Tải bản đầy đủ

Trữ tình cá nhân trong thơ việt nam sau 1975

Trữ tình cá nhân trong thơ Việt Nam sau 1975
Thứ Năm, 05/11/2015 11:04 GMT +7

Phạm

Quốc

Ca

Tính chất sử thi của nền văn học Việt Nam 1945-1975 được quy định
bởi trạng thái sử thi của đời sống cách mạng và kháng chiến. Ra khỏi
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ra khỏi lối sống cộng đồng
“Cả đất nước có chung một tâm hồn, có chung một gương mặt”, con
người
dần
dần
tự
ý
thức
lại
về


nhân.
Đặc biệt là từ Đổi mới cá nhân đã xuất hiện như một phạm trù xã hội phổ
biến, có cơ sở kinh tế, thoát khỏi những “bao cấp về tư tưởng” để cảm nhận
và lý giải cuộc sống theo lăng kính chủ quan của mình. Khát vọng bức thiết
sau 1975 là tự do cá nhân và dân chủ xã hội mà do hoàn cảnh bất thường
của chiến tranh, do những quan niệm cực đoan một thời ta chưa thực hiện
được đầy đủ, mặc dù “quyền sống”, “quyền tự do”, “quyền mưu cầu hạnh
phúc” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trang trọng ghi nhận trong “Tuyên ngôn
độc lập”. Người cũng đã nói rất chí lý: “Nếu nhân dân không có tự do và hạnh
phúc thì độc lập quốc gia cũng chẳng có nghĩa lý gì “. Đó là cơ sở văn hóa xã
hội của việc hình thành và phát triển dòng thơ trữ tình cá nhân.
Dòng thơ này còn gặp một nguồn mạch trong truyền thống làThơ mới 19321945. Nhận xét về thơ sau 1975 Trần Đình Sử đã viết: “Trong những năm trăn
trở đổi mới thơ rộ lên với các chủ đề xã hội. Cơ chế thị trường xác lập thơ đi
vào thế giới cá nhân riêng tư, trở về với các truyền thống thơ Mới (Văn nghệ
số
41/1994).
Ở đây cần nói rõ thêm rằng thơ không chỉ trở về với “các truyền thống thơ
Mới”. Đúng hơn phải nói rằng thơ trở về với thể tài đời tư, trở về với trữ tình
cá nhân. Và cũng cần phải khẳng định ý thức về cá nhân đã tạo nên một
bước phát triển quan trọng trong lịch sử thơ ca nhân loại. Ở phương Tây điều
đó bắt đầu với chủ nghĩa lãng mạn. Nhà thơ Pháp Lamactin đã tự hào nói
rằng: “Tôi là người đầu tiên làm cho thơ ca rời khỏi núi Pacnax. Tôi đã tặng
cho nàng thơ không phải cây đàn lia bảy dây qui ước mà là trái tim con người
xúc cảm do những rung động của tâm hồn và của thiên nhiên”.
Ở phương Đông ý thức cá nhân đã manh nha trong thơ thời kỳ trung đại, đặc
biệt là vào giai đoạn mạt kỳ của chế độ phong kiến. Viên Mai nhà thi học lớn
đời Thanh đã nhấn mạnh cái cá nhân trong thơ: “Gốc của thơ là ở chỗ miêu
tả cảnh ngộ của tính tình và linh cảm cá nhân”(Tuỳ Viên thi thoại). Ông còn
khẳng định: “Thơ không thể vô ngã”. Giới nghiên cứu Việt Nam đã chỉ ra ý
thức cá nhân trong thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Nguyễn
Công Trứ…Trong “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh và Hoài Chân đã chỉ rõ bản
chất cá nhân của cái tôi trữ tình Thơ mới mà các ông gọi là “chữ tôi với cái
nghĩa tuyệt đối cúa nó”. Đây là thời đại xuất hiện kiểu nhà thơ trữ tình cá
nhân (có người gọi là kiểu nhà thơ lãng mạn) vừa tự khẳng định một cách


kiêu hãnh cái tôi vừa đầy bi kịch nội tâm. Đây là kiểu nhà thơ chịu ảnh hưởng
của nhiều trường phái văn học phương Tây hiện đại từ lãng mạn đến Thi sơn,
tượng trưng và sau tượng trưng. Một mặt họ tự biểu hiện mình một cách


thành
thực,
đầy
tự
hào:
- Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta
(Xuân

Diệu)

Và với tâm thế tự do, tự giải phóng họ đã đem đến cho thơ mọi cung bậc, sắc
thái của thế giới tâm hồn cá nhân phức tạp, đầy bí ẩn. Mặt khác đó là con
người cá nhân cô đơn, khép kín đi sâu vào bản thể nên “càng đi sâu càng
thấy lạnh” và không tránh khỏi mặc cảm thoát ly, lạc lõng trước những vấn
đề sống còn của dân tộc. Cô đơn, tuyệt vọng là kết cục tất yếu của kiểu nhà
thơ
này.
Cách mạng tháng Tám 1945 và tiếp theo là cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp đã kết thúc sự tồn tại của loại hình Thơ mới nhưng những di sản của nó
vẫn còn có ý nghĩa dài lâu. Trái với những tuyên bố phủ định quyết liệt (ở
ngay cả các tác giả của nó) nhiều thành quả của Thơ mới đã được thơ Cách
mạng tiếp tục. Đó là câu thơ trữ tình điệu nói, là nguyên tắc miêu tả một
cách cụ thể, cảm tính thế giới khách thể, là tính chất giãi bày nội tâm, là sự
cảm nhận thế giới bằng cảm xúc, cảm giác… Đặc biệt là ý thức sáng tạo, ý
thức về sự độc đáo, về tính hiện đại mà nếu không có những điều đó thơ có
nguy cơ dừng lại ở trình độ nghệ thuật đại chúng. Có thể nói cụ thể hơn như
những yếu tố tượng trưng, siêu thực đã được Chế Lan Viên tiếp tục sử dụng
có hiệu quả trong thơ sau 1945. Một số bài thơ hay của nền thơ Cách mạng
mang âm điệu bi tráng hoặc bi thương rất gần gũi vớiThơ mới như “Tây
Tiến” , “Đôi mắt người Sơn Tây” (Quang Dũng) , “Màu tím hoa sim”(Hữu
Loan)… Mảng thơ thương nhớ quê hương miền Nam và thơ tình yêu trong thơ
1954-1975… rất gần gũi với thể tài đời tư trong Thơ mới. Trong thực tế thơ
tình yêu chưa bao giờ hoàn toàn vắng mặt trong nền thơ Cách mạng . Cần có
cái nhìn văn học như một quá trình với những giai đoạn, những đổi thay đột
biến
đồng
thời

một
dòng
chảy
liên
tục.
Sự nghiệp Đổi mới đã thổi một luồng gió mạnh giải phóng mọi năng lực sáng
tạo trong xã hội, dĩ nhiên có cả thơ ca. Người ta dễ hình dung sự đổi mới thơ
chỉ bắt đầu từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Thực ra không phải như vậy.
Do bản chất nghệ thuật không chấp nhận sự đứng yên, lặp lại, một số nhà
thơ đã tự đổi mới trước thời điểm 1986. Thơ Xuân Quỳnh ( “Sân ga chiều em
đi ”1984, ”Tự hát”1984), thơ Chế Lan Viên (“Hoa trên đá”,1985), thơ Ý Nhi
(“Người đàn bà ngồi đan”,1985) đã hướng mạnh về trữ tình cá nhân và thể
tài
đời
tư.
Trong Đổi mới có sự tìm về với những giá trị bản chất. Thơ trở về với tiếng nói
trữ tình cá nhân là tìm về với một nét bản chất của trữ tình. Nhà mỹ học Đức
Heghel trong công trình “Mỹ học” đã lý giải rất hay về bản chất chủ quan của


trữ tình với những khái niệm “chủ thể”, “cái tôi”, “cái tôi nội cảm”. Thơ cách
mạng nhiều lúc đã có những biểu hiện cực đoan vì cái chung mà hy sinh cái
riêng. Câu thơ “Khi riêng tây ta thấy mình xấu hổ” của Chế Lan Viên là một
minh
chứng.
Bước vào thời kỳ Đổi mới các thi sĩ như cùng lúc phát hiện ra sự trống vắng
cái cá nhân trong thơ. Chiến tranh cách mạng kéo dài, lối sống cộng đồng và
cơ chế quản lý xã hội quan liêu, bao cấp nhiều thập kỷ đã làm cho con người
“chỉ có bấy nhiêu ý nghĩ, bấy nhiêu tin tưởng cho đến nỗi yêu ghét vui buồn
cơ hồ cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định” (theo cách nói của
Hoài Thanh trong ”Thi nhân Việt Nam”). Ý thức mới trong đời sống xã hội dẫn
đến ý thức mới trong thơ. Ý thức mới vào thời điểm này chính là ý thức về cá
nhân. Hoài Thanh từng nói đến “khát vọng được thành thực” của các nhà Thơ
mới. Tình huống đó lại xuất hiện trong thơ thời kỳ Đổi mới.
Thơ trữ tình cá nhân xuất hiện trở lại trong nền thơ Việt Nam sau 1975 không
chỉ do phản ứng lại thể tài lịch sử – dân tộc chiếm lĩnh thi đàn mấy chục năm
qua như có người đã nghĩ mà chủ yếu là do loại thơ này có nguồn cội trong
bản chất của thơ. Thơ gắn với tiếng lòng trực tiếp của chủ thể trữ tình. “Thơ
là giải thoát” (Goethe). “Thơ đời tư thể hiện tâm trạng, các cảm xúc cá biệt,
cá nhân. Cái cá nhân bình thường này được thể hiện qua các motíf llầm lỡ,
hối hận, những rung động nhất thời, sự cô đơn, sự quanh quẩn, sự say mê phi
chuẩn mực, sự mất mát không thể cứu vãn…”(11; tr.71). Khác với các tác giả
sử thi tư duy bằng dân tộc, xã hội, nhân loại các tác giả thơ thể tài đời tư
nhìn xã hội qua lăng kính cá nhân. Tiếc thay suốt một thời gian dài đã có sự
ngộ nhận đó là thơ “tiểu tư sản” làm cho thể tài này không được phát triển
một cách bình thường. Cuộc sống từ chiến tranh và cách mạng chuyển sang
hoà bình, các tương quan , đặc điểm cấu trúc xã hội và con người thay đổi.
“Sự hài hòa giữa cá nhân và xã hội mà thực ra là sự lấn át của cái xã hội, của
cái chung đối với cái riêng như là một tiêu chuẩn của một thời bây giờ được
đặt ra có phần ngược lại. Người ta mặc nhiên coi cái tôi cá nhân – cá tính là
chuẩn mực để soi ngắm thế giới” (1; tr.111). Nếu sử thi là cái “siêu thể loại “
chi phối thơ (và văn học nói chung) trước 1975 thì trong thơ thời kỳ Đổi mới
cái
tôi

nhân
được
đặt

vị
trí
này.
Xuất hiện trong thơ motif “tự thú” mà thực chất chỉ là nói lên một điều: cái cá
nhân đòi có chỗ đứng chính đáng trong thơ. Trong hoàn cảnh cuộc sống trở
lại bình thường đó là một điều hợp quy luật. Không nên nhìn bằng ”con mắt
sử thi” để kết án đây là đều đã đưa thơ về với cái nhỏ bé, vụn vặt. Thơ trữ
tình cá nhân và cái nhỏ bé, vụn vặt là hai chuyện khác nhau. Đồng nhất
những điều này là ngộ nhận mà nguyên nhân là do ảnh hưởng lâu dài của
việc gắn thơ với cái cao cả, đề cao một cách phiến diện tính chất xã hội của
thi ca. M.Bakhtin đã đã nói về thơ trữ tình cá nhân một cách tinh tế: “Lời
trong thơ không thuần tuý là lời cá nhân. Ở đây uy tín của tác giả, nhà thơ là
uy tín của dàn đồng ca. Bởi vì tôi nghe thấy bản thân mình trong người khác,
với người khác và cho người khác”(9; tr.24). Có thể nói câu cách ngôn:
“Không có gì thuộc về con người lại xa lạ đối với tôi” rất thích hợp khi nói về


thơ trữ tình cá nhân. Tính nhân loại đã làm nên sự đồng cảm của thơ trữ tình
cá nhân. Có thể thấy chính ở đây tính phổ quát của loại thơ này. Chúng ta
dường như đã quen nhìn nhận một bài thơ nói đến số phận dân tộc thì có giá
trị hơn một bài thơ nói đến cảm xúc cá nhân. Có lẽ vì thế Nguyễn Bá Thành
đã nhận định rất tiêu cực về thơ thời kỳ Đổi mới: “Không còn dàn đồng ca
thơ, không còn người lĩnh xướng, không cả người nhạc trưởng, trên sân khấu
thơ chúng ta chỉ thấy những bài đơn ca thảm thiết lúc đầu và những lời độc
tấu nhạt nhẽo về sau”(10; tr.364). Thực tế không phải như vậy. Có thể đồng ý
với ban tuyển chọn tập thơ “100 bài thơ hay năm 1993” (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí
Minh,1993): “Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến tâm hồn con người Việt Nam
mở rộng tất cả các chiều kích như lúc này”. Điều đễ nhận thấy là thơ trữ tình
cá nhân sau 1975 có sự gặp gỡ với Thơ mới (1932-1945) ở một số motif chủ
đề, đề tài. Trước hết là motif tự phân tích tâm hồn của chủ thể trữ tình. Tâm
hồn con người cá nhân thời hiện đại là một thế giới phức tạp, bí ẩn: "Hoa mật
ngọt chen giao cùng trái độc”(Xuân Diệu). Tiếp tục motif tự nhận thức, tự
phân tích của Thơ mới mấy chục năm về trước, Ý Nhi với tập thơ “Người đàn
bà ngồi đan” được xem là một nhà thơ có ý thức đổi mới rất sớm. Motif này
trở đi, trở lại trong tập thơ của chị như một nét phong cách:
Thiếu
nữ
đã

đàn


tuổi
bốn
mươi
Cam chịu và cuồng nộ, mong mỏi và buồn nản
Đem cho và nhận về, kiếm tìm và đánh mất
Giản đơn và rối ren, lớn lao và cạn hẹp.
(Về
Thái

Nguyên)

Tính phân đôi, mâu thuẫn của thế giới tinh thần con người như vậy còn xuất
hiện trong các bài thơ “Mùa thu”, ”Người đàn bà ngồi đan”. Đó là cái nhìn
phản ứng lại cách hình dung đơn giản, một chiều về con người trước đây.
(Thực ra cái nhìn sâu sắc này phải được tính bắt đầu từ Thanh Thảo trong
“Những người đi tới biển” khi anh viết: “Tuổi hai mươi-Dày như cỏ-Sắc như cỏYếu
mềm

mãnh
liệt
như
cỏ”).
Trong thơ thời kỳ Đổi mới ta thấy tràn ngập cái buồn, cái cô đơn:
-Ta như lạc giữa ngã ba đời
Có lúc lang thang về đâu không biết nữa
Có lúc vật vờ như hồn thiêng không nhà không cửa.
(Một
chấm
xanh-Phùng

Khắc

Bắc)

Đó là một trạng thái tâm lý có thực trong bản thể con người và tồn tại siêu
thời gian , không nên quan niệm giản đơn là sự lặp lại của Thơ mới.
Trong thơ thời kỳ Đổi mới ta cũng gặp trạng huống đã xảy ra với Thơ mới: sự
nở rộ của thơ tình yêu. Đó là một nhu cầu tự nhiên của thơ trong đời sống
bình thường và nằm trong việc cấu trúc lại một nền thơ theo hướng đa dạng
hóa. Tuy không có được thanh thế như thời Thơ mới nhưng thơ tình yêu hôm
nay cũng có đủ những cung bậc biến thái tinh vi của nó. Có những phát hiện


tinh tế: “Có bao giờ trên đường đời tấp nập - Ta vô tình đã đi lướt qua nhau –
Bước lơ đãng tình cờ đang để mất – Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu” (Bùi Minh
Quốc). Có những ý thơ đạt tới độ hiểu đời, hiểu người: “Ai cũng có những phút
giây ngoài tình chồng vợ – Đừng có trách chi những phút xao lòng” (Thuận
Hữu). Có những câu thơ mang vẻ đẹp của tâm hồn: “Trái tim đã đập chân
thành – Xin yêu ngày tháng chưa dành cho em” (Đinh Thị Thu Vân). Đặc biệt
đáng ghi nhận là thơ tình của các nhà thơ nữ như Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Thị
Ngọc Liên, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Giáng
Vân… Họ đem đến những tiếng thơ bộc lộ hết mình của phụ nữ thời hiện đại.
“Thơ tình của họ vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ, vừa cả tin vừa tự tin, vừa mê
đắm vừa sáng suốt, vừa hồn nhiên vừa cay đắng”. (Ý Nhi, Lời tựa tập thơ “Em
muốn giang tay giữa trời mà hét” của Phạm Thị Ngọc Liên, Nxb Hội Nhà văn,

Nội,
1992).
Tuy nhiên thơ tình yêu hôm nay đã gặp phải khá nhiều thách đố. Tình yêu với
tính cách là một đề tài của thơ đã đạt tới thời hoàng kim trong phong trào
Thơ mới 1932-1945. Thơ tình yêu hôm nay liệu có gì mới hơn , hay hơn? Thơ
hay bởi nhiều lý do trong đó nguyên cớ để làm thơ đóng một vai trò quan
trọng. Thơ tình yêu thời 1932-1945 ngoài tính chất bộc lộ nội tâm của con
người cá nhân còn là một thách đố đối với những trở lực của tình yêu trong
xã hội đương thời. Tự do quan hệ nam nữ và lối sống hiện đại hôm nay đã
làm cho tình yêu được giải phóng khỏi những trở lực đồng thời nó cũng bị giải
thiêng và trần tục hoá, bớt phần thơ mộng. Con người hiện đại vẫn say mê
tình yêu như mọi thời nhưng tình yêu với tư cách là một đề tài văn học đã
không còn mới mẻ và có sức hấp dẫn tinh khôi của “cái thuở ban đầu lưu
luyến ấy”. Sau sự nở rộ của ở giai đoạn đầu Đổi mới theo quy luật bù trừ
khoảng trống, khoảng thiếu thơ tình yêu đã dần dần trở nên lạm phát. Hạt
mưa ngày hạn là hạt ngọc nhưng mưa nhiều là tai hoạ.
Vấn đề còn ở ý thức thẩm mỹ của con người hiện đại. Thơ tình yêu chủ yếu
gắn với cảm hứng lãng mạn. Thơ lãng mạn là một trào lưu đã thuộc về quá
khứ. Tâm hồn con người hôm nay nhiều ưu tư, khắc khoải, không dễ nhập
cảm vào những bài thơ tình yêu như trước. Tình yêu đẹp khi nó được thiêng
liêng hoá, thơ mộng hóa. Con người hiện đại đang nghiêng về trần tục hoá
tình yêu. Con người được quan niệm một cách duy lý hơn. Nó không chỉ là
một thực thể tinh thần mà còn là một thân xác. Yếu tố tình dục trong thơ
hôm nay có cơ sở từ quan niệm như vậy. Khi yếu tố bản năng, thân xác bị
đẩy đến cực đoan thì thơ tình gặp sự phản cảm ở bạn đọc. Một số bài thơ của
Hoàng Hưng, Dương Tường, Lê Minh Quốc, Bùi Chí Vinh, Vi Thuỳ Linh nằm
trong
trường
hợp
đó.
Mặt khác người đọc thời hiện đại đã từng trải hơn. Họ có xu hướng nhìn thơ
tình như những tác phẩm nghệ thuật hơn là một thế giới cảm xúc để bị dẫn
dụ, nhập cảm, khóc cười với nó. Thơ tình hôm nay vì vậy tỉnh táo hơn, duy lý
hơn. Nó nghĩ về tình yêu hơn là nói cảm xúc yêu đương.


Cuộc sống thời đương đại dường như không còn chỗ cho mộng mơ, ảo tưởng.
Thơ tình yêu vì thế cũng gần với đời thường hơn. Nhà thơ chấp nhận cả hạnh
phúc lẫn đắng cay trong tình yêu: “Em ơi! Chiều đã muộn rồi – Hoàng hôn xin
tím một trời biệt nhau – Chỉ là cát bụi mà đau – Nói chi muôn triệu tinh cầu
chơi vơi – Mai sau xin nước mắt trời – lại buông hai giọt, ra đời hai ta” (Đinh
Phạm Thái). Cũng vì thế thơ tình nhiều chất lý trí mà ít sự mê đắm, lãng mạn
như
trong
Thơ
mới.
Những năm tháng cuối thế kỷ XX loài người được chứng kiến những thành
tựu của khoa học và công nghệ đồng thời với những đảo lộn ghê gớm trong
đời sống chính trị. Thời đương đại đem đến cho con người một lối sống tỉnh
táo ,rất it` chỗ cho mơ mộng, cho ảo tưởng. “Nhìn thẳng vào sự thật” không
chỉ là thái độ chính trị mà còn là cảm quan đời sống nói chung. Trong thơ trữ
tình cá nhân xuất hiện hình ảnh con người nhận chân sự thật đời sống ,dù đó
là sự thật tàn nhẫn. Con người không còn vì lý tưởng cao xa mà bỏ quên hiện
thực: “Không có gì cao xa ngoài hạnh phúc thực sự một kiếp người” (Võ
Thanh An). Con người tự tước bỏ mọi danh vọng phi thực tế, chỉ mong được là
người: “Anh không mong làm thánh - Chỉ mong làm người”(Ngô Văn Phú).
Ngay trong địa hạt của say mê là tình cảm nam nữ, con người duy lý cũng
nhìn
thẳng
vào
sự
thật
với
thái
độ
chấp
nhận:
Xưa là chị nay là em
Phải duyên chồng vợ nối thêm tơ hồng
Được mùa lúa đã gặt bông
Được
cải
cải
đã
chặt

ngồng

muối

dưa.

Thái độ của nhân vật trữ tình tỉnh táo đến đáng thương:”Chị thản nhiên mối
tình đầu - Thản nhiên em nhặt bã trầu về têm” (Chồng chị, chồng em- Đoàn
Thị Lam Luyến). Nhân vật trữ tình tự “giải huyền thoại”, “giải cổ tích” (Đò
Lèn- Nguyễn Duy, Bánh chưng, bánh giày- Bằng Việt). Cái nhìn thế sự trong
thơ
đậm
tính
triết
lý:
-Thường là bèo bọt nổi lên
Thường là vàng ngọc nhận chìm đáy sâu
Chữ tâm càng nặng càng đau
Khi vui lắm bạn khi sầu mình ta.
(Tô

Hoàn)

Xuất hiện trong thơ loại thơ ngắn 2, 3 câu nói một triết lý đời sống:
Tôi khóc những người bay không có chân trời
Lại khóc nhưng chân trời không có người bay.
(Trần

Dần)

Nhân vật trữ tình trong “Di cảo thơ” (Chế Lan Viên) là con người tỉnh táo, duy
lý đến tận cùng trước nhiều vấn đề chính trị, xã hội cũng như đời sống cá
nhân. Đó là thơ của người cuối đời nhìn lại, thơ “từ thế chi ca” mà nổi bật là


tính

duy

lý.

Trong thơ trữ tình cá nhân còn nổi bật lên xu hướng khẳng định cá tính. Các
tập thơ “Người đi tìm mặt” của Hoàng Hưng, “Thơ tình” của Bùi Chí Vinh, “Tôi
vẽ mặt tôi” của Lê Minh Quốc… đã có những đóng góp nhất định ở chủ đề
này. Nó chống lại sự mài mòn cá tính như là một hệ quả tất yếu của lối sống
tập thể “cả đất nước có chung một tâm hồn, có chung một gương mặt” . Bên
cạnh đó thơ của những tác giả này cũng biểu hiện những mặt trái. Đó là thái
độ cực đoan, ngông nghênh, khinh bạc: “Ta chẻ đầu ta chia hết thảy mọi
người- Thế gian này những kẻ bình thiên hạ- Có còn gan, đủ mật để rong
chơi- Có như Quát khắc thơ vào vách đá- Có như Xương nhét chữ dưới mông
ngồi- Có dám như ta đọc những lời khí phách- Rồi rủ Hồ Xuân Hương đánh cờ
tướng
tay
đôi”
(Bùi
Chí
Vinh).
Mặt trái của thơ trữ tình cá nhân còn ở sự xa rời cuộc sống chung của dân
tộc, của đất nước. Trên báo "Văn Nghệ "số 29/1994 nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi
đã nhận xét: “Thơ bây giờ gần như âm bản của thời bao cấp. Trước đây người
ta không nỡ viết một tình cảm cá thể, không nỡ ca ngợi một áng tóc mây khi
đất nước bời bời lửa đạn. Nhà thơ chỉ viết cái chung thì bây giờ chỉ viết cái
riêng. Buồn, cô đơn, tê tái và cả tuyệt vọng nữa... Tôi cũng hơi lo lắng hình
như bây giờ người ta cứ tưởng thơ đích thực là xoáy vào những nỗi đau,
những nỗi buồn còn những gì liên quan đến vui buồn của con người lao
động… Những thứ ấy nếu nói đến chỉ là thơ lối cũ mà thôi”.
Theo chúng tôi thơ vừa cần nói đến những gì liên quan với người lao động
vừa cần nói đến cái riêng tư vì đó là nhu cầu thẩm mỹ chính đáng của con
người mọi thời. Từ bỏ thói quen tiếp nhận đã định hình chúng ta sẽ thấy thơ
đang mở rộng nội dung trữ tình rất đáng khích lệ. Nó cho thấy bước chuyển
của
nền
thơ
Việt
Nam
thời
kỳ
Đổi
mới.
Có thể khẳng định sự hình thành của một dòng thơ hiện thực mở rộng cánh
cửa cho cái thường ngày đi vào thơ dưới góc nhìn cá nhân.
Chế Lan Viên, nhà thơ sử thi hùng tráng của Cách mạng giờ đây đã nói đến
cái
cực
nhọc
hàng
ngày
của
mình:
Còng lưng tưới nước vạt rau khô
Bơm hỏng mà đâm khổ cả nhà
Đêm ngủ chỉ toàn lo vật giá
Xa dần truyện ngắn, bớt dần thơ .
(Cảnh
điền
viên

– Di

cảo

thơ)

Vào thời điểm 1988 Mã Giang Lân đã viết: “Phần được của thơ hôm nay là
đụng đến nỗi đau nhân thế. Cái đau đớn nhất là nghèo đói. Và từ đấy là nhân
cách đảo điên, là xót xa của nhân dân và chính người cầm bút” (4; tr.52).
Nguyễn Duy nói đến tâm sự đau xót của nhà thơ khi tâm hồn là một khối
vàng ròng vì cơm áo phải bán dần từng chút (Bán vàng). Thơ thế sự cũng đã
xuất hiện ở Tố Hữu như một nét lạ: “Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn – Dở


hay, khôn dại lẫn chê khen – Làm ăn hai chữ quen mà lạ- Thế cuộc, nhân tình
rõ trắng đen” . Hiện thực đất nước hiểu theo nghĩa thường ngày đã đi vào thơ
với cảm hứng chân thật đến khắc nghiệt và thường gắn với tâm trạng buồn
đau.
Tóm lại thơ trữ tình cá nhân hướng cảm hứng về cuộc sống thường ngày là
một trong những nét mới nổi bật của thơ sau 1975, đặc biệt là từ thời kỳ Đổi
mới.
________________
Tài

liệu

tham

khảo:

1. Vũ Tuấn Anh, Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995, Nxb Khoa học Xã hội,
H.1997.
2. Hoài Thanh- Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam (tái bản), Nxb Văn học, H.1998.
3. Huyền Giang, Có những quan niệm về con người cá nhân ở phương Đông
không?, Tạp chí Văn học (số 6), H.1995.
4. Mã Giang Lân- Hồ Thế Hà, Sức bền của thơ, Nxb Hội Nhà văn, H.1993.
5. Hoàng Hưng, Thơ Mới và thơ hôm nay, Tạp chí Văn học (số 2), H.1993.
6. Nguyễn Văn Hạnh- Huỳnh Như Phương, Lý luận văn học, vấn đề và suy
nghĩ, Nxb Giáo dục, H.1998.
7. Nguyễn Văn Hạnh, Suy nghĩ về thơ Việt Nam từ sau 1975, Tạp chí Văn học
(số 9), H.1998.
8. Lê Đình Kỵ, Thơ Mới những buớc thăng trầm, Nxb T.p Hồ Chí Minh, 1993.
9. Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình Việt Nam 1975- 1990, Nxb Đại học Quốc gia , H.
1998.
10. Nguyễn Bá Thành, Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Văn
học, H. 1996.
11. Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới, H. 1997.
12. Nhiều tác giả, Tuyển tập thơ Việt Nam 1975-2000 (3 tập), Nxb Hội Nhà
văn, H.2000.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×