tôi cần phải chuẩn bị đầy đủ những
học liệu cần thiết như: Tranh truyện: “Quả bầu tiên”, tìm những cây hoa, cây cảnh,
cây lấy gỗ, cây ăn quả ở ngoài thật và trên mạng theo chủ đề đưa vào kho tài
nguyên và cài nhạc bài “Vườn cây của Ba” vào phần mềm hỗ trợ để thiết kế theo
trình tự một tiết dạy. Trước khi vào tiết dạy tôi còn chuẩn bị máy tính xách tay đã
cài đặt phần mềm PowerPoint, phần mềm hỗ trợ kể chuyện mầm non là những đồ
dùng cần thiết khi giảng dạy.
14


Vào giờ học để thu hút sự chú ý của trẻ tôi gọi trẻ đến bên cô và hỏi :
– Các con thấy thời tiết hôm nay như thế nào ?
– Với thời tiết đẹp thế này các con dự định đi đâu ?
– Bây giờ cô con mình sẽ cùng đi chơi, cô sẽ đưa chúng mình đến thăm
“ Vườn cây của Ba” cô - các con cùng khám phá những điều thú vị trong khu vườn
nhé!.
Sau đó tôi sẽ cho trẻ nhẹ nhàng ngồi trước tivi xem hình ảnh về các loại cây
và trò chuyện cùng cô. Tiếp đó trẻ cùng cô đàm thoại nội dung câu chuyện.
Với việc sử dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy, trẻ đặc biệt có hứng thú,
trước khi vào bài học, khi nhìn thấy trong lớp có máy vi tính, có tivi trình chiếu.
Trẻ được nghe cô kể chuyện, được xem trực tiếp các hình ảnh động âm thanh, bài
hát trên màn hình. Tôi thiết kế truyện cho trẻ xem trang kế, trang sau và hiệu ứng
sang trang trẻ vô cùng ngạc nhiên và hứng thú. Ngoài ra trẻ còn được trực tiếp
đứng lên thực hành kể lại truyện. Giờ học kể chuyện trôi qua một cách nhẹ nhàng
đầy lôi cuốn trẻ từ đầu đến cuối.
Khi kể chuyện trên bảng tương tác trẻ được quan sát kỹ nội dung truyện trên
máy với những hình ảnh sinh động thay vì nghe kể bằng tranh, bằng sách truyện .
Trẻ được xem và khắc sâu tính cách nhân vật cậu bé hiền lành tốt bụng, lão địa chủ
tham lam độc ác qua cử chỉ, nét mặt của từng nhân vật. Qua đó trẻ tập trung cao độ
vào giờ học, hăng hái phát biểu xây dựng bài, giờ học sôi nổi .
Từ đó phát huy được tính tích cực và hứng thú cho trẻ. Giờ học đạt kết quả từ
90-95%.
Ví dụ: Câu chuyện "Cô bé quàng khăn đỏ" : Cảnh cô bé đi vào rừng trong
tranh do nhà trường cung cấp chỉ có hình ảnh: Cô bé quàng chiếc khăn đỏ, các cây
cổ thụ, cây hoa rừng hai bên đường. Nhưng khi tôi thiết kế bằng trình chiếu, tôi đã
đưa thêm các chi tiết, hình ảnh động như bướm đang bay, chim đang hót trên cành,
cô bé đang nhảy nhót hát ca và một số hình ảnh con vật sống trong rừng như hươu,
nai, sóc.
Trẻ đã biết kể thêm các chi tiết nhỏ làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn. Trẻ
kể: Cô bé đi vào rừng, vừa đi vừa cất cao tiếng hát "Vào rừng xem hoa, nghe tiếng
chim rừng vui ca, tìm vài bông hoa, cùng hái đem tặng bà". Nghe cô bé hát chim
cũng hòa theo hót líu lo...
2.4.5. Biện pháp 5: Phối hợp với phụ huynh để tạo môi trường và các
kiến thức cần thiết giúp trẻ đễ dàng tiếp cận với tác phẩm và hứng thú khi
hoạt động kể chuyện.
Gia đình là nơi trẻ được chăm sóc, yêu thương, gia đình còn là môi trường
để trẻ "thực hành" những gì trẻ học được ở trường mầm non. Trong gia đình, với
các bậc phụ huynh am hiểu về tâm lý trẻ, biết tạo cho trẻ "môi trường" để thực
hành, hứng thú kể lại các câu chuyện đã được cô dạy một cách sáng tạo sẽ có vai
trò hết sức quan trọng trong việc trẻ được thể hiện, rèn năng lực kể chuyện của trẻ.
Để phụ huynh am hiểu và tạo môi trường thuận lợi ở gia đình cho trẻ hứng
15


thú kể truyện tôi đã chủ đông thực hiện các công việc: Trao đổi với phụ huynh vào
các buổi họp phụ huynh, giờ trả trẻ về các nội dung: Tên câu truyện kể hôm nay,
tình cảm của trẻ về câu chuyện, mức độ kể của trẻ..., giải thích khái quát cho phụ
huynh rõ về kể chuyện (không nhất thiết phải là y nguyên như câu chuyện trong
sách về lời nói, kết chuyện...).
Tư vấn cho phụ huynh về các nhà sách, nhà xuất bản và các tập truyện phù
hợp với trẻ Mầm Non như: các tập truyện của nhà xuất bản Mỹ thuật, nhà xuất bản
Giáo dục. Lưu ý cho phụ huynh về cách "khen, chê" trẻ để không gây sự tự ty cho
trẻ, trẻ được thường xuyên khích lệ khi thể hiện kể lại mội câu chuyện cho ông bà,
bố mẹ, mọi người trong gia đình cùng nghe. Trong việc phối hợp với phụ huynh
học sinh để tư vấn về tạo môi trường cho trẻ hứng thú kể truyện đòi hỏi người giáo
viên cần hết sức ân cần, tôn trọng phụ huynh, tôn trọng trẻ (kể cả đối với trẻ chưa
có nhiều tiến bộ) thì mới đạt hiệu quả trong công tác vân động phụ huynh tham gia
tạo môi trường cho trẻ hứng thú kể chuyện.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh ngiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng ngiệp và nhà trường.
Với những giải pháp tôi đề ra và thực hiện đã góp phần giúp trẻ hình thành
tình yêu văn học và thói quen đọc sách. Trẻ hứng thú khi nghe kể chuyện, thích và
có nhu cầu được tham gia đóng kịch.
Trẻ biết thể hiện tình cảm của mình đối với nhân vật, với mọi người xung
quanh, phát huy được tính tích cực sáng tạo từ những kiến thức trẻ đã nhận và bộc
lộ cảm xúc bản thân.
Sau khi thực hiện các biện pháp của đề tài, tôi tiến hành khảo sát trẻ lần 2
vào tháng 4 năm 2018 với số trẻ là 32. Các tiêu chí và kết quả đạt được như sau:

Tiêu chí
Trẻ thích thú khi nghe cô kể chuyện.
Trẻ có nhu cầu và có kỹ năng chơi phân vai,
đóng kịch.
Trẻ hứng thú khi tham gia các hoạt động văn
học.
Trẻ có khả năng tự sáng tạo và thể hiện tích
cách nhập vai một cách linh hoạt.
Trẻ biết kể chuyện sáng tạo, kể theo trí tưởng
tượng một cách phong phú và đa dạng.

Kết quả
Trẻ đạt
Trẻ chưa đạt
Số
Số
Tỷ lệ
Tỷ lệ
lượng
lượng
31/32

96,6

1/30

3,4

28/32

86,6

4/30

13,4

29/32

90,0

3/30

10,0

28/32

86,6

4/30

13,4

28/32

86,6

4/30

13,4

So sánh trước và sau tác động bằng các biện pháp đã thực hiện đề tài:
Tiêu chí
Kết quả
Trước tác động
Sau tác động
16


Trẻ thích thú khi nghe cô kể chuyện.
Trẻ có nhu cầu và có kỹ năng chơi phân
vai, đóng kịch.
Trẻ hứng thú khi tham gia các hoạt động
văn học.
Trẻ có khả năng tự sáng tạo và thể hiện
tích cách nhập vai một cách linh hoạt.
Trẻ biết kể chuyện sáng tạo, kể theo trí
tưởng tượng một cách phong phú và đa
dạng.

(% đạt)
43,8

(% đạt)
96,6

28,1

86,6

32,3

90,0

25,0

86,6

25,0

86,6

Sau khi vận dụng các biện pháp trên giúp trẻ hứng thú khi tham gia hoạt
động kể chuyện tôi nhận thấy kết quả được nâng lên rõ rệt:
- Trẻ thích thú khi nghe cô kể chuyện: Tăng 52,8%
- Trẻ có nhu cầu và có kỹ năng chơi phân vai, đóng kịch: Tăng 58,5%
- Trẻ hứng thú khi tham gia các hoạt động văn học: Tăng 57,7%
- Trẻ có khả năng tự sáng tạo và thể hiện tích cách nhập vai một cách linh
hoạt: Tăng 61,6%
- Trẻ biết kể chuyện sáng tạo, kể theo trí tưởng tượng một cach phong phú
và đa dạng: Tăng 61,6%
Trong khi vận dụng 5 giải pháp trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi nhận
thấy không thể tách rời 1 giải pháp nào, 5 giải pháp có mối liên hệ đan xen, chặt
chẽ và hòa vào nhau.
Qua thực hiện đề tài lần này giúp bản thân tôi rèn luyện các kỹ năng,
phương pháp tổ chức hướng dẫn trẻ trong các hoạt động giáo dục và có kinh
nghiệm hơn trong quá trình giảng dạy trong nhà trường. Đồng thời giúp cho bản
thân biết lựa chọn những biện pháp giúp trẻ hứng thú trong hoạt động kể chuyện
một cách hiệu quả nhất.
Đề tài cũng đã một phần bổ sung cho phương pháp dạy học
tích cực, làm tài liệu tham khảo, trao đổi học hỏi kinh nghiệm giảng dạy
của các đồng nghiệp trong trường, bổ sung kinh nghiệm cho các giáo
viên trong quá trình giảng dạy trẻ.
Qua thực hiện đề tài đã giúp tôi tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin
vào giảng dạy, tăng cường công tác phối hợp với phụ huynh để xây dựng môi
trường "gia đình" cho trẻ được thường xuyên thực hành kể chuyện ở trường cũng
như ở nhà.
Đề tài đã được áp dụng trong hoạt động giáo dục tại trường mầm non Yên
Thọ, Huyện Yên Định trong thời gian chưa nhiều, xong đã thu được một số kết quả
nhất định, được sự ghi nhận từ phía Ban giám hiệu nhà trường, đồng nghiệp, được
17


sự tin tưởng của các bậc phụ huynh và sự yêu mến của các trẻ. Để đề tài mang lại
hiệu quả, ý nghĩa hơn nữa cần được áp dụng ở phạm vi rộng hơn.

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận.
Tổ chức các hoạt động kể chuyện có vai trò rất quan trọng trong việc hình
thành và phát triển nhân cách của trẻ. Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện các
biện pháp trên vào việc giúp trẻ hứng thú khi hoạt động kể chuyện, tôi luôn đầu tư
công sức và thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục Mầm Non mới. Tôn
trọng, lắng nghe và không ngừng khích lệ trẻ tham gia vào các hoạt động để tạo
môi trường cho trẻ luôn tự tin, sáng tạo.
Dạy học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Muốn dạy học
có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay đòi hỏi người giáo viên phải
thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, tham khảo
tài liệu, luôn có ý thức học hỏi đồng nghiệp, nổ lực, sáng tạo, không ngừng cải tiến
phương pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy. Đồng thời khai thác nội dung các trò
chơi hay và bổ ích để phát huy tính sáng tạo, phát triển nhân cách trẻ.
Xây dựng được phương pháp tốt cũng chưa đủ mà còn đòi hỏi giáo viên phải
có lòng nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, biết tạo ra những tình huống làm cho trẻ hứng
thú hoạt động thông qua đó mà lồng ghép các nội dung giáo dục trẻ đạt hiệu quả
cao. Giáo viên phải không ngừng tìm tòi, sưu tầm, đầu tư, bổ sung các đồ dùng dạy
học cho phong phú về chủng loại vào góc văn học cho trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được
tham gia các hoạt động ngoài tiết học để trẻ được tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm,
nhiều hiểu biết. Biết khuyến khích, khích lệ trẻ để trẻ được phát huy tính sáng tạo
của mình. Thường xuyên giao nhiệm vụ cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ được hoạt
động tập thể để trẻ được bàn bạc, chia sẻ, được nêu lên chính kiến của mình.
3.2. Kiến nghị.
* Đối với Phòng GD-ĐT và Sở GD-ĐT
Thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học, lớp tập huấn
về dạy kỹ năng sống cho trẻ để các giáo viên trong Huyện, Tỉnh có dịp học hỏi,
trao đổi công tác chuyên môn.
Tổ chức báo cáo sáng kiến kinh nghiệm của những đề tài đạt giải cao trong
năm học vào dịp hè để nhanh chóng ứng dụng các sáng kiến, giải pháp hay vào
công tác giảng dạy cho năm học tiếp theo.
* Đối với nhà trường:
Thường xuyên tổ chức tiết dạy thực hành cho giáo viên. Tăng cường chất
lượng các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn để các giáo viên học hỏi trao đổi kinh
18


nghiệm. Nêu gương cá nhân điển hình, có nhiều sáng kiến hay góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục của nhà trường.
Tăng cường trang thiết bị cơ sở, vật chất mua sắm đồ dùng đồ chơi, tổ chức
tiết dạy thực hành theo chủ đề. Mua thêm nhiều sách tham khảo cho thư viện nhà
trường. Trang bị thêm máy chiếu đa năng cho các phòng học để giáo viên tăng
cường ứng dụng công nghệ thông tin và internet.
Sáng kiến kinh nghiệm sau mỗi năm được lưu bản in tại thư viện nhà trường,
đồng thời gửi bản Word lên email của các thành viên trong tổ để trao đổi rút kinh
nghiệm, đưa các sáng kiến kinh nghiệm áp dụng rộng dãi trong trường.
Với những kiến thức và kinh nghiệm của bản thân, tôi đã cố gắng trình bày
nội dung đề tài một cách chi tiết, song chắc chắn đề tài không tránh
khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong được sự đóng góp của các cấp lãnh
đạo và đồng nghiệp để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn và thực sự có ý nghĩa./.
Xin trân trọng cảm ơn!.
Yên Định, ngày 02 tháng 04 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.

Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

Người viết

Trần Hương Lý
Ý KIẾN CỦA HĐKH CẤP HUYỆN

19


I. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên dành cho giáo viên Mầm Non năm học
2014 – 2015, nhà xuất bản giáo dục.
2. Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên Module
MN23, nhà xuất bản giáo dục.
3. Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục Mầm Non, mẫu giáo
lớn (5 – 6 tuổi). Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, tháng 05 năm 2017.
4. Cần có một cách hiểu đúng về việc phát triển ngôn ngữ để chuẩn bị cho
trẻ vào trường phổ thông. Sách bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non.
5. Một số tạp chí giáo dục mầm non, tài liệu dạy kỹ năng sống cho trẻ Mầm
Non trên mạng Internet.

II. DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trần Hương Lý.
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường mầm non xã Yên Thọ, huyện Yên
Định.

TT

1.

2.

Tên đề tài SKKN

Một số biện pháp nâng cao
hiệu quả trong tổ chức hoạt
động góc cho trẻ Mẫu giáo 3-4
tuổi trường Mầm Non Yên
Thọ.
Một số biện pháp giúp trẻ 5-6
tuổi hứng thú khi tham gia
hoạt động kể chuyện ở trường
mầm non Yên Thọ, năm học
2017-2018

Cấp đánh giá
xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)

Ngành GD cấp
Huyện

Kết quả
đánh giá xếp
loại
(A, B, hoặc C)

Năm học
đánh giá xếp
loại

B

2015-2016

A

2017-2018

Ngành GD cấp
Huyện

20


21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×