Tải bản đầy đủ

Chủ nghĩa cấu trúc ở việt nam

Chủ nghĩa cấu trúc ở Việt Nam
PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh

2

Đối với văn học Việt Nam và văn học phương Đông nói chung, với tính chất điển phạm rất
cao, việc phân tích theo lối thi pháp cấu trúc có lẽ là điều thuận lợi. Những tổ chức thi pháp
như thơ Đường luật, tiểu thuyết chương hồi, ngâm khúc gây sự chú ý đối với bất cứ nhà thi
pháp học cấu trúc nào. Quan niệm của R.Jakobson về văn bản thơ như là sự tổ chức theo
chiều ngang (trục ngữ đoạn) các yếu tố tương đồng có thể lấy dẫn chứng trong thơ ca
phương Đông với mức độ dày đặc.

Cuốn Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học của PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh.

Trong Kiều, chẳng hạn:
- Làm cho, cho mệt, cho mê
Làm cho đau đớn, ê chề cho coi…(âm tiết: cho; từ: làm cho)
- Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông… (các phụ âm l)
Hay nguyên lý nhị phân được chủ nghĩa cấu trúc xem như cách tổ chức phổ biến đối với hiện
tượng tinh thần (phải - trái, chẵn - lẻ, âm - dương…) mà một trong những biến thể của nó là sự

song hành (parallélisme) trong cấu trúc văn bản thơ, do H.G.Hopking đề xuất và R.Jakobson
khảo chứng qua mọi nền thi ca, cũng có thể thấy rõ trong thơ trữ tình Việt Nam, rõ nhất là thơ ca
thời trung đại. Thể loại câu đối là bằng chứng rõ nhất. Tư duy đối lập, kết cấu đối xứng dường
như gây sức ép lên mọi nơi trong vương quốc thi ca, tạo nên đủ loại song hành tương đồng và
song hành đối lập, ở mọi cấp độ:
Chẳng hạn, vẫn trong Kiều, với song hành tương đồng:
- Gìn vàng/ giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây/ cuối trời…
- Trai anh hùng/ gái thuyền quyên…
- Vó câu khấp khểnh/ bánh xe gập ghềnh…


còn song hành đối lập:
- Sen tàn/ cúc lại nở hoa…
- Người ngoài cười nụ/ người trong khóc thầm…
- Người vào chung gối loan phòng
Kẻ ra tựa bóng đèn chong canh dài…
Cấu trúc tự sự của Truyện Kiều cũng là một tổ chức song hành độc đáo. Đó là sự đối lập trong
hành trình của hai nhân vật chính theo hai con đường trái ngược nhau:
Kiều đi từ không gian nhỏ, đóng kín (êm đềm trướng rủ màn che/ tường đông ong bướm đi về
mặc ai). Đấy cũng là không gian tròn đầy, trọn vẹn (vầng trăng vằng vặc giữa trời/ đinh ninh hai
miệng một lời song song, để sau này chỉ còn là những trăng tà, trăng xế, trăng xẻ nửa). Do một
biến cố, Kiều phải đi ra không gian lớn, không gian mở, không biết phía trước là gì (cũng liều
nhắm mắt đưa chân/ thử xem con tạo xoay vần đến đâu), không gian bị chia cắt, băm nát (vầng
trăng ai xẻ làm đôi; vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh). Kiều chết chính trong không gian
lưu đày này:
Cửa bồng vội mở rèm châu
Trời cao sông rộng một màu bao la
Trông vời con nước mênh mông
Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang
Trong một hành trình ngược lại, Từ Hải vốn là con người của không gian mở, không gian lớn,
lớn trong mắt Nguyễn Du, cả trong mắt Thúy Kiều:
- Triều đình riêng một góc trời
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà…
- Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm…
Từ Hải xuất hiện bất thình lình trong câu chuyện, không biết từ đâu đến, chỉ biết từ biên đình,
một vùng xa, tức là một không gian mở. Và Từ Hải, vì nghe lời Kiều, mà định “bó thân về với
triều đình”, “vào luồn ra cúi”… nghĩa là chấp nhận một không gian hẹp, bó buộc, ngột ngạt. Và
Từ Hải chết chính trong không gian đó:


Giữa vòng tên đạn bời bời
Giữa vòng là một không gian nhỏ hẹp, đóng kín. Truyện Kiều, như vậy, là một bi kịch: con người
không được sống trong không gian của mình, môi trường của mình, không thể định đoạt được số
phận mình.
Cấu trúc nhị nguyên khó nhận ra hơn trong văn học hiện đại và hậu hiện đại, cần phải có sự phân
tích vào bề sâu văn bản và luôn nhứ rằng một bài thơ, truyện kể không chỉ có một tổ chức nhị
nguyên mà rất nhiều tổ chức cấu trúc (đối lập, đối xứng) như vậy, trên mọi cấp độ. Ý nghĩa của
tác phẩm là kết quả sự tương tác của tất cả các tiểu cấu trúc này. Nhưng dù sao, sự phân tích cần
nhất vẫn là nhìn ra sự đối lập cơ bản.


Bài Nguyệt cầm của Xuân Diệu có cấu trúc đối lập: âm nhạc - thiên nhiên (một biến thể của cấu
trúc phổ quát hơn: văn hóa - thiên nhiên). Chúng ta hãy sắp xếp các yếu tố theo trục tương đồng:
ÂM NHẠC

THIÊN NHIÊN

dây cung

trăng ngần

đàn buồn

trời trong

đàn lặng

đêm thủy tinh

đàm chậm

thu lạnh

câu hát

bến Tầm Dương

đàn ghê như nước lạnh

biển pha lê

nhạc nhớ người

sương bạc

ánh nhạc

sao Khuê

sầu âm nhạc

mây vắng





Sự đối lập ở đây là đối lập mang tính thống nhất, không phải đối lập đàn áp, loại trừ. Thống nhất
giữa âm nhạc với thiên nhiên, văn hóa với tự nhiên, đó là hình mẫu của cái đẹp. Cái gì làm nên
sự thống nhất đó: cái buồn và cái sầu. Buồn và sầu không phải là những phạm trù “tiêu cực” như
quan niệm của các tín đồ chủ nghĩa hiện thực; buồn, sầu là cái đẹp của mỹ học lãng mạn chủ
nghĩa. “Trăng nhập vào giây cung nguyệt lạnh”. “Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê”. Mở đầu là
thiên nhiên hòa nhập vào âm nhạc, hoàn kết là âm nhạc nhập vào thiên nhiên, tự nhiên.
Nhiệm vụ của cuốn sách này không nhằm vào việc phân tích thi pháp các văn bản cụ thể, do đó,
ở đây chỉ nêu vắn tắt vài ví dụ ngẫu nhiên của văn học Việt Nam để bạn đọc, nhất là bạn đọc
trong nhà trường dễ hình dung phương pháp phân tích của chủ nghĩa cấu trúc đối với các tác
phẩm văn học. Ví dụ cuối cùng ở đây là về sơ đồ truyện ngắn Con gái thủy thần của Nguyễn
Huy Thiệp. Con gái thủy thần gồm 3 truyện: Truyện thứ nhất, Truyện thứ hai, Truyện thứ ba,
chúng không có tiêu đề riêng nghĩa là không tách biệt, chúng có một chủ đề chung: sự ra đi.
Lời đề từ cho truyện thứ nhất là bài hát cổ: Cái tình chi, mượn màu son phấn ra đi…; lời đề từ
cho truyện thứ ba là bài hát mới thơ Nguyễn Bính: Giang hồ sót lại mình tôi/ Quê người đắng
khói quê người cay men. Nhân vật chính (Chương) là người ra đi, ra đi với một ý nghĩ khắc
khoải, lặp đi lặp lại suốt thiên truyện: Ngày mai tôi đi ra biển; với một hành động bất chấp: Tôi
đi… Hôm qua mưa. Hôm nay nắng đẹp. Ngày mai nắng. Tôi là Chương. Tôi đi… Tôi muốn văng
tục! Tôi đi, tôi đang đi… Ở đây, hiểu theo khái niệm của Iu.Lotman, Chương là “nhân vật hành
động”, tức là nhân vật có khả năng vượt qua các không gian văn bản, từ hoàn cảnh này sang
hoàn cảnh khác. Con đường của nhân vật làm thành cốt truyện của văn bản; các nhân vật “phi
hành động” thì chỉ thuộc về một không gian nhất định, bản thân chúng chỉ là bối cảnh cho hoạt
động của nhân vật chính (cô Phượng ở ba truyện là nhân vật như vậy). Chỉ có riêng Chương,
trong suốt thiên truyện, luôn vang vọng một câu nói: “ngày mai tôi đi ra biển” và luôn ám ảnh
một hình tượng: “biển không có thủy thần”. Chương ra đi, rồi tiếp tục ra đi tìm lời đáp cho một
huyền thoại: “Con gái thủy thần, nàng là ai?”. Đây chính là một hành trình giải huyền thoại. Có
thể sơ đồ hóa cấu trúc như sau:


Truyện
thứ nhất

Truyện
thứ hai

Truyện
thứ ba

Thế giới → Thế giới → Thế giới → Biển
đầy
bán huyền
phi huyền
không có
huyền
thoại: màu
thoại: ăn
thủy
thoại,
sắc tôn
ngon, lời
thần
mộng mị
giáo
tâng bốc,
sex…
Làng Nổi
bên sông
Cái

Thị trấn
xứ Đạo

Thành
phố

Trở lại với nhiệm vụ chính của cuốn sách, đặt góc nhìn sử trình đối với việc tiếp nhận chủ nghĩa
cấu trúc ở Việt Nam, có thể thấy, thuyết cấu trúc đã từng được giới thiệu từ khá sớm, cách nay
tới ba chục năm, nghĩa là ngay khi nó đang được bàn luận sôi nổi nhất và ứng dụng rộng rãi
trong các lĩnh vực học thuật và tư tưởng ở phương Tây, đặc biệt tại Pháp. Người ta đã không tiếc
lời ca ngợi nó và ở một phía khác cũng không tiếc sức để phủ nhận nó. Tình trạng này cũng từng
diễn ra ở Liên Xô trước đó một chút, tức là khoảng giữa thập kỷ 60 của thế kỷ XX, nên trước khi
trực diện vào việc tiếp nhận ở Việt Nam, tôi muốn miêu thuật một số vấn đề cơ bản nảy sinh ở
Liên Xô cũ khi tiếp nhận lý thuyết này.
Ngay khi thuyết cấu trúc được du nhập, trên các tạp chí Những vấn đề văn học, Những vấn đề
triết học, Ngọn cờ,… đã nổ ra những cuộc tranh cãi sôi nổi về ý nghĩa của chủ nghĩa cấu trúc.
Tranh cãi nhiều lúc đã thành luận chiến. Tất nhiên những người đi theo "tư tưởng của khoa học
tư sản" phải bị phê phán và rút lui khỏi diễn đàn báo chí. Những công trình phân tích văn học của
họ, chẳng hạn như các tác phẩm thi pháp cấu trúc của Iu.Lotman đôi khi cũng được đánh giá
chiếu cố là "lý thú và hàm súc", song theo những người phê phán thì, "trong đó không có chủ
nghĩa cấu trúc theo nghĩa đen của từ, trừ một số lập luận có tính chất chung". Điều ấy tất nhiên là
không đúng, trong các cuộc tranh cãi kể trên, chính Iu.Lotman là người bảo vệ mạnh mẽ nhất
cho cái mà ông gọi là "khoa học về văn học", tức là thi pháp học cấu trúc. Từ bỏ diễn đàn không
có nghĩa là từ bỏ những tín niệm khoa học và nguyện vọng truyền bá nó. Iu.Lotman cùng nhóm
làm việc của ông ở trường Đại học Tổng hợp Tartu vẫn kiên trì với định hướng khoa học của
mình. Họ tổ chức được một loạt những hội nghị khoa học về các hệ thống ký hiệu, thực hiện
định kỳ hàng năm, gây được tiếng vang rộng rãi trong toàn Liên bang và được giới phê bình
quốc tế thừa nhận. Năm 1970, ở Moscow xuất hiện một công trình rất lạ mà trong lịch sử phê
bình cũng ít thấy: Chủ nghĩa cấu trúc “đồng tình" và "phản đối”. Cuốn sách chia làm hai phần,
phần đầu đăng những công trình tiêu biểu của các nhà phê bình cấu trúc như R.Barthes,
R.Jakobson, J.Mukarovski, Tz.Todorov,... phần hai là những bài phê phán chúng và phê phán chủ
nghĩa cấu trúc nói chung do các tác giả rất ít được biết đến viết. Những ai không sống trong khí
hậu văn hóa xã hội tương tự thời kỳ lịch sử đó sẽ rất khó hiểu dụng ý của người chủ trương cuốn
sách này. Thực chất đây là sự "cải trang" trước giới phê bình chính thống. Bằng cách đó, những
công trình tiêu biểu của các nhà cấu trúc luận phương Tây đã đến được với độc giả Liên Xô.
Thời gian đã ủng hộ Iu.Lotman cùng các đồng sự tài năng và nhiệt huyết của ông. Những tác
phẩm của Iu.Lotman giờ đây được coi là di sản quan trọng của văn hóa phê bình Nga và được
giới nghiên cứu phê bình quốc tế đánh giá cao. Trong cuốn Lý luận văn học thế kỷ XX(New York,


1997), K.M.Newton đánh giá Iu.Lotman thuộc vào những nhà ký hiệu học nghệ thuật lớn nhất,
cuốn sách Cấu trúc văn bản nghệ thuật ngôn từ của ông được xem như là "cuốn sách lớn của
thời đại".
Vấn đề giới thiệu chủ nghĩa cấu trúc ở Việt Nam có tình trạng vừa giống lại vừa khác với những
điều đã nói trên ở Liên Xô. Giống ở chỗ nó cũng bị giới phê bình chính thống dị ứng vì là thứ
"khoa học tư sản" cần bị phê phán nhưng khác ở chỗ ta không có những nhà khoa học như
Iu.Lotman và nhóm cộng sự của ông. Người Việt Nam dám dành đến giọt máu cuối cùng để cho
sự chính nghĩa của dân tộc, song ít có ai vét đến giọt mực cuối cùng để bảo vệ chính nghĩa của
khoa học, để tranh cãi một vấn đề khoa học cho đến đầu đến đũa. Tất nhiên vẫn có những ngoại
lệ, những nhà khoa học đơn độc mà Giáo sư Từ Chi và công trình Cơ cấu làng Việt cổ truyền ở
Bắc bộ (1984) là một ví dụ. Đây là một công trình có giá trị của khoa học xã hội nhân văn Việt
Nam viết theo tinh thần của cấu trúc luận. Ở công trình xuất sắc này, ảnh hưởng của nhân học
cấu trúc C.Lévi-Strauss tới Từ Chi có lẽ là không còn gì phải bàn cãi.
Ở miền Nam trước 1975, cũng có lúc chủ nghĩa cấu trúc được giới thiệu rộng rãi. Các tác giả
nhiệt tình với công việc này là Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Thiện Đạo. Những bài
viết lúc đó của Trần Thiện Đạo sau được tập hợp lại trong cuốn Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết
cấu trúc, cho đến nay cũng đã được tái bản vài lần. Đáng chú ý nhất là những bài viết của Trần
Thái Đỉnh trên tạp chí Bách khoa thời đại. Chủ nghĩa cấu trúc trong các khoa học nhân văn (chủ
yếu là ở Pháp) được ông thuật giải một cách khá mạch lạc. Tuy nhiên, ngay cả ở miền Nam lúc
đó, những tác phẩm của các nhà cấu trúc luận cũng được dịch rất ít, nên dù sao những trao đổi
cũng vẫn là giữa những nhà "tây học" với nhau. Hơn nữa nội dung trao đổi cũng vẫn sơ sài, nhất
là lĩnh vực lý thuyết văn chương.
Công trình này không nhằm phủ định hay ngợi ca thuyết cấu trúc mà là giới thiệu nó. Ở đây,
ngoài bài tiểu luận mở đầu, phần quan trọng của công trình là bản dịch những tác phẩm tiêu biểu
của các nhà cấu trúc luận. Tất nhiên, như tên cuốn sách đã nói rõ, nó chủ yếu chỉ giới hạn trong
phạm vi những điều có liên quan đến văn học. Thuyết cấu trúc như vậy phần nào sẽ hiện hữu
trong hình thức của chính bản thân nó. Độc giả sẽ tự mình đọc, suy ngẫm, rút ra kết luận và nếu
thấy hữu ích thì ứng dụng vào thực tế nghiên cứu và phê bình văn học, nhất là đối với văn học
nước nhà. Đấy cũng là tâm nguyện chủ yếu của tác giả công trình này. Hoặc chí ít thì cũng biết
được là có một xu hướng nghiên cứu, phê bình văn học như thế. Xin được nói phỏng theo lời
một triết nhân: “Tôi là nhà phê bình văn học, không có gì thuộc văn học lại xa lạ đối với tôi”.
Thế nhưng ở đây vẫn còn một vấn đề. Như ta biết chủ nghĩa cấu trúc từ khoảng cuối thập niên
80, đầu thập niên 90 của thế kỷ trước cho đến nay đã rơi vào khủng hoảng. Đã hình thành một xu
hướng gọi là hậu cấu trúc (poststructurlisim) như là sự "cải biên", hiệu chỉnh, thậm chí có những
điểm phủ định chủ nghĩa cấu trúc. Có nghĩa là chủ nghĩa cấu trúc đã bị vượt qua. Cần phải suy
nghĩ về điều này như thế nào, phải chăng bị vượt qua có nghĩa là không có giá trị? Phải chăng
khi vật lý học của A.Einstein ra đời thì vật lý học của I.Newton sẽ bị vứt bỏ? Không phải như
vậy! Vật lý học I.Newton vẫn đúng và hữu ích trong một phạm vi nhất định. Sự phủ định trong
khoa học là ở việc nhận ra giới hạn hoạt động của những quy luật được thấy trước đó, chứ không
phải bác bỏ sự tồn tại của nó. Nhiều công trình của các nhà cấu trúc học, nhất là những công
trình phân tích thực nghiệm văn bản đã trở thành kinh điển.
Thuyết cấu trúc không dễ hiểu, những công trình phân tích văn bản của các nhà cấu trúc luận gây
khó khăn thực sự cho những ai không nắm được những tri thức về ngôn ngữ học và ký hiệu học.
Đấy là chưa nói đến tri thức về những chuyên ngành cụ thể. Giới thiệu một lý thuyết như vậy,


người thực hiện hiểu rằng khó mà tránh được những khiếm khuyết. Chỉ có điều, trong khả năng
của mình, tôi đã gắng thực hiện công việc một cách tốt nhất để mang đến cho bạn đọc những
điều mình thu lượm được.
PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×