Tải bản đầy đủ

Các nhà thơ trong phong trào thơ mới với cách mạng tháng tám 1945

Các nhà thơ trong Phong trào Thơ Mới với Cách mạng Tháng
Tám 1945
Cập nhật lúc 15:33, Thứ Tư, 17/08/2011 (GMT+7)
Với Phong trào Thơ Mới (1930-1945), Cách mạng Tháng Tám (CMT8/1945) có ý nghĩa như một dấu mốc khép lại “Một thời đại trong thi ca”(1)
. Thời đại ấy đã được nhà phê bình Hoài Thanh khái quát: “Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi, mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, nhưng
càng
đi
sâu
càng
thấy
lạnh”(2).
Có một sự đổi thay lớn trong nhận thức và tình cảm của nhiều nhà thơ khi CMT8 thành công. Xuân Diệu (1916-1985) là một hiện tượng tiêu biểu.
Trước CMT8, trong niềm cô đơn kiêu hãnh và tuyệt vọng, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” đã tự ví mình như đỉnh Hy Mã Lạp Sơn:
“Ta
Không

Đời

(Hy
Sau
“Có

Rất
Một
Nói



Một,
chi


đã
đây

cách



hết.

Chỉ
không


mạng,
một
xa
suối
trong

Riêng,
bạn



ông

đã

suối
xôi


thơ
sớm


nổi

riêng

ta

dấu

tìm
thơ



(Nguồn

thấy

thứ
cùng
đứng

vết
Lạp
nguồn

mãi
người”
Sơn)

loài

mạch

chảy
lại
ngọt
giỡn

Nhất
ta

mới

cho

từ
đến
với
cười
thơ

gần
gần
hoa
dưới

thơ

mình:
gũi
quanh
lành
phố”
mới)

Xuân Diệu là người đã bắt nhịp rất nhanh với nhịp điệu của cuộc sống cách mạng. Chỉ sau ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không
bao lâu, nhà thơ đã kịp hoàn thành bản trường ca "Ngọn quốc kỳ" (11-1945) bày tỏ niềm vui sướng, tự hào về thắng lợi của cách mạng, cảm nhận
một cách sâu sắc thành quả to lớn mà cuộc cách mạng đã đem đến cho nhân dân - nền độc lập dân tộc sau 80 năm dài nô lệ - qua biểu tượng thiêng
liêng
cờ
đỏ
sao
vàng:
“Gió
Đưa
Hoa
Cờ

Việt
Những
Nguồn
Nếp

bay
tin
cỏ
Việt

đi,
mới
đón
Nam


khắp

oanh

Nam!
ngực
lực
cờ

Việt
nén
mới
bay

Nam!
hít
bốn
chen

nhạc
trên
núi
liệt

cũng
trời
sông
gió

cờ
thở
phương
vỗ

đỏ
Ngày
lên
sóng

bay
đất
cũng
mừng

theo,
Việt.
biết,
bay!

sao
Độc
tới
bài

vàng!
Lập!
tấp!
ca...”

Đầu năm 1946, Xuân Diệu viết tiếp trường ca "Hội nghị non sông". Trong bản trường ca này, nhà thơ đã so sánh Quốc hội đầu tiên của nước Việt
Nam do nhân dân bầu ra với Hội nghị Diên Hồng đời nhà Trần, từ đó ca ngợi nền dân chủ cộng hòa vừa được thiết lập, khẳng định ý chí, sức mạnh
của
toàn
dân
quyết
tâm
chiến
đấu
bảo
vệ
nền
độc
lập
non
trẻ.
Gần gũi với Xuân Diệu trong cảm nhận về đất nước và cách mạng, nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950), tác giả của bài thơ nổi tiếng “Tống biệt hành”
(1940) đề cao chí làm trai của con người thời đại: “Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ/ Chí nhớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở
lại/ Ba năm mẹ già cũng đừng mong…” đã phản ánh sự đổi thay của đất nước qua màu cờ Tổ quốc:
"Hồn
Sáng

thiêng
nay

óng

khắp
ánh

hết
trên

cõi


vải

bờ
điều".

Còn nhà thơ Đoàn Văn Cừ (1913-2004) đã nhìn thấy những đổi thay của quê hương qua sự đổi thay của con người. Vẫn là cô thôn nữ duyên dáng
“Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ” trong “Chợ Tết” được sáng tác trước CMT8 nhưng giờ đây hiện ra hết sức mới mẻ:
“Bao
Miệng
Hôm
Với

thôn
hoa
nay
dòng

nữ
cười
đều
máu

hôm
tươi
ra
quật

qua
tựa
khỏi
sôi

còn
ánh
lũy
trong

yếm
bình
tre
huyết

đỏ
minh
xanh
quản”

Có thể nói, CMT8 đã mang đến niềm vui lớn cho toàn dân, trong đó có các nhà thơ trong Phong trào Thơ Mới. Trước đây các nhà thơ mang cảm


hứng sáng tạo và phong cách khác nhau, nhưng lúc này họ đều có chung nguồn cảm xúc trước những biến cố trọng đại của đất nước, cảm nhận
được sự đổi thay lớn lao của dân tộc và đã nói lên một cách chân thành bằng những hình tượng nghệ thuật. Niềm vui của nhà thơ Phạm Huy Thông
(1916-1988),
tác
giả
của
“Tiếng
địch
sông
Ô”
(1935)
được
thể
hiện
bằng
khát
vọng
sáng
tạo:
“Đờn
Ca
Bỗng
Của

thi
sao
thèm
Kim


đang
ca
tinh

vốn
trong
những
chói

từ
buổi
công
lọi

lâu
đất
lao
trên

treo
trời
hiển
cờ

vách
xiêu
hách
điều”

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh ( nhóm Xuân Thu Nhã tập ), người từng viết những câu thơ bí hiểm dường như chỉ một mình ông hiểu như: „Lẵng xuân /
Bờ giũ trái xuân sa/ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà/ Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm/ Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa” (Buồn xưa) , sau cách mạng đã có
những
vần
thơ
chân
thật

giản
dị
bày
tỏ
tâm
trạng
vui
sướng
của
mình:
“Ta
Ta

khát
mừng


hội

biên
gió

ngọn
lúc

sóng
lên

vang
đàng”

Trần Huyền Trân (1913-1989) trước cách mạng đã có lúc phải thốt lên: “Đã toan ném bút, vùi thơ / Thõng không tay áo sợ dơ dáng đời”. Cách mạng
thành công, nỗi buồn trong thơ ông đã nhường chỗ cho niềm vui và sự lạc quan: “Một sáng tung cờ đỏ/ Bố về với súng gươm/ Mừng lau hàng lệ rỏ/
Mắt
mẹ
tan

sương/
Tám
mươi
năm
bụi
phủ/
Mưa
rào
phút
sạch
trơn”
v.v...
Trước CMT8, hầu hết các nhà thơ đều mang tâm trạng cô đơn, buồn chán. Nhưng sau cách mạng, họ đã “lột xác” khá nhanh. Có được điều đó là nhờ
trong mỗi một con người thi sĩ luôn luôn cuộn chảy dòng máu yêu nước và tinh thần dân tộc, cho dù họ là lớp người chịu nhiều ảnh hưởng của văn
hóa phương Tây. Nhiều nhà thơ của phong trào Thơ Mới đã tham gia mặt trận Việt Minh, Hội Văn hóa Cứu quốc từ trước năm 1945 như Xuân Diệu,
Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân... Vì vậy, họ không một chút băn khoăn, do dự khi đi theo cách mạng, đồng
hành
cùng
nhân
dân
trên
con
đường
đấu
tranh
giành
độc
lập
cho
đến
cả
sau
này.
Con đường đến với cách mạng cũng là con đường dẫn đến sự thay đổi quan niệm và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật - “Từ chân trời của một người
đến chân trời của mọi người. Từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” (Paul Eluya, nhà thơ Pháp). Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã nhận thức về
sự
biến
đổi
của
mình:
“Ta
Câu
Ta
Bàn


hỏi

tay

ai?

ai?
người

Như

Khẽ
thắp

ngọn
thổi
xoay
lại

gió
nghìn
chiều
triệu


nến
ngọn
chồi

hình
tắt
bấc
xanh…”

Tuy nhiên, đổi mới quan niệm và cảm hứng sáng tạo có mang lại những tác phẩm có giá trị nghệ thuật lớn hay không cũng là một vấn đề. Những năm
đầu sau CMT8 và kháng chiến chống Pháp, sáng tác của các nhà thơ đã thành danh trong Phong trào Thơ Mới không chỉ khiêm tốn về số lượng mà
cả về chất lượng nghệ thuật. Đối với không ít nhà thơ, những tác phẩm được viết trước CMT8 mãi mãi là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của họ.
Nhưng cũng có những nhà thơ khác vẫn giữ được vị trí hàng đầu trong nền thơ Việt Nam hiện đại như Xuân Diệu, Chế Lan Viên.
Vác-sa-va tháng 8 - 2010
Đà Lạt tháng 8 - 2011
(1) và (2): Hoài Thanh, Hoài Chân – “Thi nhân Việt Nam”,1942



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×