Tải bản đầy đủ

Khủng hoảng nợ công hy lạp

1. Tình hình Hy Lạp trước cuộc khủng hoảng
• Thực trạng khủng hoảng nợ công Hy Lạp
Điểm mạnh: Du lịch đóng góp 15% GDP và là nguồn thu ngoại tệ lớn
nhất. Các ngành kinh tế khác như ngân hàng, tài chính, viễn thông, sản xuất
các thiết bị công nghệ cao cũng phát triển mạnh tại Hy Lạp. Nước này cũng
có lợi thế về kinh tế biển với rất nhiều cảng nước sâu và một ngành công
nghiệp đóng tàu hùng mạnh.
• Tỷ lệ nợ công/GDP
Từ lúc bắt đầu tham gia sử dụng đồng tiền chung châu Âu vào giữa
năm 2001 cho đến năm 2010, Hy Lạp luôn vượt chỉ tiêu nợ công theo quy
định hiệp hội các nước thuộc khu vực đồng tiền chung Euro là 60%/GDP, có
lúc tỷ lệ nợ công của quốc gia này tăng lên 142,8% GDP vào năm 2010, nợ
chính phủ lên đến 329,6 tỷ Euro (năm 2010) vượt xa chỉ tiêu mà khu vực Euro
cho phép.
Bảng: Tỷ trọng nợ công/GDP của Hy Lạp

Nguồn: IMF Fiscal Monitor, April 2014
• Tỷ trọng nợ công của Hy Lạp
Rủi ro lớn nhất của Hy Lạp là nợ vay nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn, có thể
lên đến 80%. Tỷ lệ trái phiếu do nước ngoài nắm giữ khoảng 80% lượng trái
phiếu chính phủ phát hành. Chủ nợ phần lớn là các ngân hàng châu Âu.



Tính theo thời gian, với mức vay nợ như trên, Hy Lạp phải đối mặt với
khoản nợ đến hạn phải thanh toán 8,5 tỷ euro (tương đương 11,3 tỷ USD) trái
phiếu chính phủ vào ngày 19/5/2010. Chưa đến một năm, một đợt trả nợ kế
tiếp diễn ra vào tháng 3/2011, với số tiền 8,6 tỷ euro.
Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó, số nợ phải trả
trong năm 2010 là 16% tổng nợ.
• Thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài
Hy Lạp thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài, ngay từ khi
Hy Lạp gia nhập vào khu vực đồng tiền chung châu Âu, nhưng tình trạng
thâm hụt vẫn không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng. Sự thâm
hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp bắt nguồn từ sự thâm hụt thương mại của
nước này, cũng như tình trạng cán cân vãng lai, cán cân thương mại luôn
trong tình trạng thâm hụt.
Bảng: Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Hy Lạp

Nguồn: international-communist-party
• Tình trạng thâm hụt ngân sách
Tình trạng thâm hụt ngân sách của Hy Lạp ngày càng gia tăng, đặc biệt
là trong giai đoạn 2008-2009. Năm 2009, mức thâm hụt ngân sách là 15.2%
GDP vượt ngưỡng an toàn là 5% GDP và vượt mức cho phép của khu vực
đồng tiền chung là 3% GDP. Để bù đắp thâm hụt ngân sách, chính phủ Hy
Lạp đã vay nợ dưới nhiều hình thức.


Với tình trạng thâm hụt ngân sách như vậy, đến năm 2010, sau khi thực
hiện các biện pháp “thắt lưng buộc bụng” thì tình trạng thâm hụt của Hy Lạp
đã giảm xuống mức 11.2% GDP, tuy nhiên đây cũng còn là một con số khá
cao so với chỉ tiêu mà khu vực đồng tiền chung này đề ra.
Cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp bắt đầu vào tháng 12/2009 khi thủ tướng
mới của Đảng xã hội Hy Lạp, ông George A.Papandreou, thông báo rằng
người tiền nhiệm của ông đã che dấu tình trạng thâm hụt ngân sách khổng lồ
mà nước này đang mắc phải thâm hụt ngân sách chính phủ là 12,7% GDP, chứ
không phải mức 3,7% như chính phủ tiền nhiệm thông báo trước đó.
Bảng: Tỷ trọng thâm hụt ngân sách 2002-2016

Nguồn: European Commission, Eurostat
2. Diễn biến của cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp
2009: Hy Lạp bị hạ xếp hạng tín nhiệm


Cuộc khủng hoảng nợ bắt đầu vào tháng 12/2009 khi thủ tướng mới của
Đảng xã hội Hy Lạp, ông George A. Papandreou, thông báo rằng người tiền
nhiệm của ông đã che dấu tình trạng thâm hụt ngân sách khổng lồ mà nước
này đang mắc phải. Tháng 12/2009, hãng đánh giá tín dụng Fitch hạ xếp hạng
của Hy Lạp từ A- xuống BBB+.
2010: Hy Lạp chấp nhận thắt lưng buộc bụng
Tháng 3/2010, Chính phủ Hy Lạp thông qua gói chính sách thắt lưng
buộc bụng, gồm cắt giảm lương nhân viên nhà nước, ngừng trả lương hưu,
tăng thuế với thuốc lá, rượu và xăng dầu. Các công đoàn đã phản ứng rất
mạnh với tin tức này và tổ chức nhiều cuộc biểu tình trên khắp Athens.


Cuối tháng 3/2010, các nước sử dụng chung đồng euro đã đồng ý về
một giải pháp an toàn cho Hy Lạp. Theo đó, Hy Lạp sẽ nhận được các khoản
vay từ các quốc gia châu Âu và IMF. Vào ngày 11/4/2010, các nhà lãnh đạo
châu Âu thông báo hứa sẽ cho chính phủ Hy Lạp vay 30 tỉ $, cùng với khoản
vay 15 tỉ $ từ IMF, với mức lãi suất 5% - thấp hơn so với mức lãi suất 7,5%
mà Hy Lạp đang phải trả; tuy nhiên, nó cũng đủ lớn để các quan chức của
Đức cho rằng đó không phải là một sự trợ cấp hay giải cứu đối với Hy Lạp.
Cũng trong tháng 4/2010, ông Papandreou đã chính thức thỉnh cầu gói
cứu trợ trị giá 60 tỉ $ nhằm cứu con tàu kinh tế đang chìm dần. Giới đầu tư
quốc tế tiếp tục hạ thấp mức tín nhiệm của trái phiếu chính phủ Hy Lạp,
điều này
khiến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các đối tác của Hy Lạp ở châu Âu buộc
phải đứng ra cam kết một gói cứu trợ lớn hơn
Ngày 18/5/2010, Hy Lạp đã nhận được khoản vay đầu tiên trong gói
cứu trợ kéo dài 3 năm của 10 nước châu Âu trong đó có Đức và IFM nhằm
tránh khả năng phá sản. Gói cứu trợ kéo dài 3 năm này được đưa ra nhằm
giúp Hy Lạp không cần dựa vào thị trường tài chính cho tới cuối năm 2011 và
quý đầu của năm 2012.
2011: Hy Lạp được giảm nợ đáng kể
Tháng 10/2011, sau các cuộc đàm phán xuyên đêm, lãnh đạo các nước
châu Âu đã đồng ý giảm nợ cho Hy Lạp do nước này vẫn tiếp tục gặp rắc rối
tài chính. Các nhà đầu tư cá nhân sẽ chỉ được nhận 50% giá trị số trái phiếu
Hy Lạp họ đang giữ.
2012: Hy Lạp bị coi là vỡ nợ
Đầu tháng 3/2012, các chủ nợ tư nhân đồng ý hoán đổi 85% nợ cho Hy
Lạp, giúp cắt giảm khoảng 100 tỷ euro khỏi nghĩa vụ nợ của quốc gia này.
Ngay lập tức, ngày 9/3, Fitch và Moody’s đồng loạt hạ xếp hạng tín nhiệm
của Hy Lạp xuống vỡ nợ. Trước đó, vào ngày 28/2, Athens cũng bị Standard
& Poor’s xem là đã vỡ nợ một phần.
2014: Hy Lạp quay lại thị trường trái phiếu
Tháng 4/2014, Hy Lạp quay lại thị trường trái phiếu sau 4 năm vắng
bóng.
2015: Đảng Syriza thắng cử
Đảng phản đối cứu trợ - Syriza dẫn đầu bởi ông Alexis Tsipras đã giành
chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Hy Lạp tháng 1 năm 2015. Chính quyền
mới cam kết gỡ bỏ các biện pháp thắt lưng buộc bụng đang đè nặng lên Hy
Lạp


Tháng 2/2015, nhóm Bộ trưởng Tài chính các nước eurozone
(Eurogroup) đã chấp thuận gia hạn nợ thêm 4 tháng cho Hy Lạp, sau khi
chính phủ mới của nước này nộp đề xuất cải tổ ngay trước hạn chót. Các biện
pháp này gồm kiểm soát chi tiêu công, giảm tham nhũng và trốn thuế. Hy Lạp
sau đó không một hạn chót nào được đáp ứng từ 4/2015-6/2015.
Tháng 6/2015: Hy Lạp tiếp tục đàm phán nợ. Mấu chốt nằm ở hệ thống
lương hưu và thuế.Việc này sẽ khiến Athens gặp rắc rối trong việc thanh toán
1,5 tỷ euro cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày 30/6, và sau đó là ECB vào
tháng 7. Ngày 27/6, Thủ tướng Tsipras kêu gọi cuộc trưng cầu dân ý về các
biện pháp thắt lưng buộc bụng của nhóm chủ nợ. Sau khi tin tức này phát ra,
Eurogroup cũng từ chối bản kế hoạch gia hạn gói cứu trợ thêm một tháng mà
Athens đề xuất.Lo ngại hệ thống ngân hàng sụp đổ, người dân nước này đã đổ
xô rút tiền. Đầu tuần sau đó, Chính phủ Hy Lạp đã phải áp dụng các biện
pháp kiểm soát vốn, đóng cửa ngân hàng, thị trường chứng khoán, hạn chế rút
tiền mặt tại ATM và giao dịch nước ngoài.
1/7/2015: Hy Lạp bị tuyên bố vỡ nợ.
3. Nguyên nhân
Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp xuất phát từ nguyên nhân chính là
khả năng quản trị tài chính công yếu kém cùng với những khoản chi tiêu của
chính phủ quá lớn, vượt khả năng kiểm soát. Nhưng có thể phân định rõ 5
nhóm nguyên nhân chủ yếu:
Thứ nhất, tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài cho
chi tiêu công. Thập niên 90, tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân của Hy Lạp
chỉ ở mức 11%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như Bồ Đào
Nha, Ý, Tây Ban Nha và đang có xu hướng sụt giảm nhanh chóng. Do vậy,
đầu tư trong nước phụ thuộc khá nhiều vào các dòng vốn đến từ bên ngoài.
Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập liên minh châu Âu EU
(năm 1981) và làn sóng bán tháo trái phiếu từ dân chúng cho thấy Hy Lạp đã
để vuột khỏi tay một kênh huy động vốn sẵn có, buộc chính phủ Hy Lạp tăng
cường vay nợ tài trợ cho chi tiêu công.
Thứ hai, chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách. Tăng
trưởng GDP của Hy Lạp vẫn được ca ngợi với tốc độ tăng trung bình hàng
năm là 4,3% (2001 – 2007), cao hơn so với mức trung bình của khu vực
Eurozone là 3,1%. Tuy nhiên trong giai đoạn này, mức chi tiêu chính phủ tăng
87% trong khi mức thu của chính phủ chỉ tăng 31%, khiến cho ngân sách
thâm hụt vượt quá mức cho phép 3% GDP của EU.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi tiêu cho quản
lý công trong tổng số chi tiêu công của Hy Lạp năm 2004 đã cao hơn nhiều so
với các nước thành viên OECD khác trong khi chất lượng và số lượng dịch vụ
không được cải thiện nhiều. Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra


đã ảnh hưởng khá mạnh đến các ngành công nghiệp chủ chốt của Hy Lạp.
Ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đều sụt giảm trên 15% trong năm
2009. Kinh tế Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khó khăn, nguồn thu để tài trợ
cho ngân sách nhà nước bị co hẹp mạnh. Trong khi đó, Hy Lạp lại phải tăng
cường chi tiêu công để kích thích kinh tế. Tính đến tháng 01/2010, nợ công
của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế đạt mức 130%
GDP.
Sự già hóa dân số và hệ thống lương hưu vào loại hào phóng bậc nhất
khu vực châu Âu của Hy Lạp cũng được coi là một trong những gánh nặng
cho chi tiêu công. Ước tính tổng số tiền chi trả cho lương hưu khu vực công
của Hy Lạp sẽ tăng từ 11,5% GDP (2005) lên 24% (2050).
Thứ ba, nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm
hụt ngân sách và gia tăng nợ công. Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Hy
Lạp là nhân tố làm giảm nguồn thu ngân sách. Theo đánh giá của WB, kinh tế
không chính thức ở Hy Lạp chiếm tới 25 - 30% GDP(so với mức 15,6% GDP
của Việt Nam; 13,1% GDP của Trung Quốc và Singapore; 11,3% GDP của
Nhật Bản). Hệ thống thuế với nhiều mức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng
với
sự điều tiết dư thừa và thiếu hiệu quả của cơ quan quản lý cũng là nguyên nhân
dẫn đến tình trạng trốn thuế và kinh tế ngầm phát triển ở Hy Lạp.
Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Hy Lạp là một trong những nước có
tỷ lệ tham nhũng cao nhất trong EU. Năm 2008, hơn 13% người Hy Lạp đã
chi tới 750 triệu EUR tiền phong bì cho các lãnh đạo khu vực công và khu
vực tư, trong đó có bác sĩ là những người đòi nhiều tiền hơn cho các cuộc
phẫu thuật; các nhà quy hoạch thành phố và các quan chức ở địa phương cũng
liên quan đến những vụ việc nhận hối lộ... Thủ tướng Hy Lạp George
Papandreou thừa nhận, “tham nhũng mang tính hệ thống” là vấn đề cơ bản
nhất dẫn đến tình trạng nợ công Hy Lạp. Thiệt hại mà tham nhũng gây ra cho
Hy Lạp ước tính vào khoảng 8% GDP. Tham nhũng không chỉ gây ra tình
trạng trốn thuế, nó còn làm tăng chi tiêu chính phủ, nhắm tới duy trì mức
lương cao cho công chức và thực hiện các dự án có vốn đầu tư lớn thay vì
nhắm vào các dự án tạo ra nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động.
Mức lương cao không chỉ tạo ra gánh nặng ngân sách mà còn làm cho tính
cạnh tranh của nền kinh tế Hy Lạp yếu đi. Lương cao, đồng euro tăng giá từ
mức 1 euro đổi hơn 0,8 USD lên đến 1 euro đổi 1,6 USD trong suốt giai đoạn
từ 2000-2008 khiến sức cạnh tranh của hàng hóa Hy Lạp yếu và hệ quả tất
yếu là một cán cân thương mại thâm hụt triền miên.
Thứ tư, sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngoài và việc sử
dụng nguồn vốn không hiệu quả. Bên cạnh đó, việc gia nhập Eurozone năm
2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế với
việc sử dụng một đồng tiền được những nền kinh tế lớn như Đức và Pháp bảo
đảm cùng với sự quản lý chính sách tiền tệ của Ngân hàng TW châu Âu


(ECB). Nhờ việc gia nhập Eurozone, Hy Lạp nghiễm nhiên có được hình ảnh
ổn định cao và chắc chắn trong mắt các nhà đầu tư, dễ dàng thu hút vốn đầu
tư nước ngoài với mức lãi suất thấp. Gần một thập kỷ qua, Chính phủ Hy Lạp
liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm tỷ USD. Số tiền này lẽ ra có thể
giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính phủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý. Tuy
nhiên, chính phủ Hy Lạp đã chi tiêu quá tay (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) mà
hầu như không quan tâm đến các kế hoạch trả nợ.
Thứ năm, sự thiếu tính minh bạch của Chính phủ và niềm tin của các
nhà đầu tư. Sự thiếu minh bạch trong số liệu thống kê của Hy Lạp đã làm mất
niềm tin của các nhà đầu tư mà quốc gia này đã tạo dựng được với tư cách là
một thành viên của Eurozone và nhanh chóng xuất hiện các làn sóng rút vốn ồ
ạt khỏi các ngân hàng của Hy Lạp, đẩy quốc gia này vào tình trạng khó khăn
trong việc huy động vốn trên thị trường vốn quốc tế.
4. Tác động của khủng hoảng nợ công Hy Lạp
• Đối với Hy Lạp
Xếp hạng tín dụng
Xếp hạng tín nhiệm là việc đánh giá mức độ tin cậy và sẵn sàng trả các
khoản nợ của cá nhân, doanh nghiệp hay chính phủ theo các điều khoản vay
mượn. Ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín nhất thế giới bao gồm: Moody’s,
Standard & Poor’s và Fitch lần lượt tiến hành hạ định mức đánh giá đối với
Hy Lạp xuống mức thấp nhất trên bảng xếp hạng của mình. Việc xếp hạng tín
nhiệm có ý nghĩa quan trọng vì đây là kênh thông tin để các nhà đầu tư quyết
định nên đầu tư hay đầu cơ hay không đầu tư trên thị trường đó.
− Tổ chức Moody’s
Ngày 15/06/2010, Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody’s đã hạ 4 bậc xếp
hạng tín dụng của Hy Lạp xuống mức không đầu tư và cảnh báo.
Theo hãng tin Bloomberg, xếp hạng tín dụng của Hy Lạp bị hạ xuống
mức BA1 từ mức A3. Trong tuyên bố xếp hạng tín dụng, Moody’s đã nhiều
lần nhắc đến những rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế bởi những biện pháp
thắt chặt ngân sách liên quan đến gói giải cứu 110 tỷ EUR (136 tỷ USD).
Ngày 25/7/2011, tổ chức định mức tín nhiệm Moody’s đã hạ tiếp 3 bậc
xếp hạng trái phiếu phát hành bằng ngoại tệ và nội tệ của Hy Lạp từ CAA1
xuống CA.
Tháng 3/2012, Moody’s đã tiếp tục đánh tụt bậc xếp hạng tín nhiệm dài
hạn của Hy Lạp từ mức CA xuống mức C.
-

Tổ chức Fitch

Vào 14/7/2011, hãng xếp hạng Fitch đã hạ 3 bậc đối với mức tín dụng
của Hy Lạp từ B+ xuống CCC thấp nhất trong thang xếp hạng của Fitch. Lý


giải cho việc này, Fitch cho rằng các chương trình tài trợ mà các tổ chức tài
chính quốc tế dành cho Hy Lạp chỉ đơn thuần là tài chính chứ không đưa ra
những giải pháp đầy đủ và đáng tin cậy.
Cũng theo Fitch, vai trò của khu vực tư nhân trong các chương trình cải
cách tại Hy Lạp cũng chưa thực sự rõ ràng trong khi triển vọng kinh tế vĩ mô
không lấy làm chắc chắn. Chính vì vậy, mức xếp hạng CCC (cận kề phá sản)
mới được đưa ra.
− Tổ chức Standard& Poor’s (S&P)
Vào ngày 28/07/2011, Standard & Poor’s (S&P) nhận định rằng Hy
Lạp sẽ phá sản một phần sau khi các quan chức châu Âu thúc đẩy kế hoạch tái
cơ cấu nợ trong gói cứu trợ 2. Chính vì vậy, S&P đã hạ tiếp hạng tín dụng của
Hy Lạp từ CCC xuống CC chỉ trên mức vỡ nợ 2 bậc với đánh giá triển vọng
tiêu cực.
S&P cho biết, việc cơ cấu lại nợ của Chính phủ của Hy Lạp có thể nói
là một trao đổi gây ra hậu quả tiêu cực vì nó có nguy cơ gây thiệt hại cho chủ
nợ.
Đến ngày 28/02/2012, S&P đã hạ mức tín nhiệm dài hạn CC và ngắn
hạn C của Hy Lạp xuống mức “vỡ nợ một phần”(SD) sau khi quốc gia nợ nần
chồng chất này bắt đầu kế hoạch hoán đổi trái phiếu nhằm giảm nhẹ gánh nợ.
Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng
Từ năm 1998 đến năm 2011, Trái phiếu Chính phủ Hy Lạp có lãi trung
bình 5,21%. Lần đầu tiên kể từ khi Hy Lạp gia nhập Eurozone, ngày
08/04/2010 lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của nước này vọt lên
mức 7,5%, sau đó vài tháng mức lãi suất đạt mức cao kỷ lục 11,39% trong
tháng 12 năm 2010. Lãi suất trái phiếu của Hy Lạp tăng cao vì khủng hoảng
nợ công, cán cân ngân sách thâm hụt, do đó Chính phủ cần huy động vốn để
trả nợ buộc phải phát hành trái phiếu.


Cắt giảm chi tiêu
Đứng trước nguy cơ vỡ nợ trong cuộc khủng hoảng nợ công trầm trọng
lúc đó, Chính phủ Hy Lạp buộc phải đưa ra nhiều biện pháp “thắt lưng, buộc
bụng” để thắt chặt chi tiêu như tăng các loại thuế nhằm cải thiện tình hình,
đây cũng là điều kiện để nhận được các khoản cứu trợ đến từ ECB, IMF và
các tổ chức khác, mặc dù các chính sách mà theo các chuyên gia thì các chính
sách sẽ khiến cho cuộc sống của người dân trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Cụ thể, EU và IMF đã phải đưa ra một gói cứu trợ trị giá 110 tỷ euro đi
kèm với các điều kiện ràng buộc Hy Lạp phải cắt bỏ nhiều khoản lương
thưởng đối với công nhân, không tăng lương chính phủ trong vòng 3 năm,
thuế giá trị gia tăng tăng từ 21% lên 23%. Ngoài ra, chính phủ phải nâng tuổi
nghỉ hưu từ 60 lên 65 đối với nam và 55 lên 60 đối với lao động nữ.
Đầu tư trực tiếp FDI
Chính phủ Hy Lạp thực hiện những biện pháp thắt lưng buộc bụng
nhằm đảm bảo cam kết giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ Hy Lạp để
nhận được sự trợ giúp từ EU và IMF. Vì thực hiện chính sách giảm chi tiêu,
tăng thuế nên dẫn đến tình hình đầu tư FDI vào Hy Lạp giảm mạnh.
Tốc độ tăng trưởng GDP giảm
Hy Lạp đã quản lý để đạt được một nền kinh tế phát triển nhanh chóng
sau khi thực hiện chính sách ổn định kinh tế, ít nhất trước cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009.


Từ năm 1998 đến năm 2008, GDP tăng dần qua các năm và đạt mức
cao nhất vào tháng 12 năm 2008 với 355.88 tỷ $.
Cuối năm 2009, khi khủng hoảng nợ công xảy ra làm cho các nhà đầu
tư lo ngại về khả năng trả nợ của Hy Lạp và họ ồ ạt rút vốn ra khỏi thị trường
Hy Lạp nên GDP giảm xuống còn 330 tỉ.
Từ năm 2007 đến năm 2010, bình quân GDP hàng năm của Hy Lạp
giảm dần và kỷ lục ở mức thấp nhất -6.6% trong tháng 12 năm 2010. Lương
công chức và lương hưu giảm 15%.
Thất nghiệp gia tăng
Từ năm 1983 đến năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp của Hy Lạp trung bình
9,43%; ngày 17/6/2010, Hy Lạp thông báo, trong quý I/2010 tỷ lệ thất nghiệp
của Hy Lạp lên tới 11,7% và tỷ lệ này gia tăng lên mức 18,4% trong tháng 8
năm 2011. Đối tượng bị tác động mạnh nhất là lao động trong độ tuổi từ 15
đến 24 tuổi. Tỷ lệ thất nghiệp ở phụ nữ là 15,5% và 9% ở nam giới.

Bất ổn trong xã hội
Trong những năm từ khi diễn ra cuộc khủng hoảng, nền kinh tế Hy Lạp
dựa trên chi tiêu nhiều hơn sản xuất, thu nhập nên khi thực hiện “thắt lưng
buộc bụng” sẽ có nguy cơ rơi vào tình trạng giảm phát, gây ra nhiều bất lợi
cho nền kinh tế. Hy Lạp sẽ khó tìm được đường ra trong mớ bòng bong nợ
nần. Vì vậy, khi chính phủ Hy Lạp đưa ra các chính sách thắt chặt chi tiêu để
đổi lấy các gói cứu trợ đã gặp không ít làn sóng phản đối từ phía người dân.
Hàng triệu người đã xuống đường biểu tình. Ngày 22/4/2010, hàng nghìn bác
sĩ, y tá, giáo viên, nhân viên thuế và công nhân bốc vác tại các bến cảng đã


đồng loại bãi công. Các tổ chức công đoàn đã tổng đình công, để phản đối các
chính sách kinh tế khắc khổ mà Chính phủ áp dụng.
• Ảnh hưởng tới EU
Ảnh hưởng tỷ giá EUR/USD
Không chỉ tác động đến Hy Lạp, cuộc khủng hoảng còn tác động đến
châu Âu, bởi vì việc Hy Lạp vỡ nợ có nguy cơ tạo ra vết dầu loang. Trong bối
cảnh thế giới vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính nặng nề, còn chưa khắc
phục hết hậu quả, nếu Hy Lạp tuyên bố vỡ nợ sẽ có tác động như một cơn sốc.
Chịu tác động ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp, đồng Euro đã
mất giá và xuống mức thấp nhất trong vòng vài tháng.
Sau khi Hy Lạp tuyên bố chính thức vỡ nợ, niềm tin của nhà đầu tư vào
đồng EUR suy giảm nghiêm trọng, lo ngại về những hệ lụy mà các quốc gia
còn lại trong EU chịu ảnh hưởng khi nguy cơ Hy Lạp vỡ nợ gia tăng và ngày
càng hiện hữu rõ rệt. Tỷ giá EUR/USD đã giảm trong nhiều ngày liên tiếp từ
mức 1.144 xuống mức 1.095 (tương đương giảm 4,3%).

Nguồn: tradingview.com
Ngày 06/07/2015, người dân Hy Lạp nói “Không” với các biện pháp
thắt chặt do các chủ nợ đưa ra. Tỷ giá Euro giảm 1,5% niềm tin của thị trường
tiếp tục suy giảm khi người dân Hy Lạp không chấp nhận kế hoạch của chủ
nợ.


• Ảnh hưởng nặng nề đến hệ thống ngân hàng khu vực châu Âu và thế
giới Đức và Pháp là hai chủ nợ và cũng là những nước chịu thiệt hại
lớn nhất
khi đang cho Hy Lạp vay hơn 110 tỷ euro. Tiếp đó sẽ là các khoản vay của các
ngân hàng. Hy Lạp nợ các ngân hàng Đức, Pháp và Anh khoảng 30 tỷ euro,
nợ IMF hơn 20 tỷ euro. Hy Lạp vỡ nợ gây thiệt hại lớn cho ngân hàng Anh,
Bồ Đào Nha, Mỹ, Hà Lan, Nhật… Hệ thống ngân hàng các quốc gia này sẽ
đối mặt với khoản nợ xấu lớn, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống ngân hàng
toàn cầu.
Nếu Hy Lạp bị buộc phải rời EU, các nước cho vay trong khối này sẽ bị
mất toàn bộ các khoản tín dụng cấp cho Athens – hiện ở mức 331 tỷ euro. Một
khi Hy Lạp rời khỏi Eurozone, những chủ nợ trên sẽ phải xóa nợ cho Hy Lạp.
Đó là điều mà họ không mong muốn và cũng là lí do vì sao rất nhiều nỗ lực
đang được thực hiện để giữ quốc gia này ở lại EU.

Nguồn: CNN
Thị trường tài chính mang tính toàn cầu và có mối liên hệ chặt chẽ.
Nhiều nghi ngờ và lo sợ sẽ phát sinh một khi Hy Lạp vỡ nợ, bởi không ai dám
chắc ai an toàn, ai sẽ là bị ảnh hưởng, và mức động nghiêm trọng ra sao. Hậu
quả là không ai sẽ còn dám cho vay và thị trường tài chính hầu như “đông
cứng”.
Những nghi ngờ dù nhỏ nhất về khả năng một ngân hàng nào đó sụp đổ
đều khiến cả thị trường tài chính lo lắng. Kế đó, có thể là "hiệu ứng tuyết lở"
khi các quốc gia châu Âu khác cũng có thể theo chân Hy Lạp và không thể
thực hiện nghĩa vụ nợ. Người ta lo sợ rằng nếu viễn cảnh này thành hiện thực,
EU sẽ tan rã.


• Khủng hoảng nợ công châu Âu do hiệu ứng “domino” vỡ nợ
Hy Lạp được xem như là “kẻ châm ngòi” cho cuộc khủng hoảng trên
quy mô toàn bộ châu Âu. Ảnh hưởng của một nền kinh tế nhỏ với đóng góp
chỉ khoảng 2% GDP của khu vực vẫn có thể làm dấy lên nỗi lo ngại, bất an
lớn trong giới đầu tư của các quốc gia như Ireland, Bồ Đào Nha và Tây Ban
Nha do đây cũng là các quốc gia có tỷ lệ nợ công cao. Và đúng như vậy, hiệu
ứng “domino” đã xảy ra khi Hy Lạp bị tuyên bố vỡ nợ, một cuộc khủng hoảng
nợ lan rộng khắp châu Âu.
Tháng 11/2010, Ireland cũng đang trong tình trạng ngập đầu nợ nần và
chính thức trở thành nạn nhân thứ hai của cơn bão khủng hoảng nợ công khi
phải cầu viện tới EU và IMF. Bản chất của khủng hoảng ở Ireland là thâm hụt
ngân sách trầm trọng, nhưng nguồn gốc chính lại không giống như Hy Lạp.
Bước sang năm 2011, Bồ Đào Nha tiếp tục là quốc gia thứ ba rơi vào
khủng hoảng khi tuyên bố mức thâm hụt ngân sách lên tới 8,5% GDP, cùng
với mức nợ công vượt quá 90% GDP. Đồng thời, định mức tín nhiệm của Bồ
Đào Nha đã hạ từ A+ xuống A.
Các nền kinh tế này sẽ phải đối mặt với việc kinh tế tăng trưởng chậm
lại trong các năm tới khi chính phủ nỗ lực thắt chặt chi tiêu, giảm thâm hụt
ngân sách và mang đến sự ổn định cho hệ thống ngân hàng. Các nền kinh tế
lớn phải sẻ chia một phần nguồn lực tài chính của các chương trình hỗ trợ
kinh tế trong nước cho các gói cứu trợ Hy Lạp và hệ thống ngân hàng, qua đó
giảm tăng trưởng kinh tế trong nước. Cụ thể, Bồ Đào Nha được EU và IMF
viện trợ 78 tỷ euro để thoát khỏi khủng hoảng.
Ý và Tây Ban Nha mặc dù chưa thực sự rơi vào khủng hoảng nhưng
cũng ở vào vòng nguy hiểm. Thâm hụt ngân sách của Ý mới chỉ ở mức 5%
GDP nhưng nợ công xấp xỉ 120% GDP. Tây Ban Nha tình hình kinh tế cũng
rất xấu, với ngân sách thâm hụt tới 11,2% GDP, tổng nợ công và tư tương
đương 300% GDP, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 20% (4,5 triệu người) và nhất là
hệ thống ngân
hàng rất mong manh – đây rất có thể là con bài “domino kế tiếp” rơi vào cuộc
khủng hoảng tương tự như Hy Lạp.
• Khủng hoảng toàn cầu
Bên cạnh những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng trực tiếp tới các
nước trong khu vực eurozone, cuộc khủng hoảng của Hy Lạp đã lay chuyển
kinh tế cả thế giới. Dù chưa tác động lớn đến Mỹ, nhưng nếu không hành
động, một cuộc đổ vỡ mới xuyên Đại Tây Dương cũng có thể xảy ra. Với
khoản nợ công lớn nhất thế giới (13.590 tỷ USD, chiếm khoảng 93,6% GDP
năm 2010), nền kinh tế Mỹ không phải là không có nguy cơ khủng hoảng nợ.
Trong tuần đầu tháng 5-2010, khi ở Hy Lạp có nổi loạn, biểu tình đốt phá nhà
cửa, thì các chỉ số chứng khoán tại Mỹ đã giảm gần 10%. Năm 2011, mức


trần nợ được thông qua lên tới 14.300 tỷ USD. Chính vì những khoản nợ
khổng lồ đó mà S&P đã hạ bậc tín dụng của Mỹ từ AAA xuống AA+.
Sau thông báo của IMF ngày 30/6/2015, lãi suất Trái phiếu Chính phủ
Mỹ kỳ hạn 10 năm đã giảm 0,02%.Chính vì thế đã có những dự báo mạnh dạn
cho rằng, những khó khăn của Hy Lạp ngày hôm nay nhiều khả năng sẽ là
những khó khăn của nước Mỹ trong một tương lai không xa lắm.
Việc hai đối tác xuất khẩu chính của Trung Quốc gặp khó khăn khiến
nhu cầu hàng hóa Trung Quốc có khả năng giảm mạnh. Sự sụt giảm này được
đánh giá là có tác động lớn tới Trung Quốc và có thể buộc chính phủ phải từ
bỏ cuộc chiến chống lạm phát để giữ cho nền kinh tế đang phát triển.
Nếu không có biện pháp giải cứu Hy Lạp, thế giới sẽ đứng trước nguy
cơ ảnh hưởng dây chuyền, lan nhanh thành một khủng hoảng tài chính toàn
cầu mới. Sau cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế năm 2008-2009, các nước
phát triển đều đang phải gánh vác các khoản nợ khổng lồ. Theo thống kê của
IMF, từ năm 2007-2010, nợ công của toàn thế giới đã lên tới 15.300 tỷ USD.
Đến năm 2014, nợ công của G20 (nhóm 20 nước có nền kinh tế lớn) có thể
chiếm 118% GDP. Rõ ràng, khủng hoảng nợ không chỉ là bóng ma luôn đe
dọa nước nghèo, mà còn là nguy cơ đối với cả những nước phát triển, giàu
mạnh. Đây là nguyên nhân khiến giới đầu tư bắt đầu nghi ngờ độ tin cậy của
một số nền kinh tế thuộc Eurozone như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia và
Ailen.
• Bất ổn chính trị
Về phía Đức, Thủ tướng Đức cho rằng nên đưa những nước liên tục vi
phạm quy định tài chính ra khỏi Eurozone. Đức không “vội vàng” ủng hộ tài
chính cho Hy Lạp, đồng thời cho rằng Hy Lạp không còn sự lựa chọn nào
khác ngoài “thắt lưng buộc bụng”. Nhiều người Đức rất lo ngại sẽ phải trả
tiền cho sự thiếu kỷ luật của Hy Lạp. Việc giải cứu Hy Lạp vẫn là bước đi
không nhiều người mặn mà.
Cuộc trưng cầu dân ý phản đối chính sách thắt lưng buộc bụng cùng với
những tuyên bố giống như một lời thách thức đối với châu Âu, đồng thời các
chủ nợ châu Âu đứng đầu là Đức không có ý nhượng bộ. Điều này đã làm
căng thẳng hơn mối quan hệ giữa Hy Lạp với các nước chủ nợ, gây ra khó
khăn, đình trệ trong quá trình đàm phán các khoản viện trợ tiếp theo dành cho
Hy Lạp.
Một nguyên nhân nữa khiến các chủ nợ Châu Âu chống lại việc giảm
các khoản nợ là rủi ro chính trị. Nếu Đảng Syriza, vừa mới thắng cử, có thể
nới lỏng chính sách thắt lưng buộc bụng thì điều này có thể tạo nên phong
trào ở Châu Âu. Một loạt các cử tri có thể sẽ phản đối chính phủ của họ, vốn
đang thực hiện thắt chặt chi tiêu đổi lấy viện trợ, như Tây Ban Nha hay
Ireland.


• Ảnh hưởng của kịch bản GREXIT có thể xảy ra, khối Eurozone sụp đổ
Sau khi Hy Lạp bị tuyên bố vỡ nợ, lúc này xuất hiện hai kịch bản có thể
xảy ra đối với Hy Lạp: Hy Lạp rời khỏi Eurozone quay lại sử dụng đồng
drachma và thứ hai là Hy Lạp tiếp tục ở lại EU, có một chính sách ràng buộc
mới dành cho Hy Lạp để tiếp tục nhận được khoản cứu trợ.Xét trên trường
hợp xấu nhất có thể xảy ra, GREXIT có thể gây ra những ảnh hưởng:
− Sự tháo chạy khỏi đồng Euro và dịch chuyển các dòng vốn đầu tư tại
châu Âu
Đồng Drachma trở lại dự báo sẽ có sức mua thấp hơn 30-40% so với
đồng Euro, đối mặt với nguy cơ giảm sâu hơn nữa do lạm phát. Hy Lạp rời
khỏi Eurozone đồng nghĩa với các khoản nợ được xóa bỏ, các quốc gia nợ
nhiều có thể sẽ theo gót không trả cho các chủ nợ. Nền kinh tế châu Âu đối
mặt với tình hình xấu, tỷ giá EUR/USD sẽ giảm trong dài hạn.
Grexit sẽ gây ra hiện tượng tháo chạy của dòng vốn ra khỏi châu Âu.
Do đồng Euro sẽ nhanh chóng bị mất giá nếu xảy ra Grexit, giới đầu tư lo
ngại bất ổn sẽ rút vốn khỏi khu vực này để đầu tư vào các tài sản an toàn
khác, trong đó vàng sẽ là kênh đầu tư an toàn được lựa chọn.
Cổ phiếu các doanh nghiệp châu Âu cũng có thể sẽ mất giá nhanh
chóng nếu các nhà đầu tư hoang mang, rút vốn chuyển sang đầu tư vào trái
phiếu chính phủ của các nước có nền kinh tế phát triển mạnh, như: Đức và
Phần Lan, dòng tiền cũng sẽ chảy về Mỹ khi giới đầu tư đổ tiền vào các loại
tài sản an toàn như tín phiếu kho bạc Mỹ gây càng khó khăn hơn cho FED
trong việc nâng lãi suất cơ bản.
− Bất ổn địa chính trị tại châu Âu
Tư tưởng chống "thắt lưng, buộc bụng", thậm chí làn sóng đòi ly khai ở
Tây Ban Nha đang trở lên ngày càng nghiêm trọng. Năm 2010, các ngân hàng
của Đức và Pháp đã cho Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ailen… vay
tổng cộng 493 tỷ USD.
Nếu Hy Lạp rời khỏi Eurozone, thì Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia
(những quốc gia châu Âu cũng đang gặp khủng hoảng nợ công) đều có khả
năng sẽ theo chân Hy Lạp. Và, vòng tuần hoàn “vỡ nợ - khai trừ” sẽ dẫn đến
sự sụp đổ, tan rã nhanh chóng của Eurozone cũng như EU sẽ khởi phát.
Nhiều khả năng Grexit sẽ gây ra một khủng hoảng kinh tế - chính trị
cục bộ tại châu Âu và xa hơn nữa là một khủng hoảng toàn cầu.
− Hy Lạp phải đối mặt khủng hoảng
Chính phủ Hy Lạp sẽ không còn đồng Euro chi tiêu trong bối cảnh nợ
công ở mức kỷ lục và khó có thể vay tiền, hoặc nhận trợ cấp từ bất kỳ quốc


gia nào. Cho dù Nga đang có ngỏ ý cho Hy Lạp vay tiền, nhưng có lẽ đàm
phán với Nga cũng không hề dễ dàng.
Chính phủ Hy Lạp và sẽ buộc phải duy trì các khoản trợ cấp an sinh xã
hội và trả lương cho nhân viên nhà nước bằng IOU (viết tắt của “I Owe You”,
một dạng chứng từ vay nợ mà không có thời hạn trả) cho đến khi một loại nội
tệ mới được in ra lưu thông hay quay lại sử dụng đồng nội tệ Drachma.
Nhiều tỷ Euro tiền gửi bị rút khỏi các ngân hàng Hy Lạp. Người dân
cũng có tâm lý đổ xô đi rút sạch tiền tiết kiệm trước khi bị đóng băng rồi đem
đổi lấy đồng nội tệ mới. Điều này sẽ gây ra hiện tượng mất thanh khoản hệ
thống ngân hàng, dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
Chính phủ Hy Lạp sẽ phải sử dụng lại đồng nội tệ Drachma và khi đó,
đồng tiền này sẽ bị mất giá rất nhiều so với đồng Euro, nên Chính phủ Hy Lạp
sẽ phải tích cực in tiền, nởi lỏng tiền tệ phát triển kinh tế để có thể trả nợ. Khi
đó lạm phát tăng cao, giá cả hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là lương thực và
thuốc men sẽ tăng gấp 3-4 lần, mức sống của người dân sẽ giảm xuống.
Bất ổn kinh tế, địa chính trị gia tăng sẽ khiến ngành du lịch Hy Lạp,
vốn là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất nước này có thể sẽ bị tê
liệt, khiến kinh tế Hy Lạp rơi vào vòng luẩn quẩn.










GIẢI PHÁP
1. Những biện pháp của chính phủ Hy Lạp
Tăng các loại thuế: Trong năm 2011, Hy Lạp sẽ thu 2,32 tỷ Euro thuế và
lần lượt là 3,38 tỷ, 1,52 triệu và 699 triệu trong 3 năm tiếp theo. Trong đó,
thuế giá trị gia tăng (VAT) sẽ tăng từ 21% lên 23%.
Đánh thuế vào hàng xa xỉ: Những mặt hàng xa xỉ sẽ bị đánh thuế là du
thuyền, hồ bơi và ô tô. Đồng thời, một loại thuế đặc biệt được đánh vào
các công ty làm ăn với lợi nhuận lớn, bất động sản giá trị lớn sẽ được áp
dụng.
Đánh thuế vào một số mặt hàng nội địa: Thuế đánh vào các mặt hàng nội
địa như nhiên liệu, thuốc lá, thức uống có cồn sẽ tăng một phần ba.
Giảm chi tiêu công: các chi tiêu trong khu vực công sẽ bị cắt 15%.
Giảm chi tiêu quân sự: trong năm 2012 chi tiêu quân sự của Hy Lạp sẽ bị
cắt giảm 200 triệu Euro và từ năm 2013 đến 2015, sẽ cắt giảm mỗi năm
333 triệu Euro.
Giảm chi tiêu trong giáo dục: chi tiêu cho giáo dục cũng bị cắt giảm bằng
cách đóng cửa hoặc sáp nhập 1976 trường học.
Giảm chi tiêu cho an sinh xã hội: trong năm 2011, 1,09 tỷ Euro sẽ được
cắt từ quỹ an sinh xã hội của Hy Lạp. Tiếp đến, từ năm 2012 đến 2015 số
cắt giảm lần lượt là 1,28 tỷ; 1,03 tỷ; 1,01 tỷ và 700 triệu. Bên cạnh đó, độ
tuổi về hưu sẽ tăng từ 61 lên 65.


− Tư hữu hóa chính phủ: chính phủ Hy Lạp sẽ tiến hành tư nhân hóa các
doanh nghiệp quốc doanh trong đó có OPAP, Hellenic Postbank, Hellenic
Telecom. Bên cạnh đó, cổ phần tại Athens Water, công ty dầu khí Hellenic
Petroleum, công ty điện PPC và Lender ATEbank cùng một số hải cảng,
sân bay, đường cao tốc, quyền sở hữu và khai khoáng sẽ được bán cổ
phần.
− Sa thải công chức: trong năm 2011, cứ 10 công chức sẽ có một người bị sa
thải. Còn trong những năm sau đó, tỷ lệ sa thải là cứ 5 người thì sẽ sa thải
1 người.
− Giảm chi tiêu y tế: trong năm 2011, chi tiêu cho y tế sẽ bị cắt giảm 310
triệu Euro và từ năm 2012 đến 2015 sẽ giảm 1,81 triệu Euro.
2. Giải pháp của Liên minh châu Âu và Eu
Kể từ năm 2010 đến năm 2017, Hy Lạp đã nhận được cam kết có 3 gói
cứu trợ của “Bộ ba" chủ nợ quốc tế gồm Liên minh Châu Âu (EU), Ngân
hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) với tổng trị
giá lên tới hơn 350 tỷ euro.
− 2/5/2010, Liên minh châu Âu Eu và IMF đã thông qua gói cứu trợ thứ
nhất cho Hy Lạp trị giá 110 tỷ Euro (tương đương 136 tỷ USD), khỏan
giải ngân đầu tiên trị giá 14,5 tỷ Euro đã được giải ngân cho Hy Lạp vào
ngày 18/5/2011. Chính phủ Hy Lạp sẽ sử dụng khoản tiền cứu trợ này để
trả 8,5 tỷ Euro nợ trái phiếu đáo hạn vào ngày 19/5/2010.
− Ngày 21/07/2011, 17 nước thuộc khu vực Eurozone một lần nữa đã thông
qua gói cứu trợ thứ hai cho Hy Lạp trị giá 130 tỷ Euro, điều đáng chú ý
trong gói cứu trợ đã có đóng góp tham gia của khu vực tư nhân, giá trị lên
tới 49,6 tỷ Euro.
− Ngoài việc thông qua gói cứu trợ mới, các nước Eurozone cũng đồng ý
gia hạn thời gian trả nợ cho Hy Lạp từ các khoản vay từ Quỹ Cứu trợ tạm
thời (EFSF) từ 7,5 năm thành ít nhất 15 năm và nhiều nhất là 30 năm,
đồng thời nhất trí giảm lãi suất vay cho Hy Lạp xuống còn 3,5% - so với
mức 4-5% hiện nay.
− Ngày 26-27/07/2011 các lãnh đạo châu Âu đạt được một kế hoạch giúp
Hy Lạp, cứu nguy khu vực đồng euro. Cụ thể là các ngân hàng tư nhân sẽ
xóa 50% số nợ cho Hy Lạp, tương đương 100 tỷ euro, châu Âu sẽ cho Hy
Lạp vay 100 tỷ từ nay đến 2014 và đứng ra bảo lãnh 30 tỷ euro. Khả năng
can thiệp của Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (FESF) sẽ được tăng cường,
từ khả năng cho vay 440 tỷ euro lên thành 1000 tỷ euro.
− Sau 2 gói cứu trợ đầu tiên, Athens vẫn không đáp ứng được thời hạn chót
trả nợ cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Gói cứu trợ thứ ba trị giá 86 tỷ euro với
thời hạn giải ngân 3 năm đã được thông qua năm 2015 với điều kiện Hy
Lạp phải thực hiện một kế hoạch “thắt lưng buộc bụng” và cải cách hết
sức nghiêm ngặt như đã cam kết. Tuy nhiên, gói cứu trợ thứ ba này chỉ có
sự trợ giúp của các quốc gia thành viên EU mà không có IMF.


Tính đến cuối tháng 9/2017, Hy Lạp đã nhận được hơn 221 tỷ euro từ
các định chế tài chính châu Âu và 11,5 tỷ euro từ IMF.
MỞ RỘNG: TÌNH HÌNH HY LẠP GIAI ĐOẠN 2015-2018
Năm 2015
− Tháng 7-2015: Để tránh cho Hy Lạp thoát khỏi nguy cơ buộc phải rời
khỏi Eurozone, Quốc hội Hy Lạp đã thông qua dự luật về những biện
pháp cải cách mạnh mẽ nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng theo yêu cầu
của các chủ nợ, nhằm đổi lấy một gói cứu trợ mới thứ ba trị giá 86 tỷ euro
(tương đương 92,4 tỷ USD).
− Trước những nỗ lực cải cách của Athens, "Bộ ba" chủ nợ quốc tế gồm
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ủy
ban châu Âu (EC) đã giành cho Hy Lạp khoản giải ngân đầu tiên trị giá 13
tỷ euro vào tháng 8-2015.
Năm 2016
− Tháng 5-2016: Nhóm 19 Bộ trưởng tài chính của Khu vực đồng tiền
chung châu Âu (Eurogroup) đã nhất trí giải ngân 12 tỷ euro trong gói cứu
trợ thứ ba cho Hy Lạp và tiến hành cơ cấu lại nợ cho Athens theo yêu cầu
của IMF.
− Các Bộ trưởng Tài chính khu vực châu Âu đã nhất trí cho Hy Lạp tiếp cận
với 10,3 tỷ euro (11,48 tỷ USD) trong nguồn quỹ cứu trợ tài chính 11,48
tỷ USD trên là một phần trong đợt giản ngân thứ 2 vốn đã bị trì hoãn rất
lâu trong gói cứu trợ tài chính thứ 3 của Hy Lạp, đã được nhất trí thông
qua hồi tháng 8/2015, với tổng giá trị lên tới 86 tỷ Euro (95,9 tỷ USD).
Năm 2017
− Ngày 6-2-2017, IMF đã ngừng tham gia chương trình cứu trợ cho Hy Lạp,
cho rằng khoản nợ của Athens quá lớn và IMF không thể tiếp tục giải
ngân khoản vay nếu các chủ nợ không giảm nợ cho nước này.
− Ngày 20-2-2017, các chủ nợ quốc tế đã thống nhất lập trường chung về
các vấn đề then chốt như xóa nợ và mục tiêu ngân sách nhằm mở đường
cho Hy Lạp nhận được khoản giải ngân tiếp theo trong gói cứu trợ kinh tế
thứ ba trị giá 86 tỷ euro dành cho nước này.
− Tính đến tháng 5-2017, Hy Lạp đang đối mặt với khoản nợ 7 tỷ euro
(tương đương 7,4 tỷ USD) có hạn chót vào tháng 7 đồng thời phải vật lộn
với tình trạng khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất . Theo số liệu của Cơ quan
Thống kê châu Âu (Eurostat), nợ công của Hy Lạp hiện ở mức trên 300 tỷ
euro, chiếm khoảng 160% GDP, và đây vẫn là tỷ lệ cao nhất trong
Eurozone.


− Ngày 2/5/2017, Chính phủ Hy Lạp và các chủ nợ gồm Liên minh châu Âu
(EU), Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế
(IMF) đã đạt được thỏa thuận sơ bộ về các biện pháp "thắt lưng buộc
bụng" để đổi lấy gói cứu trợ tài chính thứ 3 cho quốc gia này.
− Ngày 7/7/2017, Eurozone đã thông qua gói cứu trợ 8,5 tỷ Euro cho Hy
Lạp, kịp thời điểm để nước này có thể thanh toán khoản nợ gần 7 tỷ Euro
đáo hạn vào giữa tháng này
Năm 2018
− Ngày 19/12, Quốc hội Hy Lạp đã thông qua ngân sách 2018, năm tài khóa
cuối cùng vẫn chịu ảnh hưởng chi phối của các điều khoản khắt khe nhằm
đổi lấy gói cứu trợ trị giá hàng tỷ euro từ các chủ nợ quốc tế và Liên minh
châu Âu (EU), buộc nước này phải áp dụng hàng loạt biện pháp "thắt lưng
buộc bụng" trong suốt 7 năm qua. Bộ Tài chính Hy Lạp vẫn tiếp tục duy
trì mức thuế cao nhằm đạt mục tiêu thặng dư ngân sách tương đương
3,8% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chưa tính các khoản trả nợ trong
năm 2018 trên cơ sở dự báo nền kinh tế Hy Lạp sẽ đạt mức tăng trưởng
2,5% GDP.
− Từ năm 2010, để tránh nguy cơ vỡ nợ, Hy Lạp đã phải viện đến các khoản
cứu trợ từ EU và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).
− Theo thỏa thuận, gói cứu trợ thứ 3 trị giá hơn 80 tỷ euro sẽ kết thúc vào
tháng 8/2018, thời điểm Hy Lạp sẽ phải tự lực về tài chính.
− Tuy nhiên, Đại diện cấp cao của EU về các vấn đề kinh tế Pierre
Moscovici cho biết Athens sẽ vẫn nằm trong tầm giám sát tài khóa của
EU cho tới khi quốc gia này hoàn trả 75% các món nợ liên minh.
− Chính vì thế, Chính phủ Hy Lạp vẫn xây dựng các dự luật cắt giảm lương
hưu và ưu đãi thuế, có hiệu lực vào năm 2019 và 2020 - là thời điểm
Athens chấm dứt nhận cứu trợ.Trong khi đó, phe đối lập ước tính phải tới
năm 2022, những biện pháp khắc khổ mới được dỡ bỏ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×