Tải bản đầy đủ

skkn rèn đọc CHO học SINH yếu lớp 4 VÙNG dân tộc THIỂU số

Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐĂK LĂK
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CƯMGAR
TRƯỜNG TIỂU HỌC TÔ HIỆU

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MÔN: TIẾNG VIỆT
RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH YẾU LỚP 4 VÙNG DÂN TỘC THIỂU
SỐ.

* Người thực hiện: Dương Thị Cẩm
* Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường tiểu học Tô Hiệu.

CưMgar ngày 26 tháng 03 năm 2013.
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

1


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số


MỤC LỤC

TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

Nội dung
Trang bìa
Mục lục
Phần mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Mục đích nghiên cứu; Đối tượng nghiên cứu;
Phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Nội dung
Cơ sở lý luận
Thực trạng nghiên cứu
Thuận lợi – khó khăn
Giải pháp
Kết luận
Kiến nghị
Tài liệu tham khảo

Trang
1
2
3
4


5
6
7
8 -9
11,12,13,14
15,16,17,18
18,19
20

I.PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Giáo dục ngôn ngữ ở các tỉnh miền núi luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, dạy
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

2


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên luôn là nhiệm
vụ hàng đầu của những người đang giảng dạy tại nơi đây. Đó là việc dạy học tiếng Việt
với tư cách là ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số đang cư trú tại dải đất này.
Mục đích của việc giáo dục ngôn ngữ này là nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao
tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng sống dưới mái nhà
chung Việt Nam, cùng chung tiếng nói, cùng sử dụng một ngôn ngữ, phát huy sức mạnh
của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng mới.
Chương trình môn tiếng Việt mà chúng ta đang thực hiện giảng dạy đã xác định rõ
mục tiêu của môn tiếng Việt bậc tiểu học là:
Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc,
viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ
giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu
đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đối với lớp Bốn mục tiêu nói trên được cụ thể hóa thành những yêu cầu về kiến
thức và kĩ năng đối với học sinh trong phân môn tập đọc như sau:
- Biết cách đọc các loại văn bản hành chính, khoa học, báo chí, văn học phù hợp
với thể loại và nội dung văn bản, thể hiện được tình cảm, thái độ của tác giả, giọng điệu
nhân vật…
- Đối với học sinh cấp tiểu học việc rèn đọc giúp các em học và sử dụng đọc trong
tất cả các môn học, là cơ sở, phương tiện để học các môn học khác.
- Vấn đề luyện đọc đối với học sinh người Kinh dễ dàng và thuận lợi, vì khi sinh ra
các em đã biết sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong quá trình giao tiếp, nên các em tiếp thu dễ
dàng hơn. Còn đối với học sinh đồng bào, đặc biệt là đông bào Ê đê việc rèn đọc là công
việc khó khăn. Sở dĩ khi vào tiểu học các em mới làm quen với môn tiếng Việt, làm quen
với một ngôn ngữ mới. Đến lớp Bốn, chỉ mới sau ba năm làm quen, tập đọc ở mức sơ
giản, thì lớp Bốn các em luyện đọc mức cao hơn, văn bản dài hơn, tốc độ nhanh hơn. Vì
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

3


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

thể đòi hỏi các em học sinh khối lớp 4 phải có sự tập trung cao về các yếu tố như: sức
khỏe, tinh thần…tốt hơn lớp Ba, nhưng đặc điểm học sinh vùng đồng bào dân tộc sức
khỏe các em chẳng phát triển hơn lớp Ba là mấy, vì các em ít được gia đình chăm sóc về
chế độ dinh dưỡng, vệ sinh, đời sống…như các em vùng thuận lợi.
- Việc hướng dẫn để học sinh đọc yếu vùng đồng bào dân tộc đọc đúng, chuẩn theo
tiếng Việt (phát âm, dấu thanh, ngắt nghỉ…) đó là yêu cầu cơ bản nhất trong phân môn tập
đọc cần phải đạt được.
- Trong những năm làm công tác giảng dạy lớp Bốn vùng đông bào dân tộc Ê đê,
việc rèn đọc việc rèn đọc cho học sinh yếu kém là công việc thường xuyên của tôi. Điều
này đã làm cho tôi và các đồng nghiệp của tôi luôn boăn khoăn, trăn trở. Bằng sự nhiệt
huyết của bản thân tôi tự đề ra nhiều hình thức khác nhau để các em học sinh yếu luyện
đọc. Từ đó tôi đã đúc rút một số kinh nghiệm trong việc “Rèn đọc cho học sinh yếu lớp
Bốn vùng dân tộc thiểu số”.
I.2. Mục đích nghiên cứu:
Việc đọc đúng là mục tiêu quan trọng trong phân môn tập đọc, đọc chính xác giúp
các em hiểu chính xác nội dung, viết đúng chính tả, tạo thói quen cơ bản trong quá trình
luyện đọc; rèn tư duy linh hoạt khi đọc từ đó giúp các em đọc đúng ở bất cứ văn bản nào
mà các em gặp trong cuộc sống hằng ngày.Giúp các em tự tin đọc các văn bản cho gia
đình mình nghe nếu gia đình yêu cầu…
Việc đọc đúng các em sẽ được áp dụng trong các môn học khác, giúp các em lĩnh
hội đúng nội dung kiến thức ở các môn học khác đó là nhu cầu cần thiết nhất đối với các
em có ý thức học chưa cao, các em học yếu…
I.3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là phân môn tập đọc trong hệ thống môn tiếng Việt qua phần
“Rèn đọc đúng cho học sinh đọc yếu lớp Bốn vùng đồng bào dân tộc.”
I.4. Khách thể - Phạm vi nghiên cứu:
a. Khách thể:
- Về giáo viên:
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

4


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

Trong những năm giảng dạy lớp Bốn, bản thân đã đúc rút một số kinh nghiệm của
mình trong quá trình hướng dẫn luyện đọc cho học sinh đọc yếu lớp Bốn vùng đồng bào
dân tộc.
- Về học sinh:
+ Học sinh lớp 4B, năm học 2012-2013, trường tiểu học Tô Hiệu.
+ Số học sinh yếu 8/20 học sinh cả lớp.
- Về độ tuổi: trong số 8 em đọc yếu có:
5 em học đúng tuổi (sinh năm 2003)
3 em lớn hơn 1 tuổi (sinh năm 2002)
I.5. Phạm vi nghiên cứu:
Lớp 4B năm học 2012- 2013.
Môn: Tập đọc.
Phần: Rèn đọc đúng cho học sinh đọc yếu vùng đồng bào dân tộc.
I.6. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp trò chuyện.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thống kê.
* Đề tài nghiên cứu theo hướng đổi mới nhằm phát huy tính tự giác, tích cực của học sinh.
Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn giúp các em tự tìm tòi sáng tạo trong quá trình
rèn đọc, phát âm tiếng Việt. Từ đó giúp các em đọc thông viết thạo theo tinh thần và sự
chỉ đạo của ngành giáo dục. Đưa tất cả học sinh vào không khí học tập chung là: “Không
để học sinh yếu đứng bên lề của mỗi tiết học”, tạo môi trường học tập thân thiện, nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, nâng cao chất
lượng đại trà.
II. NỘI DUNG
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

5


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

II.1. Cơ sở lí luận:
a. Cơ sở tâm sinh lý:
Trong quá trình dạy học sinh đọc chúng ta cần hiểu rõ về bản chất của việc đọc, đặc
điểm tâm sinh lí của học sinh lớp Bốn vùng dân tộc.
Vậy tập đọc là gì? Đó là quá trình rèn luyện kĩ năng phát âm, quá trình đó đòi hỏi
phải đạt được ba kĩ năng cơ bản trong ba lĩnh vực: cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ âm.
Đọc là sự kết của một số giác quan: mắt (nhìn, quan sát ); miệng (phát âm) tai
(nghe). Trẻ đọc thành thạo là đọc không sai ngữ pháp, hiểu nội dung đã đọc. Đối với
những trẻ đọc tốt lại thích thú trong quá trình luyện đọc, ngược lại những học sinh đọc
yếu lại lười luyện đọc, ngại ngùng khi được yêu cầu đọc. Học sinh đồng bào dân tộc ít
hiểu được nghĩa tiếng Việt, nhiều em đọc xong thậm chí không hiểu mình đã đọc cái gì,
chẳng hạn như các em đọc các câu tục ngữ, thành ngữ.
Sự kết hợp các giác quan chưa linh động thì quá trình đọc sẽ chậm chạp, sai sót…
b. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy đọc:
Khi dạy đọc cho học sinh phải dựa trên cơ sở ngôn ngữ, đọc liên quan mật thiết với
chính tả, chữ viết, các ngữ điệu của câu trong bài văn, dấu câu của văn bản.
Để rèn cho học sinh đọc yếu lớp Bốn vùng đồng bào dân tộc cần nắm cách đọc một
văn bản cụ thể, nội dung của văn bản để thể hiện cho chính xác cách đọc.
c. Kĩ năng:
Tập đọc lớp Bốn rèn cho học sinh kĩ năng: biết cách đọc các loại văn bản: hành
chính, khoa học, báo chí,văn học phù hợp với thể loại và nội dung văn bản; thể hiện tình
cảm, thái độ của tác giả, giọng điệu của nhân vật.
- Đọc thầm tốc độ nhanh hơn lớp Ba…
- Muốn đạt được kĩ năng trên đòi hỏi người hướng dẫn, giảng dạy phải luôn quan
tâm đến tất cả học sinh, đặc biệt là học sinh đọc yếu.
II.2. Thực trạng:
a. Thực trạng:
- Chất lượng, hiệu quả giáo dục ngôn ngữ hiện nay của học sinh ở vùng đồng bào
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

6


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

dân tộc vẫn còn thấp. Đặc biệt, chất lượng bài kiểm tra, bài thi môn Tiếng Việt ở
Tiểu học đều rất thấp, học sinh không đủ vốn từ vựng để hiểu các môn học khác.
Nguyên nhân của tình trạng trên là năng lực ngôn ngữ, kiến thức tiếng Việt của các
em còn hạn chế, việc dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu
số vẫn chưa mang lại hiệu quả mong đợi. Là những người làm công tác giáo dục,
chúng ta hãy suy ngẫm về kết quả giáo dục này!
- Trong thực tế giảng dạy tại lớp 4B trường tiểu học Tô Hiệu tôi nhận thấy việc dạy
tập đọc đang còn nhiều hạn chế. Khảo sát kết quả đầu năm lớp tôi đảm nhiệm chất lượng
rất thấp và còn hạn chế một số điểm như:
+

Phát âm thiếu dấu, thừa dấu, sai dấu ( trường hợp phổ biến).

+ Đọc chậm còn đánh vần, phát âm chưa rõ tiếng, phát âm sai.
+ Ngắt nghỉ tùy tiện, chưa đúng theo cụm từ, dấu câu.
+ Tốc độ đọc chậm, nhỏ, bỏ chữ hoặc thêm chữ trong bài.
+ Kết quả khảo sát đầu năm như sau:
Lớp

Tổng số

4B

20

Học sinh đọc tốt
Số lượng Tỉ lệ
3
15%

Học sinh đọc trung bình
Số lượng
Tỉ lệ
9
45%

Học sinh đọc yếu
Số lượng Tỉ lệ
8
40%

b. Thuận lợi – khó khăn:
* Thuận lợi : Trường đóng trên địa bàn trung tâm giữa ba buôn nên thuận tiện cho việc
đến trường của học sinh.Các em được trang bị sách vở đầy đủ ( được nhà nước hổ trợ).
Ban giám hiệu nhà trường quan tâm, lớp Bốn được học 2 buổi / ngày nên có thời gian
dành cho việc luyện đọc.
* Khó khăn: Khác với học sinh người Kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người
dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt. Thực tế cũng có số ít các em được trải qua
sự chăm sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như những mẫu hội
thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm
Non đã trang bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các
em bước vào lớp1. Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

7


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào môi trường giáo
dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai của các em. Việc giao tiếp thông
thường với thầy cô giáo đã khó khăn, và cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những
kiến thức về các môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các
em. Đến trường, đến lớp là các em bước đến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa lạ,
tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến
trường. Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối với các
em, trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt là một ngôn ngữ
hoàn toàn xa lạ. Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là do điều kiện sử
dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, là do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ
rất tự nhiên, bản năng. Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lần hội họp, người địa
phương chỉ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ. Họ ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến thức
về tiếng Việt ở họ quá ít ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ thường trực trong họ.
Chính vì thế, mỗi lần các cán bộ xã, huyện về chủ trì một cuộc họp nào đó ở làng, bản, họ
phát biểu bằng tiếng Việt rất khó khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn ngữ sẽ ảnh
hưởng vào trong đời sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi
rời trường, rời lớp. Dần dà các em không thể sử dụng tiếng Việt, quên ngay những kiến
thức về tiếng Việt đã học trên lớp, từ đó, đã khiến cho các em thụ động, thiếu linh hoạt khi
ở môi trường giao tiếp lớn hơn, vượt khỏi môi trường cộng đồng dân cư nhỏ hẹp. Cái
nghèo luôn nhắc nhở con người sống trong cảnh khốn cùng cần hiểu sâu sắc về nguồn
gốc, về điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân. Nghèo đã giúp con người ta vươn lên
nhưng nghèo cũng làm cho con người luôn mặc cảm, tự ti, bằng lòng với cuộc sống hiện
tại. Mặc cảm số phận đã khiến con người không thể thoát khỏi những thiếu thốn vật chất,
không thể vươn xa hơn không gian sống hiện tại. Những học sinh tiểu học người dân tộc
không có sự hồn nhiên của tuổi trẻ, không chỉ có "ngày hai buổi đến trường", các em còn
phải miệt mài trên nương rẫy trỉa lúa, trồng ngô,...lo cho cuộc sống vật chất của gia đình
đang chật vật, thiếu thốn.
Một số học sinh có ý thức học tập, đến mùa màng, cũng xin phép giáo viên chủ nhiệm,
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

8


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

nhà trường nghỉ phép vài hôm, nhưng rồi các em cũng quên trở lại trường khi mùa gặt kết
thúc. Giáo viên lại phải nhọc công tìm đến tận buôn, vận động các em đến trường.
Như đã nói ở trên, chính điều kiện sống như thế đã không tạo cho các em một môi trường
học tập, một góc học tập cá nhân, lại càng không thể xây dựng trong các em ý thức học
tập, rèn luyện. Vốn kiến thức về tiếng Việt ở các em hạn chế, ít ỏi là điều hiển nhiên.
Chính vì thế, các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải phát biểu xây dựng
bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học, đặc biệt là các em rất
khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng nghĩa với việc kiềm hãm sự phát
triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt đầu
lo lắng cho mỗi giờ đến lớp, "sợ" phải đến trường. Học tập lúc này là công việc quá khó
khăn đối với các em.
Đối với các em, tự học là chủ yếu, bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc
không có khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở quản
lý, hay do hoàn cảnh sống khó khăn mà gia đình đã không chú trọng tới việc học của con,
em mình. Điều này cho thấy đa số các em không được nằm trên một cái nền học vấn nhất
định nào đó của gia đình. Việc học tập của các em phải nhờ đến sự tận tâm của giáo viên,
nhờ vào kế hoạch giáo dục của nhà trường. Cho nên ý thức học tập là đặc tính rất cần
được chúng ta xây dựng cho các em.
Hiện nay, xã hội vẫn chưa có sự quan tâm sâu sát đến điều kiện học tập của học sinh dân
tộc thiểu số. Nhà nước ta chỉ chú ý đến cơ sở vật chất của Trường học, chứ chưa chú trọng
đến đời sống của học sinh một cách đúng mức.
c.Nguyên nhân- Hạn chế :
Về giáo viên:
- Do một số giáo viên chưa giảng dạy nhiệt tình, chưa quan tâm giúp đỡ đến đến các
đối tượng học sinh yếu, chưa vận dụng linh hoạt trong đổi mới phương pháp giảng
dạy. Trong tiết dạy tập đọc chưa tập trung hướng dẫn rèn đọc cho học sinh mà còn
dạy chung chung, hình thức, không đặt tình hình lớp mình vào điều kiện cụ thể. Đa
số giáo viên người Kinh ở nơi khác đến giảng dạy ở các tỉnh Tây Nguyên đều
không biết ngôn ngữ Dân tộc, nếu biết thì cũng chỉ dừng ở mức độ ít nên họ không
thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những tình huống cần thiết trong dạy học
tiếng Việt cho đối tượng học sinh đặc biệt này. Mặt khác, về phong tục tập quán, họ
lại càng không có điều kiện tìm hiểu, cho nên họ khó có thể tiếp cận với phụ huynh,
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

9


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

gia đình các em, khó có thể tiếp xúc gần gũi, rút ngắn khoảng cách, xóa ranh giới
không cần thiết giữa thầy và trò, để dạy tiếng Việt hiệu quả.
- Dạy học cho người dân tộc thiểu số phải do chính giáo viên người địa phương đảm
nhiệm mới mang lại hiệu quả cao được. Nhưng ngặt nỗi, trình độ chuyên môn của
giáo viên địa phương chưa được chuẩn, đa số giáo viên địa phương ở đây chỉ trải
qua những lớp đào tạo ngắn hạn, rồi bù vào đó là tấm bằng Đại học Từ Xa, hoặc
nhà trường Sư phạm phải tạo điều kiện ra trường cho họ để đáp ứng nhu cầu về
giáo viên của địa phương ở những năm trước đây,nên công việc giảng dạy của họ
khó mang lại được hiệu quả mong muốn. Bản thân họ cũng chưa nắm vững những
kiến thức về tiếng Việt nên họ truyền tải những kiến thức này đến cho học sinh rất
khó khăn. Như vậy, hiệu quả dạy học của giáo viên người dân tộc là khó có thể!
- Nhà trường chưa có điều kiện dạy hai buổi/ngày đối với học sinh lớp Ba.
Về học sinh:
- Chưa tích cực trong quá trình học tập, sau giờ học không rèn đọc ở nhà, thậm chí
không kiểm tra sách vở trước khi đến lớp. Trình độ nhận thức chậm, sức khỏe yếu, gia
đình không quan tâm.
- Do đặc thù đồng bào Ê đê các em ít tiếp xúc giao tiếp với người Kinh nên vốn
kiến thức tiếng Việt hạn chế.
- E dè rụt rè trong khi yêu cầu đọc, ngại đọc trước bạn bè.
II.3. Giải pháp:
Trước thực trạng nêu trên, trong quá trình đảm nhiệm giảng dạy lớp 4B, trường tiểu
học Tô Hiệu năm học 2012-2013 tôi xác định để học sinh đọc, đọc chính xác một văn bản
giúp các em mạnh dạn, tự tin trong quá trình rèn đọc. Từ đó giúp các em tiếp thu được các
kiến thức của các môn học khác; trong quá trình hướng dẫn học sinh tôi đã sử dụng một
số biện pháp như sau:
a. Rèn phát âm đúng dấu thanh:
- Việc rèn phát âm đúng âm,từ, câu là công việc cơ bản, học sinh dân tộc hay phát
âm thiếu dấu,sai dấu. Vì vậy tôi động viên các em nhận biết dấu; cách phát âm dấu như
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

10


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

thế nào, chẳng hạn trong bài tập đọc đầu tiên chương trình tập đọc lớp 4: “ Dế Mèn bênh
vực kẻ yếu”. Ngay tiêu đề các em đã đọc sai các dấu: “Dế” đọc “Dê”; “Mèn” đọc “Men”;
“vực” đọc “vức”…Trước tình hình đó, tôi yêu cầu các em tự nhẩm lại vần, nêu dấu thanh
đi kèm của các tiếng, tự ghép dấu cho đúng, nếu các em ghép chưa đúng yêu cầu em đọc
chính xác đọc mẫu cho em yếu đọc theo. Sau đó kết hợp đọc cả câu.
- Phân chia chỗ ngồi đầu năm tôi đã chú ý sắp xếp em học khá ngồi cạnh em học
yếu để giúp đỡ em học yếu.
- Gợi ý cách phát âm về dấu, các dấu thanh: huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng mỗi dấu
thanh phát âm khác nhau khi kết hợp trong các tiếng. Ghi nhớ tên các dấu để phát âm cho
đúng, cho chuẩn.
- Động viên các em mạnh dạn trong quá trình luyện phát âm, nếu sai tiếp tục phát
âm lại cho đến khi chuẩn theo sự hướng dẫn của cô.
- Phát âm sai dấu thanh, đọc không dấu là lỗi phổ biến của học sinh người đồng bào
Ê đê.Vì vậy điều chỉnh dấu thanh cho các em khi đọc phải thường xuyên, liên tục trong
các tiết học,trong các phần đọc.
b. Rèn phát âm đúng tiếng khó:
Trong tiếng Việt một số tiếng ghép nhiều âm vần các em học sinh đồng bào hay
nhầm lẫn, đánh vần thiếu chính xác,còn mập mờ và đọc qua loa mà không hiểu thực chất
của từ mình phát âm. Nếu không chấn chỉnh kịp thời lâu dần tạo thói quen đọc sai và
không nắm cấu tạo của tiếng để đọc. Một số vần các em dễ nhầm lẫn như: “ hoa” các em
đọc “ hao”, “ hoe” đọc “heo”, vần “anh” nhầm “ang”…một số tiếng như: khuya, tuyn,
loanh quanh, doanh trại, khoang, buồm,…các em phát âm chưa được.Trong trường hợp
này, trong mỗi bài tập đọc ta cần tìm và nêu ra các từ mới trước khi hướng dẫn luyện đọc,
phát âm, định nghĩa các từ mới, từ khó cho học sinh nghe, chỉ ra cái sai của học sinh cho
các em nhận biết và cái đúng cần ghi nhớ.
Cho học sinh nhẩm vần và phát âm từ khó, kết hợp đọc câu có từ khó, đọc đoạn văn…
Thực hiện liên tục trong quá trình đọc với tất cacr em đọc yếu.
c. Rèn cách ngắt, nghỉ hơi:
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

11


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

Học sinh đọc yếu chưa nắm bắt được là khi nào ngắt hơi, khi nào nghỉ hơi. Vì vậy
ta cần hướng dẫn học sinh nắm được ngắt hơi sau dấu phẩy, cụm từ dài, dấu chấm phẩy…
Nghỉ hơi sau dấu chấm, dấu ba chấm, qua đoạn ( sau dấu ba chấm nghỉ hơi dài hơn).
Cách ngắt, nghỉ hơi là việc quan trọng khi luyện đọc. Nếu ngắt nghỉ sai các em sẽ
hiểu sai nội dung văn bản.
Hầu hết học sinh yếu đọc chậm các em đọc từng tiếng một kết hợp với phát âm nên
các em chưa ngắt nghỉ đúng, đặc biệt trong các câu dài nên giáo viên cần theo dõi nhắc
nhở cách ngắt nghỉ thường xuyên, cho các em tập ngắt nghỉ theo dấu câu, cụm từ.
Lựa chọn câu khó, câu dài trong mỗi bài đọc ghi chép ra bảng phụ sẵn trước các tiết
học để hướng dẫn trong tiết dạy.Hướng dẫn các em lấy hơi, nhịp thở để đọc các câu có
cụm từ dài.
Các bài tập đọc lớp Bốn hầu hết đều dài, gồm nhiều câu dài chẳng hạn trong bài: “
Trung thu độc lập” có câu sau: “ Anh mừng cho các em vui Tết trung thu độc lập đầu
tiên / và anh mong ước ngày mai đây, những tết trung thu tươi đẹp hơn nữa / sẽ đến với
các em //.
Trong bài: “ Đôi giày ba ta màu xanh” có câu: “ Tôi tưởng tượng nếu mang nó vào /
chắc bước đi sẽ nhẹ và nhanh hơn, tôi sẽ chạy trên những con đường đất mịn trong làng /
trước cái nhìn thèm muốn của các bạn tôi//…
Đối với học sinh yếu cần động viên các em đọc bài ở nhà nhiều để thuần thục văn
bản khi đó luyện ngắt nghỉ hơi mới thuận lợi hơn.
d. Rèn đọc đúng tên riêng nước ngoài:
Những bài tập đọc có tên nước ngoài trong chương trình tập đọc lớp Bốn cũng được
chiếm số lượng rất lớn, có tên riêng đơn giản nhưng cũng có tên dài kèm họ khó đọc.
Trước hết cần hướng dẫn các em xác định cách đọc, cách nhẩm vần ( nhẩm nhanh)
đọc liền mạch các tên, không ngắt nghỉ giữa các tiếng trong một tên.Một số tên riêng
phiên âm dễ đọc nhưng một số tên kèm theo một số phụ âm đứng trước nhiều học sinh
chưa biết cách đọc. Ví dụ: tên Tooc-ti-la, Xi-ôn-cốp-xki, Lu-I Pa-xtơ…
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

12


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

Khi vào bài đọc nước ngoài cần lựa chọn tên riêng nước ngoài hướng dẫn học sinh
luyện đọc trước, cho học sinh đọc tốt đọc mẫu, hướng dẫn bạn yếu đọc theo sửa sai cho
bạn ( theo nhóm đôi).Sau đó cho học sinh yếu đọc trước lớp, giáo viên sửa sai hướng dân
cho đến khi các em đọc chuẩn xác nhất. Luyện đọc lại cũng cho học sinh yếu đọc lại để
xem mức độ ghi nhớ và cách phát âm của các em yếu.
e. Rèn đọc đủ tiếng, từ trong câu:
Việc đọc tự thêm tiếng, bỏ tiếng ttrong bài ở học sinh yếu vùng đồng bào cũng
thường xuyên bắt gặp. Nhiều lúc do thiếu cẩn thận, chọn lúc giáo viên sơ hở không chú ý
các em yếu đọc vội vàng cho xong bài, hoặt gặp từ khó không đọc được học sinh tự giác “
phớt lờ” cho qua từ nào đó. Đọc bỏ bớt từ hoặc tự thêm từ làm khác đi nội dung câu văn,
đoạn văn. Vì vậy khi học sinh luyện đọc giáo viên theo dõi sát sao từng tiếng một, kịp
thời phát hiện, chấn chỉnh ngay tại chỗ thiếu hoặc thêm đó, yêu cầu đọc lại đầy đủ ngay
câu văn vừa đọc; xác định chính xác tiếng gì để đọc không được tự tiện thêm bớt lam sai
lệch bài đọc về câu chữ cũng như nội dung. Việc chấn chỉnh này cũng tạo thói quen cẩn
thận khi đọc, không cẩu thả, tùy tiện trong việc luyện đọc.
- Trong quá trình luyện đọc cho học sinh đọc yếu vùng đồng bào dân tộc bản thân
tôi chú ý thái độ, tâm trạng, điều kiện gia đình của học sinh.Tôi tạo các nhóm học tập
theo từng buôn, trong nhóm có học sinh khá và học sinh yếu để học sinh khá giúp học
sinh yếu luyện đọc. Các nhóm có thời gian biểu cho việc luyện đọc, trước tiên cho các bạn
ôn lại bài cũ, kiểm tra sai sót, sự tiến bộ,luyện viết bài đọc ở lớp, sau đó luyện đọc bài
mới. Các nhóm học tập được gia đình theo dõi, sau khi đến lớp các nhóm báo cáo lại cho
giáo viên chủ nhiệm.
- Khi giảng dạy tập đọc tôi chú ý đối tượng học sinh yếu của lớp rèn các em đọc
từng từ, từng câu trong bài cho nhuần nhuyễn tránh rập khuôn, hình thức. Tất cả các học
sinh đều phải đọc một đoạn theo hình thức nối tiếp, yêu cầu những em đọc tốt hơn tự
luyện đọc cho hay theo hướng dẫn của giáo viên, sau đó giáo viên kiểm tra, còn thời gian
chú trọng cho học sinh đọc yếu. Hướng dẫn cho học sinh yếu đọc cho thành thạo trôi chảy
một đoạn văn.Trong phần hướng dẫn đọc diễn cảm tôi cho học sinh đọc tốt luyện đọc hay
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

13


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

còn học sinh yếu vẫn tiếp tục luyện đọc sao cho đúng dấu, từ, ngắt nghỉ…chứ không áp
đặt một cách máy móc, chung chung.
- Việc dạy đọc tôi kết hợp với công tác giáo dục ý thức cho học sinh, chẳng hạn như
vì sao cùng học với mình mà các bạn lại đọc tốt còn mình thì không? Câu chuyện “ Có
công mài sắt, có ngày nên kim” khuyên ta điều gì? Một số tấm gương sáng về việc rèn
đọc, viết như: Cao Bá Quát, Nguyễn Hiền…Cần cho các em thấy rằng việc cần cù rèn
luyện sẽ được kết quả xứng đáng, mỗi ngày các em hãy rèn đọc một ít ắt sẽ có ngày đọc
tốt. Ngược lại nếu lười nhát, không chịu rèn luyện thì chẳng có kết quả gì.
- Bên cạnh đó tôi theo dõi sát sao việc luyện đọc ở nhà của học sinh, việc luyện đọc
ở nhà nhiều sẽ giúp các em đến lớp đọc nhanh, giáo viên có thời gian sửa sai những chỗ
còn “hổng” cho các em.Đông thời nắm bắt được em nào có tinh thần tự giác luyện đọc,
em nào chưa để từ đó chấn chỉnh kịp thời.
- Động viên phụ huynh tạo điều kiện chăm sóc sức khỏe, vệ sinh, tạo thời gian cho
con tham gia học tập.
III. KẾT LUẬN
III.1.Kết luận: Trong những năm gần đây việc chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy
cùng với một số cuộc vận động lớn của ngành Giáo dục; chất lượng giáo dục đã từng
bước được nâng cao; đồng thời việc giảm tải chương trình,việc áp dụng giảng dạy theo
vùng miền, giáo viên tự lên kế hoạch giảng dạy phù hợp với thực tế lớp mình giảng dạy,
…đã làm cho công tác giảng dạy đáp ứng được nhu cầu, kết quả được nâng lên rõ rệt.
Trong tiết học học sinh chủ động, tự giác, tích cực học tập.
Bản thân tôi dưới sự chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường cùng với sự trao
đổi, góp ý kinh nghiệm của tập thể giáo viên nhà trường, sự cố gắng nổ lực của bản thân
với quá trình thực hiện như trên trong suốt quá trình giảng dạy của mình ở năm học 20122013 tôi xin mạnh dạn đánh giá kết quả đạt được như sau:
- Về học sinh:
Khi vận dụng hình thức giảng dạy như trên học sinh lớp tôi hầu hết rất thích thú,
tích cực khi tham gia học môn tập đọc. Luyện đọc sôi nổi, tham gia góp ý, nêu lỗi sai của
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

14


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

bạn một cách hào hứng. Bạn đọc sai không ngại sửa chữa sai sót của mình, mạnh dạn
khắc phục để đọc tốt hơn.
Các em tự tìm cách đọc nêu ra trước, giáo viên bổ sung hướng dẫn thêm; học sinh
tự rèn thói quen ngắt,nghỉ đúng ở câu dài; nhịp thơ…sau đó giáo viên điều chỉnh lại nếu
chưa chính xác.
Các nhóm tham gia học tập ở nhà tự giác theo quy định, tự luyện đọc và báo cáo
kết quả vào ngày học sau một cách cụ thể, rõ ràng ghẳng hạn như bạn trong nhóm đọc tốt
chưa? Sai lỗi gì? Đã sửa sai chưa?...Giáo viên tổng hợp, đánh giá và chỉ ra điều cần khắc
phục ở từng nhóm.Các nhóm học tập sôi nổi và đạt kết quả.
Chất lượng chung của cả lớp từng bước được nâng lên, tình hình đọc sai dấu giảm đáng kể; từ
một học sinh yếu đầu năm đọc chậm đánh vần từng tiếng một ( em Y Sy Mlô) thì nay các em đã đọc tốt
một câu dài. Các em tự biết cách ngắt nghỉ ở câu dài, biết phát âm tên riêng nước ngoài nếu gặp( ở phân
môn luyện từ và câu) (như em H Blat Adrơng ). Một số em tự rèn thói quen đọc đủ đúng số tiếng trong
bài không bỏ sót hoặc thêm tiếng, không đọc qua loa mà đọc rõ ràng các tiếng trong câu (như em Y Nai,
Y Khuê…). Tốc độ đọc của các em này cũng nhanh lên đáng kể.

STT Tên HS đọc yếu
1
2
3
4
5
6
7
8

Y Thuật Ayun
Y Sy Mlô
Y Khuê Mlô
Y Dương Niê
H Blat Adrơng
Y Quyn Niê
Y Nai Niê
Y Măk Niê

Đầu năm
2
3
4
3
4
3
4
3

Điểm các lần kiểm tra
GKI
CKI
4
5
4
5
5
6,5
4
6
5
6
4
6
5
5
4
5

GKII
6
6
7
6
6,5
6
6,5
6

- Về giáo viên:
Qua quá trình tìm tòi nghiên cứu bản thân tôi đã tìm ra một số biện pháp mới trong
công tác giảng dạy của mình, nâng cao chất lượng giáo dục như mong muốn. Để đạt được
kết quả như trên, ngoài sự nổ lực của chính bản thân các em học sinh còn có sự chỉ đạo
sát sao của Ban giám hiệu nhà trường, sự đóng góp của chị em đồng nghiệp để tìm ra biện
pháp hữu hiệu nhất. Đó là điều kiện giúp học sinh phát huy hơn nữa trong việc luyện đọc,
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

15


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

tạo điều kiện để các em luyện đọc hay, đọc diễn cảm, sử dụng việc đọc trong các môn học
khác.Và trong thời gian thực hiện đề tài này cũng đã cho chính bản thân tôi khắc phục
những thiếu sót trước đây trong hướng dẫn giảng dạy học sinh luyện đọc, tạo thói quen
làm việc linh động, nhạy bén, tạo dựng tinh thần giảng dạy tốt. Bản thân cũng rút ra một
số kinh nghiệm như:
- Chuẩn bị tiết dạy cần đảm bảo theo hướng khoa học, sáng tạo, bài dạy chuẩn bị kĩ
càng ( dự kiến từ ngữ các em dễ đọc sai, cách sửa sai, các câu dài, câu khó in sẵn cho
phần hướng dẫn ngắt nghỉ…)
- Theo dõi sát sao quá trình luyện đọc cho học sinh sửa sai ngay tại chỗ để học sinh
ghi nhớ.
- Tạo điều kiện cho tất cả học sinh tham gia công việc luyện đọc, tạo không khí thỏa
mái, tinh thần thân thiện là động lực để các em tham gia học sôi nổi và tư nhiên.
- Luôn luôn trau dồi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, lắng nghe và tiếp thu ý kiến
hay của bạn bè đồng nghiệp.Đọc và nghiên cứu kĩ tài liệu, linh động trong việc sử dụng
phương pháp giảng dạy, kết hợp các phương pháp khoa học và hợp lý.
- Nhiệt tình trong công tác, luôn tận tụy với nghề, quan tâm và biết liên hệ vận động
gia đình học sinh để gia đình động viên tạo điều kiện cho con em mình học tập.
- Quan tâm đến việc học tập của học sinh, đặc biệt lại là học sinh Tiểu học dân tộc
thiểu số cũng không có được mấy người trong số tất cả những người đang trên bục giảng
ở vùng khó khăn. Và trước tâm thế đến trường của học sinh như vậy, thiết nghĩ, giảng dạy
cho học sinh ở những vùng khó, chúng ta cần hiểu được những vấn đề về tâm lý của học
sinh, về điều kiện, hoàn cảnh sống của gia đình các em để tìm ra những biện pháp giáo
dục, dạy học các em hiệu quả hơn, đưa các em đến với ánh sáng của tri thức. Giáo viên
cũng cần tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, học ngôn ngữ địa phương, thâm nhập đời
sống văn hóa cộng đồng, đặc biệt là hằng năm, các sở Giáo dục - Đào tạo, phòng Giáo
dục cần có chương trình, kế hoạch bồi dưỡng giáo viên người dân tộc dài ngày và thường
xuyên hơn để việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số hiệu quả. Một điều
cuối cùng là, giáo viên cần giúp cho học sinh dân tộc thiểu số hiểu tiếng Việt là ngôn ngữ
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

16


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

phổ thông dùng chung cho các dân tộc.
III.2. Một số kiến nghị, đề xuất:
Để thực hiện các biện pháp hướng dẫn học sinh yếu lớp Bốn vùng đồng bào dân tộc
luyện đọc đúng tôi xin mạnh dạn đề xuất một số ý kiến như sau:
- Nhà trường mua sắm thêm đồ dùng dạy học ( phần luyện đọc) như: in ấn sẵn câu
khó, đoạn văn cần luyện (theo các nhà nghiên cứu ) ở tất cả các bài tập đọc.
- Trang bị thêm cơ sở vật chất ( phòng học ) cho học sinh lớp Ba học 2 buổi/ ngày
để có thời gian tăng cường luyện đọc, tạo nguồn cho lớp Bốn.
- Nhà nước hỗ trợ thêm chính sách cho học sinh vùng đồng bào dân tộc khó khăn,
các cấp các ngành quan tâm hơn nữa đến đời sống, sức khỏe của học sinh vùng khó khăn.
- Phòng giáo dục tăng cường mở các lớp tập huấn kĩ năng, kiến thức về công tác
giáo dục cho giáo viên giảng dạy vùng đồng bào dân tộc để giáo viên năng cao kiến thức,
kinh nghiệm giảng dạy.
Trên đây là một số biện pháp, kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình dạy bộ
môn Tiếng Việt tại Trường Tiểu học Tô Hiệu nhiều năm qua, trong đó cụ thể là các
phương pháp rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng đồng bào dân tộc.
Bản thân tôi muốn chia sẽ kinh nghiệm mà mình đã thực hiện thành công tại đơn vị
đang công tác, cũng thông qua đó mong muốn nhận được sự góp ý thêm của đồng nghiệp
để sáng kiến của tôi hôm nay không những áp dụng và phát huy cho đơn vị trường Tiểu
học Tô Hiệu trường có số lượng học sinh đồng bào dân tộc chiếm tỉ lệ 99% mà còn có thể
áp dụng cho các đơn vị trường Tiểu học vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong toàn huyện.
CưMgar, ngày 26 tháng 03 năm 2013
Người thực hiện

Dương Thị Cẩm

Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

17


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

TÀI LIỆU THAM KHẢO

STT
1
2
3
4
5

Tên tài liệu
Sách giáo viên tiếng Việt 4
Sách giáo khoa tiếng Việt 4
Giáo dục phổ thông
Ngôn ngữ số 3
Tâm lý học đại cương

Tác giả
Nhà xuất bản Giáo dục
Nhà xuất bản Giáo dục
T.S Lê Hoàng Giang
Hoàng Văn Hành
NXBQGHN 1998.

Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

18


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

19


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

20


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

21


Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số

Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×