Tải bản đầy đủ

SO SÁNH HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VIỆT NAM VỚI HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

SO SÁNH HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VIỆT NAM VỚI HỆ THỐNG BÁO
CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Các thuật ngữ:
+ IAS: Chuẩn mực kế toán quốc tế
+ IFRS: Chuẩn mực báo cáo tình hình tài chính quốc tế
+ IASB: Tổ chức tiêu chuẩn kế toán
+ VAS: Chuẩn mực kế toán Việt Nam
+ LIFO: Phương pháp nhập sau xuất trước
+ EPS: Lợi nhuận tính trên 1 cổ phiếu
+ 331: Hoạch toán khoản phải trả cho người bán
NỘI DUNG:








Khái niệm và ý nghĩa của báo cáo tài chính
Vai trò và mục đích của báo cáo tài chính

Thực trạng hiện nay của BCTC VN và quốc tế
So sánh bảng cân đối kế toán
So sánh bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
So sánh bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
VN đang hướng tới chuẩn mực BCTC quốc tế

Báo cáo tài chính được chia thành 4 phần:
1234-

Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Lưu chuyển tiền tệ
Bản thuyết minh báo cáo tài chính

I.KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1. Khái niệm
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ
sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kì của
Doanh nghiệp. Nói cách khác, báo cáo kế toán taì chính là phương tiện trình bày


khả năng sinh lời và trực trạng tài chính của Doanh nghiệp cho những người quan
tâm ( chủ Doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và cơ quan chức
năng,....)
Theo chế độ quy định, tất cả các DN thuộc các ngành, các thành phần kinh tế đều
phải lập và trình bày BCTC năm. Với các công ty, tổng công ty có các đơn vị trực
thuộc, ngoài BCTC năm còn phải lập BCTC tổng hợp hoặc BCTC hợp nhất vào
cuối kì kế toán năm dựa trên BCTC của các đơn vị trực thuộc. Đối với các DN nhà
nước và các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán còn phải lập BCTC giữa
niên độ ( báo cáo quý trừ quý bốn) dạng đầy đủ. Riêng đối với tổng công ty nhà
nước và các DN nhà nước có các đơn vị kế toán trực thuộc còn phải lập BCTC
tổng hợp hoặc BCTC hợp ( BCTC hợp nhất giữa niên độ được thực hiện bắt buộc
từ năm 2008).
Thời gian nộp BCTC đối với các DN nhà nước được quy định , chậm nhất là
sau 20 ngày đối với báo cáo quý kể từ ngày kết thúc quý và chậm nhất 30 ngày đối
với báo cáo năm kể từ sau ngày kết thúc năm tài chính. Đối với các tổng công ty,
thời hạn nộp BCTC chậm nhất là 45 ngày đối với BCTC quý và chậm nhất 90
ngày đối với BCTC năm. Với các đơn vị kế toán trực thuộc nộp BCTC quý, năm
cho đơn vị kế tóan cấp trên theo thời hạn đơn vị kế toán cấp trên quy định.
Đối với các DN tư nhân, các công ty hợp danh, thời hạn nộp BCTC năm chậm


nhất 30 ngày. Còn các DN khác, thời hạn nộp BCTC năm chậm nhất là 90 ngày.
2. Ý nghĩa của Báo cáo tài chính.
BCTC có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp cũng như đối
với các cơ quan chủ quản và các đối tượng quan tâm. Điều đó được thể hiện ở
những vấn đề sau:
-

BCTC là những báo cáo hết sức tổng quát , phản ánh một cách tổng hợp
nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành tài sản, tình hình
tài chính cũng như kết qủa kinh doanh của DN

-

BCTC cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình
hình và kết quả hoặt động SXKD, thực trạng tài chính của DN trong kì hoạt
động đa qua, giúp cho việc kiểm tra, gíam sát khả năng huy động và sư
dụng nguồn vốn trong quá trình SXKD của DN.

-

BCTC là căn cứ quan trọng trong việc phan tích, nghiên cứu, phát hiện
những khả năng tiềm tàng và là căn cứ quan trọng để đề ra các quyết định
về quản lý, điều hành hoạt động SXKD hoặc đầu tư của chủ sở hữu, nhà
đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của DN.


-

BCTC còn là những căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch kinh tế - ky
thuật tài chính của doanh nghiệp, là những căn cứ khoa học để đề ra hệ
thống các biện pháp xác thực nhằm quản trị doanh nghiệp, không ngừng
nâng ca hiệu quả sư dụng vốn , nâng cao hiệu quả SXKD, tăng lợi nhuận
cho DN.
Chính vì vậy, BCTC là đối tượng quan tâm của các nhà đầu tư, Hội đồng
quản trị DN, người cho vay,các cơ quan quản lý cấp trên và toàn bộ cán bộ,
công nhân viên của DN.

II. Vai trò- mục đích của Báo cáo tài chính
1. Vai trò
Hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp có những vai trò sau đây :
• Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết, giúp kiểm tra phân tích
một cách tổng hợp toàn diện có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh, tình
hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của doanh nghiệp .
• Cung cấp thông tin, số liệu để kiểm tra, giám sát tình hình hạch toán kinh
doanh, tình hình chấp hành các chính sách chế độ kế toán - tài chính của
doanh nghiệp .
• Cung cấp thông tin và số liệu cần thiết để phân tích và đánh giá tình hình,
khả năng về tài chính- kinh tế của doanh nghiệp, giúp cho công tác dự báo và
lập kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp .
2.mục đích
- Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, công
nợ, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán.
- Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết quả
hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ
hoạt động đã qua và những dự đoán trong tương lai.
Báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế, thu hút sự quan
tâm của nhiều đối tượng ở bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp. Mỗi đối tượng
quan tâm đến báo cáo tài chính trên một giác độ khác nhau, song nhìn chung đều nhằm
có được những thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định phù hợp với mục tiêu của
mình.
- Với nhà quản lý doanh nghiệp, báo cáo tài chính cung cấp thông tin tổng hợp về tình
hình tài sản, nguồn hình thành tài sản cũng như tình hình và kết quả kinh doanh sau một


kỳ hoạt động, trên cơ sở đó các nhà quản lý sẽ phân tích đánh giá và đề ra được các giải
pháp, quyết định quản lý kịp thời, phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp trong
tương lai.
- Với các cơ quan hữu quan của nhà nước như tài chính, ngân hàng kiểm toán, thuế...
BCTC là tài liệu quan trọng trong việc kiểm tra giám sát, hướng dẫn, tư vấn cho doanh
nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ kinh tếtài chính của doanh nghiệp.
- Với các nhà đầu tư, các nhà cho vay báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng về tài
chính, tình hình sư dụng các loại tài sản, nguồn vốn, khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh, mức độ rủi ro... để họ cân nhắc, lựa chọn và đưa ra quyết định
phù hợp.
- Với nhà cung cấp, báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng thanh toán, phương
thức thanh toán, để từ đó họ quyết định bán hàng cho doanh nghiệp nữa hay thôi, hoặc
cần áp dụng phương thức thanh toán như thế nào cho hợp lý.
- Với khách hàng, báo cáo tài chính giúp cho họ có những thông tin về khả năng, năng
lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ uy tín của doanh nghiệp, chính sách đãi ngộ
khách hàng... để họ có quyết định đúng đắn trong việc mua hàng của doanh nghiệp.
- Với cổ đông, công nhân viên, họ quan tâm đến thông tin về khả năng cũng như chính
sách chi trả cổ tức, tiền lương, bảo hiểm xã hội, và các vấn đề khác liên quan đến lợi ích
của họ thể hiện trên báo cáo tài chính.
III. THỰC TRẠNG HIỆN NAY
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng trở nên đa dạng và bức thiết.Hiện
nay thông tin được xem như một yếu tố trực tiếp của quá trình sản xuất kinh doanh.Bất
kỳ một nhà quản lý nào trong bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực gì muốn
thực hiện tốt công việc của mình đều phải dựa vào thông tin kế toán. Báo cáo tài chính là
biểu hiện kết quả của công tác kế toán ở các đơn vị kế toán, là nguồn thông tin quan
trọng, cần thiết cho các quyết định kinh tế của nhiều đối tượng khác nhau bên trong cũng
như bên ngoài doanh nghiệp,
IASs / IFRSs được soạn thảo bởi IASB bao gồm các chuyên gia đến từ nhiều quốc gia và
vùng lãnh thổ thuộc khắp các châu lục và đến từ nhiều nghề nghiệp khác nhau bao gồm
những người lập báo cáo tài chính, những nhà quản lý, những người sư dụng các báo cáo
tài chính và những học giả uy tín. Nó được soạn thảo và công bố theo những quy trình rất
chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của các chuẩn mực và đảm bảo tính thực hành cao. IASs/
IFRSs được sư dụng rộng rãi ở khắp thế giới như châu Âu, Singapore, Hồng Kông, Úc và
rất nhiều quốc gia trên thế giới.Rất nhiều quốc gia khác của châu Á và trên thế giới đang


điều chỉnh các chuẩn mực của mình để phù hợp hơn với IFRS và giảm thiểu sự khác nhau
nếu có.
IV. SO SÁNH BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CỦA VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ
1. Khái quát về bảng cân đối kế toán
- Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh
nghiệp tại một thời điểm nhất định.
- Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin kinh tế - tài chính cho các đối
tượng sư dụng thông tin trong việc phân tích, đánh giá tổng quát tình hình
quản lý và sư dụng vốn, tình hình huy động và sư dụng nguồn vốn và tình
hình tài chính của doanh nghiệp.
2.So sánh bảng cân đối kế toán giữa Việt Nam và quốc tế
IAS khác VAS trong hầu hết khoản mục của bảng cân đối kế toán như kế toán tiền,
DN ghi độc lập với ngân hàng. Các khoản phải thu thương mại tách biệt với các
khoản phải thu từ bán tài sản cố định (TSCĐ). Giá thành phẩm được tính theo
phương pháp giá thành thông thường hơn là thực tế và nó không chấp nhận
phương pháp LIFO. Các tài sản sinh vật và sản phẩm nông nghiệp thu hoạch từ
các tài sản sinh vật được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí điểm bán hàng
ước tính. Các khoản chứng khoán thương mại ngắn hạn được ghi nhận theo giá trị
hợp lý (giá thị trường) cuối mỗi kỳ, chênh lệch được ghi vào lãi lỗ chưa thực hiện
trên báo cáo kết quả. Các khoản chứng khoán sẵn sàng để bán cũng được điều
chỉnh theo giá trị hợp lý cuối kỳ, nhưng nó được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu
trên bảng cân đối kế toán không ghi vào báo cáo lãi lỗ. Việc nhận cổ tức bằng cổ
phiếu không ghi tăng thu nhập mà chỉ thuần túy ghi bút toán ghi nhớ làm tăng số
lượng cổ phiếu lên, đồng thời giảm đơn giá vốn nhưng tổng giá vốn không đổi.
Các khoản đầu tư bằng trái phiếu được ghi nhận theo giá vốn đã trừ (cộng) khấu
hao chiết khấu (phụ trội). Đầu tư vào công ty liên doanh được hợp nhất theo
phương pháp hợp nhất tương ứng, giải pháp thay thế là theo phương pháp vốn chủ
sở hữu. VAS chỉ đưa ra phương pháp vốn chủ sở hữu. Phương pháp hợp nhất
tương ứng khác với hợp nhất thông thường ở chỗ chỉ phần tài sản, nợ phải trả, thu
nhập và chi phí thuộc sở hữu tập đoàn là được đưa vào trong tài khoản báo cáo.
Nó không có lợi ích thiểu số (minority interests).Việc hợp nhất các báo cáo tài
chính bắt buộc thực hiện cho cả báo cáo năm và báo cáo giữa niên độ.
TSCĐ có thể lựa chọn mô hình giá phí hoặc áp dụng mô hình giá trị hợp lý nếu nó
có thể đo lường một cách đáng tin cậy. Chênh lệch giá trị hợp lý giữa các kỳ được
ghi vào vốn chủ sở hữu.Riêng đối với bất động sản đầu tư, chênh lệch này được
phép ghi vào lãi lỗ trên báo cáo kết quả.Tuy nhiên, khi dùng mô hình giá trị hợp


lý, trong phần thuyết minh, DN vẫn phải thuyết minh giá gốc của nó để nhà đầu tư
có thể tự đánh giá và so sánh. TSCĐ được cho tặng ghi vào thu nhập phần phù hợp
với chi phí để nhận được tiền cho tặng đó (phần khấu hao của kỳ đó chẳng hạn).
Khi tài sản cố định hữu hình hoặc vô hình và tài chính bị giảm giá trị, IAS yêu cầu
ghi nhận ngay vào chi phí. Theo IAS, đất đai thuộc tài sản hữu hình. Các khoản
phải trả thương mại được tách biệt với các khoản phải trả do mua sắm TSCĐ hay
mua tài sản tài chính. Khoản phải trả bao gồm cả các khoản thưởng và chi phí
phúc lợi cho nhân viên. Vốn chủ sở hữu không bao gồm các quy khen thưởng,
phúc lợi (Theo VAS trước ngày 31.12.2009 quy khen thưởng phúc lợi nằm trong
mục lớn Vốn chủ sở hữu, tuy nhiên theo thông tư 244/2009/TT-BTC ngày
31.12.2009 quy định vấn đề này giống như IAS). Các khoản đánh giá lại tài sản
được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu.
V. So sánh báo cáo kết quả kinh doanh
Bao gồm:
-

Lãi hoạt động kinh doanh
Các chi phí và thu nhập khác
Lãi
Báo cáo tài chính hợp nhất

-

Lãi hoạt động kinh doanh



-

Theo IAS: bao gồm bất động sản đầu tư theo mô hình hợp lí; các khoản
chênh lệch giá trị cuối kì với đầu kì được ghi nhận là lãi kì đó.
Theo VNS: chỉ áp dụng phương pháp giá gốc trừ đi khấu hao lũy kế do vậy
không có các khoản lãi lỗ phát sinh.

Chi phí tài chính theo thông lệ quốc tế chỉ đơn giản là chi phí lãi vay và các chi
phí trực tiếp liên quan đến vay tiền bao gồm cả việc lãi lỗ do thay đổi tỷ giá ngoại
tệ phát sinh từ việc vay tiền như một khoản chi phí lãi vay. Các chi phí khác và thu
nhập khác theo IAS bao gồm như bất động sản đầu tư theo mô hình giá trị hợp lý,
các khoản chênh lệch giá trị hợp lý cuối kỳ so với đầu kỳ được ghi nhận là lãi lỗ
trong báo cáo tài chính kỳ đó. Theo VAS, chỉ áp dụng phương pháp giá gốc trừ đi
khấu hao lũy kế .do vậy không có khoản lãi, lỗ này phát sinh. Trong trường hợp tài
sản cố định được chính phủ cho tặng, theo IAS doanh nghiệp chỉ được ghi nhận
như một khoản thu nhập trong các kỳ liên quan để phù hợp vs các chi phí liên
quan mà chúng được nhận để bù đắp. Theo VAS nó được ghi nhận toàn bộ thu
nhập vào kỳ nhận được tài sản.


-

Theo IAS lãi dùng để tính EPS( lợi nhuận tính trên một cổ phiếu) cơ bản là lãi
thuần thuộc các cổ đông. Nó không bao gồm các khoản lãi, nhưng được dùng để
chia cho nhân viên hay đối tượng khác như quy khen thưởng, phúc lợi. VAS không
trừ các quy này nên rất nhiều tình huống EPS tính theo VAS cao hơn. Trường hợp
chia cổ tức bằng cổ phiếu, khác với IAS, VAS chưa quy định việc điều chỉnh hồi
tố EPS. Trong trường hợp đó việc phân tích xu hướng EPS qua các năm theo số
liệu EPS gốc sẽ bị sai lệch rất nghiêm trọng.

-

Theo IAS 27 các báo cáo tài chính hợp nhất phải được lập cho các báo cáo tài
chính năm và các báo cáo tài chính tạm thời giữ niên độ. Tuy nhiên theo VAS việc
lập báo cáo năm, các báo cáo giữa niên độ chỉ mang tính khuyến khích. Báo cáo
hợp nhất với các công ty liên doanh, theo IAS các doanh nghiệp nên sư dụng
phương pháp hợp nhất tương ứng tuy nhiên có thể sư dụng phương pháp vốn chủ
sở hữu.

VI. So sánh lưu chuyển tiền tệ
VAS và thông tư hướng dẫn cách lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là lấy từ sổ quy tiền mặt
và sổ cái tiền gưi ngân hàng tương ứng với các tài khoản đối ứng. Theo thông lệ quốc tế,
việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) chỉ căn cứ thuần túy các số liệu trên bảng cân
đối kế toán số đầu kỳ và cuối kỳ, báo cáo kết quả (và có thể có thêm một vài thông tin từ
sổ cái) sau đó làm các động tác điều chỉnh là ra các chỉ tiêu trên báo cáo LCTT.
VAS hướng dẫn cách lập báo cáo LCTT theo phương pháp gián tiếp bắt đầu từ lãi trước
thuế cộng trừ các khoản điều chỉnh trong đó có chênh lệch các khoản phải trả. Mặc dù
trong quy định về báo cáo đã yêu cầu các khoản phải trả này không bao gồm các khoản
phải trả liên quan đến hoạt động đầu tư và tài chính. Tuy nhiên, do Tài khoản 331 Phải trả
cho người bán bao gồm các khoản phải trả thương mại do mua hàng hóa, nguyên liệu cho
sản xuất và phải trả cho việc mua sắm tài sản cố định hay mua khác. Khi lập báo cáo
LCTT, kế toán viên chỉ lấy số dư cuối kỳ trừ số dư đầu kỳ của Tài khoản 331 này. Do vậy
nó làm cho dòng tiền từ hoạt động kinh doanh lẫn lộn với dòng tiền từ hoạt động đầu tư.
VII. Việt Nam trong xu thế hội nhập


Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, việc lập báo cáo tài chính theo Chuẩn mực Báo
cáo tài chính quốc tế ("IFRS") ngày càng nhận được sự ủng hộ của các quốc gia và vùng
lãnh thổ trên thế giới.
Theo thống kê, có khoảng 131 nước và vùng lãnh thổ cho phép hoặc bắt buộc áp dụng
IFRS khi lập báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trong nước.
Ở Châu Âu, 31 nước thành viên và 5 vùng lãnh thổ đã áp dụng toàn bộ IFRS.
Ở My, thị trường nội địa vẫn nằm ngoài khuôn khổ của IFRS, tuy nhiên Ủy ban Chứng
khoán My (SEC) đã xác nhận việc đưa IFRS vào các mô hình của My được coi là nhiệm
vụ ưu tiên.
Tại Việt Nam, Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) bao gồm 26 chuẩn mực, được xây
dựng dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) theo nguyên tắc phù hợp với đặc
điểm nền kinh tế và tình hình các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Đến nay, lập báo cáo tài chính theo IFRS đang trở nên ngày càng phổ biến hơn theo yêu
cầu của các tập đoàn mẹ, các bên cho vay cũng như phát sinh từ sự tham gia của các tập
đoàn kinh tế lớn vào thị trường vốn quốc tế.
Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đang trong quá trình ban hành chuẩn mực mới tiếp cần gần
hơn với IFRS.
Có thể thấy rằng việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế trong lập báo cáo tài chính
(BCTC) giúp nâng cao tính công khai, minh bạch trong BCTC của doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp niêm yết. Đồng thời còn đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong việc
thu hút các nguồn vốn nước ngoài.
Tuy nhiên, viễn cảnh hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn là cả một quá
trình đầy thư thách bởi thực trạng việc vận dụng chuẩn mực của các quốc gia và từng khu
vực theo những phương pháp tiếp cận khác nhau. Mặc dù viễn cảnh hội tụ kế toán quốc
tế còn nhiều cản trở phải hướng tới để đạt được mục tiêu chung nhưng phải thừa nhận
rằng hội tụ kế toán quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển. Trước
tình hình đó, một quốc gia đang phát triển như Việt Nam không thể đứng ngoài dòng
chảy của xu hướng này.Song, Việt Nam cần phải nhận định đúng đắn tình hình để có
những lộ trình thích hợp, đáp ứng phát triển kinh tế.
Cơ hội:
 Báo cáo tài chính dựa trên IFRS của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ cung cấp
thông tin nhất quán, chất lượng và có tính so sánh cho các nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư vào Việt Nam.
 Việc áp dụng IFRS cũng sẽ cho thấy khung pháp lý về doanh nghiệp của Việt Nam
đạt các tiêu chuẩn quốc tế cao nhất trên các diễn đàn kinh tế toàn cầu.
 Thông qua áp dụng IFRS, các công ty ở Việt Nam sẽ có thể được hưởng lợi từ hội
nhập kinh tế ví dụ như tiếp cận nguồn vốn, duy trì năng lực cạnh tranh và phát
triển một cách bền vững. Điều này củng cố sự ổn định của nền kinh tế Việt
Nam. Sự hội nhập về kế toán giúp cho các công ty huy động vốn trên thi trường
quốc tế


 Tiết kiệm chi phí soạn thảo chuẩn mực và nhanh chóng hòa nhập vào chuẩn mực
kế toán quốc tế được chấp nhận.

MỤC ĐÍCH
BẢN BCTC VN ĐANG HƯỚNG TỚI CHUẨN QUỐC TẾ NHẰM:
1.Thu
hút
vốn
đầu

nước
ngoài
2. Đảm bảo tính so sánh, thống nhất và minh bạch- sẽ đóng vai trò quan trọng giúp DN
tận
dụng

hội
tiếp
cận
nguồn
vốn
quốc
tế
3. thúc đẩy sự phát triển của toàn nền kinh tế Việt Nam
Nước ta đang trong quá trình hội nhập và có những bước tiến tốt trong kinh tế thế giới :
Ông Ged Allen, chuyên gia tư vấn quốc tế cấp cao cũng đưa nhận xét, việc đưa ra lộ trình
áp dụng IFRS cho thấy Việt Nam đã hòa nhập rất tốt và đang có hướng đi phù hợp với thị
trường khu vực Đông Nam Á nói riêng cũng như thị trường quốc tế nói chung.
Áp dụng IFRS một cách toàn diện và hiệu quả sẽ góp phần đưa hoạt động tài chính, kế
toán, kiểm toán Việt Nam hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu
Từ phân tích trên, có thể thấy tiến trình hội tụ kế toán quốc tế là hướng đi tích cực đáp
ứng xu hướng toàn cầu hóa kinh tế nhưng quá trình đó cũng đầy cam go và phức tạp.
Trước tình hình đó, một quốc gia đang phát triển như Việt Nam không thể đứng ngoài
dòng chảy hội nhập quốc tế.Song, Việt Nam cần phải nhận định đúng đắn tình hình để có
những lộ trình thích hợp, đáp ứng phát triển kinh tế.
Thách thức :
 1. Phương pháp kế toán theo IAS/IFRS quá phức tạp.
 2. Chi phí áp dụng phương pháp kế toán theo IAS/IFRS (chi phí thu thập thông
tin, định giá tài sản, vận hành hệ thống đánh giá,…) có thể lớn hơn lợi ích mang
lại.
 3.Nguồn nhân lực chưa đủ trình độ để hiểu và vận dụng những quy định phức tạp
của IAS/IFRS. Do đó phải xây dựng một đội ngũ nhân viên tài chính kế toán có
năng lực. Đây không phải là một công việc dễ dàng vì IFRS được xem là rất phức
tạp, ngay cả ở những nền kinh tế phát triển.
 4. Áp dụng IAS/IFRS, sự không chắc chắn là rất cao bởi vì báo cáo tài chính theo
IAS/IFRS sư dụng nhiều ước tính kế toán ví dụ như giá trị hợp lý. VAS với các
ước tính kế toán ít hơn và thận trọng hơn làm hạn chế những yếu tố không chắc
chắn.
 5.Bên cạnh đó, khoảng cách ngôn ngữ giữa Tiếng Anh và tiếng Việt là rất lớn.
IAS/IFRS sư dụng tiếng Anh và có nhiều thuật ngữ kế toán phức tạp vì vậy dễ gây
ra những hiểu lầm và sai lệch khi dịch sang ngôn ngữ khác. Trong khi ở Việt Nam,
ngôn ngữ chính thức và phổ biến là tiếng Việt, nhìn chung hoàn toàn khác biệt với
tiếng Anh. Có nhiều thuật ngữ tiếng Anh không có từ tiếng Việt tương đương đặc


biệt là trong lĩnh vực kế toán. Thêm vào đó, đa số người Việt Nam không giỏi
tiếng Anh. Sự khác nhau về ngôn ngữ là quan trọng những không phải là yếu tố cơ
bản ảnh hưởng đến việc không áp dụng toàn bộ IAS/IFRS tại Việt Nam.
 Phần lớn những người sư dụng và lập báo cáo kế toán tại Việt Nam chưa thấy
được nhu cầu sư dụng IAS/IFRS và không đánh giá cao vai trò quan trọng của các
chuẩn mực này.
 Hệ thống đào tạo nghề nghiệp của Việt Nam có chất lượng chưa cao. Đa phần họ
chưa được đào tạo bài bản về các kiến thức liên quan tới chuẩn mực kế toán quốc
tế. Trong các trường đại học, các môn học chuyên sâu về IFRS mới chỉ được hình
thành trong vài năm gần đây. Khi đi làm, các nhân viên này phần lớn không có cơ
hội tiếp xúc với môi trường kế toán đòi hỏi phải áp dụng chuẩn mực kế toán quốc
tế. Điều này dẫn tới khả năng nghề nghiệp của người Việt Nam trong đó có nghề
kế toán thấp hơn nhiều so với các nước phát triển.
 Tổng kết thách thức:
- Hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế là một xu thế tất yếu khách quan;
- Áp dụng toàn bộ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế cho quốc gia không phải là vấn
đề dễ dàng;
- Quá trình hòa hợp không đơn giản là ban hành các chuẩn mực phù hợp với chuẩn
mực quốc tế, vấn đề là chúng có thực sự đi vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu thông tin và
kiểm soát của mỗi quốc gia hay không;
- Tùy theo điều kiện của từng quốc gia, việc hòa hợp với hệ thống chuẩn mực BCTC
quốc tế đòi hỏi một lộ trình nhất định.

Tóm lại:
Qua phân tích đặc điểm của các yếu tố môi trường Việt Nam như ở trên, Việt Nam nên
xác định phương thức và lộ trình hội nhập với chuẩn mực BCTC quốc tế, cũng như xây
dựng và hoàn thiện nguyên tắc, tiêu chuẩn và nội dung soạn thảo và trình bày BCTC
doanh nghiệp Việt Nam. Nghĩa là không thể áp dụng ngay toàn bộ IAS/IFRS mà việc áp
dụng có chọn lọc chuẩn mực BCTC quốc tế có thể xem là sự lựa chọn phù hợp với hệ
thống kế toán của Việt Nam.
Kết luận
Như đã phân tích ở trên, sự khác nhau rất lớn là IFRS sư dụng giá hợp lý và VAS sư
dụng giá gốc. Hiện giá trị hợp lý nay được sư dụng ngày càng nhiều trong đo lường và
ghi nhận các yếu tố của BCTC. Việc sư dụng giá gốc làm cơ sở đo lường chủ yếu ở Việt
Nam có thể đạt được độ ‘tin cậy’ nhưng làm giảm tính ‘liên quan’ của thông tin được
cung cấp bởi BCTC. Do vậy, việc nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận và điều kiện,


phương pháp vận dụng “Nguyên tắc giá trị hợp lý” trở thành một vấn đề cần được Bộ Tài
Chính xem xét và thực hiện một cách nghiêm túc;
Việt Nam cần từng bước tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh tế và luật pháp phù hợp
với yêu cầu của IAS/IFRS. Thiết lập thị trường tài chính, các nguyên tắc, cơ sở hạ tầng
về pháp lý ổn định và mang tính quốc tế.Phục vụ cho sự phát triển của các công ty, nhằm
cùng cấp thông tin đầy đủ, hữu ích và công bố cho công chúng không chỉ đến đối tượng
trong nước mà còn cả nước ngoài.
Đặc biệt, Việt Nam phải chú trọng vào việc đào tạo nhân viên kế toán có chất lượng
cao, ngay từ trong trường đại học, cao đẳng, cung cấp các kiến thức sâu, rộng về chuẩn
mực kế toán quốc tế. Từ đó, giúp nhân viên kế toán có thể đáp ứng được nhu cầu của nền
kinh tế hội nhập.
Những đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa, ưu thế về lợi ích mang lại của việc sư dụng
IAS/IFRS, cùng với nỗ lực của IASB, đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hòa hợp và hội
nhập với các chuẩn mực BCTC quốc tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng
không thể nằm ngoài dòng chảy hội nhập này.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x