Tải bản đầy đủ

TIEU LUAN TRIET HOC MAC LENIN

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:

PHẬT GIÁO, SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO
ĐẾN XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

1


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Ý nghĩa của đề tài

B. NỘI DUNG
Chương I: Lịch sử hình thành Phật giáo
1.1 Nguồn gốc ra đời
1.2 Nội dung chủ yếu của Phật giáo
Chương II: Thế giới quan và nhân sinh quan của Phật Giáo
1.1 Thế giới quan
1.2 Nhân sinh quan
Chương III: Ảnh hưởng của đạo Phật đối với đời sống con người Việt Nam
1.1 Đạo Phật với việc hình thành nhân cách con người Việt Nam
1.2 Đạo phật với việc phát triển nền văn hóa Việt Nam
1.3 Giá trị và hạn chế của Phật Giáo trong phương pháp tư duy của con người Việt Nam
1.4 Ảnh hưởng của Phật giáo tới thế hệ trẻ

C. KẾT LUẬN

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

2


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

A.MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Thế kỷ 21 là một kỷ nguyên đột phá của xã hội loài người. Con người đã có những bước tiến
dài trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, khoa học kỹ thuật và công nghệ
thông tin đặc biệt phát triển với tốc độ vũ bão, đủ sức chứng minh giải thích phần lớn các hiện


tượng của đời sống xã hội loài người, biến những ước mơ của con người thành hiện thực…Việt
Nam chúng ta, là một nước đang phát triển, nhưng cũng đã tiếp thu, áp dụng triệt để những
thành tựu của khoa học kỹ thuật sâu rộng vào cuộc sống. Hòa cùng với sự phát triển đó, sự phát
triển của tôn giáo mà đặc biệt là Phật Giáo cũng không ngừng phát triển và thịnh hành trong
một thời gian dài gắn liền cùng thăng trầm suốt lịch sử của xã hội Việt Nam. Tại sao xã hội Việt
Nam ngày càng tiến bô, Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, có thể biến những sự việc
không thể thành có thể thì Phật Giáo cũng càng phát triển? Tầm quan trọng và sự ảnh hưởng
của nó đến xã hội và con người Viêt Nam như thế nào? Đó là lý do chọn đề tài “PHẬT GIÁO,
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Đề tài “PHẬT GIÁO, SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI VIỆT
NAM” không phải là một đề tài mới, được rất nhiều nhà triết học nghiên cứu :
-

Nguyễn Duy Cần - Tinh hoa Phật giáo ( NXB thành phố HCM) – 1997”,

-

PGS Nguyễn Tài Thư - Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt
Nam hiện nay ( Nhà xuất bãn chính trị quốc gia – 1997)

-

Lý Khôi Việt – Hai nghìn năm Việt Nam và Phật Giáo

-

PTS. Phương Kỳ Sơn – Lịch sử Triết học ( NXB chính trị quốc gia – 1999)

-

Một số Hoc viên cao học và các bạn sinh viên cũng thực hiện đề tài trên.

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

3


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

 Tuy các sách và các đề tài tiểu luận của các tác giả đã đề cập nhiều đến sự ảnh hưởng của
Phật giáo đến đời sống con người ở những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, vào thời kí đó,
khoa học kĩ thuật cũng như công nghệ thông tin chưa được phát triển sâu rộng cũng như sự
truyền bá của Phật giáo chưa được rộng rãi và nhanh chóng như những thập niên đầu của thế
kỷ 21. Thế kỷ của sự bùng nổ công nghệ thông tin trong cuộc sống! Do đó, để phát triển tiếp
đề tài theo hướng ảnh hưởng của Phật giáo đến xã hội và con người thời đại hiện nay, khi
các đời sống con người ngày càng tiến bộ với sự trợ giúp của công nghệ thông tin cũng như
khoa học kỹ thuật!
3. Mục đích - Nhiệm vụ của nghiên cứu:
a. Mục đích nghiên cứu:
-

Tìm ra sự phát triển và ảnh hưởng của Đạo Phật trong cuộc sống và xã hội con người Việt
Nam trong thời điểm hiên tại.

-

Phân tích đánh giá sự ảnh hưởng đó vào cuộc sống, nó làm chúng ta phát triển theo chiều
hướng tích cực hay tiêu cực.

-

Trong xu thế hiện nay, Đạo Phật có còn giữ vai trò và vị trí quan trọng trong cuộc sống xã hội
Việt Nam hay không.

b. Nhiệm vụ nghiên cứu:
-

Tìm hiểu về lịch sử hình thành và nội dung chủ yếu của phật giáo.

-

Nêu lên được quan điểm về thế giới quan và nhân sinh quan của Đạo phật.

-

Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam và những triết lí của Đạo Phật ảnh hưởng đến trong từng thời kỳ
phát triển của đất nước và trong hoàn cảnh hiện tại như thế nào.

-

Trong thời điểm công nghệ số, Triết lý của Đạo Phật có còn phù hợp với thực tiễn và vai trò
ảnh hưởng như thế nào đến xã hội Việt Nam.

4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài:
a. Ý nghĩa khoa học:
-

Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã
hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng
tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Việc xoá bỏ hoàn toàn ảng hưởng của nó

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

4


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

là không thể thực hiện được nên chúng ta cần vận dụng nó một cách hợp lý để góp phần đạt
được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý,
và sự tác động của đạo Phật đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức
cần thiết. Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, nhân đạo
của Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được một phương cách
để hướng đạo cho họ một nhân cách chính, đúng đắn.
b. Ý nghĩa thực tiễn:
Có thể nhận thấy, người Việt nảy sinh tư duy trừu tượng về phồn thực với hình thức ma thuật
mô phỏng là một dạng tôn giáo tín ngưỡng nguyên thuỷ. Các nhà nghiên cứu đã phân tích
các hình vễ được khắc trên thân trống đồng như cảnh chim bay, cảnh miêu tả các động vật
như trâu, bò để chứng minh cho luận thuyết: Người Việt khi đó đã có quan niệm về vũ trụ
quan với 3 thế giới: Trời - Đất – Nước. Điều đó cho thấy, tư duy củ người Việt đã nhận thức
được sự vận động vòng tròn để từ đó làm cơ sở cho việc tiếp nhận dễ dàng thuyết luôn hồi
của Phật giáo.
Phật giáo với lý luận nhân quả, rõ ràng là cao siêu hơn ma thuật nhưng cũng không phải hoàn
toàn xa lạ với người Việt. Ma thuật đã chứng minh nhân nào quả ấy nhưng Từ Bi mới là tư
tưởng chính của Phật giáo được đưa vào hệ tư tưởng Việt.
Tư tưởng Từ Bi của phật giáo thấm đẫm trong tâm hồn Việt từ người bình dân đến kẻ trí
thức, thể hiện trong truyện kể dân gian cũng như trong thơ văn bác học.
Trong truyện kể dân gian, bao giờ Phật cũng hiện lên để cứu khổ, cứu nạn cho con người.
Lấy chuyện Tấm Cám làm ví dụ. Phật đã hiện lên giúp cho Tấm con cá bống, sai chim tới
nhặt thóc, cho áo quần, giầy dép để đi chơi hội, lấy hoàng tử. Mỗi lần Tấm bị hại, Phật lại
hiện ra giúp Tấm, lúc là bụi trúc đào khi là quả thị. Chuyện kể thấm đẫm tinh thần cứu khổ,
cứu nạn của phật giáo với hình ảnh ông bụt đại từ đại bi, phổ độ chúng sinh.
Phật giáo đã thổi vào tâm hồn người Việt một làn gió mát Từ Bi. Chất Từ Bi của nhà Phật
thấm sâu không những trong những nghệ sĩ dân gian vô danh mà còn đi sâu vào lòng những
người dân bình dị. Đó là độ thấm sâu của tư tưởng Phật giáo vào văn hoá Việt Nam chứ
không phải tất cả tư tưởng Tứ Diệu Đế của Phật giáo.
HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

5


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

Phật giáo vào Việt Nam mang đậm tinh dân gian đến nỗi những người dân mặc dù theo Phật
giáo nhưng ít có hiểu biết về phật.
Phật giáo có ảnh hưởng với văn hoá Việt Nam trong suốt triều dài lịch sử đất nước. Hiện nay
Phật giáo vẫn còn là một tác nhân tác động mạnh trong xã hội. Chúng ta dễ nhận thấy Phật
giáo đã mang đến cho người Việt những ngôi chùa cổ kính, những pho tượng bề thế rải khắp
xóm làng làm tăng lòng từ bi và hướng thiện của người bình dân. Phật giáo đã đưa đến một
trung tâm văn hoá làng một thời sôi động. Phật giáo cũng đã mang đến trong tâm hồn người
Việt một đời sống tâm linh sâu đậm từ khi du nhập cho đến nay. Trong lịch sử, Phật giáo
cũng luôn gắn liền với vận mệnh của dân tộc. Đến thế kỷ XX Phật giáo với những nhà sư
Tây học đã đóng góp một phần nhỏ trong sự thành công của cách mạng, mở ra một nước Việt
Nam độc lập.

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

6


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TÌM HIỂU LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHẬT GIÁO
1.1.Nguồn gốc ra đời

- Đạo Phật mang tên người sáng lập là Đà (hay buddha). Đạo phật chính là giáo lý mà Phật Đà
đã thuyết giảng. Sau khi ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên,
đạo Phật được lưu hành rộng rãi ở các quốc gia trong khu vực á - Phi, gần đây được truyền tới
các nước Âu - Mỹ. Trong quá trình truyền bá của mình, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng, tập
tục, dân gian, văn hoá bản địa để hình thành rất nhiều tông phái và học phái, có tác động vô
cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hoá của rất nhiều quốc gia.
- Buddha vốn là một thái tử tên là Tất Đạt Đa ( Siddharta), con trai của Trịnh Phạn Vương
( Suđhodana) vua nước Trịnh Phạn, một nước nhỏ thuộc Bắc Ấn Độ ( nay thuộc đất Nê Pan )
ông sinh ra vào khoảng năm 623 trước công nguyên. Cuộc đời của Phật Thích Ca được kể lại ở
trong truyền thuyết như sau:
“ Vào một đêm Mahamaia, người vợ chính của Suđhodana, Vua của người Saia mơ thấy mình
được đưa tới hồ thiêng Anavatápta ở Himalaya. Sau khi các thiên thần tắm rửa cho bà ở trong
hồ thiêng, thì có một con voi trắng khổng lồ có đoá hoa sen ở vòi bước tới và chui vào sườn
bà. Ngày hôm sau các nhà thông thái được vời tới để giải mơ của Hoàng hậu. Các nhà thông
thái cho rằng giấc mơ là điềm Hoàng hậu đang có mang và sẽ sinh hạ được một Hoàng tử tuyệt
vời, người sau này sẽ trở thành vị chúa tể của thế giới hoặc người thầy của thế giới. Đến ngày,
đến tháng, Hoàng hậu Mahamaia trở về nhà cha mình để sinh con. Thế nhưng vừa đến khu
vườn Lumbini, cách thủ đô Capilavastu của người Sakia không xa, Hoàng hậu trở dạ và vị
Hoàng tử đã ra đời. Vừa ra đời, vị Hoàng tử tí hon đã đứng ngay dậy, đi bảy bước và nói: “
Đây là kiếp cuối cùng của ta, từ nay ta không phải luôn hồi một kiếp nào nữa!”.
-

Đến ngày thứ năm một nghi thức trọng thể được tổ chức và Hoàng tử được đặt tên là
Siđhartha. Để ngăn cản Hoàng tử không nghĩ tới việc tu hành, đức vua cha đã tìm mọi cách
tạo ra quanh người con trai mình một cuộc sống vương giả. Hoàng tử được học mọi kiến thức
để sau này trở thành một vị vua tài ba anh minh trị vì một đất nước ấn Độ bao la. Thế rồi, nhà

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

7


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

vua và quần thần đã kén cho Hoàng tử một người vợ kiều diễm. Nhưng cuộc đời vương giả
không cán dỗ được Hoàng tử trẻ tuổi. Bốn sự việc do các thần tạo ra đã làm thay đổi hẳn
cuộc đời Hoàng tử Siddhartha. Đó là một lần khi đang dạo chơi trong vườn, Hoàng tử thấy
một ông già gày còm, ốm yếu rồi nhận ra một điều rằng mọi người rồi ai cũng phải già yếu
như thế. ít lâu sau Hoàng tử lại được chứng kiến người ốm và người chết. Ba hoàn cảnh trên
làm cho Hoàng tử băn khoăn, lo nghĩ về kiếp người và muốn cứu con người khỏi những trầm
luôn đau khổ của kiếp luôn hồi: Sinh, lão, bệnh, tử chính sự việc thứ tư đã đem đến cho
Hoàng tử niềm hi vọng và an ủi. Lần đó, Hoàng tử nhìn thấy một vị hành khất dáng vẻ bần
hàn nhưng lại ung dung tự tại. Vừa nhìn thấy vị hành khất Hoàng tử như bừng tỉnh và quyết
định sẽ ra đi trở thành nhà hành khất như thế.
-

Được tin, đức vua Suddhôđana tìm mọi cách ngăn cản Hoàng tử. Thế nhưng Hoàng tử không
thể nào xua đi được bốn sự kiện mà mình đã chứng kiến khiến lòng dạ của Hoàng tử không
lúc nào được thanh thản. Ngay cả tin mừng công chúa Yashôdhara sinh cho chàng một Hoàng
nam cũng không làm cho Hoàng tử Sidhartha vui. Ngày đêm khi đứa con ra đời, khi mọi
người ngủ say, Hoàng tử lặng lẽ đến nhìn vợ và con lần cuối rối đánh thức người đánh xe dậy
cùng minh cưỡi con ngựa Canthaca yêu quý rời khỏi cung. Khi đã rời khỏi đô thành Hoàng
tử trút bộ áo Hoàng tộc và mặc lên người bộ quần áo thường dân. Hoàng tử dùng kiếm cắt bộ
tóc dài của mình và nhờ người đánh xe mang mớ tóc và quần áo về trao lại cho đức vua. Còn
con ngựa Canthana vì đau khổ phải chia tay với ông chủ của nó nên đã lăn ra chết ngay tại
chỗ. Rời hoàng cung, dứt áo ra đi, Hoàng tử Sidhartha đã trở thành nhà tu hành.

-

Thoạt đầu, Hoàng tử đi lang thang đây đó, sống theo kiểu khổ hạnh. Sau đó, ngài vào rừng
tu. Nhà hiền triết Alara Calama dạy cho chàng các phép thiền định và những triết lý của
upanishad. Học thuyết và thực hành giải thoát cá nhân của Upanishad không hấp dẫn Hoàng
tử. Chàng đi tiếp và nhập vào nhóm năm người tu khổ hạnh. Suốt sáu năm trường ép xác
Hoàng tử gần như chỉ còn bộ xương khô mà vẫn chưa tìm ra chân lý của sự giải thoát. Ngài
bèn bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh và trở lại ăn uống bình thường.

-

Khi Hoàng tử Sidhartha 35 tuổi, một hôm ngài đến ngồi dưới gốc cây bồ đề ở ngoại vi thành
phố Gaia thuộc vùng đất của vua Bimbisura, vua nước Magadha. Cho đến một hôm có nàng

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

8


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

Sudjata, con gái của một nông dân trong vùng đem cho ngài một bát cơm to nấu bằng sữa. Ăn
xong, ngài xuống sông tắm rửa, rồi trở lại gốc cây bồ đề. Ngài ngồi thiền định và nguyện sẽ
không đứng dậy nếu không tìm ra sự giải thoát về điều bí ẩn của sự đau khổ. Và Hoàng tử đã
ngồi dưới gốc cây bồ đề suốt 49 ngày đêm. Bảy tuần lễ đó là cả một chuỗi ngày đầy thử thách.
Để phá sự thiền định của Hoàng tử, con quỹ dữ Mara tìm mọi cách làm chàng nản chí. Thoạt
đầu, quỷ Mara biến thành một sứ giả đến báo cho Hoàng tử một tin bịa đặt là em trai Hoàng tử
là Đevađatta nổi loạn, bắt nhốt đức vua cha vào ngục và chiếm nàng Yashodrara làm vợ. Thế
nhưng tin dữ đó không làm cho Hoàng tử bận tâm. Mara bèn cho gọi các quỷ dữ tới làm ra
mưa to, gió lớn gây ra động đất, lụt lội nhưng Hoàng tử vẫn ngồi bình thản dưới gốc cây bồ đề,
cảm phục trước ý chí kiên định của Hoàng tử, rắn thần Naga dùng thân làm tán cho mưa gió
cho Hoàng tử ngồi. Thấy thế quỷ dữ Mara bèn dùng biện pháp quyết liệt và tinh tế hơn để công
phá vào thành trì kiên định của Hoàng tử Sidhartha. Nó cho gọi ba cô con gái xinh đẹp của
mình là các nàng Khát vọng, khoái lạc và Dục vọng tới múa nhảy mê hoặc nhà tu hành trẻ tuổi.
Thế nhưng biện pháp cuối cùng của quỷ Mara cũng thất bại và lũ quỷ phải dời khỏi gốc cây bồ
đề. Rạng sáng ngày 49, Siddhartha đã tìm ra bí mật của sự đau khổ, đã tìm ra được vì sao thế
giới lại tràn đầy khổ đau và đã tìm ra được cách để chiến thắng sự đau khổ. Siddhartha đã
hoàn toàn giác ngộ và trở thành Buddha (Đấng giác ngộ). Sau khi giác ngộ Đức phật còn ngồi
tiếp bảy ngày nữa dưới cây bồ đề suy ngẫm về những chân lý diệu kỳ mà mình đã khám phá.
Ngài phân vân không biết có nên phổ biến đạo pháp của mình cho thế giới không vì có huyền
diệu quá khó hiểu quá đối với mọi người. Chính thượng đế Brahma phải giáng trần để khích lệ
Đức phật truyền bá đạo pháp của mình cho thế gian. Chỉ khi đó Phật mới dời khỏi gốc cây bồ
đề đi đến khu vườn Lộc Uyển gần Varanasi để giảng bài thuyết pháp đầu tiên cho năm người
bạn tu khổ hạnh của mình. Sự kiện này được ghi chép lại như một sự kiện quan trọng nhất của
Đạo phật và được gọi là Phật quay bánh xe Đạo pháp ( chuyển Pháp Luân ). Giáo pháp mới
của Đạ phật đã gây ấn tượng mạnh đối với năm nhà tu, họ nhanh chóng trở thành những môn
đồ đầu tiên của Đức Phật. Vài ngày sau số môn đồ của Phật đã tăng lên 60 người, theo thời
gian số môn đồ Đạo Phật ngày càng tăng và các tổ chức tăng gia đã ra đời.

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

9


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH
-

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

Đến năm 80 tuổi, biết mình tuổi cao, sức yếu, Đức Phật cùng các môn đồ trở về chân núi
Hymalaya nơi ngài sinh ra và lớn lên. Trên đường Phật đã chuẩn bị mọi thứ cho các môn đồ để
họ có thể tự lập được sau khi ngài viên tịch. Và, tại một nơi thuộc ngoại vi thành phố
Cusinagara, Phật đã ra đi. Câu nói cuối cùng của Phật là: “ Hỡi các tì kheo tất cả những gì
đang tồn tại rồi sẽ qua đi. Vậy các người càng không nên ngừng gắng sức!”.

1.2 Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học Phật giáo.
Tư tưởng triết lý Phật giáo được tập trung trong một khối lượng kinh điển rất lớn, được tổ
chức thành ba bộ kinh lớn gọi là tam tạng gồm:
- Tạng Luận: Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo qui định cho cả năm bộ phái Phật
giáo như: “ Tứ phần luật” của thượng toạ bộ, Maha tăng kỷ luật của “Đại chúng bộ”, căn bản
nhất thiết hữu bộ luật” ... Sau này còn thêm các Bộ luật của Đại Thừa như An lạc.
- Tạng kinh: Chép lời Phật dạy, trong thời kỳ đầu tạng kinh gồm nhiều tập dưới dạng các tiền
đề, mỗi tập được gọi là một Ahàm.
- Tạng luận: Gồm những bài bình chú, giải thích về giáo pháp của Phật giáo. Tạng luận gồm
bảy bộ thể hiện một cách toàn diện các quan điểm về giáo pháp của Phật giáo.
Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và nhân sinh quan, chứa
đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác.
Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ ( chử pháp ) là vô thuỷ, vô chung
(vô cùng, vô tận). Tất cả thế giới đều ở quá trình biến đổi liên tục (vô thường ) không có một
vị thần nào sáng tạo ra vạn vật cả. Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới ( vạn vật đều nằm
trong vũ trụ) gọi là Pháp giới. Mỗi một pháp ( mỗi một sự v iệc hiện tượng, hay một lớp sự
việc hiện tượng) đều ảnh hưởng đến toàn Pháp. Như vậy các sự vật, hiện tượng hay các quá
trình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tác động qua lại và qui định lẫn nhau.
Tác phẩm “ thanh dung thực luận” của kinh phật viết rằng: “ Có người cố chấp là có Đại tự
nhiên là bản thể chân thực bao khắp cả, lúc nào cũng thường định ra chu pháp (1) đạo Phật cho
rằng toàn bộ chư pháp đều chi chi phối bởi luật nhân quả, biến hoá vô thường, không có cái bản
ngã cố định, không có cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn cả. Tất cả đều theo
11 (1) Dẫn theo Đoàn Chớnh - Lương Minh Cừ - LSTH Ấn Độ cổ đại 1921

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

10


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

luật nhân quả biến đổi không ngừng và chỉ có sự biến hoá ấy là thường còn ( vĩnh viễn ). Cái
nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra được mà thành quả. Quả lại nhờ có duyên mà thành nhân
khác, nhân khác lại thành quả. Quả lại nhờ có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có
duyên mà thành quả mới ... Cứ thế nối nhau vô cùng vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài, cứ
sinh sinh, hoá hoá mãi.
-

Như vậy ngay từ đầu Phật giáo đã đặt ra mục đích giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học một
cách biện chứng và duy vật. Phật giáo đã gạt bỏ vai trò sáng tạo thế giới của các “đấng tối cao”
của “Thượng đế” và cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khách quan và không do vị thần nào
sáng tạo ra cả. Cái bản thể ấy chính là sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, là muôn ngàn
hình thức của vạn vật trong vận động, nó có mặt trong vạn vật nhưng nó không dừng lại ở bất kỳ
hình thức nào. Nó muôn hình vạn trạng nhưng lại tuân hành nghiêm ngặt theo luật nhân quả.

-

Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng, thành, trụ, hoại, diệt
( sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt vong). Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong vũ
trụ, nó là phương thức thay đổi chất lượng của sự vật và hiện tượng.

-

Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thường của vạn vật, đã xây dựng nền thuyết “
nhân duyên”. trong thuyết “nhân duyên” có ba khái niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên.
- Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, được gọi là Nhân.
- Cái gì tập lại từ Nhân được gọi là Quả.
- Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả. Duyên không phải là một cái gì đó cụ
thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện để giúp cho sự biến chuyển của vạn Pháp.

-

Ví dụ hạt lúa là cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành. Lúa muốn
thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước,
không khí, ánh sáng. Những yếu tố đó chính là Duyên.

-

Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hoá vô thường của nó, từ quá khứ
đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lại. Phật giáo đã trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên”
( mười hai quan hệ nhân duyên) được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một
cách tất yếu của sự liên kết nghiệp quả.
+ Vô minh: ( là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên sáng tỏ).

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

11


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

+ Hành: ( là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả, tạo ra cái nghiệp, cái
nếp. Do hành động mà có thức ấy là hành làm quả cho vô minh và là nhân cho Thức).
+ Thức: ( Là ý thức là biết. Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm quả cho hành và làm nhân
cho Danh sắc).
+ Danh sắc: ( Là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và tên của ta. Do danh sắc
mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làm nhân cho Lục xứ).
+ Lục xứ hay lục nhập: ( Là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi, tai, thân và tri thức. Đã có
hình hài có tên phải có Lục xứ để tiếp xúc với vạn vật. Do Lục nhập mà có xúc - tiếp xúc. ấy
là Lục xứ làm quả cho Danh sắc và làm nhân cho Xúc.)
+ Xúc: ( Là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên cmở rộng xúc, cảm
giác. Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm quả cho Lục xứ và làm nhân cho Thụ.)
+ Thụ: (Là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vào mình. Do thụ mà có ái.
ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho ái.)
+ ái: (Là yêu, khát vọng, mong muốn, thích. Do ái mà có Thủ. Do ấy, ái làm quả cho Thụ và
làm nhân cho Thủ.)
+ Thủ: ( Là lấy, chiếm đoạt cho minh. Do thủ mà có Hữu. Do vậy mà Thủ làm quả cho ái và
làm nhân cho Hữu.)
+ Hữu: ( Là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cái nghiệp. Do Hữu mà có
sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân của Sinh).
+ Sinh: ( Hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người, làm súc sinh. Do sinh
mà có Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân cho Tử).
+ Lão tử: ( Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phải chết. Nhưng chết sống
là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau. Thể xác tan đi là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong
vòng vô minh. Cho nên lại mang cái nghiệp rơi vào vòng luân hồi ( khổ não).
-

Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn, không bao giờ ngừng,
nên đạo Phật là Duyên Hà. Các nhân duyên tự tập nhau lại mà sinh mãi mãi gọ là Duyên hà
mãn. Đoạn này do các duyên mà làm quả cho đoạn trước, rồi lại do các duyên mà làm nhân
cho đoạn sau. Bởi 12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hoá vô thường.

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

12


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

- Mối quan hệ Nhân - Duyên là mối quan hệ biện chứng trong không gian và thời gian giữa vạn
vật. Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giới không tính đến cái lớn nhỏ, không tính đến sự
giản đơn hay phức tạp. Một hạt cát nhỏ được tạo thành trong mối quan hệ nhân quả của toàn vũ
trụ. Cả vũ trụ hoà hơp tạo nên nó. Cũng như nó hoà hợp tạo nên cả vũ trụ bao la. Trong một có
tất cả trong tất cả có một. Do nhân Duyên mà vạn vật sinh hay diệt. Duyên hợp thì sinh, Duyên
tan thì diệt.
- Vạn vât sinh hoá vô cùng là do ở các duyên tan hợp, hợp tan nối nhau mà ra. Nên vạn vật chỉ
tồn tại ở dạng tương đối, trong dòng biến hoá vô tận vô thường vô thực thể, vô bản ngã, chỉ là hư
ảo. Chỉ có sự biến đổi vô thường của vạn vật, vạn sự theo nhân duyên là không thay đổi.
- Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ cũng chỉ là dòng biến hoá hư
ảo vô cùng, không có gì là thường định, là thực, là không thực có sinh, có diệt, có người, có
mình, có cảnh, có vật, có không gian, có thời gian. Đó chính là cái chân lý cho ta thấy được cái
chân thế tuyệt đối của vũ trụ. Thấy được điều đó gọi là “ chân như” là đạt tới cõi hạnh phúc, cực
lạc, không sinh, không diệt, niết bàn.
- Thế giới của chúng sinh (loài người) cũng do nhân duyên kết hợp mà thành. Đó là sự kết hợp
của hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý.
- Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “ sắc” ( địa, thuỷ, hoá, phong ) tức là cái cảm
giác được.
- Cái tôi tâm lý ( tinh thần ) linh hồn tức là “tâm” với 4 yếu tố chỉ có tên gọi mà không có hình
chất gọi là “ Danh”.
- Trong “Sắc’ gồm những cái nhìn thấy được cũng như những thứ không nhìn thấy được nếu nó
nằm trong quá trình biến đổi của “sắc” gọi là “vô biến sắc” như vật chất chuyển hoá thành năng
lượng chẳng hạn.
- Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý ( tinh thần ) của con người là:
+ Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc chạm lĩnh hội thân hay
tâm.
+ Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng.
+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động.
HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

13


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

+ Thức: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta.
-

Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân - Duyên tạo thành mỗi sinh vật cụ thể có danh và
có sắc. Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta. Duyên tan ngũ uẩn thì là diệt. Quá trình hợp tan ngũ uẩn
do Nhân - Duyên là vô cùng tận.

-

Các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn luôn biến hoá theo qui luật nhân hoá không ngừng không
nghỉ, nên mọi sinh vật cũng chỉ là vụt mất, vụt còn. Không có sự vật riêng biệt, cố định,
không có cái tôi, cái tôi hôm qua không còn là cái tôi hôm nay. Kinh Phật có đoạn viết “ Sắc
chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc là không, không là sắc. Thụ, Tưởng, Hành,
Thức cũng đều như thế”.

-

Như vậy thế giới là biến ảo vô thường, vô định. Chỉ có những cái đó mới là chân thực, vĩnh
viễn, thường hằng. Nếu không nhận thức được nó thì con người sẽ lầm tưởng ta tồn tại mãi
mãi, cái gì cũng thường định, cái gì cũng của ta. Do đó, mà con người cứ khát ái, tham dục
cứ mong muốn và hành động chiếm đoạt tạo ra kết quả mà kết quả đó có thể tốt, có thể xấu
gây nên nghiệp báo, rơi vào bể khổ triền miên không bao giờ dứt.

-

Sở dĩ có nỗi khổ là do qui định của Luật nhân quả. Vì thế mà ta không thấy được cái luật
nhân bản của mình ( bản thể chân thực ). Khi đã mắc vào sự chi phối của Luật Nhân - Duyên,
thì phải chịu nghiệp báo và kiếp luân hồi, luân chuyển tuần hoàn không ngừng, không dứt.

-

Nghiệp và luân hồi không những chỉ là những khái niệm của Triết học Phật giáo mà có từ
trong Upanishad.

-

Nghiệp chữ phạn và Karma là cái do những hoạt động của ta, do hậu quả việc làm của ta, do
hành động của thân thể ta. Được gọi là “ thân nghiệp”, còn hậu quả của những lời nói của ta,
phát ngôn của ta thì được gọi làg “ khẩu nghiệp”. Hay những cái do ý nghĩ của ta, do tâm tue
của ta gây nên được gọi là ‘ý nghiệp”. Tất cả những thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp là do
ta tham dục mà thành, do ta muốn thoả mãn tham vọng của mình gây nên. Sở dĩ ta tham dục
vì ta chưa hiểu đươc chân bản vốn có của ta cũng như vạn vật là luôn luôn biến đổi không có
gì là thường định và vĩnh viễn cả.

-

Cuộc đời con người là sự ghánh chịu hậu quả của nghiệp đương thời và các kiếp sống trước
rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau.

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

14


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH
-

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong hiện tại cộng với các
nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu hay tốt, thiện hay ác.

-

Luân hồi: Chữ phạn là Samsara. Có nghĩa là bánh xe quay tròn. Đạo phật cho rằng, sau khi
một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh
vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây). Cứ thế
mãi do kết quả, quả báo hành động của những kiếp trước gây ra. Đó cũng là cách lý giải căn
nguyên nỗi khổ ở đời con người.

-

Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “ thập nhị nhân duyên” làm cho con
người rơi vào bể trầm luân. Đạo Phật đã chủ chương tìm con đường diệt khổ. Con đường giải
thoát đó không những đòi hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm
nhuần tứ diệu đế.

-

Tứ diệu đế: Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng sinh phải thấu hiểu và
thực hiện nó. Tứ diệu đế gồm:
+ 1. Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu là khổ, chết là khổ,
ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà phải chia lìa nhau là khổ, mất là khổ
mà được cũng là khổ. .... Những nỗi khổ ấy từ đâu? chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế.
+ 2. Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành. Vậy do những gì tụ tập lại mà tạo ra nỗi khổ
cho chúng sinh? Đó là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ ), si ( si mê, cuồng mê, mê
muội) và dục vọng. Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là do con người không
nắm được nhân duyên. Vốn như là một định luật chi phối toàn vũ trụ. Chúng sinh khômg biết
rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc, không không. Cái tôi tưởng là có nhưng thực là không. Vì
không hiểu được ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời khác.
+ 3. Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “ Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được căn nguyên của
sự khổ - để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ. Thực chất là thoát khỏi nghiệp
chướng, luân hồi, sinh tử.
+ 4. Đạo đế: Là con người ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩ trong thế giới nội
tâm ( thực nghiệm tâm linh ). Tuy luyện tâm trí, đặc biệt là thực hành YOGA để đạt tới cõi
siêu phàm mà cao nhất là đạt tới cõi phận là đạt tới trình độ giác ngộ bát nhã. Tới chừng đó

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

15


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

sẽ thấy được chân như và thanh thản tuyệt đối, hết ham muốn, hết tham vọng tầm thường, tức
là đạt tới cói “niết bàn” không sinh, không diệt.
o Thực hiện Đạo đế là một quá trình lâu dài, kiên trì, giữ nguyên giới luật tập trung
thiên định cao độ Phật giáo đã trình bày 8 con đường hay 8 nguyên tắc ( Bát chính
Đạo - buộc ta phải tuân thủ bát chính đạo gồm:
o Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt được phải trái, không để cho những cái sai
che lấp sự sáng suốt.
o Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn.
o Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, phải đúng đắn.
o Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người khác.
o Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian tà, không được bỏ điều
nhân nghĩa.
o Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên để đạt tới chân lý.
o Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính, không nghĩ đến những điều
bạo ngược gian ác.
o Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính, không bị thoái chí, lay
chuyển trước mọi cán dỗ.
o Muốn thực hiện được “ Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để thực hiện nhằm
ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và những người làm điều thiện
có lợi ích cho mình và cho người. Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện “
Ngũ giới” ( năm điều răn ) và “Lục độ” (Sáu phép tu ).
o “Ngũ giới” gồm:
+ Bất sát: Không sát sinh
+ Bất đạo:

Không làm điều phi nghĩa.

+ Bất dâm:

Không dâm dục.

+ Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giáo hoạ cho kẻ khác, không nói dối.
o “Lục độ” gồm:
HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

16


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

+ Bố thí: Đêm công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách thành thực chứ không
để cầu lợi hoặc ban ơn.
+ Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện.
+ Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để làm chủ được mình.
+ Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên.
+ Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính không để cho cái xấu che.
+ Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian.
o Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát hành đạo”,
“Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát mình ra khỏi nỗi khổ. Phật
giáo không chủ trương giải phóng bằng cách mạng xã hội. Mặc dù Phật giáo lên án rất
gay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm cua Bàlamôn giáo.
Đó là một trong những nhược điểm đồng thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật.
Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không
phải cải tạo thế giới hiện thực. Như vậy Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần,
phủ nhận đấng sáng tạo ( vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng ( vô thường, lý
thuyết Duyên khởi ). Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ
quan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con người tạo ra.

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

17


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

 CHƯƠNG II: THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
I. Thế giới quan Phật giáo.
Thế giới quan Phật giáo chịu ảnh hưởng của hai luận điểm, thể hiện qua 4 luận thuyết cơ bản:
thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết nhân duyên khởi.
1.1 Thuyết vô thường.
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi. Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn
vật, thân và tâm ta. Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là thường trụ, bất biến. Với ngũ quan
thô thiển của ta, ta lầm tưởng sự vật là yên tĩnh, là bất động nhưng thật ra là nó luôn luôn ở thể
động, nó chuyển biến không ngừng. Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức.
a)

Một là Sátna( Kshana ) vô thường: là một sự chuyển biến rất nhanh, trong một thời gian

hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một sự chuyển biến vừa khởi
lên đã chấm dứt. Phật dùng danh từ Satna để chỉ một khoảng thời gian hết sức ngắn.
b)

Hai là: Nhất kỳ vô thường. Là sự chuyển biến trong từng giai đoạn. Sự vô thường thứ

nhất là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn ngủi, thường là ta không nhận ra mà
kết quả là gây ra sự vô thường thứ hai. Nhất kỳ vô thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết
thúc một trạng thái cũ, chuyển sang một trạng thái mới. Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật:
Thành - Trụ - Hoại - Không.
- Vạn vật được cấu thành, trụ một thời gian, sau đó chuyển đến diệt, thành, hoại, không.
- Các sinh vật đều tuân theo luật: Sinh, trụ, di, diệt.

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

18


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

- Một hành tinh, một ngôi sao có thời kỳ vũ trụ kéo dài hàng triệu năm, một cây có thể trụ hàng
ngàn năm, một sinh vật có thể trụ được hàng trăm năm, bông hoa phù dung chỉ trụ trong một
ngày - sớm nở, chiều tàn. Xung quanh ta sự vật chuyển biến không ngừng. Theo luật vô
thường, không phải khi sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt mà từng phút,
từng dây, từng Satna, vạn vật sống để mà chết và chết để mà sống. Sống, chết tiếp diễn liên tục
với nhau bất tận như một vòng tròn.
- Không những thân ta chuyển biến không ngừng mà tâm ta cũng không ngừng chuyển biến.
Như dòng nước thác, như bọt bể, trong Satna này, trong tâm ta nổi lên một ý niệm thiện, chỉ
trong Satna sau, trong tâm ta đã có thể khơi lên một ý niệm ác. Tâm ta luôn luôn chuyển biến
như thế Phật gọi là tâm phan duyên. Trong kinh Thủ năng Nghiệm quyển một Phật gọi cái tâm
phan duyên ấy là cái tâm biết cái này, nghĩ cái khác, cái tâm vọng động do duyên với tiền trần
mà có, theo cách trần mà luôn luôn thay đổi, chuyển biến mà không Satna nào ngừng.
- Không những tâm, thân ta chuyển biến mà các hình thái xã hội theo thời gian cũng chuyển
biến: Xã hội công xã nguyên thuỷ --> Xã hội chiếm hữu nô lệ --> Xã hội phong kiến --> Xã
hội tư bản --> Xã hội XHCN. Đó là quy luật xã hội và cũng không phù hợp với thuyết vô
thường của Đạo Phật.
- Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ sở của lý luận cho
phương thức sống, cho triết lý sống của những con người tu dưỡng theo giáo lý phật.
- Trong thế gian có những người không biết lý vô thường của Phật, có những nhận thức sai lầm
về sự vật là thường còn, là không thay đổi, không chuyển biến. Nhận thức sai lầm như thế phật
giáo gọi là ảo giác hay huyễn giác. Vì nhận thức thân ta là thường còn nên nảy ra ảo giác muốn
kéo dài sự sống để hưởng thụ, để thoả mãn mọi dục vọng. Khi luật vô thường tác động đến bản
thân thì sinh ra phiền não đau khổ.
- Ngược lại, nếu thấu lý vô thường một cách nông cạn, cho chết là hết, đời người ngắn ngủi,
phải mau mau tận hưởng những thú vui vật chất, phải sống gấp, sống vội. Cuộc sống như thế là
sống trụy lạc, sa đọa trong vũng bùn của ngũ dục, sống phiền não đau khổ trước sự chuyển
biến của sự vật, trước sự sinh- trụ, dị diệt, trước sự thành, trụ hoại không nó diễn ra hàng ngày.
1.2 Thuyết vô ngã.
HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

19


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

Từ thuyết vô thường. Phật nói sang vô ngã. Vô ngã là không có cái ta. Thực ra làm gì cũng có
cái ta trường tồn, vĩnh cữu vì cái ta nó biến đổi không ngừng, biến chuyển từng phút, từng giờ,
từng Satna.
- Một câu hỏi được đặt ra vậy cái ta ở giây phút nào là cái ta chân thực, cái ta bất biến ? Cái ta mà
Phật nói trong thuyết vô ngã gồm có hai phần:
Cái ta sinh tức thân.
Cái ta tâm lý tức tâm.
- Theo kinh Trung Quốc Ahàm, cái ta sinh lý chỉ là kết hợp của bốn yếu tố của bốn đại là: địa ,
thuỷ, hoả , phong.
- Địa đại là cái đặc cứng như tóc, răng, móng chân, móng tay, da , thịt, các cơ, xương, tủy, tim
gan, thận,...
- Thủy đại là những chất lỏng như mật ở trong gan, máu, mồ hôi, bạch huyết, nước mắt,...
- Hoả đại là những rung động của cơ thể như hơi thở, chất hơi ở trong dạ dầy, ở ruột.
- Những thứ đó không phải là ta, ta không phải là nhưng thứ đó, những thứ đó không thuộc về ta.
- Cái mà ta gọi là cái ta sinh lý chỉ là một khoảng không gian giới hạn bởi sự kết hợp của da thịt,
cũng như cái mà ta gọi là túp lều chỉ khoảng không gian giới hạn bởi gỗ, tranh, bùn để trát vách
mà thôi.
- Tứ đại ( địa, thuỷ, hoả, phong) nêu trên thoáng là của ngoại cảnh, thoáng là của ta. Vậy thực sự
nó là của ai ? Vả lại khi bốn yếu tố này rời nhau trở về thể của nó thì không có gì ở lại để có thể
gọi là cái ta được nữa. Cho nên cái mà ra gọi là cái ta sinh lý chỉ là một giả tưởng, một nhất hợp
sinh lý mà thôi.
- Còn cái ta tâm lý gồm : thụ, tưởng, hành, thức. Bốn ấm này cùng với sắc ấm che lấp trí tuệ làm
cho ta không nhận thấy được cái ta chân thực cái ta Phật tính, cái chân ngã của chúng ta. Cái
chân lý gồm những nhận thức, cảm giác, suy tưởng, là sự kết hợp của thất tỉnh: Hỷ, nộ, ai, lạc,
ái , nỗ, dục.
- Thuyết vô ngã làm cho người ta không còn ai tin là có một linh hồn vĩnh cửu, tồn tại kiếp này
sang kiếp khác, đời này qua đời khác. Sự tin có một linh hồn dẫn dắt đến sự cúng tế linh hồn là
hành động của sự mê tín.
HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

20


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

- Quan niệm có một linh hồn bất tử, một cái ta vĩnh cửu là nguồn gốc sinh ra những tình cảm,
những tư tưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻ dựa vào sức mạnh phi nghĩa để làm
lợi cho mình, tức là cho cái ta mà họ coi là thường còn, bất biến. Còn đối với những người bị hà
hiếp, bị bóc lột thì sự mê tín có cái ta vĩnh cửu dẫn đến tư tưởng tiêu cực, chán đời phó mặc cho
số mệnh, hy vọng làm lại cuộc đời ở kiếp sau.
- Hai thuyết vô thường, vô ngã là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật. Chấp ngã chấp có cái ta
thường còn là nguồn gốc của vô minh mà vô minh là đầu mối của luân hồi sinh tử sinh ra đau
khổ cho con người. Căn cứ trên hai thuyết vô thường và vô ngã Phật đã xây dựng cho đệ tử một
phương thức sống, một triết lý sống lấy vị tha làm lý tưởng cao cả cho cuộc sống của mình, hay
nói một cách khác một cuộc sống một người vì mọi người, mọi người vì một người.

1.3 Thuyết Lý nhân duyên sinh.
-

Với lý nhân duyên sinh Phật muốn nói tới một định lý. Theo định lý ấy sự vật vạn vật phát
triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự vật, vạn pháp sẽ kiến diệt khi
nhân duyên tan rã.

-

Nhân là năng lực phát sinh, duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh. Như cây lúa thì hạt lúa là
nhân, nước, ánh sáng mặt trời, công cày bừa gieo trồng là duyên. Nhân duyên đó hội họp
sinh ra cây lúa. Tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà hành động. Nói nương nhau có
nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau mà thành. Đó là nhân duyên.
Nói về thứ nhân duyên trong kinh Phật có câu:
Nhược sử hữu, tắc bỉ hữu.
Nhược sử sinh, tắc bỉ sinh.
Nhược thử vô, tắc bỉ vô.
Nhược thử diệt, tắc bỉ diệt.

Có nghĩa là:
Cái này có thì cái kia có.
Cái này sinh thì cái kia sinh.
HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

21


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

Cái này không thì cái kia không.
Cái này diệt, thì cái kia diệt.
-

Tất cả các pháp đều sinh, diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau, không một
pháp nào có thể tồn tại độc lập tuyệt đối.

-

Sự vật chỉ “ có “ một cách giả tạo, một cách vô thường.

-

Nhân duyên hội họp thì sự vật là “ có “.

-

Nhân duyên tan dã thì sự vật là “ Không “.

-

Người thế gian không tu dưỡng tưởng lầm sự vật, vạn pháp là thực có, là vĩnh viễn nên
bám giữ vào các pháp vào sự vật ( sinh mệnh, danh vọng, tiền tài...). Nhưng thực ra các
pháp là vô thường, là chuyển biến và khi tan dã thì người thế gian thương tiếc, đau khổ.

-

Thế giới vũ trụ, vạn pháp đều cấu thành bởi hệ thống nhân duyên trùng trùng điệp điệp.
Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên hoà hợp mà có, một cáh giả hợp mà sinh
ra. Bởi thế tìm kiếm đến cùng cũng không thấy vạn pháp có “ thủy “ và xét đến muôn đời
cũng không thấy vạn pháp có “ chung “. Vạn pháp là vô thủy, cái nguyên nhân đầu tiên
của các pháp hay cái chung cùng của sự vật.

-

Lý nhân duyên cho chúng ta thấy sự vật hình thành là do nhân duyên hoà hợp, sự vật là
hư giả, là giả hợp không có tính tồn tại. Như vậy con người làm chủ đời mình, làm chủ
vận mệnh của mình.

-

Cuộc sống của con người có tươi đẹp hạnh phúc hay phiền não đau khổ là đều do nhân
duyên mà con người tạo ra. Với nhận thức như vậy, con người tìm được một phương
thức sống, một cách sống cho ra sống, sống vì hạnh phúc của mọi người, sống an lạc, tự
tại, giải thoát.

1.4 Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả.
-

Thuyết nhân duyên quả báo gọi là thuyết nhân quả là một trong những thuyết cơ bản của
giáo lý Phật. Phật chủ trương không bao giờ tự nhiên mà có, mà sinh ra và cũng cho rằng
không một thần quyền nào hay một đấng thiêng liêng nào tạo ra sự vật. Sự vật sinh ra là
có nhân nguyên nhân. Cái nguyên nhân một mình cũng không tạo ra được sự vật mà phải
có đủ duyên thì mới tạo ra quả được.

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

22


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH
-

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

Người ta nói rằng:
Trồng đậu được đậu.
Trồng dưa được dưa.

-

Nhưng Phật nhấn mạnh: Quả có thể khác nhân sinh ra nó. Quả có thể hơn nhân nếu gặp
đủ duyên tốt, trái lại có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu. Nhân gặp đủ duyên thì sẽ biến
thành quả, quả sinh ra nếu hội đủ duyên lại có thể biến thành nhân rồi để sinh ra quả khác.

-

Sự vật là một chuỗi nhân quả, là một tràng nhân quả nối tiếp nhau, ảnh hưởng lẫn nhau
không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng.

-

Trong nhân lại có mầm mống của quả sau này nhưng quả không nhất định phải đúng như
nhân vì duyên có thể mang lại sự biến đổi cho quả - Đó là thuyết “Bất định pháp” trong
luật nhân quả.

-

Sự vật là bất định, người tu hành căn cứ vào thuyết này mà tu dưỡng và tiến tới trên con
đường giải thoát về nhân. Suy rộng ra theo giáo lý Phật thì mỗi ý nghĩ của tâm ta, mỗi
hành động của thân ta, mỗi lời nói của chúng ta cũng là những hạt nhân của chúng ta gieo
hàng ngày. Những hạt nhân khi gặp đủ duyên sẽ nảy nở thành quả.

-

Theo danh từ Phật học, những hạt nhân này gọi là nghiệp. Gieo nhân tức là gây nghiệp: Ý
nghiệp, thân nghiệp, khẩu nghiệp. Kết quả đền đáp những hành động nói trên phật gọi là
nghiệp báo. Thời gian giữa gieo nhân và hái quả có thể dài ngắn khác nhau. Vì vậy có
nhân quả đồng thời: Tức là nhân quả nối liền nhau, vừa tạo nhân, quả liền phát sinh
không phải đợi một thời gian sau mới thành thục. Lại có nhân quả dị thời: Tức là nhân tạo
ra đời trước, đời sau mới kết thành quả.

-

Người nào gieo nhân, người ấy hái quả, không một hành động nào, thiện hay ác, dù nhỏ
đến đâu, dù ta khôn khéo bưng bít, giấu giếm đến mức nào cũng không thể thoát khỏi cán
cân nhân quả. Người học Phật, tu Phật chân chính thấm nhuần thuyết nhân quả phải là
người có đạo lý, không thể nào khác được.

-

Với những luận thuyết cơ bản như trên đã hình thành nên thề giới quan phật giáo. Phật
quan niệm các hiện tượng trong vũ trụ luôn luôn biến chuyển không ngừng theo quy luật
nhân duyên. Một hiện tượng phát sinh không phải là do một nhân mà do nhiều nhân và

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

23


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

duyên. Nhân không phải tự mà có mà do nhiều nhân duyên đã có từ trước. Như vậy một
hiện tượng có liên quan đến tất cả các hiện tượng trong vũ trụ.
-

Kinh Hoa Nghiêm có ghi:
Nhất tức đa.
Đa tức nhất.
Nhất tức nhất thiết.
Nhất thiết tức nhất.
Có nghĩa là:
Một tức là nhiều.
Nhiều tức là một.
Một là tất cả.
Tất cả là một.

-

Tóm lại thế giới quan Phật giáo là thế giới quan nhân duyên. Tất cả sự vật có danh có tướng, có
thể nhận thức được, ý niệm được. Cảm giác được hay dùng ngôn ngữ luận bàn, được đều được
Phật gọi là pháp. Các pháp đều thuộc một giới gọi là Pháp giới. Bản tính của pháp giới là các
pháp duyên khởi ra nhau. Tính ấy là tính của pháp giới nên gọi là pháp giới tính. Do pháp giới
tính là bản tính của các pháp nên gọi là chân, vì vậy pháp giới tính còn gọi là chân như tính.
Giác ngộ được chân như tính thì gọi là tự giác, nhưng thế thì chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về
pháp giới tính vì vậy các nhà tu hành giác ngộ được bản lai tự tính còn phải vận dụng pháp giới
tính vào nhiều trường hợp khác để thấy được cái dụng to lớn của pháp giới tính.
Như vậy, người tu hành chỉ khi nào công hạnh giác tha được viên mãn lúc đó mới chứng thực
được toàn thể, toàn dụng của pháp giới tính. Nói một cách khác là chứng được toàn thể của sự
vật gồm cả ba vẻ: thể, tưởng, dụng, chứng được pháp thân.

II. Nhân sinh quan Phật giáo.
Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật duyên khởi đi đến
nhận thức là vô thủy, vô chung, từ những thuyết vô thường, vô ngã bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

24


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ANH

GVHD: TS. NGUY ỄN QU ỐC

về những quan niệm của Đạo Phật về vấn đề nhân sinh quan. Ở đây chúng ta sẽ lần lượt trả lời
các câu hỏi:
o Con người là gì ? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu ?
o Vị trí của con người trong Đạo Phật.
o Quan niệm của Phật về các vấn đề:bình đẳng, tự do, dân chủ....
o Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ ? và vấn đề giải thoát trong Đạo Phật là gì ?
Trước khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứ diệu đế vì đây là giáo lý
kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đề trên.
2.1 Tứ diệu đế:
Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế, là bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi
thành đạo tại vườn Lộc giã cho năm từ khưu trước kia đi theo Phật.
Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn Thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các thuyết khác trong
giáo lý Phật.
Tứ đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
a. Khổ đế:
-

Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy vì sao mà khổ , phương
pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ.

-

Nói như thế có người hiểu lầm cho rằng đạo Phật chủ trương cuộc đời chỉ toàn là khổ, và đạo
Phật là đạo yếm thế. Thực ra, đạo Phật nhìn cuộc đời một cách khách quan, không ru người
ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng không làm cho người ta sợ hãi, chán nản
bởi những đau khổ trong cuộc sống. Phật chỉ cho chúng ta nhận thức sự vật, cuộc đời theo
chân tướng của nó và chỉ dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát.

-

Danh từ Dukkha của tiếng Xantít ta thường dịch là khổ là chưa thật hết nghĩa nên mới dẫn
đến những hiểu lầm trên.

-

Trong phép tướng duy thức có nói đến ba loại thụ: khổ thụ, lạc thụ, xả thụ. Như vậy không
phải chỉ có khổ thụ mà còn có lạc thụ. Đối với cảnh nghịch sinh ra khổ thụ nhưng đối với
cảnh thuận thì sinh ra lạc thú. Các cảnh có thể làm cho người ta vui hoặc khổ hoặc không

HVTH: NGUYỄN XUÂN LONG

MSHV: 12214073

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×