Tải bản đầy đủ

Đề cương môn Nguyên lý 2

ĐỀ CƯƠNG MÔN NGUYÊN LÝ 2
CÂU1.PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI, ĐẶC TRƯNG VÀ ƯU THẾ CỦA
SẢN XUẤT HÀNG HOÁ.
a. Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá ra đời, tồn tạo và phát triển dựa trên 2 điều kiện sau đây:
* Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành,
nghề khác nhau của nền sản xuất xã hội. Kéo theo sự phân công lao động xã
hội là chuyên môn hoá sản xuất: mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một vài loại
sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi phải có nhiều loại
sản phẩm khác nhau, do đó họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao
đổi với nhau để thoả mãn nhu cầu của mỗi người. Phân công lao động xã hội
là cơ sở và tiền đề của sản xuất hàng hoá. Phân công lao động xã hội càng
phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hoá càng mở rộng và đa dạng hơn.
Tuy nhiên, phân công lao động xã hội chỉ mới là điều kiện cần nhưng chưa
đủ. . Vậy để sản xuất hàng hoá ra đời cần phải có thêm điều kiện nữa.
* Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất hay tính chất tư nhân của quá trình
lao động
Chế độ tư hữu đã làm cho tư liệu sản xuất là của riêng mỗi người nên họ
hoàn toàn có quyền quyết định quá trình sản xuất của mình; chế độ tư hữu
tạo nên sự độc lập về kinh tế giữa những người sản xuất,chia cắt họ thành

từng đơn vị riêng lẻ, trong quá trình sản xuất những người sản xuất có quyền
quyết định về việc sản xuất loại hàng hoá nào, số lượng bao nhiêu, bằng
cách nào và trao đổi với ai. Như vậy, chế độ tư hữu làm cho những người sản
xuất hàng hoá độc lập với nhau, nhưng phân công lao động lại làm cho họ
phụ thuộc vào nhau. Đây là một mâu thuẫn. Để giải quyết mâu thuẫn này phải
thông qua trao đổi, mua-bán sản phẩm của nhau.
Trên đây là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hoá. Thiếu một trong
hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hoá và sản phẩm lao động không
mang hình thái hàng hoá.
b. Đặc trưng của sản xuất hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá có những đặc trưng cơ bản sau:
Mai Thị Thảo

Page 1


- Sản xuất hàng hoá là sản xuất để trao đổi, mua-bán.
+ Trong lịch sử loài người tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau: sản xuất
tự cung, tự cấp và sản xuất hàng hoá.
+ Sản xuất tự cung, tự cấp: sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người
nông dân trong thời kì công xã nguyên thuỷ, sản xuất của những nông dân
gia trưởng dưới chế độ phong kiến v.v.
+ sản xuất hàng hoá: để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông
qua việc trao đổi, mua-bán.
- Lao động của người sản xuất hàng hoá vừa mang tính tư nhân, vừa mang
tính xã hội.
+ Mang tính chất xã hội: sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu
của người khác trong xã hội.
+ Nhưng tồn tại chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, thì lao động của người
sản xuất hàng hoá đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái
gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người. Tính
chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội.
Là cơ sở dẫn đến khủng hoảng.
=>Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm
mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hoá.
c. Ưu thế của sản xuất hàng hoá.So với sản xuất tự cung, tự cấp, sản xuất
hàng hoá có những ưu thế sau đây:
- Sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội,
chuyên môn hoá sản xuất.


=> Khai thác được những lợi thế: tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, của từng người,
từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương.
=> Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hoá lại có tác động trở
lại,thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên
môn hoá lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng
ngày càng mở rộng, sâu sắc. => nó phá vỡ tính tự cấp, tự túc, bảo thủ, trì
trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã
hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn.
Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá mở rộng giữa các quốc gia, thì nó còn
khai thác được lợi thế giữa các quốc gia với nhau.
- Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi
nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ
sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng dựa trên cơ sở nhu
cầu và nguồn lực của xã hội. Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc
Mai Thị Thảo

Page 2


ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy sản
xuất phát triển
- Trong nền sản xuất hàng hoá, sự tác động của quy luật vốn có của sản
xuất và trao đổi hàng hoá là quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh... buộc
người sản xuất hàng hoá phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính
toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lí hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng
và hiệu quả kinh tế, cải thiện hình thức và chủng loại hàng hoá, làm cho chi
phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày
càng cao hơn.
- Trong nền sản xuất hàng hoá, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và
giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước... không
chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được
nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn.

VẤN ĐỀ 1: PHÂN TÍCH 2 THUỘC TÍNH CỦA HÀNG
HÓA. VÌ SAO HÀNG HÓA CÓ 2 THUỘC TÍNH
* Khái niệm Hàng hóa: Hàng hóa là một sản phẩm của lao động có thể thỏa
mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi mua – bán.
* Hàng hóa có hai thuộc tính: Giá trị sử dụng và Giá trị
a. Giá trị sử dụng của hàng hóa
=– Khái niệm: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của sản phẩm có
thể thỏa mãn một hay một số nhu cầu nào đó của con người.
– Bất cứ một hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định có
thể thỏa mãn một hay một số nhu cầu nào đó của con người. Những công
dụng đó được gọi là tính có ích của hàng hóa.
– Giá trị sử dụng của hàng hóa là nội dung vật chất của của cải vì nó do
thuộc tính tự nhiên (lý, hóa học) của thực thể hàng hoá đó quyết định.
– Giá trị sử dụng của hàng hóa là một phạm trù vĩnh viễn vì không phụ thuộc
vào sự sự thay đổi của phương thức sản xuất.
– Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng phát hiện
thêm những thuộc tính mới của sản phẩm và phương pháp để lợi dụng chúng
đó đó số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng tốt.
– Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện khi nó được tiêu dùng hay sử dụng. Nếu
hàng hóa chưa được tiêu dùng thì giá trị sử dụng của nó chỉ ở dạng tiềm
năng. Để giá trị sử dụng ở dạng tiềm năng trở thành giá trị sử dụng hiện thực
thì hàng hóa đó cần được tiêu dùng.
b. Giá trị hàng hóa
– Muốn hiểu giá trị hàng hóa phải xuất phát từ giá trị trao đổi.
– Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
Mai Thị Thảo

Page 3


– Khái niệm: Giá trị trao đổi trước hết là tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này
trao đổi với giá trị sử dụng khác.
Ví dụ: 1m vải trao đổi lấy 5 kg thóc. (Điều này có nghĩa là 1m vải có giá trị
trao
đổi
bằng
5kg
thóc)
– Vấn đề đặt ra là: tại sao hai hàng hoá, hai giá trị sử dụng lại trao đổi được
cho nhau, hơn nữa chúng lại trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định?
+ Cái chung đó không thể là giá trị sử dụng vì hai loại hàng hóa này có công
dụng hoàn toàn khác nhau (vải để mặc, thóc để ăn). Và sự khác nhau đó chỉ
là điều kiện cần thiết để sự trao đổi xảy ra vì không ai đem trao đổi những
vật
phẩm
giống
hệt
nhau
về
giá
trị
sử
dụng.
+ Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều có lao
động kết tinh trong đó. Nhờ có cơ sở chung đó mà các hàng hóa có thể trao
đổi được với nhau. Vậy, thực chất người ta trao đổi hàng hóa với nhau chẳng
qua là trao đổi lao động của mình ẩn dấu trong trong những hàng hóa đó.
► Chính hao phí lao động để tạo ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy là
cơ sở chung cho mọi việc trao đổi và nó tạo thành giá trị hàng hóa.
– Khái niệm: Giá trị hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa tạo ra,
kết
tinh
trong
hàng
hóa
Giá trị hàng hóa biểu hiện thông qua giá trị trao đổi. Tức là, giá trị là nội
dung,


sở
của
giá
trị
trao
đổi.
– Giá trị biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa vì
trao đổi hàng hóa là so sánh lượng hao phí lao động giữa những người sản
xuất hàng hóa. Quan hệ giữa người với người được thay thế bằng quan hệ
giữa
vật
với
vật
(hàng

hàng).
– Giá trị hàng hóa là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng
hóa, có sản xuất hàng hóa thì mới có giá trị hàng hóa.

Kết
luận:
+ Giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội (lao động trừu tượng) của người
sản
xuất
hàng
hóa
kết
tinh
trong
hàng
hóa.
+ Giá trị là cơ sở là nội dung của giá trị trao đổi. Chất của giá trị là lao động,
nên sản phẩm không chứa đựng lao động thì không có giá trị. Sản phẩm
chứa đựng nhiều lao động để tạo ra thì có giá trị cao. Lượng giá trị là biểu
hiện lượng lao động kết tinh trong hàng hóa. Lượng lao động kết tinh thay
đổi dẫn đến giá trị trao đổi thay đổi. Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của
giá
trị.
+ Giá trị là một phạm trù lịch sử.
c. Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính vùa thống nhất, vùa mâu thuần với
nha trong một hàng hoá.

Mặt
thống
nhất:
Hai thuộc tính này cùng tồn tại trong một hàng hóa. Một vật muốn trở thành
hàng hóa thì không thể thiếu bất kỳ một thuộc tính nào trong hai thuộc tính
trên. Ta có thể thấy một vật có ích tức là có giá trị sử dụng nhưng không do
lao động tạo ra tức là không có lao động xã hội kết tinh trong đó thì không
phải là hàng hóa, ví dụ như: không khí, ánh nắng mặt trời…

Mặt
mâu
thuẫn:
+ Thứ nhất, với tư cáchlà một giá trị sử dụng thì các hàng hoá không đồng
nhất về chất vì mỗi hàng hóa có một công dụng khác nhau. Ngược lại, với tư
cách là giá trị thì các hàng hoá đồng nhất về chất, chúng đều là kết tinh của
Mai Thị Thảo

Page 4


lao
động,
đều

lao
động
được
vật
hoá.
+ Thứ hai, tuy giá trị và giá trị sử dụng cùng tồn tại trong một hàng hóa
nhưng quá trình thực hiện giá trị sử dụng và giá trị khác nhau về thời gian và
không gian. Cụ thể là giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông,
còn giá trị được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng. Nếu không thực hiện
được giá trị hàng hoá (hàng hóa không bán được) thì không thực hiện được
giá trị sử dụng có thể dẫn đến khủng hoảng sản xuất “thừa”.
* Vì sao phải nghiên cứu giá trị bắt đầu từ giá trị trao đổi?
Giá trị là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hóa nên ta không xác định
trực tiếp được. Ta chỉ có thể xác định, đo lường nó thông qua một hàng hóa
khác.
Ví dụ: 1m vải = 5 kg thóc ►5kg thóc đo gía trị cho 1 m vải
Do đó ta luôn phải xác định tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với
giá trị sử dụng khác ►hay nói cách khác, chúng ta đang xác định giá trị trao
đổi để xác định giá trị.

* VÌ SAO HÀNG HÓA CÓ 2 THUỘC TÍNH

Hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị, hai thuộc tính đó không
phải do có hai loại lao động khác nhau kết tinh trong nó, mà do lao động của
người sản xuất hàng hoá có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu
tượng.
C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt đó.
a. Lao động cụ thể
– Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những
nghề
nghiệp
chuyên
môn
nhất
định.
– Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng: Mỗi lao động cụ thể có đối tượng lao
động, mục đích riêng, công cụ lao đông riêng, phương pháp hoạt động riêng,
và kết quả lao động riêng ► tạo ra những sản phẩm có công dụng khác
nhau, tức là tạo ra nhiều giá trị sử dụng của hàng hóa.
b.Lao
động
trừu
tượng
– Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa không kể đến
hình thức cụ thể của nó, để quy về một cái chung nhất, đó chính là sự tiêu
hao sức lao động ( tiêu hao bắp thịt, thần kinh, bộ óc) của người lao động sản
xuất
hàng
hóa
nói
chung.
– Lao động trừu tượng tích lũy trong hàng hóa và tạo ra giá trị.
+ Chỉ có lao động của người lao động sản xuất hàng hóa mới mang tính trừu
tượng

tạo
ra
giá
trị
hàng
hóa.
+ Lao động trừu tượng chính là mặt chất của giá trị hàng hóa.
Tất nhiên không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hóa mà chỉ là
lao động của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt.
– Tính chất hai mặt nói trên liên quan đến tính chất tư nhân và tính chất xã
hội của lao động sản xuất hàng hóa.
+ Tính chất tư nhân: Mỗi người sản xuất hàng hoá có tính tự chủ của mình
nên sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào là việc riêng của họ. Vì vậy, lao
động của họ trở thành việc riêng, mang tính tư nhân và lao động cụ thể của
họ là biểu hiện của lao động tư nhân.+ Tính chất xã hội: Lao động của mỗi
sản xuất hàng hóa cũng là một bộ phận của lao động xã hội trong hệ thống
phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội làm cho lao động của
người sản xuất trở thành một bộ phận trong lao động xã hội, từ đó tạo ra sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất hàng hoá. Họ làm việc cho
Mai Thị Thảo

Page 5


nhau, người này làm việc vì người kia thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa.
Việc trao đổi hàng hoá không thể dựa vào lao động cụ thể mà phải quy thành
lao động đồng nhất là lao động trừu tượng. Do đó, lao động trừu tượng là
biểu hiện của lao động xã hội.

----LƯỢNG GIÁ TRỊ HÀNG HÓA VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG GIÁ TRỊ HÀNG HÓA----Giá trị hàng hóa là do lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết
tinh
trong
hàng
hóa
đó
Như
vậy:
– VỀ MẶT CHẤT, giá trị của hàng hóa được xác định bởi hao phí lao động để
sản
xuất
hàng
hóa
đó
quyết
định.
Giá trị của hàng hóa = lao động vật hóa + lao động sống
=
lao
động
quá
khứ
+
lao
động
hiện
tại
= Gtrị tư liệu sản xuất + Gtrị mới do công nhân tạo ra
– VỀ MẶT LƯỢNG: giá trị của hàng hóa được tính theo thời gian lao động xã
hội cần thiết.
a. Thời gian lao động xã hội cần thiết
– Trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một sản xuất một hàng hóa
nhưng điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động của họ khác
nhau nên thời gian lao động cá biệt khác nhau để tạo ra một hàng hóa không
giống nhau nhau (nghĩa là hao phí lao động cá biệt khác nhau).
– Vậy, có phải rằng người sản xuất nào càng lười biếng, càng vụng về, có
điều kiện sản xuất càng khó khăn thì lượng giá trị hàng hóa của họ càng lớn?
Điều này không đúng vì sự khác nhau trên chỉ là sự khác nhau về chi phí lao
động cá biệt của mỗi cá nhân trong khi giá trị hàng hóa không phải tính bằng
thời gian lao động cá biệt mà tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
(giá trị xã hội của hàng hóa).
– Khái niệm: Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động trung
bình, cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện sản xuất bình
thường của xã hội với trình độ trang thiết bị sản xuất trung bình, trình độ kỹ
thuật trung bình và cường độ lao động trung bình.
– Trong thực tế, thời gian lao động xã hội cần thiết là mức hao phí lao động
trung bình của xã hội để sản xuất ra một hàng hóa. Thông thường thời gian
lao động xã hội cần thiết (thời gian lao động xã hội trung bình) gần sát với
thời gian lao động cá biệt (mức hao phí lao động cá biệt) của người sản xuất
hàng hóa nào cung cấp tuyệt đại đa số hàng hóa cùng loại trên thị trường.
– Cần chú ý, thời gian lao động cần thiết là đại lượng không cố định mà thay
đổi theo thời gian và có thể khác nhau ở các nước. Bởi vì trình độ thành thạo
trung bình, cường độ lao động trung bình, điều kiện trang bị kỹ thuật trung
bình…luôn thay đổi theo sự phát triển lực lượng sản xuất.
b. Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
Tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian lao động xã hội cần thiết đều ảnh
hưởng
tới
lượng
giá
trị
của
một
đơn
vị
hàng
hóa.
Có thể xem xét ba yếu tố cơ bản sau:
Mai Thị Thảo

Page 6



Năng
suất
lao
động:
+ Là năng lực sản xuất của lao động. Nó được đo bằng số lượng sản phẩm
được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (hoặc lượng thời gian để sản xuất
ra
một
đơn
vị
sản
phẩm).
+ Giá trị hàng hóa thay đổi tỉ lệ nghịch với năng suất lao động: khi năng suất
lao động tăng sẽ kéo theo tổng số sản phẩm tăng lên, tổng giá trị hàng hóa
không tăng so với trước ► giá trị một đơn vị sản phẩm giảm xuống và ngược
lại.
+ Năng suất lao động trên thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ
thành thạo trung bình của người lao động; mức phát triển của khoa học – kỹ
thuật, công nghệ và mức ứng dụng chúng vào sản xuất; trình độ tổ chức
quản lý; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất; các điều kiện tự nhiên. Do
đó, muốn tăng năng suất cần nâng cao hiệu quả của các yếu tố trên.
Cường
độ
lao
động:
+ Là mức độ hao phí lao động (mức độ nặng nhọc, khẩn trương hay căng
thẳng) của người lao – động trong một đơn vị thời gian.
+ Cường độ lao động tăng nghĩa là mức hao phí sức lao động (cơ bắp, thần
kinh…) trong một đơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc
hay căng thẳng của lao động tăng lên. Và nếu cường độ lao động tăng lên thì
tổng số (hay khối lượng) hàng hoá cũng tăng lên nhưng tổng hao phí sức lao
động cũng tăng lên tương ứng cùng tỉ lệ. Do đó, giá trị một đơn vị sản phẩm
không thay đổi. Vậy, trong thực tế, tăng cường độ lao động giống như kéo dài
thời gian lao động nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm không
đổi.
+ Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu
suất của tư liệu sản xuất, đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao
động.
–Mức
độ
phức
tạp
của
lao
động:
Căn cứ theo độ phức tạp có thể chia ra lao động phức tạp và lao động giản
đơn.
+ Lao động giản đơn là lao động mà một người bình thường không cần trải
qua
đào
tạo
cũng

thể
làm
được.
+ Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải qua huấn luyện, đào tạo, hay
lao
động
lành
nghề
mới

thể
thực
hiện
đuợc.
Trong cùng một thời gian hao phí như nhau, lao động phức tạp tạo ra nhiều
giá trị lớn hơn gấp bội lần lao động giản đơn.

3. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ NÀY ĐỐI VỚI VIỆC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Nc ta là 1 nc có nền kte thị trường định hướng XHCN, tức là nền Kte nhiều
tphan, sx đa dạng các loại HH nhằm đáp ứng nhu cầu trog nc và trao đổi, mua
bán trên thị trường TG. Do đó, sx HH ở nc ta phải đảm bảo 2 thuộc tính giá trị
sd và gtri.
Mai Thị Thảo

Page 7


Kinh tế hàng hoá tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế xã hội. Ở nước ta, những
điều kiện chung của kinh tế hàng hoá vẫn còn, nền kinh tế hàng hoá tồn tại là
một tất yếu khách quan.
Ở nước ta, Đảng và nhà nước đã xác định phương hướng phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước. Hiện nay nước ta còn thiếu vốn, khoa học
kĩ thuật chưa được cải tiến đồng bộ, do đó chất lượng hàng hoá chưa cao, giá
thành chưa rẻ, mặc dù có được hưởng những ưu đãi về thuế. Vì vậy hội nhập
kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài, viện trợ phát
triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế, tham gia hội nhập kinh tế quốc
tế là cơ hội để thị trường nước ta được mở rộng, điều này sẽ hấp dẫn các nhà đầu
tư. Họ sẽ mang vốn và công nghệ vào nước ta sử dụng lao động và tài nguyên
sẵn có của nước ta làm ra sản phẩm tiêu thụ trên thị trường khu vực và thế giới
với các ưu đãi mà nước ta có cơ hội mở rộng thị trường, kéo theo cơ hội thu hút
vốn đầu tư nước ngoài.
Nền kte nc ta khi bc vao thoi kỳ quá độ lên CNXH còn mang nặng tính tự túc
tự cấp, vì vậy sx HH phát triển sẽ phá vỡ dần nền kte tự nhiên chuyển thành nền
kte HH thúc đẩy sự XH hóa sx, kte HH tạo ra động lực thúc đẩy llsx phát triển,
do cạnh tranh giữa những ~ng sx HH buộc mỗi chủ thể cải tiến kỹ thuật và đưa
cộng nghệ mới vào sx để giảm chi phí sx đến mức tối thiểu -> có thể cạnh
tranh về giá cả trog cạnh trah, qtr đó thúc đẩy llsx ptr, nâng cao nâng lực lđ
XH. Trog nên kte HH, ng sx căn cứ vào ncau của ng tiêu dung, thị trường để qđ
sx sp gì, khối lượng bnh, chất lượng thế nào, do đó kte HH kích thích năng
động, stao của chủ thể kte kích thích sự việc nâng cao chất lượng cải tiến mẫu
mã cũng như tăng kluong HH và dvu.
Nói tóm lại, … đẩy mạnh phân công lđ để phát triển kte HH, đáp ứng ncau đa
dạng và phog phú của XH; phải coi trọng cả 2 thuộc tính của HH để k ngừng cải
tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, hạ giá thành. trog nền kte hnay, kte HH ko
thể thiếu dc vì nó góp phần thúc đẩy kte và nếu ptr, nó góp phần gq việc làm
và sự phân công lđ trog XH./

8 QUYỀN CƠ BẢN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
1. Quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp
pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa.
2. Quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa;
được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan...
3. Quyền được lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình.
4. Quyền được góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả,
chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ...
5. Quyền được tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng.
Mai Thị Thảo

Page 8


6. Quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội
dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết,
quảng cáo hoặc cam kết.
7. Quyền được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để
bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định pháp luật.
8. Quyền được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.

CÂU 3 TRANG 7: PHÂN TICH LƯỢNG GIÁ TRỊ HÀNG HÓA VÀ CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG GIÁ TRỊ HÀNG HÓA ?
Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng: Chất giá trị hàng hóa là lao
động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Vậy, lượng giá
trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyểt định.
Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng:
Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng
hóa. Vậy, lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyểt
định.
a)

Thước đo lượng giá trị của hàng hóa.

Đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa bằng thước đo thời gian như: một giờ
lao động, một ngày lao động, v.v.. Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian
lao động quyết định. Trong thực tế, một loại hàng hóa đưa ra thị trường là do rất nhiều
người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề
là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của họ
khác nhau. Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cả biệt của hàng hóa mà
từng người sản xuất ra. Vậy phải chăng lao động cá biệt nào càng lười biếng, vụng về,
phải dùng nhiều thời gian hơn để làm ra hàng hóa, thì hàng hóa đó càng có nhiều giá
trị?
C.Mác viết: "Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử
dụng ấy".
Như vậy, thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội
cần thiết.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều
kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung
bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định.
Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động cá biệt
hết sức khác biệt nhau, thì thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với
thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại
hàng hóa nào đó trên thị trường.
b) Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa
cũng là một đại lượng không cố định. Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc
vào những nhân tố:
Mai Thị Thảo

Page 9


Thứ nhất, năng suất lao động.
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản
phấm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết đế sản
xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Năng suất lao động lại tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ khéo léo của người
lao động, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
vào sản xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều
kiện tự nhiên.
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động tác động khác nhau đối với lượng
giá trị hàng hóa. Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương, là sự
căng thẳng mệt nhọc của người lao động. Vì vậy, khi cường độ lao động tăng lên, thì
lượng lao động hao phí trong cùng một đơn vị thời gian cũng tăng lên và lượng sản
phẩm được tạo ra cũng tăng lên tương đương, còn lượng giá trị của một đơn vị sản
phẩm thì không đổi. Xét về bản chất, tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài
thời gian lao động.
Thứ hai, mức độ phức tạp của lao động.
Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị của
hàng hóa. Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động
giản đơn và lao động phức tạp.
Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người bình thường nào có khả năng lao
động cũng có thể thực hiện được. Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào
tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề mới có thể tiến hành được.
Khi nghiên cứu tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, có một vấn đề đặt ra
là: phải chăng trong cùng một đơn vị thời gian lao động, thì bất cứ ai làm việc gì, nghề
gì cũng đều tạo ra một lượng giá trị như nhau?
C.Mác chỉ rõ: trong một giờ lao động, người thợ sửa chữa đồng hồ tạo ra nhiều giá trị
hơn người rửa bát. Bởi vì, lao động của người rửa bát là lao động giản đơn, có nghĩa là
bất kỳ một người bình thường nào, không phải trải qua đào tạo, không cần có sự phát
triển đặc biệt, cũng có thể làm được. Còn lao động của người thợ sửa chữa đồng hồ là
lao động phức tạp đòi hỏi phải có sự đào tạo, phải có thời gian huấn luyện tay nghề. Vì
vậy, trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được
nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn. Lao động phức tạp là lao động giản đơn
được nhân gấp bội lên. Để cho các hàng hóa do lao động giản đơn tạo ra có thể quan
hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra, trong quá trình trao đổi
người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình.
C.Mác viết: "Lao động phức tạp... chỉ là lao động giản đơn được nâng lên lũy thừa, hay
nói cho đúng hơn là lao động giản đơn được nhân lên...”.
Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết,
giản đơn trung bình.
c) Cấu thành lượng giá trị hàng hóa
Để sản xuất ra hàng hóa cần phải chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ tồn tại
trong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ, nguyên vật liệu và lao động
sống hao phí trong quá trình chế biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới. Trong quá
trình sản xuất, lao động cụ thể của người sản xuất có vai trò bảo tồn và di chuyển giá trị
Mai Thị Thảo

Page 10


của tư liệu sản xuất vào sản phẩm, đây là bộ phận giá trị cũ trong sản phẩm (ký hiệu là
c), còn lao động trừu tượng (biểu hiện ở sự hao phí lao động sống trong quá trình sản
xuất ra sản phẩm) có vai trò làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm, đây là bộ phận giá trị
mới trong sản phẩm (ký hiệu là V + m).Vì vậy, cấu thành lượng giá trị hàng hóa bao
gồm hai bộ phận: giá trị cũ tái hiện và giá trị mới.
ý nghĩa của việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa là gì- đối với việt nam hiện nay cần
làm gì để giá trị hàng hoá
Việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa là rất cần thiết. Trước hết, nghiên cứu lượng 
giá trị hàng hóa đã xác định được giá cả của hàng hóa đã làm ra. Bởi vì khi nghiên cứu 
lượng giá trị hàng hóa cho biết: “ Thời gian lao động xã hội cần thiết giản đơn trung 
bình để sản xuất ra một hàng hóa là thước đo lượng giá trị hàng hóa và từ đó xác định 
được giả cả của hàng hóa nào cao hơn của hàng hóa nào.
Thứ 2, nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa tìm ra được các nhân tố tác động đến nó, từ 
đó tìm ra cách để làm giảm giá cả sản xuất như: tăng năng suất lao động, đầu tư vào 
khoa học kỹ thuật hiện đại, đầu tư đào tạo giáo dục chất xám… mà vẫn giữ nguyên 
hoặc làm tăng thêm giá trị để tiến tới cạnh tranh trên thị trường, đây chính là điều mà 
các nhà làm kinh tế luôn hướng tới nhằm đạt được lợi nhuận siêu ngạch.
Thứ 3, bởi vì lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn 
trong cùng một đơn vị thời gianlao động như nhau. Vì thế các nhà làm kinh tế cần phải 
chú trọng đầu tư vào những ngành lao động phức tạp đòi hỏi nhiều chất xám. Muốn 
làm được điều này thì phải nâng cao trình độ công nhân, nâng cao tay nghề và áp 
dungj những biện pháp tiên tiến.
Đối với Việt Nam, đi lên từ một nước nông nghiệp, với những tập quán canh tác nhỏ lẻ 
lạc hậu, lại chịu nhiều thiệt hại cảu chiến tranh nên gặp rất nhiều khó khăn trong quá 
trình xây dựng và phát triển. Từ năm 1986, Đảng và nhà nước đã quyết định chính 
sách đổi mới đất nước và đạt được nhiều thành tựu. Bên cạnh đó vẫn còn nhều khó 
khăn trong quá trình phát triển đặc biệt là lao động lành nghề, sản xuất với công nghệ 
đơn giản nên lượng giá trị hàng hóa cao mà giá trị sử dụng lại thấp, không đáp ứng 
được nhu cầu trong nước cũng như ngoài nước. Ví dụ như: gạo ở Việt Nam sản xuất 
với thời gian lao động xã hội cần thiết lớn, nhiều nhân lực, nhưng chất lượng gạo lại 
không cao, bán với giá thấp trên thị trường thế giới. Từ đó đặt ra một yêu cầu làm thế 
nào để làm giảm lượng giá trị mà vẫn giữ nguyên hoặc tăng thêm giá trị của hàng hóa.
Để giảm lượng giá trị hàng hóa thì nước ta cần phải chú trọng đầu tư phát triển những 
ngành lao động tri thức, nâng cao năng suất lao động bằng cách áp dụng nhiều công 
nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại; đầu tư đào tạo đội ngũ lao động có trình độ tay nghề 
cao, tiến tới xây dựng một nền kinh tế tri thức.
Đồng thời với việc xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước cần kiên quyết đẩy lùi 
những tệ nạn tham ô tham nhũng; cải cách hành chính thật hiệu quả minh bạch; hạn 
chế những thủ tục rườm rà trong quản lý kinh tế; đồng thời đưa ra các biện pháp kích 
thích kinh tế, khuyến khích đầu tư các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao.

Mai Thị Thảo

Page 11


CÂU 3: PHÂN TÍCH QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ LIÊN HỆ SỰ HOẠT ĐỘNG 
CỦA NÓ TROMG NÊN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở 
NƯỚC TA HIỆN NAY? 
1 . Quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị trong nền sản xuất
hàng hoá
a)Quy luật giá trị là gì ?
Phát triển kinh tế thị trường là xu thế tất yếu của quá trình đổi mới nền
kinh tế . Không có quốc gia nào trên thế giới có nền kinh tế phát triển lại không
áp dụng quy luật kinh tế vào quốc gia đó và vận hành chúng một cách có hiệu
quả nhất . Và trong các quy luật kinh tế được áp dụng thì quy luật giá trị là một
quy luật rất quan trọng . Nó là quy luật căn bản của sản xuất và trao đổi hàng
hoá . Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy
tác dụng của quy luật giá trị . Chính vì vậy quy luật này có ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển của nền kinh tế .
Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã
hội cần thiết . Trong kinh tế hàng hoá , mỗi người sản xuất tự quyết định hao
phí lao động cá biệt của mình nhưng giá trị của hàng hoá không phải được
quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của từng người sản xuất hàng hoá mà
bởi hao phí lao động xã hội cần thiết . Vì vậy , muốn bán được hàng hoá , bù
đắp được chi phí và có lãi , người sản xuất phải điều chỉnh làm cho chi phí lao
động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được .
Trao đổi hàng hoá cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần
thiết , có nghĩa là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá : giá cả hàng hoá phải phù
hợp với giá trị của nó .
b)Vai trò của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá .
Điều tiết sản xuất và trao đổi lưu thông để đảm bảo quá trình tái sản
xuất phát triển không ngừng .
Trong sản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân TLSX thì
sản xuất là công việc của mỗi người , họ đều sản xuất và cung cấp hàng hoá
cho thị trường nhưng họ lại không biết được nhu cầu của thị trường về hàng
hoá mà mình sản xuất . Có thể sản xuất không đáp ứng được nhu cầu thị
trường hoặc sản xuất hàng hoá nhiều dẫn đến hàng hoá bị ế thừa , quá trình tái
sản xuất không tiếp tục được nữa , nền sản xuất và trao đổi sẽ bị rối loạn .
Nhưng trong thực tế mọi người sản xuất đều tiến hành một cách trôi chảy ,
bình thường . Vậy phải có một lực lượng điều tiết , lực lượng đó chính là vai
trò quy luật giá trị , điều tiết thông qua giá cả trên thị trường .
2 . Yêu c u ầ của quy luật giá trị .
Việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải được tiến hành dựa trên cơ sở
hao phí lao động xã hội cần thiết .
Trong nền sản xuất hàng hoá : Đối với một hàng hoá phải được tiến
hành dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết , hao phí lao động cá biệt
phụ hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết nhưng trong trường hợp đặc biệt
tại thời điểm nhất định thì hao phí lao động cá biệt bằng hao phí lao động xã
hội cần thiết . Đối với tổng hàng hoá thì tổng hàng hoá sản xuất ra bằng tổng
Mai Thị Thảo

Page 12


thời gian lao động xã hội cần thiết hoặc bằng tổng nhu cầu xã hội có khả năng
thanh toán hoặc bằng tổng sức mua của đồng tiền .
Trong trao đổi lưu thông: Đối với một hàng hoá thì trao đổi phải theo
nguyên tắc ngang giá ( giá cả ngang bằng giá trị ) Trong thực tế một hàng hoá
được sản xuất ra mà từ sản xuất đến tiêu dùng nó chịu tác động bởi nhiều nhân
tố mà đặc biệt là do tác động của quan hệ cung cầu ( giá cả của hàng hoá có
thể bằng, lớn hơn, nhỏ hơn giá trị ) Sự tách rời của giá cả và giá trị đó là biểu
hiện của quy luật giá trị . Còn đối với tổng hàng hoá thì tổng giá cả phải ngang
bằng tổng giá trị của hang hoá .
Quy luật giá trị bắt buộc mọi người sản xuất và trao đổi hàng hoá phải
tuân theo mệnh lệnh của giá cả trên thị trường . Giá cả là tín hiệu báo cho
người sản xuất và trao đổi hãy đầu tư những ngành hàng mà nhu cầu sản xuất
đang giảm .
Chỉ thông qua sự vận động của giá cả trên thị trường thì mới thấy được
sự hoạt động của quy luật giá trị , giá cả lên xuống một cách tự phát theo quan
hệ cung cầu , đó chính là sản phẩm của cơ chế cạnh tranh .
3. Tác dụng của quy luật giá trị .
a)Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá .
Điều tiết sản xuất là tức là điều hoà , phân bổ các yếu tố sản xuất giữa
các ngành , lĩnh vực của nền kinh tế .
Khi một ngành sản xuất nào đó mà hàng hoá sản xuất không đủ đáp ứng
nhu cầu thị trường ( cung < cầu ) giá cả hàng hoá sẽ lên cao hơn giá trị , hàng
hoá bán chạy , lãi cao , thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành ấy . Do đó TLSX
và SLĐ đư c chuy n d ch vào ợ ể ị ngành ấy phát triển lên . Ngược lại , khi cung ở
ngành đó vượt qua cầu , giá cả hàng hoá giảm xuống , hàng hoá bán không chạy
và có thể lỗ vốn .Tình hình ấy buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản
xuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành có giá cả hàng hoá cao .
Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị
trường . Sự biến động giá cả trên thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng
hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao . Do đó làm cho lưu thông hàng hoá
thông suốt .
b)Kích thích cải tiến kỹ thuật , hợp lý hoá sản xuất , tăng năng suất lao
động , lực lượng sản xuất phát triển nhanh .
Trong nền kinh tế hàng hoá , người nào có hao phí lao động cá biệt ít
hơn hoặc bằng hao phí lao động cần thiết để sản xuất hàng hoá thì người đó có
lợi . Còn người có hao phí lao động cá biệt nhiều hơn lao động xã hội càn thiết
thì sẽ bị thiệt vì không thể thu được toàn bộ lao động đã hao phí . Chính vì vậy
để tồn tại được trong cạnh tranh thì người lao động phải tìm cách giảm hao phí
lao động xã hội cá biệt xuống mức tối thiểu có thể được bằng cách phải luôn
tìm cách cải tiến kỹ thuật , cải tiến tổ chức quản lý , thực hiện tiết kiệm chặt
chẽ , tăng năng suất lao động . Do vậy mới đẩy mạnh được lực lượng sản xuất
phát triển .
C ) Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất thành kẻ
giàu người nghèo .
Mai Thị Thảo

Page 13


Qua trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là : những
người có điều kiện sản xuất thuận lợi , có trình độ , kiến thức cao , trang bị kỹ
thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết , nhờ đó phát tài , giàu lên nhanh chóng . Họ mua sắm thêm TLSX , mở
rộng sản xuất kinh doanh . Ngược lại những người không có điều kiện thuận
lợi làm ăn kém cỏi hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn tới phá
sản trở thành nghèo khó .
Do đó quy luật giá trị sẽ kích thích những yếu tố tích cực phát triển và
đào thải các yếu tố kém . Nó đảm bảo sự bình đẳng của người sản xuất .

----- SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG XÂY DỰNG KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM .
1 . Tính tất yếu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN .
Sự ra đời của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
gắn liền với công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo . Kinh tế thị
trường định hướng XHCN là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ và
phức tạp . Nó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa việc nhận thức sâu sắc tính
quy luật khách quan với phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủ thể là Đảng
, Nhà nước XHCNvà nhân dân lao động trong thực tiễn cách mạng Việt Nam .
Đây là sự lựa chọn con đường và mô hình phát triển của Việt Nam trong điều
kiện toàn cầu hoá kinh tế đáp ứng yêu cầu “đi tắt , đón đầu “đang đặt ra như
một yếu tố sống còn . Sự hình thành tư duy của Đảng ta về nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN là cả một quá trình tìm tòi thể nghiệm , phát triển từ
thấp đến cao , từ chưa đầy đủ , hoàn thiện tới ngày càng đầy đủ , sâu sắc và
hoàn thiện .
Nếu như trong văn kiện Đại hội VI và Hội nghị Trung ương 6 khoá VI ,
Đảng ta mới đề ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm
nhiều thành phần đi lên CNXH , coi đây là vấn đề “ có ý nghĩa chiến lược và
mang tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH “ , thì đến Đại hộ VII , Đảng
đã khẳng định : “ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng XHCN , vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước “ .
Tới Đại hội Đảng IX , kinh tế thị trường lại được khẳng định một cách sâu sắc
, đầy đủ hơn như là mô hình kinh tế tổng quát hay mô hình mới của CNXH ở
Việt Nam . Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam xuất
phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc , bắt nguồn từ bối cảnh thời
đại và điều kiện lịch sử - cụ thể của đất nước . Có những khía cạnh đáng lưu ý
, quy định tính tất yếu của việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng
XHCN :
Thứ nhất, mô hình CNXH cổ điển , đặc trưng bởi hệ thống kinh tế kế
hoạch hoá tập trung , sau gần 70 năm tồn tại với tất cả những ưu thế và nhược
điểm , rốt cuộc đã tỏ ra không còn sức sống và khả năng phát triển nội sinh về
mặt kinh tế , bị va vấp nặng nề trong thực tiễn . Trong khi đó , chủ nghĩa tư
b n v i m c ả ớ ụ tiêu tìm kiếm lợi nhuận đã lợi dụng tối đa những mặt mạnh của
kinh tế thị trường để tạo ra động cơ về lợi ích và sự cạnh tranh mạnh mẽ , phát
Mai Thị Thảo

Page 14


triển các lực lượng sản xuất cũng như tiềm năng kinh doanh . chủ nghĩa tư bản
đã sử dụng vai trò nhà nước như một chủ thể xã hội sáng tạo và hùng mạnh
đểcan thiệp -quản lý các quá trình kinh tế vĩ mô , nhằm hạn chế những khuyết
tật của thị trường , đáp ứng yêu cầu phát triển , xã hội hoá các lực lượng sản
xuất .
Thứ hai , mặc dù CNTB đã có những thành công nhất định trong phát triển
kinh tế thị trường , nhưng cần nhận thức sâu sắc rằng , phát triển kinh tế thị
trường theo con đường TBCN không phải là duy nhất đúng mà trong nó cũng ẩn
chứa đầy rẫy những cạm bẫy , rủi ro . Thực tế phát triển ngày càng cho thấy
rõ mặt trái cũng như nguy cơ thất bại ngay chính trong quá trình phát triển kinh
tế thị trường . Ngày nay , nhân loại đã nhận thức được rằng , mô hình phát triển
kinh tế thị trường theo kiểu phương tây hay đi theo con đường phương Tây hoá
không phải là cách tối ưu . Những mô hình phát triển theo kiểu này đã tỏ ra mâu
thuẫn sâu sắc với các giá trị truyền thống , làm tăng tính bất ổn của xã hội và
khoét sâu hố ngăn cách giầu – nghèo . Hơn nữa , nó còn có nguy cơ ràng buộccác nước chậm
phát triển hơn , đẩy các nước đó vào tình trạng bị lệ thuộc và
bóc lột theo kiểu quan hệ “ trung tâm - ngoại vi “ .
Thứ ba, trong thực tế không có một mô hình kinh tế thị trường chung cho
mọi quốc gia , mà trái lại , mỗi quốc gia – dân tộc tuỳ theo trình độ phát triển ,
đặc điểm cơ cấu tổ chúc và thể chế chính trị , kể cả các yếu tố văn hoá – xã
hội truyền thống , mà xây dựng những mô hình kinh tế thị trường đặc thù của
riêng mình . Không thể phủ nhận những hạn chế và mâu thuẫn cố hữu của kinh
tế thị trường TBCN ngay tại quê hương của nó và việc khắc phục những mâu
thuẫn đó vẫn đang là vấn đề cực kỳ nan giải . Một số nước Tây Âu và Bắc Âu
với mông muốn tìm kiếm con đường đi riêng của mình , nhằm khắc phục hạn
chế của kinh tế thị trường TBCN đã chủ trương đi theo “ con đường thứ ba “
hay nhấn mạnh “ Nhà nước phúc lợi “ nhà nước TBCN ở đây được gắn thêm
chức năng “ sáng tạo “ khi tham gia giải quyết các vấn đề xã hội và phân phối
lại thu nhập mang tính định hướng xã hội , tạo ra cái gọi là “ nền kinh tế cho
mọi ngư ời “ hay “ chủ nghĩa tư bản nhân dân “ . Nhưng trong phạm vi của quan
hệ TBCN thì những nỗ lực rõ ràng đã không mang lại kết quả như mong muốn .
Thứ tư , nền kinh tế thị trường hiện đại ngày càng thể hiện xu hướng tự
phủ định và tiến hoá tất yếu để chuyển sang giai đoạn mới cao hơn - hậu thị
trường , hậu công nghiệp và kinh tế tri thức . Trong những điều kiện hiện đại ,
con đường phát triển rút ngắn như C.Mác đã từng dự báo , trở thành một khả
năng hiện thực xét cả về hai phương diện : tính tất yếu kinh tế - xã hội và tính
tất yếu công nghệ - kỹ thuật . Nếu như nền văn minh công nghiệp ra đời trên
cơ sở phủ định nền văn minh nông nghiệp thì trái lại , nền văn minh hậu công
nghiệp - kết quả của làn sóng cách mạng khoa học - công nghệ lần thứ ba lại
có thể hàm chứa và gần gũi với nền văn minh nông nghiệp .Thực tế cho thấy,
công nghệ cao có khả năng áp dụng trong hoàn cảnh nông nghiệp và tương ứng,
một nền nông nghiệp truyền thống có thể đi tắt sang hậu công nghiệp mà
không bắt buộc phải trải qua tất cả các giai đoạn của quá trình công nghiệp hoá
TBCN nặng nề, tốn kém. Ví dụ, sản phẩm công nghệ cao vi điện tử và sinh
Mai Thị Thảo

Page 15


học, do tính nhiều vẻ lại có thể phù hợp với nhu cầu xã hội, với nguồn nguyên
liệu sẵn có và điều kiện sản xuất phân tán của những nước lạc hậu .
Thứ năm , xét về mặt lịch sử thì quan hệ hàng hoá - thị trường chỉ là hình
thái đặc biệt , là nấc thang trung gian cần thiết để chuyển xã hội từ trình độ xã
hội nông nhiệp , phi thị trường , lên trình độ xã hội công nghiệp , hậu thị
trường. Nếu xét kỹ, ngay ở giai đoạn phát triển phồn thịnh, sung mãn của các
quan hệ thị trường thì sự xuất hiện của chúng cũng không có nghĩa là đồng nhất
với CNTB . Chính sở hữu tư nhân TBCN đã ra đời trên cơ sở tách rời các yếu tố
người và vật của sản xuất , các yếu tố này vốn gắn bó hữu cơ trong sở hữu tư
nhân của kinh tế hàng hoá giải đơn .
Thứ sáu , sụ lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam là một tất yếu nếu đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá ; thế giới đang
bước vào giai đoạn quá độ sang trình độ xã hội hậu công nghiệp , hậu thị
trường và kinh tế tri thức ; yêu cầu phát triển rút ngắn và hội nhập . Đây không
phải là sự gán ghép khiên cưỡng, chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXN ,
mà là trên cơ sở nhận thức sâu sắc tính quy luật tất yếu của của thời đại , sự
khái quát hoá , đúc rút t kinh nghi m ừ ệ phát triển kinh tế thị trường thế giới , và
đặc biệt , từ tổng kết thực tiễn mấy chục năm xây dựng CNXH và gần hai thập
kỷ đổi mới của Việt Nam .
Kinh tế thị trường như là một chế độ kinh tế hay phương thức sản xuất
có tính lịch sử , là thành quả của văn minh nhân loại , dân tộc mà không phải là
tài sản riêng của CNTB , chỉ phục vụ cho riêng CNTB . Thoát khỏi giới hạn chỉ
làm giàu cho tư bản , kinh tế thị trường sẽ có những mục tiêu và động lực xã
hội mới phù hợp với những đặc tính xã hội hoá vốn có , để trở thành công cụ
phát triển kinh tế , phục vụ đắc lực cho việc tạo ra của cải và mang lại sự giàu
có chung cho toàn xã hội .
Việc Việt Nam lựa chọn con đường phát triển kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN là sự lựa chọn vừa phù hợp với xu hướng phát triển kháchquan của thời đại ,
vừa là sự tiếp thu các giá trị truyền thống của đất nước và
những yếu tố tích cực trong giai đoạn phát triển đã qua của CNXH kiểu cũ .
Đây cũng là sự trùng hợp giữa quy luật khách quan với mong muốn chủ quan ,
giữa tính tất yếu thời đại với lôgic tiến hoá nội sinh của dân tộc , khi chúng ta
chủ trương sử dụng hình thái kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu phát
triển , từng bước quá độ lên CNXH . Nó cũng là con đường để thực hiện chiến
lược phát triển rút nhắn , để thu hẹp khoảng cách tụt hậu và nhanh chóng hội
nhập , phát triển .

--- VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG XÂY DỰNG KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯƠNG XHCN Ở VN........
a ) Giá cả và sự điều tiết giá cả :
Pháp lệnh Giá là văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giá cao nhất từ
trước đến nay , quy định những nội dung cơ bản của cơ chế quản lý vĩ mô của
Nhà nước .
Pháp lệnh giá đã nhận định rõ vai trò quản lý Nhà nước vĩ mô với quyền
tự định giá , tự chủ sản xuất kinh doanh của doanh nghệp trong điều kiện cạnh
Mai Thị Thảo

Page 16


tranh , giảm mạnh sự can thiệp trực tiếp của cơ quan hành chính Nhà nước đối
với hoạt động kinh doanh của cơ sở ; xác llập quyền tự chủ tài chính , đi dôi
với tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp . Cơ chế quản lý giá đã chuyển từ cơ chế Nhà nước quyết định
giá với đa số tài sản , hàng hoá , dịch vụ buộc người mua và người bán phải
chấp hành sang cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước với đặc
trưng cơ bản là : Nhà nước Trung ương giảm thiểu việc quyết định giá hầu hết
giá cả hàng hoá trong nền kinh tế; thay vào đó là thực hiện can thiệp vào thị
trường chủ yếu bằng các công cụ gián tiếp thông qua các chính sách kinh tế vĩ
mô để tác động vào sự hình thành và vận động của giá cả . Nhà nước chỉ còn
quyết định giá một số ít hàng hoá , dịch vụ độc quyền , đồng thời thực hiện
nguyên tắc tôn trọng quyền tự chủ giá của tổ chức , cá nhân , sản xuất , kinh
doanh theo đúng pháp luật .
Việc phân cấp quản lý giá Trung ương và địa phương , giữa các bộ ,
ngành về cơ bản được quy định cụ thể , rõ ràng , không chồng chéo và thể hiện
trách nhiệm cụ thể của từng bộ , ngành, địa phương trong lĩnh vực quản lý giá .
Ở cấp Trung ương , ngay sau khi Pháp lệnh Giá có hiệu lực thi hành , Bộ
Tài chính đã khẩn trương sậon thảo và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình
Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giá để hướng
dẫn thi hành Pháp lệnh giá , cụ thể là : 5 nghị định của chính phủ ; 9 Thông tư
của Bộ và Thông tư liên tịch ; 6 quyết định .
Tại địa phương , sau khi Pháp lệnh Giá được ban hành , Bộ Tài chính đã
chỉ đạo Sở Tài chính các tỉnh , thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương tổ
chức triển khai thực hiện . Theo báo cáo của các địa phương , các tỉnh , thành
phó trực thuộc Trung ương khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện .Theo báo
cáo của các địa phương , các tỉnh , thành phố trực thuộc Trung ương đã làm tốt
công tác tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh Giá tại các địa phương ; xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giá trên địa bàn tỉnh ,
thành phố góp phần đưa công tác quản lý giá trên địa bàn đi vào nề nếp .
Tại địa phương , sau khi Pháp lệnh giá được ban hành , Bộ Tài chính đã
chỉ đạo sở tài chính các tỉnh , thành phố trực thuộc Trung ương đã làm tốt công
tác tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh Giá tại địa phương ; xây dựng và ban
hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giá trên địa bàn tỉnh , thành phố
góp phần đưa công tác quản lý giá trên địa bàn đi vào nề nếp .
-Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giá đã đáp ứng kịp thời yêu
cầu về công tác quản lý giá góp phần làm cho giá cả phản ánh giá trị thị trường
hàng hoá và là tín hiệu để thị trường phân bố có hiệu quả nguồn nhân lực ,
vốn , vật tư . Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giá đã khắc phục tính
không đòng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giá đã
khắc phục tính không đòng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về
quản lý gia đã khắc phục tính không đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về quản lý giá trước đây , tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản
lý giá đi vào nề nếp , có hệ thống . Quyền tự chủ về giá của daonh nghiệp
được pháp luật công nhận và bảo vệ , góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh
Mai Thị Thảo

Page 17


bình đẳng về giá giữa các doanh nghiệp .
Có thể đánh giá từ khi về Pháp lệnh Giá có hiệu lực đến nay , cơ chế
quản lý điều hành giá cả tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện hơn . Trong thực
tế điều hành giá , đã kết hợp được việc sử dụng các công cụ , biện pháp kinh
tế khác để tác động đến mặt bằng giá , bình ổn giá như : chính sách phát triển
sản xuất , điều hoà cung cầu , chính sách tài chính tiền tệ ... Bước đầu góp
phần làm cho giá cả hàng hoá , dịch vụ được công khai minh bạch hơn góp
phần từng bước tạo lập môi trường cạnh tranh về giá theo pháp luật , kích thích
sản xuất phát triển , góp phần tăng thu cho nhân sách Nhà nước , phát huy và
phân bố có hiệu quả nguồn lực của đất nước , tạo đà tăng trưởng cao của nền
kinh tế .
Tuy nhiên , về cơ chế quản lý giá trên thực hiện vẫn còn những hạn chế
như chưa có cơ chế cụ thể để kiểm soát công tác tổ chức kiểm tra đánh giá ;
tổng kết thực hiện cơ chế giá chưa làm thường xuyên nên chưa có điều kiện
sửa đổi , bổ sung cho phù hợp ; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giá
chưa được ban hành kịp thời ...
Trước thực tế đó , thời gian tới cần tiếp tục thực hiện nhất quán cơ chế
quản lya giá theo cơ chế giá thị trường định hướng XHCN . thực hiện tự do hoágiá cả , nhưng
không thả nổi giá cả mà phải có sự điều tiết của Nhà nước .
Đẩy mạnh thực hiện cơ chế đấu thầu , đấu giá , thẩm định giá tăng cường
cônHH tác thanh tra , kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về giá theo quy định của

-----CÂU HỎI: HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
NHƯ THẾ NÀO?
 Câu trả lời hay nhất:  Thị trường lao động là một phạm trù kinh tế ­ xã hội, bao gồm 
một cơ chế xã hội tiến triển riêng biệt, thực hiện đồng bộ những quan hệ lao động xã 
hội xác định, thúc đẩy việc xác lập và tuân theo sự cân bằng các quyền lợi giữa người 
lao động và người sử dụng sức lao động đó. 
­Trong lý luận hàng hoá sức lao động có thể thấy C.Mác đã trình bày nguồn gốc, điều 
kiện xuất hiện hàng hoá sức lao động, làm rõ hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động
là giá trị hàng hoá sức lao động và giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động. Đặc biệt,
làm rõ giá trị sử dụng độc đáo của hàng hoá sức lao động, đó là khả năng tạo ra một 
giá trị lớn hơn giá trị bản thân khi được sử dụng vào quá trình sản xuất. C.Mác cũng đã
làm rõ tính chu kỳ trong quá trình phát triển nền sản xuất công nghiệp ảnh hưởng thế 
nào đến thị trường sức lao động. Thị trường sức lao động với quan hệ cung ­ cầu về 
lao động và giá cả sức lao động luôn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, 
theo đó cần có sự can thiệp của tổ chức Công đoàn và sự quản lý của nhà nước để 
bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Do vậy, việc tiếp tục nhận thức, vận dụng hợp 
lý lý luận hàng hóa sức lao động của Mác vào phát triển thị trường lao động là một vấn 
đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay. 
­Việc phát triển thị trường lao động nước ta trong thời gian qua đã thu được những 
thành quả nhất định, làm cơ sở cho việc hoàn thiện quan hệ lao động, phát triển kinh tế
­ xã hội. Nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề, trước hết cần phải khẳng định rằng nền kinh 
tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta đang xây dựng là giai đoạn phát triển cao 
Mai Thị Thảo

Page 18


của nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần. Chính sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu 
khác nhau về tư liệu sản xuất, chính yêu cầu phát triển đồng bộ các loại thị trường khác
nhau đã góp phần phân bổ hợp lý, nhanh chóng, có hiệu quả các nguồn lực trong nền 
kinh tế đã tạo điều kiện cho hàng hoá sức lao động và thị trường lao động. Về mặt phát
triển kinh tế, Việt Nam đang chuyển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên sản xuất hàng 
hoá XHCN, trong đó có vận dụng những thành tựu của sản xuất hàng hoá TBCN. Yếu 
tố cơ bản để phân biệt sản xuất hàng hoá TBCN với sản xuất hàng hoá theo định 
hướng XHCN là khả năng phát huy vai trò tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của
hàng hoá sức lao động. Đây là vấn đề then chốt trong việc vận dụng lý luận hàng hoá 
sức lao động của C.Mác để có thể xây dựng một quan hệ lao động trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN tốt đẹp hơn quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường 
TBCN. 
­Nền kinh tế thị trường ở nước ta vận động và phát triển gắn liền với quá trình CNH, 
HĐH. Vì vậy, khi vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động vào phát triển thị trường lao 
động cần phải quan tâm giải quyết vấn đề nguồn cung lao động chất lượng cao cho 
quá trình CNH, HĐH. Mặt khác, trong xu thế hội nhập quốc tếnền kinh tế thị trường ở 
các nước phát triển là hướng đến nền kinh tế tri thức. Đây là nền kinh tế đòi hỏi lao 
động trí tuệ cao, vì vậy, người lao động phải biết nắm bắt và xử lý thông tin nhanh 
nhạy, đặc biệt là trong những ngành công nghệ mới. Xu thế này của nền kinh tế thị 
trường đòi hỏi việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải đặc biệt quan tâm 
nhằm nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động. Tuy nhiên, quá trình nhận 
thức và vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vẫn còn những giới hạn 
nhất định, chưa đáp ứng được những yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng 
XHCN trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, cụ thể như: về giá trị sử dụng của hàng hoá
sức lao động còn thấp làm hạn chế phần nào sự cạnh tranh của nước ta trên thị trường
thế giới, giá trị hàng hoá sức lao động còn bất cập, chưa bao hàm hết những yếu tốt 
đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng sức lao động cho một bộ phận lớn những người 
làm công ăn lương. Hệ thống thông tin lao động, việc làm chưa được quản lý chặt chẽ. 
Hệ thống giáo dục ­ đào tạo chưa đủ khả năng cung ứng nguồn lao động chất lượng 
cao cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

----TẠI SAO NÓI SỨC LAO ĐỘNG LÀ HÀNG HOÁ ĐẶC BIỆT?????
 Câu trả lời hay nhất:  Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt. Tính chất đặc 
biệt của nó thể hiện ở 2 thuộc tính: 
­ Giá trị hàng hóa sức lao động mang tính chất tinh thần và lịch sử. 
­ Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động khi tiêu dùng nó lại thu được một lượng 
giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó cũng giống như hàng hóa khác, hàng hóa SLĐ có
2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. 
­ Giá trị của hàng hóa SLĐ cũng bằng lượng LĐ XH cần thiết để sx và tái sx ra nó. 
Nhưng việc sx và tái sx ra SLĐ phải đc thực hiện bằng cách tiêu dùng cho cá nhân. Vì 
vậy, lượng hàng hóa SLĐ bằng lượng giá trị những tư liệu cần thiết về vật chất và tinh 
thần để nuôi sống người công nhân và gia đình của họ cùng với chi phí đào tạo công 
nhân theo yêu cầu của sx. Giá trị hàng hóa SLĐ phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể 
của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. 
­ Giá trị sử dụng của hàng hóa SLĐ là công dụng của nó để thỏa mãn nhu cầu tiêu 
dùng SLĐ của nhà TB.Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa SLĐ khi đc sử dụng 
Mai Thị Thảo

Page 19


sẽ tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. Đó chính là nguồn gốc giá trị
thặng dư.

<<<<>>>>TẠI SAO NÓI QUY LUẬT SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ LÀ QUY
LUẬT KINH TẾ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN? ĐẶC DIỂM CỦA SẢN
XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY?
- Sản xuất giá trị thặng dư - Quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
Mỗi một phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phản ánh mối quan hệ
kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đó. Đối với sản xuất hàng hóa giản đơn, thì quy
luật kính tế cơ bản là quy luật giá trị, còn quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản là quy luật
giá trị thặng dư.
Thể hiện:
+ Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo
ra và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư
bản - quan hệ tư bản bóc lột lao dộng làm thuê. Giá trị thặng dư do lao động không công của
công nhân tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản.
+ Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà là sản xuất ra giá trị
thặng dư, là nhân giá trị lên. Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là mục đích và động cơ thúc đẩy sự
hoạt động của mỗi nhà tư bản, cũng như của toàn bộ xã hội tư bản. Nhà tư bản cố gắng sản xuất
ra hàng hoá với chất lượng tốt đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ vì nhà tư bản muốn thu được nhiều
giá trị thặng dư.
+ Sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa, mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản sử dụng để đạt được mục đích
như tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày
lao động, tăng năng suất lao động và mở rộng sản xuất.
Như vậy, quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Thực chất của
quy luật này là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách tăng cường bóc
lột lao động làm thuê. Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của
chủ nghĩa tư bản. Quy luật này quyết định toàn bộ sự vận động của chủ nghĩa tư bản, một mặt nó
là động lực thúc đẩy sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng, mặt khác lại làm tăng
mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
-

Đặc điểm của sản xuất, giá trị thặng dư trong giai đoạn hiện nay

+ Chế độ người bóc lột người chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định. Chủ nghĩa tư
bản ngày nay tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sở hữu, quản lý và phân phối để
thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của chủ nghĩa tư bản tư nhân
vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi. Nhà nước tư
sản hiện nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế và xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn
là bộ máy thống trị của giai ấp tư sản.
+ Hiện nay do trình độ đã đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấu tranh của giai cấp
công nhân, mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tư bản phát triển có mức sống
tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột.
Mai Thị Thảo

Page 20


Tuy nhiên, ngày nay sự tiến bộ của khoa học - công nghệ đã đưa đến sự biến đổi sâu sắc các yếu
tố sản xuất và bản thân quá trình sản xuất làm cho việc sản xuất ra giá trị thặng dư có những đặc
điểm mới:
Một là, do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi nên khối lượng giá trị thặng dư
được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động, ở đây, việc tăng năng suất lao động có đặc
điếm là chi phí lao động sống trong một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện dại thay
thế được nhiều lao động sống hơn. Đồng thời, do việc sử dụng máy móc hiện đại nên chi phí lao
động quá khứ trong một đơn vị sản phẩm cũng giảm xuống một cách tuyệt đối.
Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn. Do áp
dụng rộng rãi kỹ thuật và công nghệ hiện đại nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng lên và
thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp. Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động có trình độ
kỹ thuật cao mà ngày nay tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều.
Ba là, sự bóc lột của các nước tư bản phát triển trên phạm vi quốc tế ngày càng được mở rộng
dưới nhiều hình thức: xuất khẩu tư bản và hàng hoá, trao đổi không ngang giá... lợi nhuận siêu
ngạch mà các nước tư bản phát triển bòn rút từ các nước kém phát triển trong mấy chục năm qua
đã tăng lên gấp nhiều lần. Sự cách biệt giữa những nước giàu và những nước nghèo ngày càng
tăng và đang trở thành mâu thuẫn nổi bật trong thời đại ngày nay.

NƯỚC TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ ĐỊNH GIÁ VÀ CẠNH TRANH VỀ GIÁ
CỦA TỔ
<<<<>>>>NHẬN THỨC MỚI VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ
Theo đuổi giá trị thặng dư là động lực cao nhất và không có giới hạn của từng nhà tư
bản và cả nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nó thúc đẩy các nhà tư bản tìm nơi đầu tư có
lợi và thúc đẩy việc ứng dụng các thành tựu của tiến bộ khoa học công nghệ. Chính vì
vậy, C.Mác đã khẳng định: “Sản xuất giá trị thặng dư hay lợi nhuận là quy luật tuyệt đối
của
phương
thức
này”(
).
Học thuyết giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác, V.I.Lênin đã
chỉ rõ: “Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác”(2)
mà học thuyết kinh tế của Mác lại là nội dung chủ yếu của học thuyết của chủ nghĩa
Mác. Chính vì vậy, lý luận giá trị thặng dư từ khi ra đời đến nay đã bị nhiều quan điểm
phê phán, phủ định, đặc biệt là từ phía những người biện hộ và bảo vệ cho chủ nghĩa

bản.
Ngày nay ở các nước TBCN phát triển mức sống của đa số công nhân đã được nâng
cao hơn trước rất nhiều, không ít người lao động đã mua cổ phiếu, xuất hiện tầng lớp
trung lưu đông đảo…đã tạo điều kiện thực tiễn cho nhiều quan điểm phê phán học
thuyết giá trị thặng dư của C.Mác. Họ cho rằng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác chỉ
đúng trong thời đại công nghiệp cơ khí với lao động thủ công là chủ yếu là lao động thể
lực, sử dụng cơ bắp là chính, hàng hóa chỉ là hàng hóa vật thể, sản phẩm của các
nghành sản xuất vật chất nh¬ư công nghiệp, nông nghiệp… Ngày nay lao động trí tuệ,
lao động quản lý trở thành những hình thức lao động có vai trò lớn; khu vực dịch vụ,
các hàng hóa phi vật thể, vô hình chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế thì lý luận giá trị
thặng

của
C.Mác
không
còn
đúng
nữa.
Khi nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư tương đối ta thấy rõ nhờ ứng dụng tiến bộ kỹ
Mai Thị Thảo

Page 21


thuật, tăng sức sản xuất của lao động trư¬ớc hết trong những ngành sản xuất ra tư¬
liệu sản xuất để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, với độ dài ngày lao động không đổi, thời
gian lao động tất yếu rút ngắn lại, thời gian lao động thặng dư tăng lên, nhờ đó tăng
khối l¬ượng giá trị thặng dư tương đối, thậm chí còn có thể rút ngắn ngày lao động mà
vẫn thu được khối l¬ượng giá trị thặng dư nhiều hơn trước. Từ đó, đời sống của
ngư¬ời lao động được cải thiện, như¬ng mức độ bóc lột lao động không công lại tăng
hơn trước. C.Mác cũng đã từng dự báo, khoa học sẽ trở thành lực lựơng sản xuất trực
tiếp, nhờ khoa học kỹ thuật con ngư¬ời sẽ ngày càng được giải phóng khỏi những lĩnh
vực trực tiếp sản xuất mà sẽ làm chức năng điều khiển quá trình sản xuất.
Những dự báo đó đã được thời đại ngày nay xác nhận cùng với lao động thể lực, lao
động trí tuệ, lao động quản lý thì đều là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. Hiện tư¬ợng
người lao động có cổ phiếu, ngư¬ời lao động nhận đư¬ợc một phần giá trị thặng dư do
họ tạo ra thông qua chính sách xã hội của nhà nước là những hiện tượng vượt ra ngoài
quan hệ giữa tư¬ bản và lao động, mầm mống của những quan hệ kinh tế mới. Tuy
nhiên ngày nay những quan hệ đó vẫn chưa thể làm thay đổi bản chất của CNTB.
Trong xã hội tư bản hiện nay, theo đuổi lợi nhuận vẫn là mục tiêu và động lực của tư¬
bản vẫn thu được những khối lư¬ợng lợi nhuận khổng lồ là giá trị thặng dư¬ do lao
động
làm
thuê
tạo
ra.
Như vậy, dù đời sống công nhân ở các nước TBCN phát triển được nâng cao hơn
trrước rất nhiều, quan hệ bóc lột giá trị thặng dư vẫn còn tồn tại.
Trước đây, do đối lập một cách máy móc CNXH với CNTB đã thịnh hành một quan
điểm cho rằng trong CNXH, thậm chí cả trong thời kỳ qua độ lên CNXH, không còn kinh
tế hàng hóa, càng không còn kinh tế thị trường (trình độ phát triển cao của kinh tế
hàng hóa), do đó cũng không còn phạm trù giá trị và giá trị thặng dư.
Ngày nay, trải qua thực tiễn chúng ta càng nhận thức rõ rằng:
“ Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, mà là thành tựu phát triển của nền văn
minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi
CNXH
đã
được
xây
dựng
”(3).
Tồn tại sản xuất hàng hóa, tất nhiên còn tồn tại quy luật giá trị, từ đó lại nẩy sinh câu
hỏi “Vậy trong CNXH có còn phạm trù giá trị thặng dư không?”.
Trong “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”, C.Mác đã nhận định: xã hội trong giai đoạn thấp
của của chủ nghĩa cộng sản, hay còn gọi là CNXH, vừa thoát thai từ xã hội TBCN, là
một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết
của xã hội cũ mà nó lọt lòng ra”(4). V.I.Lênin cũng cho rằng: “chúng ta không thể hình
dung một thứ CNXH nào khác hơn là CNXH dựa trên tất cả những bài học mà nền văn
minh
lớn
của
CNTB
đã
thu
được”(5)
Một khi xã hội XHCN còn mang những dấu vết kinh tế của xã hội TBCN và kế thừa
những thành tựu của nền văn minh lớn mà CNTB đã thu được thì sự tồn tại sản xuất và
lưu thông hàng hóa là tất yếu. Trong xã hội này, mỗi người lao động vẫn còn lệ thuộc
vào sự phân công lao động xã hội, vẫn còn sự đối lập giữa lao động chân tay và lao
động động trí óc; lao động vẫn là phương tiện để sinh sống chứ chưa trở thành nhu cầu
bậc nhất của mỗi người, sức sản xuất của xã hội chưa đạt đến mức của cải tuôn ra dào
dạt để phân phối theo nhu cầu, nên vẫn phải đi con đường vòng thực hiện phân phối
thông
qua
trao
đổi
hàng
hóa.
Ở Việt Nam qua thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới, cùng với sự phát triển của các
thành phần kinh tế, tiềm lực kinh tế đất nước không ngừng tăng lên, đời sống nhân dân
được cải thiện đáng kể, đồng thuận xã hội tăng lên, an ninh chính trị ổn định, uy tín của
nước ta trên trường quốc tế tăng cao, nhân dân ta ngày càng phấn khởi, tin tưởng hơn
vào đường lối kinh tế của Đảng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và cơ hội thì
những khó khăn, những nguy cơ và thách thức vẫn còn nhiều. Điều đó cho thấy cần
Mai Thị Thảo

Page 22


phải quán triệt tốt hơn nữa tư tưởng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Và như vậy việc tồn tại thị trường hàng hóa sức lao động và vấn đề bóc
lột trong hoàn cảnh nước ta hiện nay đã được pháp luật và xã hội thừa nhận nó hiện
diện như một sự thật khách quan hiển nhiên.

~~~LÝ LUẬN TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN CỦA TƯ BẢN
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chúng giữa quá trình sản xuất và quá
trình lưu thông. Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng, là sự vận động của tư bản, nhờ
đó mà tư bản lớn lên và thu được giá trị thặng dư, cũng tức là sự tuần hoàn và chu
chuyển của tư bản.
a) Tuần hoàn của tư bản
Tư bản công nghiệp (với nghĩa các ngành sản xuất vật chất), trong quá trình tuần hoàn
đều vận động theo công thức:

Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản
xuất.
-Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông:
Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua tư liệu sản xuất và sức
lao động.
Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau:

Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn này là
mua các yếu tố cho quá trình sản xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.
Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất:

Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng
thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng
hóa là trong giá trị của nó có giá trị thặng dư. Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản
thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với mục đích của
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa.
-

Giai đoạn thứ ba - giai đoạn lưu thông:
H' - T'

Mai Thị Thảo

Page 23


Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là thực
hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một lượng giá
trị thặng dư. Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán
hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền.
Kết thúc giai đoạn thứ ba, tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. Đến đây,
mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong
tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước.
Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tinh tuần hoàn: tư
bản ứng ra dưới hình thái tiền và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái tiền có
kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình đó tiếp tục được lặp đi, lặp lại không ngừng gọi là
sự vận động tuần hoàn của tư bản.
Vậy, tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần
lượt mang ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồi lại quay
trở về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư.
Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành bình thường trong điều kiện các giai đoạn
khác nhau của nó không ngừng được chuyển tiếp. Mặc khác, tư bản phải nằm lại ở mỗi
gia đoạn tuần hoàn trong một thời gian nhất định. Hay nói cách khác, tuần hoàn của tư
bản chỉ tiến hành một cách bình thường khi hai điều kiện sau đây được thỏa mãn: một
là, các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục; hai là, các hình thái tư bản cùng tồn tại và
được chuyển hóa một cách đều đặn. Vì vậy, tư bản là một sự vận động tuần hoàn của
tư bản, là sư vận động liên tục không ngừng.
Phù hợp với ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản có ba hình thái của tư bản công nghiệp:
tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hóa.
Để tái sản xuất diễn ra một cách bình thường thì tư bản xã hội cũng như từng tư bản cá
biệt đều tồn tại cùng một lúc dưới cả ba hình thái. Ba hình thái của tư bản không phải là
ba loại tư bản khác nhau, mà là ba hình thái của một tư bản công nghiệp biểu hiện
trong quá trình vận động của nó. Song cũng trong quá trình vận động ấy đã chứa đựng
khả năng tách rời của ba hình thái tư bản. Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư
bản, khả năng tách rời đó đã làm xuất hiện tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay,
hình thành các tập đoàn khác trong giai cấp tư bản: chủ công nghiệp, nhà buôn, chủ
ngân hàng, v.v. chia nhau giá trị thặng dư.
Nghiên cứu tuần hoàn của tư bản là nghiên cứu mặt chất trong sự vận động của tư
bản, còn mặt lượng của sự vận động được nghiên cứu ở chu chuyển của tư bản.
b) Chu chuyển của tư bản
Sự tuần hòan của tư bản, nếu xét nó với tư cách là một quá trình định kỳ đổi mới và
thường xuyên lặp đi lặp lại thì gọi là chu chuyển của tư bản. Những tư bản khác nhau
chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời gian sản xuất và lưu thông của hàng
hóa. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu
thông.
- Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất.
Thời gian sản xuất bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và thời
gian dự trữ sản xuất. Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của
nhiều nhân tố như: tính chất của ngành sản xuất; quy mô hoặc chất lượng các sản

Mai Thị Thảo

Page 24


phẩm: sự tác động của quá trình tự nhiên đối với sản xuất; năng suất lao động và tình
trạng dự trữ các yếu tố sản xuất.
- Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Trong thời gian
lưu thông, tư bản không làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra hàng hóa,
cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông gồm có thời gian mua và
thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc các nhân tố sau
đây: thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát triển của vận
tải và giao thông.
Thời gian chu chuyển của tư bản càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng
dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Các loại tư bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì số vòng chu
chuyển không giống nhau. Để so sánh tốc độ vận động của các tư bản khác nhau,
người ta tính số vòng chu chuyển của các loại tư bản đó trong một thời gian nhất định.
Tốc độ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm.
Ta có công thức số vòng chu chuyển của tư bản như sau:
n = CH/ch
Trong đó: (n) lả số vòng (hay lần) chu chuyển của tư bản; (CH) là thời gian trong năm;
(ch) là thời gian cho 1 vòng chu chuyển của tư bản.
Ví dụ: Một tư bản có thời gian 1 vòng chu chuyển là 6 tháng thì tốc độ chu chuyển trong
năm là:
n = 12 tháng / 6 tháng = 2 vòng
Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian 1 vòng chu chuyển
của tư bản. Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và
thời gian lưu thông của nó.
c) Tư bản cố định và tư bản lưu động
Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển giống nhau. Căn cứ
vào phương thức chu chuyển khác nhau của từng bộ phận tư bản, người ta chia tư bản
sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động.
Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà
xưởng, v.v. về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó bị
khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra.
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và nó bị hao mòn dần
trong quá trình sản xuất. Có hai lại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:
Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về cơ học có thể nhận thấy. Hao
mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận
của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải được thay thế.
Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy về mặt giá trị. Hao mòn vô hình xảy ra ngay
cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn
hoặc có giá trị tương đương nhưng công suất cao hơn. Để tránh hao mòn vô hình, các
nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca kíp làm
việc, v.v. nhằm tận dụng công suất của máy móc trong thời gian càng ngắn càng tốt.

Mai Thị Thảo

Page 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×