Tải bản đầy đủ

Hệ thống ngân hàng Việt Na sau 6 năm hội nhập

Hệ thống Ngân hàng Việt Nam sau 6 năm hội nhập
Sau 6 năm Việt Nam là thành viên của WTO, nền kinh tế đã đạt được những thành tựu
bước đầu. Môi trường và thể chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam (NHVN)
có những chuyển biến tích cực với những thành công đáng ghi nhận về khung điều tiết;
quản trị nội bộ; tổ chức bộ máy, chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển của các dịch
vụ ngân hàng hiện đại. Song đi sâu vào quá trình phát triển này cho thấy những bất cập
chưa có tiền lệ nảy sinh, hệ thống NHVN dễ bị tổn thương trước các biến động của môi
trường bên trong và bên ngoài. Kinh nghiệm của một số nước cho thấy hội nhập WTO là
động lực hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế, của ngân hàng nếu biết tận dụng có
hiệu quả cơ hội và điều chỉnh chính sách cho phù hợp với tiến trình hội nhập.
1. Hoạt động của hệ thống ngân hàng việt Nam sau 6 năm hội nhập

Nguồn: Báo cáo của một số NHTM qua các năm.
Sau 6 năm Việt Nam là thành viên của WTO, việc thực hiện các cam kết về tài chính –
ngân hàng đã có tác động rất mạnh đến hệ thống NHVN.
Những tác động tích cực
NHVN vẫn là một kênh đáp ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, đóng góp không nhỏ vào
mức tăng GDP hàng năm. Khi tham gia sâu vào hội nhập, cạnh tranh đã thực sự là động
lực to lớn cho cải cách, đổi mới mạnh mẽ trong hoạt động ngân hàng. Chính sự cạnh
tranh này đã tác động đến quản trị nội bộ và văn hóa rủi ro của ngân hàng theo hướng
minh bạch hơn, tin cậy hơn, đặc biệt khi 4 ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước i

thực hiện cổ phần hóa, chuyển sang hoạt động theo mô hình cổ phần (CP). Việc nâng cao
năng lực tài chính, tăng vốn chủ sở hữu, duy trì hệ số an toàn vốn tối thiểu, đầu tư công
nghệ, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, mở các chi nhánh ở nước ngoài… để
phục vụ tốt hơn, hiệu quả hơn khách hàng cả trong và ngoài nước đều được các NHTM
quan tâm và thực hiện bằng những biện pháp khác nhau.
Các NHTM CP cũng có sự bứt phá trong việc tăng năng lực tài chính thông qua việc góp
vốn của các cổ đông chiến lược trong, ngoài nước. Trước hội nhập, chỉ có 6 NHTM CPii
có nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tham gia, nhưng sau 6 năm hội nhập, đã có thêm 17


NHTM có nhà đầu tư nước ngoài góp vốn. Một số NHTM có số vốn góp của nhà đầu tư
chiến lược nước ngoài chiếm tới 20- 30% như VietinBank,VCB, VIB iii …
Việc áp dụng các mô thức quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế; triển khai hệ
thống kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ; sắp xếp lại mô hình theo khối, tách bạch
khối quản lý rủi ro theo ba vòng kiểm soát, coi trọng đầy đủ các loại rủi ro trong ngân
hàng, cấu trúc lại các công ty con, cùng với việc đưa ra một số tiêu chí bước đầu phục vụ
cảnh báo sớm rủi ro kinh doanh ngân hàng…là những kết quả đáng ghi nhận. Nó không
chỉ là sự đòi hỏi khách quan của mỗi NHTM hướng đến sự phát triển ổn định, mà còn là
đòi hỏi của nền kinh tế, của khách hàng.
Để quản lý, giám sát hoạt động của hệ thống NHVN thì các văn bản luật, cơ chế, chính
sách của các Bộ/Ngành trong thời gian qua hầu như đã phủ kín các hoạt động chính của
ngân hàng, tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động. Chính điều này đã góp phần to lớn
vào việc duy trì sự phát triển của nền kinh tế, của doanh nghiệp (DN), cải thiện đời sống
của dân cư, góp phần đưa Việt Nam ra khỏi danh sách nước có thu nhập thấp vào năm
2009.
Một số tác động tiêu cực

Tăng trưởng tín dụng từ năm 2008 đến 2012. Nguồn:
NHNN.
Một
là,
gia
tăng
rủi
ro
hệ
thống
Kể từ cuối năm 2008 đến nay, nền kinh tế phải đối mặt với một số bất cập. Đó là chất
lượng tăng trưởng không cao, năng suất và hiệu quả đầu tư thấp, sức cạnh tranh của nền
kinh tế yếu, kết cấu hạ tầng trở thành điểm ngẽn của nền kinh tế. Lạm phát lên xuống thất


thườngiv, sau năm 2007, tăng trưởng kinh tế giảm xuống dưới mức tiềm năng, năm 2012
là 5,03%. Trong bối cảnh kinh tế suy giảm, các chính sách kinh tế – tài chính – ngân hàng
được điều chỉnh theo hướng kiểm soát được lạm phát, nhưng lại ảnh hưởng đến hoạt
động của các tổ chức tài chính. Tính chủ động và tiên liệu trong đầu tư, kinh doanh thấp.
Điều này đã tác động lớn đến sự ổn định của hệ thống, làm cho rủi ro và mức độ tổn
thương của hệ thống ngân hàng ở một số khía cạnh.


Thời gian qua, mặc dù tín dụng giảm mạnh, năm 2012, con số này là 8,91%; 6 tháng đầu
năm 2013 tín dụng mới chỉ tăng 3,31%v so với chỉ tiêu cả năm là 12%. Kinh tế suy giảm,
chính sách tài chính, tiền tệ thực hiện theo hướng thắt chặt, nhưng chất lượng tín dụng bị
giảm sút, biểu hiện rõ nhất là nợ xấu, nợ quá hạn tăng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
thực trạng này, ngoài nguyên nhân bất ổn kinh tế tác động, thì phải kể đến một số nguyên
nhân từ chính các NHTM, như cho vay chưa thực sự gắn với năng lực quản lý và sử dụng
vốn vay… Một số khách hàng có dư nợ tín dụng lớn, nhưng sử dụng vốn kém hiệu quả,
trong khi nhiều DNVVN kinh doanh hiệu quả hơn, lại thiếu vốn sản xuất kinh doanh,
phải thu hẹp sản xuất,…Dẫn đến nhiều khách hàng không trả được nợ ngân hàng. Mặt
khác, nợ xấu tăng trong thời gian qua cũng gắn với cho vay bất động sản (BĐS), trong
khi vốn huy động chủ yếu ngắn hạn và không kỳ hạn, nhưng cho vay trung và dài hạn
thường chiếm tỷ lệ cao (40 -50%), trong đó có ngân hàng tỷ lệ này lên tới 60%-70%. Như
vậy rủi ro tín dụng, rủi ro kỳ hạn là điều khó tránh khỏi.
Hai là, rủi ro do suy giảm niềm tin
Lạm phát tăng đã kéo theo lãi suất huy động và cho vay tăng (lãi suất cho vay khoảng
20%- 25%/năm ở một số thời điểm), lãi suất trên thị trường 1 và 2 tăng cao trong giai
đoạn 2008–2011. Điều này cho thấy một số NHTM thực sự khó khăn về thanh khoản ở
giai đoàn này. Tình trạng NHTM yếu kém lại dẫn dắt thị trường, buộc các NHTM có tình
hình tài chính lành mạnh phải theo, nếu không muốn mất khách hàng và giảm thị phần.
Do kinh tế suy thoái, sản xuất kinh doanh giảm sút, hàng tồn kho tăng cao, cầu có khả
năng thanh toán yếu, nên phải sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệp trực tiếp
vào hoạt động ngân hàng, nhưng can thiệp bao lâu, ở mức nào… sau đó nhanh chóng
chuyển sang các biện pháp kinh tế là vấn đề cần được rút kinh nghiệm. Việc lạm dụng tác
động tức thì của biện pháp hành chính đã tạo ra việc lách quy định từ phía các NHTM ở
một số lĩnh vực: tiền gửi, tiền vay, phái sinh lãi suất, tỷ giá… Điều này không chỉ tạo ra
sự lơi lỏng trong kỷ luật tài chính, mà còn khó khăn cho NHNN trong việc giảm lãi suất
cho vay. Năm 2012 đến nay, NHNN đã 8 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất huy động,
nhưng lúc này, công cụ lãi suất hầu như tác động chưa nhiều đến đầu tư. DN thiếu vốn
cũng chưa muốn vay ngân hàng, ngân hàng “nhìn” DN đôi khi cũng thiếu thiện cảm. Hậu
quả là DN vay vốn không trả được nợ đúng hạn lại “bất hợp tác” trong việc thực hiện
nghĩa vụ nợ. Ngân hàng cũng không dám tin vào DN, nên cho vay buộc phải có bảo đảm
bằng tài sản. Đây là những lỗ hổng lớn do suy giảm niềm tin gây ra.
Vài năm gần đây, các cơn “sốt” nóng, lạnh về BĐS, chứng khoán, xăng dầu,… là những
“minh chứng rõ nét về sự méo mó của thị trường trong việc phân bổ nguồn vốn đầu
tư”vi.Thị trường chứng khoán biến động thất thường không hẳn do kết quả sản xuất kinh
doanh của các DN niêm yết kém, mà chủ yếu chịu tác động bởi yếu tố tài chính hành vi.
Thị trường BĐS phụ thuộc không nhỏ vào yếu tố cung cầu tín dụng. Khi thị trường BĐS
hưng thịnh thì vai trò của NHTM rất lớn, khi thị trường BĐS đóng băng, thì một trong
những nguyên nhân sâu xa cũng từ NHTM. Thị trường tài chính bất ổn, nền kinh tế
không ổn định, thì hệ thống ngân hàng cũng bất ổn. Khắc phục tình trạng này, không có
cách nào khác là phải đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu NHTM.


Tóm lại: Sau 6 năm hệ thống NHVN hội nhập, một mặt chỉ ra những thành tựu và những
hạn chế, nhưng mặt khác quan trọng hơn là giúp mỗi ngân hàng nhận thức rõ những cái
mất bên cạnh cái được mang tính ngắn hạn, để có động cơ quyết liệt hơn trong việc tái cơ
cấu, nâng cao chất lượng quản trị DN, nhằm thích ứng với quá trình hội nhập, tạo nền
tảng góp phần đẩy nhanh việc áp dụng các thông lệ tốt nhất trong quản lý hoạt động ngân
hàng.
2. Kinh nghiệm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng của một số nước sau hội nhập

Tăng trưởng GDP của một số nước.
Tham khảo kinh nghiệm của một số nước trong khu vực sau khi là thành viên của WTO
(Thái Lan, Malaysia, Philipin…), các quốc gia này cũng trải qua cuộc khủng hoảng tài
chính vào năm 1997, do chính họ gây nên. Đầu tiên là Thái Lan, sau đó bùng phát ở hàng
loạt Quốc gia khác. Nguyên nhân chính cũng được xem từ sự yếu kém của hệ thống ngân
hàng do nợ xấu tăng cao, một số NHTM mất khả năng thanh toán, thị trường tài chính bất
ổn, các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn về nước. Nhưng họ đã nhanh chóng khắc phục
bằng những chính sách, biện pháp và được triển khai quyết liệt như: (i) Cải cách thể chế
pháp luật: rà soát lại toàn bộ văn bản pháp luật, cơ chế chính sách có liên quan đến hoạt
động của hệ thống ngân hàng theo hướng thị trường, triển khai kịp thời và giám sát chặt
chẽ khâu thực hiện, giảm bớt các rào cản tham gia thị trường của các thành phần kinh tế,
kể cả yếu tố nước ngoài.(ii) Phân loại các TCTD để có biện pháp xử lý cụ thể, đối với các
NHTM yếu kém, bằng cách sáp nhập, mua lại, giải thể…đi đôi với xử lý nợ xấu bằng
nhiều biện pháp (từ dự phòng rủi ro; cơ cấu lại nợ, bán nợ cho công ty mua bán nợ quốc
gia; xử lý TSBĐ…); (iii) Cải cách hoạt động của Ngân hàng TW, đặc biệt nhấn mạnh tính
độc lập trong quá trình ban hành cơ chế chính sách, giảm các thủ tục phiền hà trong quá
trình ra quyết định, nhằm nâng cao chất lượng của các quyết định. Minh bạch trong quá
trình vận hành, tăng quyền lực giám sát của NHTW đối với các TCTD. Các biện pháp và
chính sách đưa ra đồng bộ, kịp thời không chỉ giúp các quốc gia này vượt qua được
khủng hoảng năm 1997, kinh tế phục hồi và tiếp tục tăng trưởng ổn định, lành mạnh hóa
hệ thống ngân hàng và họ đã giảm được tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính
toàn cầu năm 2008 đến quốc gia họ.


Trong một quốc gia, nếu không có tăng trưởng kinh tế thì không có sự phát triển. Tăng
trưởng kinh tế nhưng phải bền vững mới thực sự có ý nghĩa. Nhìn vào biểu đồ trên, năm
2008, 2009, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cao hơn Thái lan, Malaixia, Indonexia.
Nhưng năm 2012, tăng GDP của Việt Nam đang ở mức thấp so với Trung Quốc, Lào,
Thái lan, Malaixia, Indonexia. Vì thế, có thể thấy, hệ thống NHVN nói riêng, nền kinh tế
nói chung chưa tận dụng tối đa các cơ hội do hội nhập mang lại.
3. Một số khuyến nghị về cơ chế chính sách và giải pháp
Một là, nâng cao năng lực thể chế, rà soát các cơ chế chính sách theo hướng thị trường,
tạo môi trường cho hệ thống ngân hàng và DN hoạt động. Cụ thể: Khung pháp lý về
thành lập ngân hàng theo hướng tốt nhất; sửa đổi, bổ sung Luật phá sản cho phù hợp với
lộ trình hội nhập; cho phép ngân hàng được phép tịch biên tài sản nếu DN cố tình trây ì
trả nợ; nhanh chóng áp dụng các chuẩn mực về phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro
theo thông lệ quốc tế; rà soát vốn thực có của các NHTM để giám sát tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu, thực hiện quản trị rủi ro theo Basel II…
Những văn bản này phải được điều chỉnh phù hợp với lộ trình cam kết quốc tế về lĩnh
vực ngân hàng và phải tương đối ổn định để các NHTM chủ động và tiên liệu được
những rủi ro nảy sinh khi thay đổi chính sách. Mặt khác, thông qua chức năng vai trò của
nhà nước trong việc điều tiết khắc phục những khuyết tật của thị trường theo hướng tạo
môi trường lành mạnh cho các ngân hàng hoạt động theo luật, không bao cấp cho
NHTM, nhưng cũng không nên tạo ra những rủi ro cho ngân hàng bằng cơ chế chính sách
hay các mệnh lệnh hành chính; sử dụng cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm cho các ngân
hàng tham gia thị trường tuân thủ “luật chơi” đã qui định. Đây là cơ sở quan trọng nhất
đảm bảo cho nền kinh tế và hệ thống NHVN phát triển bền vững và hội nhập hiệu quả.
Hai là, đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc hệ thống NHVN. Đối với các NHTM CP yếu
kém, cần thực hiện sáp nhập, hợp nhất, mua lại…NHNN cần đưa ra những tiêu chí và lộ
trình cụ thể cần đạt được sau tái cấu trúc (về vốn, trình độ quản trị, công nghệ thông tin,
mức độ an toàn vốn, tính minh bạch). Đối với các NHTM CP Nhà nước, cần tiếp tục
giảm tỷ trọng phần vốn Nhà nước ở mức hợp lý, bằng việc cho phép nhà đầu tư nước
ngoài nâng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu tại mỗi ngân hàng lên 30% – 40% – 49% tùy theo qui
mô của từng ngân hàng. Giảm sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động ngân hàng, buộc
các ngân hàng phải minh bạch trong kinh doanh, chịu trách nhiệm về sự tồn tại và phát
triển của chính ngân hàng.
Hiện nay, để lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng trước hết và cần thiết phải giải quyết
triệt để nợ xấu. Xử lý nợ xấu phải trở thành một chương trình hành động Quốc gia, phải
có sự vào cuộc của hệ thống chính trị, sự chỉ đạo sát sao của NHNN, sự tham gia của
chính các NHTM. Vừa qua NHTM cơ cấu lại khoản nợ xấu cũng là một biện pháp để
giảm nợ xấu trước mắt. Nhưng nếu nền kinh tế vẫn tiếp tục khó khăn, DN được cơ cấu lại
nợ, được tiếp tục vay mới… sau đó lại không trả được nợ ngân hàng, thì nợ xấu ở những
giai đoạn tiếp theo sẽ tăng cao. Vì thế, việc thành lập Công ty quản lý tài sản quốc gia
(VAMC) cũng là một trong những giải pháp cần thiết, nhưng phải nhanh chóng triển khai
một cách hiệu quả. Một vấn khác, đó là quan hệ sở hữu vốn đan xen lẫn nhau, giữa
TCTD với các tổng công ty, tập đoàn kinh tế (sở hữu chéo).Chính điều này không dễ đưa


ra được con số chính xác về nợ xấu của hệ thống. Do đó, phải chỉ ra tận gốc của sở hữu
chéo, khoản sở hữu nào là hợp lý sở hữu nào là không hợp lý, nếu để dễ gây bất ổn hệ
thống và có biện pháp phù hợp mới có khả năng khơi thông tín dụng cho nền kinh tế.
Ba là, nâng cao văn hóa quản trị rủi ro và năng lực giám sát ngân hàng. Năng lực quản trị
ngân hàng là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân
hàng. Theo BIS, ngân hàng có cơ cấu quản trị DN vững mạnh là hết sức quan trọng vì
ngân hàng có vai trò cốt yếu trong nền kinh tế của mỗi Quốc gia và được coi là ngành
chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ nhất. Vì vậy, quản trị rủi ro cần phải làm rõ: chấp nhận
rủi ro đến đâu? Sự phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính của ngân
hàng cũng như chiến lược chung như thế nào?.v.v. Để thực hiện có hiệu quả những nội
dung này, mỗi ngân hàng phải nâng cao quản trị rủi ro nội bộ bằng cách kiểm tra sức
chịu đựng (stress test). Đây là công cụ quản trị rủi ro để đánh gía mức độ ảnh hướng đối
với giá trị danh mục tài sản của một hay nhiều sự kiện có thể được coi là ngọại lệ nhưng
vẫn có khả năng xảy ra. Stress Test giúp ngân hàng chủ động đối phó với tình huống xấu
nhất có thể xảy ra. Đây là công cụ khá hữu dụng được ngân hàng nhiều quốc gia áp dụng,
nhưng ở Việt Nam còn khá mới mẻ, vì thế, rất cần phải nghiên cứu và vận dụng một cách
hợp lý đối với mỗi NHVN.
Bốn là, xây dựng hệ thống thu thập dữ liệu đảm bảo thông tin cung cấp là tin cậy. Trong
hoạt động ngân hàng, không phải mọi thông tin đều có thể công bố công khai. Nhưng
càng minh bạch thông tin, đảm bảo tính cập nhật, độ chuẩn xác, sẽ càng củng cố được
niềm tin của dân cư. Chỉ khi có được hệ thống thông tin minh bạch sẽ giảm bớt được tin
đồn và khi năng lực bên trong của từng ngân hàng được cải tổ theo hướng chất lượng, uy
tín thực sự, thì lòng tin giữa các DN, giữa ngân hàng và DN sẽ tốt lên.
Như vậy, sau 6 năm tham gia vào “sân chơi toàn cầu” với “luật chơi” khắt khe hơn và
nhiều đối thủ mạnh hơn, bên cạnh những cơ hội, thì hệ thống NHVN cũng phải đối mặt
với bất ổn kinh tế trong, ngoài nước tác động. Vì vậy đổi mới mạnh mẽ hệ thống ngân
hàng phải được coi là yêu cầu cấp bách hướng tới sự phát triển bền vững./.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×