Tải bản đầy đủ

Tiểu luận sinh lý thực vật khoa sinh học

TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Đề tài: Thăm dò ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng Gibberellin (GA 3)
đến một số chỉ tiêu sinh lý của cây Cải xanh (Brassica Juncea (L.) Czern. et
Coss) trồng ở phường Thủy Xuân, thành phố Huế.

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

1


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

MỤC LỤC

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

2


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT


PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Lý

do chọn đề tài

Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa cơm của mỗi gia đình
người Việt. Mỗi hộ gia đình ở nước ta tiêu thụ trung bình 71kg rau quả/người/năm,
trong đó phải kể đến rau xanh chiếm 3/4 tổng sản lượng tiêu thụ. Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO) đã cảnh báo hằng năm trên toàn thế giới có khoảng 2,7 triệu ca tử
vong do ăn thiếu rau xanh [7].
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp với khoảng 80% dân số làm nông
nghiệp nên nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước ta.
Thêm vào đó, nước ta là một trong những nước có nguồn thực vật đa dạng và
phong phú. Với sự phát triển của một nền nông nghiệp lúa nước, nước ta cũng
đang chú trọng phát triển cây lương thực - thực phẩm, đáng để kể đến là rau họ cải.
Rau họ Cải (Brassicaceae) gồm bắp cải, súp lơ, su hào, củ cải, các loại cải
không cuốn… là một trong những loài rau được trồng nhiều nhất ở Việt Nam và
chiếm vị trí quan trọng trong ngành rau nhờ chủng loại phong phú Họ thập tự tập
trung tại khu vực ôn đới có sự đa dạng về loài lớn nhất tại khu vực địa trung hải,
trong đó cải xanh (Brassica juncea L.) được trồng khá phổ biến do nhóm cải này
có khả năng thích ứng rộng, hiệu quả kinh tế cao. Thành phần dinh dưỡng trong cải
bẹ xanh vitamin A, B, C, axit nicotic, catoten, abumin…, đáng kể đặc biệt là thành
phần diệp hoàng tố và vitamin K. Vì thế, nó có vai trò quan trọng trong việc phòng
và chữa bệnh (thanh nhiệt, chữa mụn nhọt, hỗ trợ tiêu hóa, chữa bệnh Gout,...).
Trong sản xuất, cây cải xanh được trồng trên đất màu, trồng theo mùa vụ, dễ canh
tác. Chính vì vậy, cây cải bẹ xanh được nhiều người ưa chuộng.
Rau cải xanh (Brassica juncea L.) có khả năng chịu được nóng và mưa to,
nhóm cải này có khả năng thích nghi rộng, thường được trồng quanh năm đặc biệt
trong vụ Xuân Hè và vụ Thu Đông. Cải xanh có cuống hơi tròn, nhỏ, ngắn. Phiến
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

3


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

lá nhỏ và hẹp, bản lá mỏng, cây thấp, nhỏ, lá có màu xanh vàng đến xanh đậm ăn
có vị cay nên gọi là cải cay, dễ để giống. Vì thế, cải xanh được trồng phổ biến ở
nhiểu tỉnh thành, trong đó phải kể đến thành phố Huế [13].


Hiện nay ở Thừa Thiên – Huế đang mở rộng diện tích trồng cây lương thựcthực phẩm, trong đó có rau cải xanh. Tuy nhiên do khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều,
thời tiết thay đổi thất thường nên rau thường bị nhiều loại bệnh phát sinh và gây
hại nặng dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao [6]. Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi
muốn tìm ra biện pháp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm của rau cải xanh
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều của thị trường tiêu thụ và giải quyết một
phần khó khăn của người nông dân.
Một trong những biện pháp có nhiều ưu điểm và thực hiện đó là xử lí hạt
giống bằng chất điều hòa sinh trưởng. Người ta đã và đang quan tâm đến vấn đề sử
dụng chất điều hoà sinh trưởng thực vật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất,
chất lượng cây, trong đó Gibberellin (GA3) được xem là một trong những nhóm
chất quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, Gibberellin tăng vận chuyển auxin về vùng sinh
trưởng mạnh. Do vậy, GA3 ảnh hưởng lên sự giãn của tế bào theo chiều dọc, kích
thích sự sinh trưởng kéo dài của thân và lóng cây, kích thích sự nảy mầm, chồi của
các loại hạt và củ. của chúng. GA3 kích thích sự tổng hợp của các enzyme amilaza
và các enzyme thuỷ phân khác như protease,photphatase... và làm tăng hoạt tính
của các enzyme này, vì vậy mà xúc tiến quá trình phân hủy tinh bột thành đường
cũng như phân hủy các polime thành monome khác, tạo điều kiện về nguyên liệu
và năng lượng cho quá trình nảy mầm. [18]
Xuất phát từ cơ sở lí luận và nhu cầu thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài “Thăm dò ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng Gibberellin (GA 3)
đến một số chỉ tiêu sinh lý của cây Cải xanh (Brassica Juncea L.) trong giai
đoạn nảy mầm và cây con trồng ở phường Thủy Xuân, thành phố Huế.”
1.2. Mục

tiêu nghiên cứu
Xác định được nồng độ Gibberellin thích hợp để nâng cao năng suất cây cải
xanh được trồng ở phường Thủy Xuân, thành phố Huế.
Xác định được nồng độ Gibberellin phù hợp cho sự nảy mầm của hạt và sinh
trưởng của cây cải xanh con.

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

4


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của cây cải xanh dưới ảnh hưởng của
Gibberellin.
Làm quen các phương pháp nghiên cứu khoa học, biết cách tổng hợp tài liệu
và phân tích tài liệu.
Rèn luyện cho bản thân tính kiên nhẫn và thận trọng trong các thao tác
nghiên cứu khoa học.
1.3. Phạm

vi nghiên cứu

Nội dung: đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu thăm dò ảnh hưởng của
chất điều hòa sinh trưởng Gibberellin (GA3) đến một số chỉ tiêu sinh lý của cây Cải
xanh (Brassica Juncea L.) trong giai đoạn nảy mầm và cây 15 ngày, 30 ngày, 40
ngày sau khi nảy mầm.
Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại phường Thủy Xuân, thành phố Huế và
phòng thực hành sinh lý thực vật ở trường đại học Sư phạm Huế.
Thời gian: bắt đầu nghiên cứu: ngày 22 tháng 10 năm 2017
kết thúc nghiên cứu: ngày 30 tháng 11 năm 2017

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

5


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu chung về cây cải bẹ xanh
2.1.1. Nguồn gốc cây cải bẹ xanh
Theo Viện sĩ N.I. Vavilop cải bẹ xanh (Brassica Juncea L.) phát sinh từ
Trung Quốc và Ấn Độ [25] .
Cải xanh thuộc bộ màn màn, họ cải (Brassicaceae): cây thân cỏ, sống hằng
năm, rất hiếm khi là cây nữa bụi hoặc cây bụi. Họ cải là một họ lớn với hơn 350
chi và khoảng 3000 loài phân bố chủ yếu ở Bắc bán cầu, đặc biệt ở vùng Địa Trung
Hải, Tây và Trung Á [14]. Ở nước ta có 6 chi và khoảng 20 loài.
2.1.2. Vị trí phân loại
Cây cải xanh: Brassica Juncea L.
Chi: chi Brassica
Họ Thập Tự : Cruciferae
Bộ Màn Màn: Capparales
Lớp hai lá mầm: Dicotyledoneae
Ngành hạt kín: Angiospermatophyta
2.1.3. Đặc điểm hình thái của cây cải xanh
Cây cải thuộc rễ chùm, phân nhánh. Bộ rễ ăn nông trên tầng đất màu, tập
trung nhiều nhất ở tầng đất 0 - 20 cm. Lá cải mọc đơn, không có lá kèm. Những lá
dưới thường tập trung, bẹ lá to, lá rất lớn. Bộ lá khá phát triển, lá to nhưng mỏng
nên chịu hạn kém và dễ bị sâu bệnh phá hại. Hoa cải có dạng chùm, không có lá
bắc. Hoa nhỏ, đều , mẫu 2. Đài hoa và tràng hoa đều 4, xếp xen kẻ nhau. Có 6 nhị
trong đó 2 nhị ngoài có chỉ nhị ngắn hơn 4 cái trong. Bộ nhị gồm 2 noãn dính bầu

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

6


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

trên, một ô về sau có một vách ngăn giả chia bầu thành 2 ô, mỗi ô có 2 hoặc nhiều
noãn. Quả thuộc loại quả giác, hạt có phôi lớn và cong, nghèo nội nhủ [8].
2.1.4. Đặc điểm sinh thái
Nhiệt độ: nhình chung các nhóm cải ưa thích khi hậu ôn hòa, mát mẻ. Nhiệt
độ thích hợp cho cải xanh phát triển 10-27 oC. Do phạm vi nhiệt đoọ rộng nên có
thể trồng gần như quanh năm. Cây cải xanh chịu rét khá cao[22].
Ánh sáng: cây cải xanh yêu cầu cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng
vừa phải, có khả năng chịu bóng râm hơn các cây rau ăn quả khác. Thời gian chiếu
sáng khoảng 10-12 giờ trong một ngày. Vì thế, việc bố trí mùa vụ cũng như sắp
xếp cây trồng xen, trồng gối tạo ánh sáng thích hợp để cây sinh trưởng và đạt năng
suất cao.
Nước: Các giống cây cải xanh có hệ rễ cạn, lá nhiều lớn, lượng nước trong
cây rất cao chiếm từ 75 - 95% do đó cải cần nhiều nước để sinh trưởng phát triển.
Do hệ rễ ăn nông nên khả năng hút nước yêú và khả năng chịu hạn, chịu mưa
tương đối kém. Độ ẩm đất thích hợp là từ 80%, độ ẩm không khí khoảng 85 - 90%
giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Đất: Cây cải xanh có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng phải
thoát nước tốt, đất phải thoáng khí, độ phì cao, chọn những vùng đất thịt nhẹ hoặc
đất thịt trung bình, đất có độ chua từ hơi chua đến trung tính (độ pH từ 5-7 là tốt
nhất). Cải cần nhiều đạm, lân, kali, trong đó đạm được sử dụng nhiều nhất. Do cải
có thời gian sinh trưởng ngắn nên cần các loại phân dễ tiêu, dễ phân giải, cung cấp
dần những yếu tố dinh dưỡng cần thiết cho cây [22].
2.1.5. Vai trò của rau cải xanh
2.1.5.1 Giá trị dinh dưỡng
Nguyên tắc

Giá trị dinh
dưỡng

Tỷ lệ
RDA

Năng lượng

27 Kcal

1%

Carbohydrate

4,67 g

3,6%

Chất đạm

2,86 g

5%

Tổng số chất béo

0,42 g

2%

Cholesterol

0 mg

0%

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

7


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Chất xơ

3,20 g

9%

Vitamin
Folates

12 μg

3%

Niacin

0,800 mg

5%

Axit Pantothenic

0.210 mg

5%

Pyridoxin

0.180 mg

14%

Riboflavin

0.110 mg

số 8%

Thiamin

0,080 mg

7%

Vitamin A

3024 IU

101%

Vitamin C

70 mg

117%

Vitamin E

0 mg

0%

Vitamin K

257,5 μg

215%

Điện giải
Natri

20 mg

1,3%

Kali

384 mg

số 8%

Khoáng sản
Canxi

115 mg

11,5%

Đồng

0,155 mg

18%

Bàn là

1,64 mg

20%

Magiê

32 mg

số 8%

Mangan

0.480 mg

21%

Selenium

0,9 μg

1,5%

Kẽm

0,25 mg

2%

Phyto-chất dinh dưỡng
Carotene-ß

1790 μg

-

Crypto-xanthin-ß

40 μg

-

Lutein-zeaxanthin

3730 μg

-

Bảng phân tích sâu về các chất dinh dưỡng (Brassica juncea), giá trị dinh dưỡng
trên 100 g.
(Nguồn: Cơ sở Dữ liệu Dinh dưỡng Quốc gia của USDA)
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

8


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Hiện nay trên thế giới rau là một loại thực phẩm không thể thiếu đối với
người tiêu dùng. Theo đề xuất của các chuyên gia dinh dưỡng FAO/WHO, 2004 thì
nhu cầu rau quả của mỗi người cần tới 400 g/ngày. Bảng trên cho thấy, rau cải có
năng lượng calo/100 g đạt 27 kcal, hàm lượng protein thấp, không chứa các chất
béo. Ngoài ra cải xanh giàu vitamin A, B, C, K, axit nicotic, catoten, abumin…Vì
thế Cải xanh được các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng vì có nhiều lợi ích đối
với sức khỏe cũng như có tác dụng phòng chống bệnh tật [3].
2.1.5.2. Giá trị y học
Về mặt y học, các loại rau cải có tác dụng lợi tiểu. Rau cải xanh dùng làm
thuốc chữa ho, viêm khí quản, ra mồ hôi, dùng ngoài dưới dạng cao dán để gây đỏ
da và kích thích da tại chỗ, trị đau dây thần kinh và trị bệnh gout [25]. Theo Đông
y Việt Nam, cải bẹ xanh có vị cay, tính ôn, có tác dụng giải cảm hàn, thông đàm,
lợi khí.... Riêng hạt cải bẹ xanh, có vị cay, tính nhiệt, không độc, trị được các
chứng phong hàn, ho đờm, hen, đau họng, tê dại, mụn nhọt... [26]
2.1.5.3. Giá trị kinh tế
Trồng rau ở Việt Nam là nguồn thu nhập quan trọng của nông thôn, ước tính
chiếm khoảng 9% trong tổng số thu nhập từ nông nghiệp bao gồm cả trồng lúa
[24]. Theo Châu Hữu Hiền Philippe và cs (2001) đầu tư cho sản xuất rau nói chung
cao hơn so với trồng lúa và các cây lương thực khác. Tuy vậy, lợi nhuận trồng rau
cao hơn so với trồng lúa hoặc bắp gấp 3 - 5 lần. Ngoài ra, rau còn là cây dễ trồng
xen, trồng gối vì vậy trồng rau tạo điều kiện tận dụng đất đai, nâng cao hệ số sử
dụng đất.
2.1.5.3.1. Tình hình sản xuất rau xanh trên thế giới
Rau xanh là cây trồng ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế
cao nên đẫ được trồng và sử dụng từ lâu đời. Tình hình sản xuất sau trên thế giới
hiện nay cũng có những biến động nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Theo “Ngành công nghiệp rau ở Nhiệt đới Châu Á : Ấn Độ. Tổng quan về
sản xuất và thương mại. Greg I. Johnson, Katinka Weinberger, Mei-huey Wu cho
thấy:
Diện tích đất trồng: 8,0 triệu ha (2005). Sản lượng: 83,1 triệu tấn - Tiêu
dùng: 183 gr/người/ngày (2005) (số tạm công bố) FAOSTAT, 2007. hoặc 146
gr/người/ngày: 2004-2005 (tính toán từ số liệu NSS) .
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

9


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Các cây rau chính: ớt, hành, cà tím, cà chua, cải bắp, đậu, sup lơ, sup lơ. Cây
xuất khẩu: Tươi và chế biến: 1,6 triệu tấn, tương đưong 508 triệu USD (không kể
khoai tây), trong đó xuất khẩu tươi gồm có hành, nấm, đậu Hà Lan, cà tím, đậu
bắp. Các sản phẩm này được sản xuất theo các nhóm sản xuất tại vườn, trang trại,
hữu cơ. Sản phẩm chế biến bao gồm hành. rau đông lạnh, dưa chuột bao tử, …
Việt Nam là nước đứng thứ 3 trong Top sả xuất rau trên thế giới sau Trung
quốc và Ấn Độ [13].

Hình ảnh: Đồ thị biểu diễn tình hình sản xuất rau của thế giới năm 2007
(nguồn: FAOSTAT, 2007).
2.1.5.3.2. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Việt Nam có vị trí địa lý trải dài qua nhiều vĩ độ, khí hậu nhiệt đới gió mùa
và có một số vùng tiểu khí hậu đặc biệt như Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt…, có điều
kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất rau. Việt Nam có thể trồng được trên 120
loại rau có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và cùng với các tiến bộ KHCN
các loại rau trái vụ được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phục vụ chế
biến xuất khẩu. Sản xuất rau có xu hướng ngày càng mở rộng về diện tích và sản
lượng tăng đồng thuận [23].
Địa điểm

2007
Diện tích
Sản
(ha)
lượng
(tấn)

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

2008
Diện tích
Sản
(ha)
lượng
(tấn)
10

2009
Diện Sản lượng
tích
(tấn)
(ha)


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Cả nước

706.476

Miền Bắc
Miền Nam

335.835
370.644

11.084.65
5
4.889.834
6.194.730

722.580
339.534
383.046

11.510.70 735.335 11.85.06
0
5.002.330 330.57 4.956.667
6.510.387 404.757 6.928.400

2.2. Tình hình nghiên cứu rau cải xanh trong nước và thế giới
2.2.1. Trên thế giới
Ở New Delhi, Rana và pachuari (2001) đã tiến hành thí nghiệm và nhận thấy
chiều cao cây của giống cái xanh TERI (OE) M21 là 177cm cao hơn so với giống
TERI (OE) M15 (129 cm).
Weerakoon và Soonartne (2011) khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ tới
sinh trường và năng suất của các giống cải xanh: AC501, 515, 580, 790, 1099,
1811, 2122, 5088, 7788 và 8831 đã nhận thấy các giống AC580, 5088, 7788 đạt
năng suất cao hơn các giống khác trong vụ Maha và giống AC7788 đạt năng suất
cao nhất trong vụ Yaha.
Ở New Delhi, Rana và pachuari (2001) đã tiến hành thí nghiệm đồng ruộng
trên đất sét pha cát và đưa ra giống Bio 902 được ghi nhận có năng suất sinh học
72.5 tạ/ha cao hơn so với giống TERI(OE) M21. Ở Hisa Raj Sigh và ctv (2002)
quan sát thấy rằng năng suất sinh học được ghi nhận giống Laxmi (13,7 tạ/ha) cao
hơn có ý nghĩa so với giống BTH-1 (11,9 tạ/ha). [11]
Nghiên cứu của Maeraka và cs (2007) khi nghiên cứu 4 mức đạm 0 kg N,
34.5 kg N, 69 kg N và 103.5 kg N/ha trên giống cải xanh đã nhận thấy kích thước
và năng suất lá tăng lên khi tăng liều lượng đamh trong cả 2 vụ. Mức đạm từ 34.5103.5 kgN/ha làm tăng số lá khi thu hoạch so với đối chứng. Nitrat trong lá cũng
tăng từ 0.42mg/kg ở đối chứng đến 0.57mg/kg đối với lượng bón 103.7kgN/ha vị
đắng cũng tăng lên so với việc bón nhiều phân đạm[9].
Theo Richardson (2012) khi tiến hành đánh giá 5 loại rau xanh gồm: cải
xanh, cải xoăn đỏ Nga, cải đỏ, cải đỏ Thụy Sĩ, cải vàng Thụy Sĩ, kết quả cho thấy
giống cải xoăn đỏ Nga nổi bật nhất trong 5 loại rau xanh. Sự khác nhau đáng kể
giữa năng suất 5 loại rau ăn lá có thể là do đặc điểm sinh trưởng khác nhau của các
giống.

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

11


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Meitei và cs (2001) đã cho rằng khoảng cách 25 x 25 cm thì cải xanh có
chiều cao lớn hơn các công thức khác 48,4 cm và nhấn mạnh khoảng cách 25 cm x
25 cm có chỉ số diện tích lá cao hơn ở 30, 50, 65 ngày sau cấy lần lượt là 1,74,
1,86, 2,25.
Ở một nghiên cứu khác, chiều cao cải xanh ở khoảng cách 20 x 15 cm (166
cm) cao hơn so với khoảng cách 45 x 15 cm (153 cm). Năng suất sinh học đạt được
ở khoảng cách dưới 20 x 10 cm (70,1 tạ/ha) cao hơn so với khoảng cách 45cm x 15
cm (62,7 tạ/ha) .
Theo Maereka và cs (2007) [11] khi nghiên cứu 4 mức đạm 0 kg N, 34,5 kg
N, 69 kg N và 103,5 kg N/ha trên giống cải xanh đã nhận thấy kích thước và năng
suất lá tăng lên khi tăng liều lượng đạm trong cả 2 vụ. Mức đạm từ 34,5 - 103,5 kg
N/ha làm tăng số lá khi thu hoạch so với đối chứng. Nitrat trong lá cũng tăng từ
0,42 mg/kg ở đối chứng đến 0,575 mg/kg đối với lượng bón 103,5 kg N/ha. Vị
đắng cũng tăng lên với việc bón nhiều phân đạm.
2.2.2. Trong nước
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu tuyển chọn và phát triển một số giống rau
cải cho vùng miền núi phía Bắc, Nguyễn Phi Hùng và cs (2009) [16] đã thu thập
được 9 giống rau cải gồm: cải làn, cải xanh lùn, Ngồng ngọt Lạng Sơn, Mèo Thanh
Sơn, Mèo lá tím, Ngọt bông GCTMN, cải bẹ lá vàng, cải mào gà, Mèo Sơn La.
Qua khảo nghiệm cho thấy giống cải mèo Sơn La có khả năng sinh trưởng phát
triển tốt với điều kiện vùng trung du miền núi. Năng suất thực thu đạt 26,6 tấn/ha,
năng suất lý thuyết đạt 51,40 tấn/ha, khối lượng trung bình cây đạt 594,96 gam.
Tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đối với sự tích lũy
nitrat trong rau cải bẹ xanh trên nền đất xám tại thành phố Hồ Chí Minh, Phạm
Minh Tâm (2001) [23] cho thấy năng suất cải bẹ xanh tăng dần khi tăng lượng đạm
bón, cao nhất ở mức 150 kg N/ha, tuy vậy thì hàm lượng NO3 - trong rau khi thu
hoạch quan hệ chặt với lượng đạm bón, từ 3,17mg NO3 - /kg rau tươi ở mức 0 kg
N/ha lên 524,9 mg NO3 - /kg ở mức 180 kg N/ha. Liều lượng đạm thích hợp nhất
để đạt năng suất cao (15,60 tấn/ha) và tồn dư NO3 - đạt tiêu chuẩn cho phép 30 là
90 kg N/ha trên nền bón 15 tấn phân chuồng + 30 kg P205 + 30 kg K20/ha.
Nguyễn Thanh Hải (2009) [17] cho rằng ở các mật độ rau cải khác nhau thì
cho khối lượng cây và năng suất khác nhau. Trong đó, mật độ 15 x 20 cm cho năng
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

12


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

suất lý thuyết và năng suất thực tế đạt cao nhất, lần lượt là 41,6 tấn/ha và 37,5
tấn/ha; tiếp đó là mật độ 20 x 20 cm đạt 38,7 tấn/ha và 33,4 tấn/ha
Một nghiên cứu khác của Ngô Hồng Bình và cs (2011) [11] khối lượng trung
bình cây và năng suất thực thu của các công thức cải làn có ảnh hưởng đáng kể khi
gieo trồng theo các khoảng cách 15 x 15 cm, 15 x 20 cm, 20 x 20 cm. Khoảng cách
15 x 15 cm cải làn có khối lượng trung bình cây nhỏ nhất 64,23 g/cây nhưng lại
cho năng suất cao nhất đạt 19,88 tấn/ha. Trong khi công thức có khối lượng trung
bình cây cao nhất ở khoảng cách 20 x 20 cm đạt 81,5 g/cây nhưng lại cho năng
suất thấp nhất đạt 16,58 tấn/ha.
Ngoài ra, Nguyễn Minh Chung (2012) [15] đã tiến hành nghiên cứu ứng
dụng công nghệ thủy canh tuần hoàn để sản xuất rau ăn lá trái vụ trong hai năm từ
năm 2007 - 2008 với 4 loài rau (11 giống xà lách, 3 giống rau cải, 3 giống cần tây
và 3 giống rau muống). Kết quả thu được các giống rau phù hợp trồng trái vụ trong
dung dịch thủy canh tuần hoàn trong đó có 2 giống cải xanh BM và Tosakan. Các
rau ăn lá này khi trồng trái vụ bằng kỹ thuật thủy canh tuần hoàn đạt tiêu chuẩn an
toàn vệ sinh thực phẩm.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Thi và Lê Thị Quyên (2011) [14]
đối với liều lượng đạm (0 kg N, 30 kg N, 60 kg N, 120 kg N, 150 kg N) trên 31
giống cải xanh trong điều kiện có lưới che tại thành phố Huế, khi tăng liều lượng
đạm đã làm tăng các chỉ tiêu thân lá cải xanh. Giữa các công thức bón 60 - 150 kg
N/ha không có sự sai khác thống kê về các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá. Từ mức
bón 30 - 150 kg N/ha năng suất lý thuyết và năng suất thực thu cải xanh không có
sự sai khác thống kê. Tuy nhiên công thức 60 kg N/ha cho hiệu quả kinh tế cao
nhất với VCR đạt tới 9,62.
Nguyễn Xuân Giao (2010) [18] khuyến cáo mật độ trồng cây cách cây đối
với cải xanh là 20 - 30 cm, đảm bảo mật độ 80 - 100 nghìn cây/ha.
Năm 2009 “Xây dựng mô hình ứng dụng các sản phẩm công nghệ sinh học
để tổ chức sản xuất rau an toàn theo hướng VietGAP tại huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa Thiên Huế” do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Quảng
Điền chủ trì thực hiện với diện tích 3,4 ha; 6 loại rau: cải xanh, xà lách, cải cúc, rau
thơm, rau má và mướp đắng, được thực hiện tại 2 xã Quảng Thành và Quảng Thọ,
do truờng Đại học Nông Lâm Huế chủ trì với quy mô diện tích là 2,4208 ha thực
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

13


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

hiện tại các HTX Hương Long và Hương An. Đến nay đã cho một số kết quả khả
quan[6].
2.3. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng chất sinh trưởng Gibberellin
2.3.1. Lược sử nghiên cứu
Gibberellin (GA3) là nhóm phytohomon thứ 2 được phát hiện sau Auxin từ
việc nghiên cứu bệnh lý “Bệnh lúa von”, một triệu chứng rất phổ biến trong trồng
lúa ở các nước phương Đông lúc bấy giờ, dẫn đến nghiên cứu cơ thể gây bệnh và
cuối cùng tách được hàng loạt các chất là sản phẩm tự nhiên của mầm bệnh cũng
như từ thực vật bậc cao và gọi nó là Gibberellin. Trước đó người ta đã xác định
được mầm bệnh gây ở lúa von là Gibberellin fujikuroi (thực chất là giai đoạn
không hoàn chỉnh hay giai đoạn dinh dưỡng gây bệnh của mầm đó là fusarium
heterosprum hay F.monnilifonome).
Năm 1926, nhà nghiên cứu bệnh lý thực vật kurosawa (Nhật Bản) đã thành
công trong thí nghiệm gây bệnh “Bệnh von” nhân tạo cho lúa và ngô. Sau đó người
ta tiếp tục nghiên cứu bản chất cũng như vai trò của nó.
Năm 1934 – 1938. Yabuta đã tách được hai chất dưới dạng tinh thể từ nấm
lúa von gọi là Gibberellin A và Gibberellin B nhưng chứ xác định được bản chất
hóa học của chúng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, làm ngắt quãng việc
nghiên cứu này của các nhà nghiên cứu Nhật Bản.
Năm 1950 câu chuyện Gibberellin vẫn chưa được biết đến ở thế giới phương
Tây. Đến năm 1955, hai nhóm nghiên cứu của Anh và Mỹ đã phát hiện ra những
công trình cũ của người Nhật về GA và họ đã phát hiện ra axit Gibberellin ở cây
lúa von và đã xác định được công thức của nó là C19H22O11.
Năm 1965, West, Phiney đã tách được GA từ các thực vật bậc cao và xác
định rằng đây là phytohocmon tồn tại trong các bộ phận của cây.
Hiện nay, người ta đã phát hiện trên 126 loại GA khác nhau và kí hiệu theo
thứ tự GA1, GA2, GA3,…GA126…Trong đó GA3 có vai trò quan trọng và có hoạt
tính mạnh nhất.[18]

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

14


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

2.3.2. Cấu tạo hóa học
Nhóm chất Gibberellin là dạng ditecpenoit có tính axit có mặt trong tất cả
các thực vật bậc cao.
Tất cả Gibberellin đều có cấu tạo giống nhau là có cùng khung Gibban,
chúng đều xuất phát từ khung đó, còn điểm khác nhau giữa chúng chủ yếu là do vị
trí của nhóm OH trong phân tử.
Các Gibberellin gồm 2 nhóm: một nhóm có 19 cacbon và một nhóm có 20
cacbon.[2]

Hình ảnh: công thức hóa học các loại Gibberllin thường gặp
(Nguồn: Internet).
2.3.3. Quá trình tổng hợp
Gibberellin được tổng hợp chủ yếu trong lá non, một số cơ quan non đang
sinh trưởng như phôi hạt đang nảy mầm, quả non, lá non,… tổng hợp mạnh ở trong
lục lạp. GA được tổng hợp từ mevalonat qua hàng loạt các phản ứng dẫn đến hợp
chất trung gian quan trọng là kauren, là cơ sở của tất cả GA trong cây, quá trình
này được xúc tác bởi các enzyme đặc hiệu, cần có ATP và NADPH.[10]
Lê Văn Tri, Hỏi đáp về chế phẩm điều hòa sinh trưởng tăng năng suất cây trồng,
NXB Nông Nghiệp, 2002
Quá trình tổng hợp GA diễn ra nhiều giai đoạn phức tạp từ acety-CoA.
Có thể tóm tắt quá trình đó như sau:
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

15


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

1. CH3CO-SCoA

a.mevalonyl

2. izopentynyl p-p

genryl-gennaryl p-p

3. Kauren

izopentynyl p-p
kauren

Gibberellin

Gibberllin vận chuyển không phân cực, có thể hướng ngọn và hướng gốc tùy
nơi sử dụng. Nó cũng được vận chuyển trong cây theo một số hệ thống dẫn (xylem,
floem) với vận tốc 5-25mm trong 12 giờ và không phân cực như Auxin, nó có thể
hướng ngọn và hướng gốc tùy nơi sử dụng. GA trong cây cũng có thể ở dạng tự do
và dạng liên kết với các hợp chất khác.
Với GA nhân tạo, được sản xuất chủ yếu bằng con đường lên men và chiết
xuất sản phẩm từ dịch nuôi cây nấm Fusarium moniliforme. Ở Việt Nam người ta
đã chiết được GA bằng con đường này ở viện Công Nghệ sinh học thuộc trung tâm
khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia. [3]
2.3.4. Vai trò sinh lý
Vai trò của Gibberellin ngày càng được các định đầy đủ hơn. Gibberellin
kích thích mạnh mẽ đến quá trình sinh trưởng kéo dài thân và sự vươn dài của
lóng, đặt biệt là quá trình sinh trưởng của tế bào theo chiều dọc. Nó không những
kích thích sự sinh trưởng mà còn thúc đẩy sự phân chia của tế bào.
Những cây có xử lý Gibberellin cây cao nhanh hơn bình thường, đặc biệt có
ảnh hưởng rất rõ rệt đến sự sinh trưởng của các tế bào lùn.[5]
Gibberellin kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, do đó nó có tác dụng đặc
trưng trong việc phá vỡ trạng thái ngủ nghĩ của chúng. Trong trường hợp này GA
kích thích sự tổng hợp Enzim amilaza và các enzim thủy phân khác như: proteaza,
photphataza,…và làm tăng hoạt tính của các enzymenày, vì thế nó xúc tiến quá
trình phân hủy tinh bột thành đường cũng như các polime thành monome khác, tạo
điều kiện về nguyên liệu và năng lượng cho quá trình nảy mầm. Trên cơ sơ đó nếu
xử lý GA ngoại sinh thì có thể phá bỏ trạng thái ngủ nghĩ của hạt, củ, kể cả trạng
thái ngủ sâu.
Trong nhiều trường hợp, GA kích thích sự ra hoa rõ rệt. Ảnh hưởng đặc
trưng của GA lên sự ra hoa và kích thích sự sinh trưởng kéo dài và nhanh chóng
của cụm hoa. Vì vậy trong học thuyết hocmon (florigen) của Trailachyan thì GA
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

16


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

được xem như một thành viên của tổ hợp florigen. Xử lý GA cho cây dài ngày thì
chúng có thể ra hoa trong điều kiện ngày ngắn và làm tăng hiệu quả của xuân hóa,
có thể biến cây hai năm thành cây một năm.[2]
Trong sự phát triển, phân hóa của cơ quan sinh sản thì GA ảnh hưởng đến sự
phân hóa giới tính, ức chế sự phát triển của hoa cái và kích thích sự phái triển của
hoa đực.
Trong sự phát triển của quả và tạo quả không hạt thì GA có vai trò gần như
Auxin vì nó làm tăng kích thước của quả và tạo quả không hạt trong một số trường
hợp. Hiệu quả này càng rõ rệt khi phối hợp cũng với Auxin.
Gibberllin ảnh hưởng đến quá trình khử CO 2 có thể gián tiếp qua pha sáng
hay trực tiếp kích thích của các Enzim, hoạt hóa các chất tham gia quá trình khử
CO2 làm cho phản ứng xảy ra thuận lợi hơn. Thêm vào đó Gibberllin làm tăng hoạt
tính các enzyme hô hấp, tăng cường qúa trình hút Photpho nên thúc đẩy quá trình
photphoryl hóa. Ngoài ra, Gibberllin làm tăng hàm lượng nước liên kết khi hạt
khô, mô già ngược lại làm tăng hàm lượng nước tự do khi hạt nảy mầm và cây con.
[12]
Như vậy ta thấy rằng Gibberllin ảnh hưởng rất rõ rệt đến các hoạt động sinh
lý, quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Vì thế mà nó được ứng dụng rất
nhiều trong sản xuất nông lâm nghiệp.
2.3.5. Ứng dụng trong sản xuất
Với vai trò quan trọng như vậy các chất điều hòa sinh trưởng đã và đang
được ứng dụng trong sản xuất ở trên thế giới và trong nước.
- Ở Mỹ Gibberllin được sử dụng rộng rãi trong các trại cam, nhằm giảm số
quả bị thối và tính chịu va đập, đồng thời kìm hãm quả chín nhanh.
- Ở Liên Xô cũ Gibberllin được sử dụng rộng rãi trong nghề trồng đay, bình
quân năng suất tăng khoảng 43.8% và chất lượng sợ đay vẫn đảm bảo.
- Ở Trung Quốc đã ứng dụng Gibberllin trên một diện tích rộng, kết quả
năng suất từ 12.1-15.5%, cách xử lý hiệu quả nhất là ngâm hạt trước khi gieo và
phun vào râu ngô khi bắt đầu chuyển màu.

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

17


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

- Ở Nhật người ta phun Gibberllin vào giai đoạn nở hoa của cây nho làm cho
nho 100% không có hạt, quả sinh trưởng nhanh hơn đối chứng,...[19]
Ngày nay, trong sản xuất nha cho công nghiệp bia, Gibberellin đã được sử
dụng rộng rãi ở nhiều nước như: Mỹ, Anh, Đức, Ba Lan, Triều Tiên… Ở Anh, 90%
Gibberellin sản xuất ra được phục vụ cho công nghiệp bia. Theo công trình nghiên
cứu của viện nghiên cứu bia của Liên Xô (cũ) thì Gibberellin có hiệu quả cao ở
nồng độ 18mg/l và phun vào thời gian ủ.[5]
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng chất điều hóa sinh
trưởng và sản xuất và đời sống. Điển hình, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
đã nghiên cứu thành công biện pháp phá ngủ nghỉ cho củ khoai tây thu hoạch vụ
đông để có mầm kịp trồng vụ xuân bằng phun dung dịch GA, tỉ lệ củ nẩy mầm đạt
trên 90% trong 5-7 ngày [5].
Gibberllin đã được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp và đã
mang lại những hiệu quả to lớn như kích thích sự sinh trưởng của cây để tăng sản
lượng (như với các rau ăn lá), kích thích ra hoa nhanh và nhiều, hạn chế rụng hoa,
rụng quả non và tăng kích thước của quả (với các cây lấy quả), kích thích hạt nẩy
mầm (với lúa…) và nhiều ứng dụng khác. Với mỗi nhóm cây có thể sử dụng GA
tùy theo mục đích.
Với lúa, thường sử dụng GA để kích thích hạt nẩy mầm, kích thích đẻ nhánh,
kích thích bông lúc trổ nhanh và thoát, hạn chế nghẹn bông.
Với cây mía, phun vào giai đoạn bắt đầu vươn lóng làm lóng dài và to, có
thể tăng năng suất 20-30%. Phun GA cho cây đay có thể làm chiều cao cây tăng
gấp 2 lần.
Với các loại rau ăn lá như rau cải, rau muống, rau dền… phun 2-3 lần ở giai
đoạn cây sinh trưởng mạnh có thể tăng năng suất trên 30%.
Đối với cà phê, điều và các cây ăn quả (nhãn, vải, xoài, chôm chôm, táo, vú
sữa…) để kích thích cây ra hoa nhiều, nhanh và đồng loạt phun GA khi mầm hoa
bắt đầu hình thành, khoảng 20-30 ngày trước khi trổ hoa chính vụ hoặc sau khi đã
thực hiện các biện pháp xử lý ra hoa (để khô hạn, bóc khoanh vỏ hoặc phun, tưới
thuốc), phun GA lúc này còn làm tăng tỉ lệ đậu quả, hạn chế rụng hoa và quả non.
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

18


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Một kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh cho thấy
khi phun GA cho cà phê vào giai đoạn hoa bắt đầu hình thành làm cho 80% hoa nở
tập trung trong thời gian ngắn 15-20 ngày, quả chín đồng loạt, thuận lợi cho thu
hoạch [21] .
Ở nước ta hiện nay các chế phẩm Gibberellin hầu hết là GA3. Lần đầu tiên
Công ty cổ phần Bình Điền-Mekong đăng ký sử dụng chất GA4 và GA7 với chế
phẩm có tên thương mại là ĐẦU TRÂU KT - SUPER 100WP, liều lượng và cách
sử dụng cho các mục đích trên lúa và các cây trồng có ghi cụ thể trên gói thuốc.
2.3.6. Nguyên tắc và phương pháp sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
Nguyên tắc về nồng độ: hiệu quả của chất diều hòa sinh trưởng lên cây trồng
hoàn toàn phụ thuộc vào nồng độ sử dụng. Nồng độ thấp thường gây hiệu quả kích
thích, nồng độ cao thường gây ảnh hưởng ức chế, còn nồng độ rất cao có thể gây
chết. Ngoài ra, tùy theo loại cây, chất điều hòa và mục đích mà chọn nồng độ phù
hợp.
Nguyên tắc đồi kháng sinh lí: khi xử lý các chất ngoại sinh phải quan tâm
đến các phytohormon trong cây có hoạt tính sinh lý đối kháng nhau thì mới có hiệu
quả tố.
Nguyên tắc không thay thế: các chất điều hòa sinh trưởng chỉ có tác dụng
hoạt hóa quá trình trao đổi chất và sinh trưởng mà không có ý nghĩa về dinh dưỡng
nên không thay thế chất dinh dưỡng. Muốn áp dụng đạt hiệu quả cao, cần phải thỏa
mãn nhu cầu về dinh dưỡng và nước cho cây.
Nguyên tắc chọn lọc: khi sử dụng chất điều sinh trưởng cho mục đích diệt
cỏ dại thì phải quan tâm đến tính chọn lọc của thuốc. Vì vậy, phải chon thuốc diệt
cỏ không có hại cho cây trồng hoặc sử dụng đồng thời các loại thuốc khác nhau [4]
Phương pháp sử dụng: phun lên cây, ngâm hạt củ cành, tiêm lên cây, bôi lên cây,...
[10].

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

19


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

PHẦN III.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cải xanh Brassica Juncea (L.) Czern. et Coss
Phân loại học:
Giới

Plantae

Ngành

Magnoliophyta

Lớp

Magnoliopsida

Bộ

Capparales

Họ

Brassicaceae

Chi

Brassica

Loài

Brassica Juncea (L.) Czern. et Coss

3.2. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng của cây cải xanh vào các thời
kỳ: 15 ngày và 30 ngày sau khi được xử lý chất điều hòa sinh trưởng Gibberellin
với các nồng độ khác nhau (10ppm, 15ppm, 20ppm).
Thông qua các chỉ tiêu sau:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Các chỉ tiêu
Tỉ lệ nẩy mầm
Hoạt độ enzyme catalaza
Số lá trên cây
Chiều cao cây
Trọng lượng tươi
Trọng lượng khô
Diện tích lá
Cường độ thoát hơi nước
Cường độ tích lũy chất khô

Từ đó, xác định nồng độ Gibberellin thích hợp nhất đối với sự sinh trưởng
của cây cải xanh ở giai đoạn mầm và cây con.
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

20


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài:
+ Các tài liệu về các chất điều hòa sinh trưởng
+ Các tài liệu về chất điều hòa sinh trưởng Gibberllin
+ Các tài liệu về cây cải xanh và các vấn đề liên quan
Sau đó thu thập những thông tin cần thiết để làm cơ sở lí luận cho đề tài này.
3.3.2. Phương pháp thực hành thí nghiệm
3.3.2.1. Phương pháp pha hóa chất
- Pha dung dịch mẹ: Dung dịch mẹ có nồng độ 1000ppm
Cân 0.1g Gibberellin cho vào cồn khấy đều. Sau khi Gibberellin tan hết trong cồn,
ta cho nước cất vào đủ 100ml.
- Pha dung dịch con: Từ dung dịch mẹ pha thành các công thức xử lý
Công thức

Đối chứng
(Đc)

Công thức
10ppm

Công thức
15ppm

Công thức
20ppm

Nồng độ

0ppm

10ppm

15ppm

20ppm

Dung dịch mẹ

0ml

1.0ml

1.5ml

2.0ml

Nước cất

100ml

99ml

98.5ml

98ml

3.3.3.2. Cách xử lý hạt giống
Tiến hành ngâm hạt giống cải xanh trong 4 công thức:
- Đối chứng: Ngâm hạt với nước
- Công thức 1: Ngâm hạt với dung dịch Gibberellin 10ppm.
- Công thức 2: Ngâm hạt với dung dịch Gibberellin 15ppm.
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

21


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

- Công thức 3: Ngâm hạt với dung dịch Gibberellin 20ppm.
Ngâm trong thời gian 1 giờ sau đó đem gieo vào 12 chậu đất nhỏ (mỗi công
thức 3 chậu, mỗi chậu 20 hạt giống )
3.3.3.3 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được chia thành 4 công thức (công thức đối chứng, công thức
10ppm, công thức 15ppm, công thức 20ppm) bố trí ngẫu nhiên mỗi công thức lặp
lại 3 lần theo sơ đố sau:
ĐC

20ppm

10ppm

15ppm

15ppm

10ppm

20ppm

ĐC

10ppm

ĐC

15ppm

20ppm

Địa điểm làm thí nghiệm: phường Thủy Xuân- Huế
3.3.3.4. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
+ Tỷ lệ nảy mầm (%)
- Thí nghiệm được bố trí trong chậu.
- Mỗi công thức gieo hạt giống.
- Kể từ khi gieo hạt đến khi hạt kết thúc nảy mầm (7 ngày). Xác định tỷ lệ nảy
mầm theo công thức:
Tỷ lệ nảy mầm (%) = %
+ Số lá trên cây (lá/cây)
Tiến hành đếm số lá trên cây vào 2 thời điểm 15 ngày và 30 ngày. Mỗi công
thức đếm 3 cây, lặp lại 3 lần.
+ Diện tích lá (dm2/cây)
Tiến hành đo diện tích lá trên cây bằng phương pháp cân trọng lượng giấy
vào 2 thời điểm 15 ngày và 30 ngày. Mỗi công thức đếm 3 cây, lặp lại 3 lần.
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

22


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Dùng 1 tờ giấy to, đo và cắt 1 hình vuông mỗi cạnh 1dm. Đem cân miếng
giấy đó (khối lượng là P1 g). Đặt lá vào miếng giấy đó rồi vẽ chu vi lá làm thí
nghiệm, cắt giấy theo hình lá cân được khối lượng là P2 (g).
Tính diện tích lá theo công thức:

S=

(dm2/cây)

+ Hoạt độ enzyme catalaza (ml02/1g nguyên liệu/3 phút)
- Xác định theo phương pháp khí áp kế (Emakvolaros)
Nguyên tắc: Hoạt độ enzim catalaza được xác định bằng thể tích khí 0 2 thoát
ra khi cho dung dịch nguyên liệu tác dụng với H2O2 trong 3 phút.
2H2O2 H2O + O2
Cách tiến hành: Cân 1g mầm của cây cải xanh, cho vào cối sứ thêm một ít
CaCO3 nghiền nhỏ, thêm 20ml nước cất vào khuấy đều rồi cho vào ống đong, dùng
nước tráng lại cối chày rồi thêm nước cho đủ100ml, dùng giấy thấm để lọc dung
dịch trong.
Lấy 5ml dịch lọc vào nhánh dài, cho 3ml H2O2 vào nhánh ngắn, lắp vào khí
áp kế lắc đều trong 3 phút. Số ml O 2 thoát ra trên khí áp kế bằng chiều cao cột
nước dâng lên (chiều cao cột nước sau khi lắc – chiều cao cột nước trước khi lắc).
Hoạt độ catalaza được tính theo công thức sau:

Trong đó:
a: Lượng O2 giải phóng ra (tính bằng ml)
V: Thể tích dịch chiết (100ml)
v: Thể tích lấy phân tích (5ml)
P: Trọng lượng mẫu (1g)
+ Chiều cao cây (cm/cây)
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

23


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Tiến hành đo chiều cao cây từ gốc đến đỉnh ngọn vào các thời điểm 15 ngày
và 30 ngày. Mỗi công thức đo 3 cây, lặp lại 3 lần.
- Trọng lượng tươi (g/cây):
Tiến hành cân trọng lượng tươi của cây ở các thời điểm 15 ngày và 30 ngày.
Mỗi công thức cân 3 cây, lặp lại 3 lần.
- Trọng lượng khô (g/cây):
Sau khi cân trọng lượng tươi xong đem sấy khô ở nhiệt độ 700C trong thời
gian 24h, tiến hành cân trọng lượng khô, mỗi công thức lặp lại 3 lần như trên.
-

Cường độ thoát hơi nước (g/dm2/h):

Mỗi công thức chọn 3 cây, mỗi cây lấy 1 lá ( lá cùng vị trí giữa các cây).
Xác định cường độ thoát hơi nước theo phương pháp cân nhanh Ivanop.
Sau khi cây được 30 ngày tuổi, ta tiến hành thí nghiệm: lá cắt ra đem cân
nhanh để xác định trọng lượng là P 1. Đế lá ở chỗ có ánh sáng hoặc ở bóng đèn
500W, sau 2 phút đem cân lại lá có khối lượng là P 2. Hiệu số P1 – P2 là khối lượng
nước thoát ra trong thời gian 2 phút.
Cường độ thoát hơi nước là lượng nước thoát ra trong thời gian 1 giờ trên
một đơn vị diện tích lá ( tính bằng dm2).

ITHN = (g/dm2/h)
Trong đó:
P1 : Khối lượng lá lúc mới cắt
P2 : Khối lượng lá sau thời gian 2 phút
S: diện tích lá
t: thời gian thoát hơi nước (2 phút)
-

Cường độ tích lũy chất khô (mg/dm2/ngày):

Mỗi công thức chọn 3 cây từ đó xác định cường độ cường độ tích lũy chất khô
theo phương pháp đục lỗ.
SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

24


TIỂU LUẬN SINH LÝ THỰC VẬT

Sau khi cây được 30 ngày tuổi, ta tiến hành thí nghiệm: tiến hành đục lỗ 1 cm 2
lá, đem sấy khô, xác định trọng lượng khô P 1. Sau 24 giờ, tiến hành đục lỗ lấy
1cm2 tại lá đó. Đem sấy khô mẫu, xác định trọng lượng P2.
Cường độ tích lũy chất khô (mg/dm2/ngày) = (P2 - P1)
3.3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu
- Trung bình cộng của mẫu:

=

Trong đó:
làtrung bình cộng của mẫu
Xi là giá trị cụ thể của mẫu
n là số lần lặp lại
- Phương sai (độ lệch chuẩn) :
- Hệ số biến động
- Sai số so với thực nghiệm
- Độ chính xác của thí nghiệm
- Phần trăm so với đối chứng %SĐC

=

PHẦN IV.
KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
4.1. Ảnh hưởng của Gibberellin đến tỉ lệ nảy mầm
Sau khi xử lý hạt giống ở các nồng độ GA3 khác nhau và đem gieo được 10
ngày, tiến hành đếm các cây nảy mầm của các công thức. Chúng tôi thu được kết
quả ở bảng 4.1:
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của Gibberellin đế tỉ lệ nảy mầm (%)
Công thức
Đối chứng
10 ppm
15 ppm

±m
84.78 ± 0.23
94.80 ± 0,29
95.75 ± 0,26

SVTH: NGÔ QUÝ THẢO NGỌC

m%
0.27
0.31
0.27
25

CV%
0.37
0.43
0.39

%SĐC
100.00
111.82
112.94


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×