Tải bản đầy đủ

Tiểu luận Tài chính Công

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
***

ĐỀ TÀI: ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ CÔNG
TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
TẠI VIỆT NAM
Nhóm:

5

Thành viên:

Phạm Quang Hưng – 1413310055 (NT)
Nguyễn Thị Thu Trang – 1413310132
Phạm Thị Quỳnh Anh – 1413310014
Dương Hải Yến – 1413310142

Lớp:

Anh 6 – Khối 2 – Tài chính Ngân


hàng
Khóa:

53

GVHD:

PhD. Nguyễn Thị Lan

Hà Nội, 2017
SĐT nhóm trưởng: 0168.335.1868


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.............................................................................................................3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT............................................................................5
CHƯƠNG 1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY....................................................................6
1.1

Tổng quan tình hình nợ công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam hiện nay. .6

1.2

Thâm hụt thương mại là nguyên nhân dẫn đến sự tăng cao nợ công tại Việt

Nam .........................................................................................................................9
1.2.1

Thâm hụt thương mại do chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm...............10

1.2.2

Thâm hụt thương mại do đầu tư không hiệu quả....................................11

1.2.3

Thâm hụt thương mại do mất cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu. . .12


CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUAN HỆ GIỮA
NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ..........................................................14
2.1

Những nghiên cứu chỉ ra rằng nợ công trì hoãn tốc độ tăng trưởng kinh tế. 14

2.2

Những nghiên cứu chỉ ra rằng nợ công thúc đẩy tăng trưởng kinh tế...........16

2.3

Những nghiên cứu chỉ ra rằng mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh

tế không phải là một mối quan hệ tuyến tính..........................................................17
CHƯƠNG 3. ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ CÔNG NƯỚC NGOÀI LÊN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ (MÔ HÌNH ARDL) VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH.................19
3.1

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích...............................................................19

3.2

Dữ liệu nghiên cứu........................................................................................21

3.3

Kết quả nghiên cứu........................................................................................22

3.4

Thảo luận kết quả nghiên cứu........................................................................29

3.5

Gợi ý chính sách............................................................................................30

CHƯƠNG 4. ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ CÔNG TRONG NƯỚC LÊN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ (NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH) VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
..................................................................................................................................... 34
Tiểu luận Tài Chính Công

1


4.1

Tổng quan về nợ trong nước..........................................................................34

4.1.1

Cách thức tính nợ trong nước ở Việt Nam..............................................34

4.1.2

Tình trạng nợ trong trước ở Việt Nam....................................................36

4.2

Mối quan hệ với sự phát triển kinh tế............................................................36

4.3

Gợi ý chính sách cho Việt Nam trong quản lý nợ công nội địa.....................39

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG TỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ......................................................................................................44
PHỤ LỤC: TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................46

Tiểu luận Tài Chính Công

2


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh hiện nay, khi cả thế giới bước vào quá trình hội nhập kinh tế,
các nước đang phát triển như Việt Nam cần khối lượng vốn lớn để tài trợ cho các dự
án kinh tế - xã hội. Các dự án kinh tế xã hội này thường là những hàng hóa công
cộng được Nhà nước rót vốn nhằm phát triển đất nước theo định hướng. Các dự án
này xuất hiện với tốc độ ngày một nhiều theo yêu cầu của xã hội, theo đó là sự gia
tăng nhu cầu về vốn của Nhà nước. Có nhiều nguồn vốn mà Nhà nước có thể sử
dụng, đó là thuế (nguồn thu chủ yếu của nhà nước), phí và lệ phí, vay nợ,… Trong
những hoàn cảnh nhất định mà Chính phủ phải chuyển đổi linh hoạt giữa các nguồn
vốn khác nhau, hạn chế tối đa việc kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong bài
nghiên cứu này, nhóm tác giả đặt trọng tâm vào nguồn vốn từ vay nợ của Chính phủ,
cụ thể là nợ công ngoài nước và trong nước, và khám phá tác động của các nguồn
vốn này lên tốc độ tăng trưởng kinh tế, qua đó đưa ra câu trả lời cho câu hỏi: Chính
phủ Việt Nam có nên huy động vốn từ vay nợ hay không, và nếu huy động vốn từ
vay nợ thì cần làm những biện pháp gì để tránh kìm hãm quá mức tăng trưởng kinh
tế.
Trong bài nghiên cứu, do sự khác nhau về số quan sát thu thập được giữa nợ
trong nước và nợ nước ngoài, cũng như những tính chất riêng biệt của hai khoản nợ
này cần hai phương pháp tiếp cận khác nhau nên nhóm tác giả quyết định nghiên cứu
ảnh hưởng của nợ công lên tăng trưởng kinh tế theo hai nhánh nhỏ hơn: bao gồm ảnh
hưởng của nợ công nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế (nghiên cứu định lượng theo
mô hình ARDL) và ảnh hưởng của nợ công trong nước lên tăng trưởng kinh tế
(nghiên cứu định tính).
Với định hướng như trên, bài nghiên cứu chia bố cục như sau:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nợ công và tăng trưởng kinh tế tại Việt
Nam hiện nay.
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đó về mối quan hệ giữa nợ công
và tăng trưởng kinh tế
Chương 3: Ảnh hưởng của nợ công nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế
(nghiên cứu định lượng theo mô hình ARDL) và gợi ý chính sách
Chương 4: Ảnh hưởng của nợ công trong nước lên tăng trưởng kinh tế
(nghiên cứu định tính) và gợi ý chính sách
Tiểu luận Tài Chính Công

3


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Chương 5: Kết luận
Do những hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như số liệu thu thập được, bài
nghiên cứu này không thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Nhóm tác giả rất mong
những ý kiến đóng góp từ phía Giảng viên để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.

Tiểu luận Tài Chính Công

4


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PPG

Public and Publicly Guaranteed (của chính phủ và được chính
phủ bảo lãnh)

NHTM

Ngân hàng thương mại

TGHĐ

Tỷ giá hối đoái

Tiểu luận Tài Chính Công

5


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

CHƯƠNG 1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NỢ CÔNG VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM HIỆN
NAY
1.1 Tổng quan tình hình nợ công và tăng trưởng kinh tế tại
Việt Nam hiện nay
Để khái quát tình hình nợ công của Việt Nam, chúng ta nên xem xét các phương
diện: Quy mô nợ so với GDP, cơ cấu nợ, các chỉ số về an toàn nợ và khả năng trả nợ
của Việt Nam.
Qua số liệu thống kê cho thấy, tình hình vay nợ của Chính phủ đang có xu
hướng tăng rất nhanh, tỷ trọng nợ công trên tổng GDP những năm gần đây luôn ở
mức cao. Do đó nguy cơ khủng hoảng nợ công như các nước Châu Âu (Hy Lạp,
Ireland,…) là điều có thể, nếu không có những chính sách quản lý và sử dụng vốn
vay một cách có hiệu quả thì sẽ đi vào vết xe đổ của các nước Nam Âu hiện nay.

Tiểu luận Tài Chính Công

6


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Tỷ lệ nợ công / GDP tại Việt Nam giai đoạn 2002 - 2017đơn vị %
70
60
50
40
30
20
10
0
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017E 2018E
Tỷ lệ nợ công / GDP (%)
Hình 1. Tỷ lệ nợ công / GDP tại Việt Nam giai đoạn 2002 - 2017

Nguồn số liệu: Báo cáo IMF Article IV Consulation – Press Release các năm
Trong những năm đầu thập niên 90, Việt Nam là một nước nợ lớn. nợ nước
ngoài cao hơn rất nhiều lần so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Biểu đồ dưới đây
thể hiện tương quan độ lớn giữa nợ công (chỉ tính riêng các khoản nợ nước ngoài) và
GDP quốc gia giai đoạn 1987 – 2016.

Tiểu luận Tài Chính Công

7


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
250

200

150

100

50

0
87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16
19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0 2 0
Nợ công nước ngoài

GDP

Hình 2. Độ lớn nợ công và GDP giai đoạn 1987 - 2016 (đơn vị: tỷ USD)

Nguồn dữ liệu: CSDL World Development Indicator (Worldbank)
Đỉnh điểm vào năm 1990, nợ công nước ngoài của Việt Nam cao gấp hơn 4 lần
GDP. Tỷ số nợ công / GDP có lẽ còn cao hơn nữa nếu như tính cả các khoản nợ trong
nước. Điều này cho thấy sự khủng hoảng về khả năng thanh toán nợ của Việt Nam.
Trong giai đoạn này, do được hưởng những ưu đãi của Hội đồng tương trợ kinh tế
(CMEA/ SEV), Việt Nam đã vay nợ rất lớn từ tổ chức này, chủ yếu là vay các nước
xã hội chủ nghĩa như Liên Xô và các nước Đông Âu với lãi suất ưu đãi rất thấp hoặc
miễn lãi suất và kỳ hạn trả nợ 20 – 30 năm. Một phần lớn trong lượng tiền vay đó là
viện trợ không hoàn lại. Việc vay và trả nợ do Nhà nước quản lý và được tiến hành ở
dạng trao đổi hàng hóa với giá cố định theo giá thoải thuận của các thành viên
CMEA năm 1957, trên cơ sở các hiệp định và hiệp ước hữu nghị.
Sau khi hệ thống XHCN tan rã ở Đông Âu (năm 1991), Hội đồng tương trợ
kinh tế không còn nữa, mức nợ tồn đọng trước đó tiếp tục sinh lãi, nên nợ của Việt
Nam vẫn ở mức cao, từ 22,27 tỷ USD năm 1990 tăng lên 25,25 tỷ USD năm 1996.
Đến năm 1997, tổng nợ cũng như dịch vụ nợ của Việt Nam bắt đầu được cải
thiện, GDP dần vượt trội hơn so với số nợ công nước ngoài. Điều này có được do
Việt Nam được giảm nợ và bố trí lại lịch trả nợ theo điều khoản của CLB Paris và
CLB London chứ không phải theo nỗ lực trả nợ của Việt Nam.
Trong thời gian từ năm 1993 – 1997, Việt Nam đã đàm phán song biên với các
chủ nợ thành viên CLB Paris, tổng nợ được giảm là 745 triệu USD. Đến tháng 5 –
Tiểu luận Tài Chính Công

8


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
1996, Việt Nam đã thỏa thuận với CLB London, kết quả giảm 53% nghĩa vụ nợ theo
phương án Brady qua các hình thức như mua lại nợ, chuyển đổi nợ thành các trái
phiếu chiết khấu, chuyển đổi nợ trái phiếu ngang giá, chuyển đổi nợ thành trái phiếu
phụ trội. Tháng 12/1997, Việt Nam đã hoàn tất được thỏa thuận giảm nợ là 572 triệu
USD, trong đó nợ lãi là 304 triệu USD của các NHTM. Như vậy, tổng nợ của Việt
Nam năm 1997 giảm xuống 17% so với năm 1996, gành nặng nợ nần đã giảm đáng
kể.
Trong đó, khoản nợ cũ lớn nhất của Việt Nam là khoản nợ với Liên bang Nga.
Sau tám vòng đàm phán kể từ 1994 - 2000, hai bên đ ã thỏa thuận và ký kết hiệp định
xử lý nợ tổng thể của Việt Nam với Liên Xô (cũ), giảm nợ ngay 85% tổng nợ cũ,
tương đương 9,3 tỷ USD. Hiệp định này đã đưa mức nợ tồn đọng của năm 1999 là
23, 260 tỷ USD, giảm xuống còn 12,787 tỷ USD vào năm 2000. Cộng thêm
vào đó, nền kinh tế Việt Nam luôn tăng trưởng ở mức cao và ổn định trong thập niên
1990, nên đến năm 2000 tổng nợ chỉ bằng khoảng 1/3 so với tổng sản phẩm quốc
nội.
Đến hết năm 2006, tổng dư nợ nước ngoài của Việt Nam bằng 32,5% GDP giảm
so với các năm trước đó và chiếm 52 % tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng gần 2
lần dự trữ ngoại hối. Năm 2007 tổng nợ ước tính là 32,6% GDP, chiếm 51% tổng
kim ngạch xuất khẩu.
Với ưu thế ổn định về chính trị và sự điều hành hợp lý của Chính phủ nền kinh
tế đã tăng trưởng khả quan, từ đó nước ta nhận được sự tín nhiệm rất cao của cộng
đồng quốc tế. Việt Nam liên tục nhận được những khoản vay ưu đãi hỗ trợ phát triển
mà nổi bật là những khoản ODA đến từ Nhật Bản, WB và ADB. Do đó, tổng nợ nước
ngoài của Việt Nam có xu hướng liên tục tăng trong những năm gần đây. Đến năm
2010, theo Bộ tài chính thì nợ nước ngoài của Việt Nam (Nợ của Chính Phủ
và được Chính phủ bảo lãnh) vào khoảng 32,5 tỷ USD bằng khoảng 42,2 % GDP.
Nhìn chung, Việt Nam đã thành công trong xử lý nợ đến hạn, khống chế được
luồng nợ vay ngắn hạn, nhưng còn một số vấn đề trong sử dụng và quản lý nợ ở
nước ta còn nhiều vướng mắc cần được giải quyết. Đó là trong vay nợ và viện trợ,
chúng ta chưa xác định rõ mục tiêu, hiệu quả kinh tế theo quan điểm thúc đẩy hàng
hóa xuất khẩu tạo ra lợi nhuận và có ngoại tệ để trả nợ. Nhiều cán bộ lãnh đạo của
chúng ta khi nhận được các khoản ODA vẫn còn nghĩ là “của cho không”, họ
Tiểu luận Tài Chính Công

9


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
không có ý thức vay là phải trả vì thế đã để buông lỏng trong quá trình thực hiện các
dự án.
Ngay cả khi viện trợ không hoàn lại cũng có cái giá của nó, nhà tài
trợ đòi hỏi người sử dụng phải dùng vốn vào đúng mục đích, đúng nơi, đúng chỗ.
Việt Nam hiện chưa xây dựng một chiến lược vay và trả nợ cụ thể rõ ràng cho
từng khoản vay, do đó việc ban hành các chính sách và cơ chế quản lý không khỏi
lúng túng. Nhiều cấp cùng quản lý một dự án và có khi một nguồn viện trợ được
phân tán ở nhiều ngành, nhiều địa phương gây ra những chi phí giao dịch không
đáng kể.
Hiện nay, nợ công đã gia tăng đáng kể, tương ứng nghĩa vụ nợ cũng vì đó mà
tăng theo. Theo báo cáo của World Economic Outlook (World Bank), trong năm
2015, Việt Nam phải trả 2,7 tỷ USD tiền gốc và lãi cho các khoản nợ của chính phủ
và được chính phủ bảo lãnh, dự kiến trong năm 2016 con số này sẽ lên tới 3,5 tỷ
USD.
1.2 Thâm hụt thương mại là nguyên nhân dẫn đến sự tăng
cao nợ công tại Việt Nam
Mặc dù các chỉ số đánh giá nợ công của Việt Nam đang nằm trong giới hạn an
toàn theo chuẩn mực WB, nhưng thực tế, nợ công của Việt Nam giảm là do được
giảm nợ chứ không phải do nội lực trả nợ. Hiện nay, nợ công vẫn ngày một tăng,
thêm vào đó các nguy cơ làm gia tăng nợ vẫn luôn tiềm ẩn, trong khi đó tốc độ tăng
trưởng kinh tế lại không tương xứng với tốc độ gia tăng nợ, điều này dễ dẫn tới gia
tăng rủi ro tài chính.
Vì vậy, cần phải tìm hiểu các nguyên nhân gây ra tăng nợ công, từ đó có những
nghiên cứu đề xuất kiểm soát sự gia tăng nợ công tại Việt Nam trong thời gian tới.
Trong phần này, tác giả tiên hành phân tích việc gia tăng nợ công do thâm hụt thương
mại trong thời gian qua.
Người ta có thể phân tích một cách đơn giản vấn đề quan hệ giữa ngoại thương
và nợ công bằng mô hình thâm hụt kép chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm (I – S) và
chênh lệch giữa xuất nhập khẩu (M – X). Nếu thâm hụt M – X lớn hơn I – S, khi ấy
cần có những khoản vay đề bù vào khoản thiếu hụt này. Do vậy dựa trên cách tiếp
cận lý thuyết này, khi tình trạng nhập siêu kéo dài mà nguồn lực trong nước không
đủ để bù đắp thâm hụt thì nợ nước ngoài sẽ gia tăng. Đó chính là lý do khiến quan hệ
Tiểu luận Tài Chính Công

10


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
giữa ngoại thương và nợ công thường là trọng tâm của các nước đang phát triển
trong việc tìm những giải pháp để giảm gánh nặng nợ nước ngoài thông qua hệ thống
thương mại đa phương.
Có nhiều nguyên nhân gây ra thâm hụt thương mại, được phân tích như dưới
đây.
1.2.1

Thâm hụt thương mại do chênh lệch giữa đầu tư và

tiết kiệm
Nếu xem xét thâm hụt thương mại do chênh lệch đầu tư và tiết kiệm trong
nước, thì nguyên nhân cụ thể xuất phát từ việc đầu tư tăng cao trong khi mức tiết
kiệm thấp.
Chỉ tiêu
Tổng tiết kiệm
(%GDP)
Tổng đầu tư (%GDP)
Cán cân tiết kiệm đầu


2009
30.66
1
37.16
3
6.502

2010
31.90
2
35.69
4
3.792

2011
29.92
4
29.75
1

2012
33.20
3
27.24
3

2013
31.13
5
26.59
2

2014
31.95
1
26.83
3

2015
28.05
5
27.58
1

2016
31.26
3
26.57
8

0.173

5.96

4.543

5.118

0.474

4.685

Nguồn: World Economic Outlook
Qua số liệu trên, ta nhận thấy mức thâm hụt tiết kiệm đầu tư đạt 6,5% vào năm
2009 và gần đây có xu hướng cải thiện, tuy nhiên không được ổn định qua các năm.
Thâm hụt thương mại do đầu tư tăng quá cao
Một trong những nguyên nhân gây ra thâm hụt thương mại là do nhu cầu đầu tư
tăng cao hơn mức tiết kiệm trong nền kinh tế. Theo số liệu thống kê của World
Economic Outlook liệt kê trong bảng trên, tổng vốn đầu tư của toàn nền kinh tế hiện
nay ở mức cao, chiếm gần 27% GDP.
Tuy nhiên sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư là do nhu cầu đầu tư tăng cao
chưa hẳn đã là một vấn đề nghiêm trọng. Tùy thuộc vào vốn đầu tư được sử dụng vào
mục đích gì; nếu như đầu tư vào tài sản cố định như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị,
công cụ sản xuất thì trong tương lai năng suất sẽ cao hơn, tăng xuất khẩu nhằm cân
bằng cán cân thương mại và tài khoản vãng lai. Ngược lại, nếu đầu tư tăng cao vào
khu vực bất động sản thì khá đáng lo ngại vì khu vực này thường không làm tăng
năng suất hay tạo ra các sản phẩm có thể dùng trả nợ.
Thực tế, qua số liệu của tổng cục thống kê cho thấy trong suốt thập niên qua, tỷ
lệ vốn đầu tư vào các ngành không có nhiều biến đổi. Vốn đầu tư vào ngành bất động

Tiểu luận Tài Chính Công

11


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
sản chiếm tỷ lệ thấp chỉ khoảng 5%, như vậy xét về cơ cấu thì thâm hụt thương mại
do đầu tư tăng cao hiện nay chưa phải là vấn đề nghiêm trọng.
Cơ cấu đầu tư theo ngành

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

Nông lâm nghiệp & thủy sản
Sản xuất
Xây dựng
Thương nghiệp & sửa chữa
Vận tải & kho bãi
Bất động sản
Khác

6%
19%
4%
5%
12%
5%
9%

6%
20%
5%
5%
11%
5%
8%

5%
22%
5%
6%
11%
5%
7%

6%
24%
5%
7%
11%
7%
5%

5%
26%
8%
6%
14%
5%
4%

6%
30%
6%
6%
12%
5%
6%

6%
29%
6%
7%
11%
5%
6%

1.2.2

Thâm hụt thương mại do đầu tư không hiệu quả

Để đo lường hiệu quả đầu tư các nhà kinh tế thường lấy hệ số ICOR
(Incremental Capital Output Ratio) để đánh giá, ICOR xác định mối quan hệ giữa
vốn - tư bản và đầu ra - GDP. Có nhiều cách để tính toán hệ số ICOR, nếu tiếp cận
theo hiệu quả sử dụng vốn ICOR là tỷ số giữa tỷ lệ đầu tư trên GDP so với tốc độ
tăng trưởng GDP. Theo khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới, ICOR ở mức 3 là đầu
tư có hiệu quả và nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững.
Theo tính toán của WB và tính toán của các nhà kinh tế trong nước thì ICOR
của Việt Nam hiện hay còn quá cao (xem bảng 3.7). Điều này cho thấy vốn đầu tư
của Việt Nam kém hiệu quả.

Hệ số ICOR theo giá so sánh 2011
8
7
6
5
4
3
2
1
0
2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015 Sơ bộ 2016

Hệ số ICOR theo giá so sánh 2011

Nguồn dữ liệu: Tổng cục thống kê

Tiểu luận Tài Chính Công

12


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Nhìn vào đồ thị trên, ta thấy ICOR của Việt Nam đang ở mức rất cao so với thế
giới và có xu hướng tiếp tục tăng. Hệ số ICOR tăng nhanh đồng nghĩa với việc đầu
tư kém hiệu quả và tăng trưởng kinh tế không bền vừng, không dựa nhiều vào yếu tố
công nghệ mà thường chỉ tăng trưởng dựa vào tăng trưởng vốn. Xu hướng này đang
xảy ra với vốn đầu tư của toàn xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước.
Trong quá trình đầu tư và phát triển kinh tế, ICOR tăng nhanh là chuyện đáng
lo ngại của mọi nền kinh tế. ICOR Việt Nam thậm chí còn cao hơn cả một số nước
trong khu vực như Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines. Vì vậy để có thể
đạt được hệ số ICOR = 3 theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới thì trong tương
lai cần phải nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giảm được tỷ lệ đầu tư / GDP.
Điều này không có nghĩa là giảm đầu tư, mà nghĩa là giữ cho tốc độ tăng đầu tư nhỏ
hơn tốc độ tăng GDP. Tuy nhiên, để đảm bảo đồng vốn đầu tư của các cá thể trong
nền kinh tế đạt được hiệu quả cao nhất cần phải có những chiến lược đầu tư thích
hợp để cải thiện hệ số ICOR trong thời gian tới.
1.2.3

Thâm hụt thương mại do mất cân bằng giữa xuất

khẩu và nhập khẩu
Thâm hụt thương mại xảy ra do tình trạng nhập khẩu vượt quá mức xuất khẩu
của quốc gia. Số liệu cho thấy hơn 10 năm qua thương mại hàng hoá quốc tế của Việt
Nam đã tăng nhanh chóng. Cả nhập khẩu và xuất khẩu đều tăng nhanh, đó có thể là
do kết quả những cải cách kinh tế mà Việt Nam đã thực hiện trong những năm 90,
thể hiện qua việc ký kết các hiệp định thương mại song phương và gần nhất là việc
Việt Nam gia nhập tổ chức WTO (01/11/2007) sức cạnh tranh của hàng hoá xuất
khẩu tăng lên, nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ đầu tư sản xuất và tiêu
dùng cũng gia tăng. Những mất cân đối trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
hay năng lực cạnh tranh yếu kém của doanh nghiệp trong nước hoặc các bất ổn các
yếu tố kinh tế vĩ mô đều có thể xem là những nguyên nhân chính tạo nên thâm hụt
thương mại.
Thâm hụt kép tác động đến nợ công
Thâm hụt kép được thể hiện qua đẳng thức sau:
Trong đó:
Sp là tiết kiệm của khi vực tư nhân
Tiểu luận Tài Chính Công

13


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Sg = Thu ngân sách – Chi ngân sách, hay thâm hụt ngân sách
Mối tương quan giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại được
tổng hợp dưới đây, nhận thấy hai đại lượng này có mối tương quan cao:
Năm
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016

Thâm hụt ngân sách (%
GDP)
-2.038
-2.784
-2.355
-3.249
-0.19
-1.212
0.254
-2.009
-0.488
-6.021
-2.757
-1.147
-6.857
-7.444
-6.29
-6.213
-6.606

Thâm hụt thương mại (tỷ USD)
-1.114137106
-0.598816189
-2.531137967
-4.343434968
-6.157479969
-1.911038476
-1.911499445
-10.50485482
-13.52543361
-10.99068763
-9.521058492
-5.601579736
5.458853466
3.695042133
6.09822735
1.528696708
5.190208343

Nguồn dữ liệu: World Indicator Development và Tổng cục Thống kê

Tiểu luận Tài Chính Công

14


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ
2.1 Những nghiên cứu chỉ ra rằng nợ công trì hoãn tốc độ
tăng trưởng kinh tế
Gần đây, nhiều nhóm nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật ước lượng tốt hơn
để nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Có nhiều nghiên
cứu thực nghiệm chứng tỏ ảnh hưởng tiêu cực của nợ công lên tốc độ tăng trưởng
kinh tế tại nhiều quốc gia.
Časni và các cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm mối quan
hệ giữa nợ công và tình hình kinh tế ở các nước Trung Âu, Đông Âu trong ngắn
hạn và dài hạn giai đoạn 2000-2011 bằng việc sử dụng kỹ thuật dự toán tổng hợp
PMG. Kết quả thực nghiệm đã cho thấy những ảnh hưởng tiêu cực đáng kể của nợ
công đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và chỉ ra nợ công làm giảm sự phát
triển của nền kinh tế. Trong ngắn hạn, nợ công cũng có ảnh hưởng tiêu cực đáng
kể đến sự tăng trưởng. Các tác giả đã gợi ý rằng chính phủ ở những nước này nên
đưa ra các khuôn khổ chính sách hỗ trợ xuất khẩu, thúc đẩy phát triển ngành công
nghiệp và thiết lập môi trường đầu tư tốt hơn trong dài hạn.
Bal & Rath (2014) đã tiến hành nghiên cứu tác động của nợ công đối với
tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ từ năm 1980 đến 2011. Sử dụng mô hình phân phối
trễ tự hồi quy (autoregressive distributed lag model – ARDL), các tác giả đã theo
dõi mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Theo đó,
kết quả mô hình hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model – ECM) cho thấy trong
nợ dài hạn nợ công có một tác động tiêu cực đáng kể lên sự kinh tế tăng trưởng ở
Ấn Độ. Các tác giả này khuyến cáo rằng chính phủ Ấn Độ nên tuân theo mục tiêu
công bằng liên thế hệ trong quản lý tài chính trong dài hạn để ổn định tỷ lệ nợ GDP, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Nhằm nghiên cứu về vấn đề mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng
kinh tế tại 20 quốc gia phát triển trong giai đoạn 1954 – 2008 và 1905 – 2008, Lof
& Malinen (2014) đã sử dụng mô hình tự hồi quy bảng (panel VAR). Những tác
Tiểu luận Tài Chính Công

15


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
giả này không tìm thấy bằng chứng rõ rệt về ảnh hưởng của nợ công lên phát triển
kinh tế, ngay cả với các nước có nợ công đang ở mức cao. Tuy nhiên, họ lại tìm
thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê theo chiều ngược lại: tăng trưởng kinh tế có
tác động làm giảm nợ công một cách rõ rệt.
Sử dụng phương pháp ước lượng panel GMM động, Zouhaier và Fatma
(2014) đã nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của nợ công đối với tăng trưởng
kinh tế của 19 nước đang phát triển trong giai đoạn 1990-2011. Kết quả tính toán
được đã cho thấy tác động tiêu cực của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế ở các
nước này.
Theo Akram (2015), trong những năm gần đây hầu hết các nước đang phát
triển đã không thu được đủ doanh thu để tài trợ cho ngân sách của họ. Do đó, các
nước này phải đối mặt với vấn đề thâm hụt kép và phải dựa vào việc vay nợ trong
và ngoài nước để tài trợ cho các hoạt động kinh tế của chính mình. Theo đó, tác
giả đã đánh giá thực tế tác động của nợ công đối với sự tăng trưởng của nền kinh
tế và đầu tư ở Philippines trong giai đoạn 1975 - 2010 bằng cách sử dụng kỹ thuật
phân phối trễ tự hồi quy. Các kết quả tính toán được đã chỉ ra rằng ở Phi-lip-pin,
nợ công có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến tăng trưởng kinh tế và đầu tư, khẳng
định sự tồn tại của “hiệu ứng nghịch lý nợ” (debt overhang) (Krugman, 1988).
Eberhardt và Presbitero (2015) đã tiến hành điều tra mối liên hệ trong dài
hạn giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế ở 118 quốc gia (bao gồm ở mỗi quốc gia
22 người có thu nhập thấp, 27 người có thu nhập trung bình thấp, 33 người có thu
nhập trung bình cao và 36 người có thu nhập cao) trong giai đoạn 1961-2012. Qua
các phương pháp ước tính với các thông số tuyến tính và phi tuyến tính, kết quả
ước lượng cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế
trong dài hạn ở tất cả các nước.
Theo Lee & Ng (2015), nợ công ở Malaysia ngày càng tăng do tài chính mở
rộng. Tác giả thực đã tiến hành kiểm tra xem liệu nợ công có ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế ở Malaysia từ năm 1991 đến 2013 hay không. Các kết quả tính
toán được đã cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa nợ công và tăng trưởng
kinh tế. Theo đó, nợ công của Malaysia theo thời gian có ảnh hưởng tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế.

Tiểu luận Tài Chính Công

16


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Mitze & Matz (2015) đã tiến hành đánh giá mối quan hệ giứa nợ công và
tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và ngắn hạn của các bang của Đức trong giai
đoạn 1970-2010. Bằng mô hình hiệu chỉnh sai số động (Dynamic Error Correction
Model), các tác giả đã nhận thấy mỗi quan hệ tiêu cực giữa nợ công của từng khu
vực và sự tăng trưởng GDP thực tế trên đầu người trong dài hạn.
2.2 Những nghiên cứu chỉ ra rằng nợ công thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế
Theo Moore và Thomas (2010), những nước đang phát triển được xem là
những nước có nợ công tương đối cao. Nợ chính phủ tại những nước này có thể
làm gia tăng đáng kể tốc độ tăng trưởng kinh tế nếu nguồn vốn vay được sử dụng
để đẩy mạnh sản lượng nền kinh tế. Tác giả tiếp cận vấn đề bằng phương pháp
meta-analysis, do đó đã chỉ ra rằng tồn tại một mối quan hệ cùng chiều giữa nợ
công và phát triển kinh tế.
Egbetunde (2012) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa nợ công và tăng
trưởng kinh tế tại Nigeria trong giai đoạn 1970 – 2010 sử dụng mô hình vector tự
hồi quy VAR. Kết quả ước lượng cho thấy rằng tồn tại một mối quan hệ nhân quả
hai chiều giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Tác giả kết luận rằng mối quan hệ
giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế là tích cực khi và chỉ khi chính phủ trung
thực về khoản nợ họ đang nắm giữ và sử dụng nó một cách hợp lý nhằm mục tiêu
tăng trưởng kinh tế.
Al-Zeaud (2014) nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của nợ công tới tăng
trưởng kinh tế tại Jordan trong giai đoạn 1991 – 2010. Sử dụng ước lượng OLS,
kết quả cho thấy nợ công và tăng trưởng dân số đóng vai trò thiết yếu trong tăng
trưởng kinh tế. Nghiên cứu chỉ ra rằng nợ công đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế
trong khi đó sự gia tăng về dân số lại kìm hãm đà tăng trưởng này. Do đó, theo
quan điểm của tác giả, nhằm mục tiêu một nền kinh tế ổn định lâu dài, chính
quyền Jordan nên duy trì ảnh hưởng tích cực của nợ công và hạn chế ảnh hưởng
tiêu cực của gia tăng dân số lên tăng trưởng kinh tế.
Fincke và Greiner (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công và tăng
trưởng tại các quốc gia mới nổi trong giai đoạn 1980 – 2012 Bài nghiên cứu sử
dụng phương pháp ảnh hưởng cố định (fixed effects) và ảnh hưởng ngẫu nhiên

Tiểu luận Tài Chính Công

17


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
(random effects). Kết quả ước lượng cho thấy một mối quan hệ tích cực mang tính
thống kê giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.
Splioti và Vamvoukas (2015) nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa nợ
công và tăng trưởng GDP thực tế đầu người sử dụng dữ liệu tại Hy Lạp từ năm
1970 tới năm 2009, trong đó có xem xét đến các mức tăng trưởng khác nhau mỗi
thời kỳ tại Hy Lạp. Bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối quan hệ
tích cực mang ý nghãi thống kê giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.
2.3 Những nghiên cứu chỉ ra rằng mối quan hệ giữa nợ công
và tăng trưởng kinh tế không phải là một mối quan hệ
tuyến tính
Từ trước tới nay, có ít nghiên cứu và lý thuyết chỉ ra hoặc đề cập đến mối
quan hệ phi tuyến tính giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế (Panizza & Presbitero,
2013). Panizza và Presbitero đã tiến hành một cuộc khảo sát nghiên cứu mối quan
hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế và phát hiện ra sự tồn tại của các ngưỡng
nợ, chứng tỏ rằng mối quan hệ giữa hai đại lượng này là phi tuyến tính. Chỉ khi
nợ công của một quốc gia vượt qua một ngưỡng nợ xác định thì nó mới bắt đầu có
sự ảnh hưởng lên tới tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Mối quan hệ này dường như không phụ thuộc nhiều vào việc dữ liệu được
lấy từ quốc gia nào, hay phương pháp định lượng mà Panizza và Presbitero sử
dụng là gì. Panizza cho rằng các nghiên cứu thực nghiệm liên quan tới mối quan
hệ giữa nợ công và sự tăng trưởng kinh tế nên đặt trọng tâm vào sự không đồng
nhất giữa các quốc gia, khi mà thực tế có rất ít bằng chứng chứng minh rằng mối
quan hệ giữa nợ công và sự tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ phi tuyến tính.
Bên cạnh đó, trong khi một số mô hình kết luận mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và nợ công là mối quan hệ nghịch biến trong dài hạn (Elmendorf
&Mankiw,1999), tiêu biểu là kết luận nợ công sẽ dẫn tới sự bất ổn định của nền
kinh tế và khiến cho mọi người kỳ vọng rằng thị trường tài chính sẽ ảm đạm trong
tương lai (Cochrane, 2011), có những mô hình khác cho rằng mối quan hệ nghịch
biến này không còn tồn tại khi có sự xuất hiện của thất nghiệp và sự cứng nhắc
của tiền lương (Greiner, 2011).
Mô hình tăng trưởng của Aschauer (2001) chỉ ra mối quan hệ phi tuyến tính
giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, thông qua việc hình thành vốn sản
Tiểu luận Tài Chính Công

18


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
xuất khu vực công, nợ công có thể gây ảnh hưởng tích cực đến một ngưỡng nhất
định và khi vượt khỏi ngưỡng này, tác động của nợ công có thể trở nên tiêu cực.
Cohen's (1993) và Clements và cộng sự (2003) trong nghiên cứu của mình
cũng nêu ra khẳng định tương tự. Khi ở mức thấp, gia tăng nợ công giúp làm tăng
đầu tư nội địa và có tác dụng tích cực cho tăng trưởng. Tuy nhiên khi vượt ra khỏi
ngưỡng giới hạn, nợ công cao sẽ gây ra tác động tiêu cực lên ý muốn của nhà đầu
tư, gây khó khăn trong huy động vốn và nguy cơ khủng hoảng.
Mặc dù có khá nhiều kênh truyền dẫn khác nhau được nêu ra trên giác độ lý
thuyết giải thích cho tác động của nợ công đến tăng trưởng, những bằng chứng
thực nghiệm lại tương đối ít và tập trung chủ yếu vào ảnh hưởng của nợ nước
ngoài thay vì nợ trong nước. Ví dụ như nghiên cứu của Krugman năm 1988 đã chỉ
ra tình hình nợ nước ngoài của một quốc gia cao hơn khả năng chi trả dẫn đến tình
trạng nợ công, trong đó, số tiền dự kiến chi trả nợ nước ngoài sẽ giảm dần khi
dung lượng nợ tăng lên.
Bên cạnh đó vẫn có những nghiên cứu tìm ra bằng chứng về mối quan hệ phi
tuyến tính giữa tăng trưởng kinh tế và nợ công. Pattillo (2002) tiến hành phân tích
sử dụng dữ liệu mảng bao gồm 93 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1969 1998 và tìm ra ảnh hưởng của nợ nước ngoài trên GDP bình quân đầu người sẽ trở
nên tiêu cực nếu giá trị hiện tại của dòng nợ trên 35 - 40% so với GDP.
Theo Ghosh và các cộng sự (2013), Greenlaw và các cộng sự (2013), mối
quan hệ phi tuyến tính giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế cũng có thể nảy sinh
nếu tồn tại một điểm bùng phát của sự bền vững NSNN. Tuy nhiên, chúng ta
không tìm được bất kỳ mô hình lý thuyết nào có nghiên cứu kỹ về các điểm bùng
phát nợ tương tự trong cơ cấu phát triển kinh tế.
Năm 2012, Checherita-Westphal and Rother (2012) nghiên cứu thực nghiệm
bằng phương pháp phân tích hồi quy với dữ liệu từ 12 quốc gia châu Âu thời kỳ
1970 – 2011 trong suốt năm năm, trong đó nghiên cứu tách biệt sự ảnh hưởng của
nợ công lên hai chỉ số là tốc độ tăng trưởng hàng năm và tốc độ tăng trưởng.
Những tác giả này phát hiện mối quan hệ hình chữ U ngược giữa nợ công và tăng
trưởng kinh tế, xảy ra với ngưỡng nợ ở khoảng 70 - 80% GDP.
Theo một quan điểm khác, Ogunmuyiwa (2011) nghiên cứu việc nợ công làm
đòn bẩy như thế nào cho sự phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển, cụ thể là
Tiểu luận Tài Chính Công

19


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Nigeria trong khoảng thời gian từ 1970 - 2007 bằng rất nhiều phương pháp toán
kinh tế như: kiểm định bổ sung Dickey - Fuller, thuyết nhân quả Granger và đồng
liên kết Johansen. Kết quả chỉ ra rằng, không thể xác định được một mối quan hệ
nhân quả giữa nợ chính phủ nước ngoài và sự tăng trưởng kinh tế ở Nigeria.

Tiểu luận Tài Chính Công

20


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

CHƯƠNG 3. ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ CÔNG NƯỚC
NGOÀI LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (MÔ HÌNH
ARDL) VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
3.1 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Kế thừa nghiên cứu của Ayadi & Ayadi (2008), Ijirshar, Joseph và Godoo
(2016) (hai nghiên cứu về mối liên hệ giữa quản lý nợ nước ngoài và tăng trưởng
kinh tế tại Nigeria, nhóm tác giả quyết định sử dụng lại mô hình tăng trưởng trong
hai nghiên cứu này như sau:
Trong đó:
G – biến phụ thuộc của mô hình, biểu thị tốc độ tăng trưởng kinh tế, đo
lường bằng tốc độ tăng trưởng GDP
EDY – biến độc lập biểu thị tỷ lệ nợ nước ngoài của chính phủ và được chính
phủ bảo lãnh trên tổng GDP (External Debt Stock, Public and Publicly
Guaranteed/ GDP)
DSY – biến độc lập biểu thị tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ nước ngoài / các khoản trả
nợ nước ngoài (gốc và lãi) định kỳ của nợ chính phủ và được chính phủ bảo lãnh
(debt service on external debt, public and publicly guaranteed) trên tổng GDP
GEX – biến độc lập biểu thị tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, được
đo bằng tỷ lệ % tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
INF – biến độc lập biểu thị tốc độ lạm phát của quốc gia
GFX – biến độc lập biểu thị tốc độ tăng trưởng vốn cố định (fixed capital)
trên tổng GDP
INTR – biến độc lập biểu thị mặt bằng lãi suất tại quốc gia
Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, do giới hạn về số quan sát thu thập
được (26 quan sát), do vậy nhóm tác giả quyết định bỏ bớt 2 biến độc lập GFX và
INTR trong mô hình gốc. Lý do về việc bỏ biến GFX như sau: theo một số nghiên
cứu, ví dụ Blomstrom, Lipsey và Zejan (1993) chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế
thường xảy ra trước tăng trưởng về vốn cố định, và rằng không có bằng chứng nào
về mối liên hệ nhân quả giữa hai đại lượng này. Lý do về việc bỏ biến INTR như
Tiểu luận Tài Chính Công

21


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
sau: nhiều nghiên cứu chỉ ra mối tương quan cùng chiều rõ rệt giữa nợ chính phủ
và mặt bằng lãi suất quốc gia (xem Engen & Hubbard, 2004), do đó trong bài
nghiên cứu này tác giả loại bỏ biến INTR để tránh hiện tượng đa cộng tuyến giữa
các biến.
Sau khi lược bỏ các biến, mô hình tăng trưởng được rút gọn lại như sau:
Như vậy mô hình còn lại 4 biến độc lập, và các biến độc lập này đều ảnh
hưởng lên tốc độ tăng trưởng kinh tế theo các nghiên cứu trước đây. Thật vậy:
Biến nợ nước ngoài của chính phủ và được chính phủ bảo lãnh được cho là
có mối tương quan ngược chiều với tốc độ phát triển kinh tế (xem Simic &
Mustra, 2012, Mousa & Shawawreh, 2017). Ngoài ra, Le, Van, Nguyen-Van &
Barbier-Gauchard (2015) phát hiện ra các khoản nợ nước ngoài của chính phủ và
được chính phủ bảo lãnh có ảnh hưởng lên tới thuế suất và tốc độ tăng trưởng
kinh tế.
Nghĩa vụ trả nợ trả nợ nước ngoài định kỳ (gốc và lãi) của chính phủ và
được chính phủ bảo lãnh cũng có tác động nhất định tới tốc độ tăng trưởng GDP.
Tác động này thường là tác động kìm hãm tăng trưởng (xem Serieux & Samy
(2001), Pattillo, Poirson & Ricci (2015)).
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, thường được coi như là một chỉ số
báo hiệu sự tự do thương mại của một đất nước, cũng có ảnh hưởng nhất định tới
GDP. Mô hình tăng trưởng nội sinh (Romer, 1986 và Lucas, 1988) chỉ ra rằng các
hoạt động xuất nhập khẩu có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Theo
Grossman & Helpman (1991), Barro & Sala-i-Martin (2004), tự do hóa thương
mại đẩy mạnh việc tiếp thu học hỏi tiến bộ khoa học công nghệ và do đó có thể
trao đổi được nhiều hàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia hơn, đẩy mạnh tăng
trưởng kinh tế. Yanikkaya (2003), Makki & Somwaru (2004) phát hiện rằng mở
cửa thương mại có một tác động tích cực rõ rệt lên tăng trưởng kinh tế.
Lạm phát có một tác động rõ rệt lên tới tăng trưởng kinh tế, điều này đã được
khẳng định trong các mô hình tăng trưởng từ những năm 60 của thế kỷ trước.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng mối quan hệ này là ngược
chiều (xem Fischer, 1983), hoặc phát hiện rằng mối quan hệ này là phi tuyền tính

Tiểu luận Tài Chính Công

22


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
và tìm ra ngưỡng lạm phát thực sự gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển kinh
tế (Sarel, 1996).
Từ mô hình (2) có thể viết lại thành phương trình hồi quy tuyến tính với dữ
liệu chuỗi thời gian như sau:
Trong đó là phần nhiễu trắng.
Mô hình phân phối trễ tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag Model –
ARDL Model) có thể viết dưới dạng sau :
Trong đó là phần nhiễu trắng.
Theo nghiên cứu của Hamuda và các cộng sự (2013), phương pháp ARDL có
nhiều ưu điểm hơn so với các phương pháp đồng liên kết khác :
Thứ nhất, trong trường hợp mẫu nhỏ (cụ thể số lượng mẫu trong bài nghiên
cứu là 26 mẫu) thì mô hình ARDL là cách tiếp cận có ý nghĩa thống kê hơn để
kiểm định tính đồng liên kết trong khi đó, kỹ thuật đồng liên kết của Johansen yêu
cầu số mẫu lớn hơn để đạt được độ tin cậy.
Thứ hai, trái với các phương pháp thông thường để tìm mối quan hệ dài hạn,
mô hình ARDL không ước tính hệ phương trình mà nó chỉ ước tính một phương
trình duy nhất.
Thứ ba, các kỹ thuật đồng liên kết khác yêu cầu các biến hồi quy được đưa
vào liên kết có độ trễ như nhau thì trong cách tiếp cận theo mô hình ARDL, các
biến hồi quy có thể dung nạp các độ trễ tối ưu khác nhau (Hamuda và cộng sự,
2013).
Thứ tư, nếu như chúng ta không đảm bảo về thuộc tính nghiệm đơn vị hay
tính dừng của hệ thống dữ liệu, mức liên kết I(1) hoặc I(0) thì áp dụng thủ tục
ARDL là thích hợp nhất cho nghiên cứu thực nghiệm. Điều này cũng được chỉ ra
trong nghiên cứu của Mehrara & Musai (2011).
3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Các dữ liệu trong bài nghiên cứu này là dữ liệu chuỗi thời gian hằng năm
trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2015. Do nhiều hạn chế về thông tin
nên nhóm tác giả không có được số liệu năm 2016 mà chỉ có thể dựa vào các dự
đoán, do vậy số liệu năm 2016 không được sử dụng để tránh việc gây sai lệch kết
Tiểu luận Tài Chính Công

23


Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
quả ước lượng mô hình. Số liệu 2016 chỉ mang tính xác nhận và kiểm tra lại kết
quả của mô hình đã ước lượng.
Cụ thể, dữ liệu các biến được thu thập như sau :
Dữ liệu về tăng trưởng kinh tế, GDP thực, tổng nợ nước ngoài và nghĩa vụ
trả nợ nước ngoài định kỳ của chính phủ và được chính phủ bảo lãnh, tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu được lấy từ cơ sở dữ liệu World Economic Outlook của IMF và
World Development Indicators của World Bank Database. Các dữ liệu tài chính
như lạm phát được lấy từ Article IV Consultation – Press Release, Staff Report ;
cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB cũng như tự tính dựa vào chỉ
số CPI trong cơ sở dữ liệu WDI. Những phần dữ liệu còn thiếu được bổ sung bằng
dữ liệu tại trang dữ liệu kinh tế vĩ mô Việt Nam http://finance.vietstock.vn/dulieu-vi-mo/ , và cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
http://www.sbv.gov.vn/
3.3 Kết quả nghiên cứu
(i)

Kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root Test)
Theo Pesaran & Shin (1996), mô hình ARDL chỉ được sử dụng nếu như các

biến trong mô hình có bậc tích hợp tối đa là 1. Do vậy, trước khi ước lượng mô
hình ARDL, ta phải tiến hành thủ tục kiểm định nghiệm đơn vị, ở đây nhóm tác
giả sử dụng kiểm định ADF (kiểm định Dickey – Fuller mở rộng – Dickey &
Fuller, 1979) trong phần mềm Eviews 9.5. Kết quả của kiểm định được trình bày
ở bảng dưới đây:

Biến
G
D(G)
EDY
DSY
D(DSY)
GEX

Thống
kê t
2.603231
5.042956***
5.325677***
2.612208
3.860688**
4.331212**

Tiểu luận Tài Chính Công

pvalue
0.1061

Kết luận

Bậc
tích hợp

Chuỗi không
dừng

0.0005

Chuỗi dừng

I(1)

0.0012

Chuỗi dừng

I(0)

0.2783

Chuỗi không
dừng

0.0305

Chuỗi dừng

I(1)

0.0110

Chuỗi dừng

I(0)

24


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x