Tải bản đầy đủ

Tố tụng dân các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo, sợi dây chỉ đỏ xuyên suốt quá trình việc xây dựng và thi hành pháp luật tố tụng dân sự, được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật. Những nguyên tắc này ma

Danh mục cụm từ viết tắt:
1. VADS:
2. BLTTDS
3. VVDS

Vụ án dân sự
Bộ luật tố tụng dân sự
Vụ việc dân sự


Nguyên tắc "Hòa giải trong tố tụng dân sự" theo quy định của BLTTDS 2015 và
thực tiễn áp dụng.
I. Phần mở đầu:
Có thể hiểu các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự là những nguyên
lý, tư tưởng chỉ đạo, sợi dây chỉ đỏ xuyên suốt quá trình việc xây dựng và thi hành
pháp luật tố tụng dân sự, được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật. Những
nguyên tắc này mang tính phổ biến, bắt buộc chung đối với toàn xã hội. Thông
thường những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự được ghi nhận trong từng
điều luật riêng biệt, như nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự được
quy định tại Điều 3, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được quy định tại Điều 7, nguyên tắc bình

đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự tại Điều 8…, nhưng cũng có một
số nguyên tắc chỉ có thể nhận thấy thông qua việc phân tích một số quy định của
pháp luật tố tụng dân sự, ví dụ như nguyên tắc Thẩm phán điều khiển quá trình tố
tụng,… Hiện nay, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện
pháp luật tố tụng dân sự, các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam
được thể chế hoá tại Chương II phần “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015, mỗi nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại một điều luật riêng biệt
thể hiện mỗi nội dung và ý nghĩa đặc trưng riêng biệt. Nguyên tắc “Hòa giải trong
tố tụng dân sự” cũng được quy định tại Điều 10. Là một chế định quan trọng trong
tố tụng dân sự, việc hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa đảm bảo tiết kiệm
chi phí cho Nhà nước, công dân, giảm bớt giai đoạn tố tụng kéo dài, vừa giải quyết
triệt để các mâu thuẩn giữa các đương sự… Do đó, hòa giải trong tố tụng dân sự
cũng được quy định thành một nguyên tắc quan trọng trong các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật tố tụng dân sự. Vậy, nguyên tắc “hòa giải trong tố tụng dân sự” theo
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được quy định như thế nào và thực tiễn áp dụng ra
sao?


II. Phần nội dung:
1. Một số vấn đề lý luận về hòa giải trong tố tụng dân sự.
1.1. Khái niệm:
Sau khi thụ lý vụ án, để giải quyết vụ án tòa án tiến hành giải thích pháp luật,
giải thích những quy định pháp luật có liên quan, giúp đỡ các đương sự nhận biết
quyền và nghĩa vụ ủa mình để giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận, thương lượng với
nhau về việc giải quyết các vấn đề của VADS có tranh chấp. Hoạt động này của tòa
án được gọi là hòa giải VADS. Vậy hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do
tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ
án dân sự.
Hoà giải vụ án dân sự là một thủ tục tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp
đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của VADS.
1

Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam, hoà giải vừa được quy định với ý nghĩa

là quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong
những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự.
Tòa án thực hiện việc hòa giải ở thời điểm trước phiên tòa sơ thẩm ( trước
khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS, tại các thời điểm khác, Tòa án không tiến
hành hòa giải mà chỉ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được quy định tại
Điều 246, 300 BLTTDS 2015 khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc


giải quyết VADS và yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó. Vì vậy, hòa giải ở
thời điểm trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm là chế định bắt buộc, trừ những vụ
án không tiến hành hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải.
1.2.

Cơ sở pháp lý của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
Cơ sở của hòa giải vụ án dân sư là quyền tự định đoạt của các đương sự. Để

giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tòa án
không chỉ xét xử mà còn hòa giải. Vì vậy, Điều 10 BLTTDS năm 2015 quy định,
1 Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, trang 220.


“tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương
sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật
này.” Việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc bảo
đảm giải quyết các vụ việc nhanh chóng, hiệu quả nhất thông qua phương thức hòa
giải ở tại Tòa án.
1.3.

Nội dung của nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự
Có thể thấy, hoà giải là một thủ tục tố tụng được thực hiện đối với mọi vụ án

dân sự (đối với việc dân sự không có yếu tố tranh chấp thì không áp dụng thủ tục
hoà giải) và được tiến hành ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi thụ lý
vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử phúc thẩm bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe
lời trình bày của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm, trừ trường hợp vụ án dân sự
Bộ luật quy định không tiến hành hoà giải được tại Điều 207 BLTTDS (bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ
hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý
do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng
lực hành vi dân sự; một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải) và
trừ trường hợp vụ án dân sự không được hoà giải tại Điều 206 BLTTDS (yêu cầu
đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; những vụ án dân sự phát
sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội);
Hoà giải trong tố tụng dân sự Việt Nam là hoà giải trước Toà án, hay còn gọi
là hoà giải trong quá trình tố tụng và được thực hiện với sự hiện diện của thẩm
phán hoặc Hội đồng xét xử. Tuy Toà án không phải là chủ thể của quyền hoà giải,
và cũng không đại diện cho lợi ích của bất cứ bên đương sự nào, nhưng với tư cách
là cơ quan xét xử có trách nhiệm tiến hành hoà giải, Toà án có vị trí, vai trò đặc biệt
quan trọng trong quá trình hoà giải. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để các
đương sự hoà giải với nhau, giúp cho các bên đương sự hiểu rõ pháp luật điều
chỉnh quan hệ xã hội đang tranh chấp, giải thích cho họ về hậu quả pháp lý trong


trường hợp hoà giải thành và hoà giải không thành. Bên cạnh đó, Toà án có nhiệm
vụ giám sát việc thực hiện quyền tự định đoạt trong việc hoà giải của các bên
đương sự nhằm đảm bảo tiến trình hoà giải diễn ra theo đúng quy định của pháp
luật và có quyền không công nhận kết quả hoà giải, nếu sự thoả thuận đó trái pháp
luật, trái đạo đức xã hội hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Ngoài ra, Tòa án phải tôn trọng và công nhận sự thỏa thuận tự nguyện,
không trái pháp luật và đạo đức xã hội giữa các đương sự trong quá trình giải quyết
các VVDS.
1.4.

Ý nghĩa

Việc hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng vừa đảm bảo tiết kiện chi phí và tiền
của cho Nhà nước, cho người dân, giảm bớt giai đoạn tố tụng kéo dài, vừa giải
quyết triệt để mâu thuẫn giữa các đương sự, góp phần tích cực trong công cuộc xây
dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.Ý nghĩa của việc hòa giải vụ án dân
sự:
- Về mặt tố tụng: Trong trường hợp Tòa án hoà giải thành công vụ án dân sự thì
không cần mở phiên tòa xét xử vụ án, giảm bớt một giai đoạn tố tụng kéo dài và
cực kỳ phức tạp như kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, phúc thẩm, tái thẩm,…
Đồng thời nếu hòa giải thành sẽ giải quyết dứt điểm và tạo điều kiện thuận lợi cho
công tác thi hành án.
- Về mặt kinh tế: Những vụ án đã được hòa giải thành thì thời gian giải quyết vụ
việc ngắn, bứt phức tạp. Vì vậy, không chỉ tiết kiệm thời gian, tiền của của các
đương sự cũng như nhà nước. Tòa án có thời gian giải quyết những vụ việc khác,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
- Về mặt xã hội: Việc hòa giải thành công sẽ giúp các đương sự thông cảm cho
nhau, khôi phục tình đoàn kết, giải quyết tranh chấp với tinh thần cởi mở. Củng cố


tinh thần đoàn kết trong nhân dân, giảm bớt mâu thuẫn, góp phần giữ gìn an ninh
trật tự, các quan hệ xã hội phát triển lành mạnh.
Từ những ý nghĩa của việc hòa giải có thể thấy, việc quy định nguyên tắc hòa giải
trong tố tụng dân sự là rất cần thiết. Giúp các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có
trách nhiệm hơn trong việc thực hiện tổ chức hòa giải cũng như là người trung gian
thúc đẩy buổi hòa giải đạt được kết quả.
2. Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay về hòa giải trong tố tụng dân sự
2.1.

Nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án dân sự.
Theo quy định tại Điều 205 BLTTDS 2015 thì việc hòa giải phải được tiến

hành theo các nguyên tắc:
Thứ nhất, Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được
dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận
không phù hợp với ý chí của mình . Theo đó, hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện
của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải. Như
vậy, khi các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận tức là các đương sự tự lựa chọn
quyết định các vấn đề tranh chấp bằng hòa giải và thương lượng, thỏa thuận với
nhau giải quyết các vấn đề của vụ án.
Thứ hai, Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội. Theo đó, Tòa án tôn trọng sự tự nguyện thỏa
thuận của các đương sự, tuy nhiên sự thỏa thuận đó phải được tiến hành theo
đúng quy định của pháp luật, tức là việc tòa án hòa giải còn phải thỏa mãn các
điều kiện: tuân thủ đúng trình tự, thủ tục hòa giải; phạm vi hòa giải theo pháp
luật quy định; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật
hoặc đạo đức xã hội. Ngoài ra, quá trình hòa giải phải tích cực, kiên trì nhằm đạt
được kết quả hòa giải.
2.2.

Phạm vi hòa giải trong vụ án dân sự.


Khoản 1 Điều 205 BLTTDS quy định "Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc
giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa
giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải
quyết theo thủ tục rút gọn".
Do vậy hòa giải được tiến hành với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những trường hợp
không hòa giải được, pháp luật quy định không được hòa giải và những vụ án được
giải quyết theo thủ tục rút gọn.
a. Những vụ án dân sự không được hòa giải (Điều 206 BLTTDS)
- Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước. Theo đó, mọi hành vi
gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước đều là trái pháp luật và buộc phải bồi
thường. Người gây thiệt hại không có quyền điều chỉnh, thương lượng với Nhà
nước về mức độ bồi thường và bồi thường như thế nào. Mặt khác, pháp luật cũng
phòng ngừa trường hợp những cá nhân đại diện cho Nhà nước, lợi dụng quyền đó
để tùy tiện thương lượng với bên gây thiệt hại hoặc móc ngoặc với bên gây thiệt hại
làm thất thoát tài sản của Nhà nước.
- Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dich trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Đây chính là các giao dịch dân sự vô hiệu nên khi giải quyết vụ án ày tòa án sẽ giải
quyết theo hướng tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao
dịch dân sự vô hiệu vì khi giao dịch dân sự vô hiệu thì về mặt pháp lý quyền và
nghĩa vụ của các bên không được nhà nước thừa nhận và bảo vệ nên Tòa án không
thể tiến hành hòa giải được.
b. Những vụ án không tiến hành hòa giải được ( Điều 207 BLTTDS 2015 )
Khác với vụ án không được hòa giải, những vụ án không tiến hành hòa giải
được về bản chất lại là những loại việc pháp luật quy định cần phải tiến hành hòa
giải giữa các bên đương sự khi giải quyết vụ án. Yếu tố dẫn đến việc hòa giải


không thực hiện được là có những trở ngại khách quan dẫn đến việc không hòa giải
được. Theo đó, trong trường hợp cụ thể các bên đương sự không cần tiến hành hòa
giải được quy định tại Điều 207 BLTTDS 2015 gồm : Bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng
mặt; Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; Đương sự
là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; Một
trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.
Đối với những vụ án do cơ quan cơ quan tổ chức khởi kiện vì lợi ích của
người khác, nếu phải hòa giải thì tòa án không hòa giải giữa cơ quan, tổ chức khởi
kiện với bị đơn mà phải hòa giải giữa bị đơn với nguyên đơn (những chủ thể của
tranh chấp) hoặc người đại diện của họ trừ trường hợp pháp luật quy định không
được hòa giải hoặc không hòa giải được.2
Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải
được thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ mà không tiến hành phiên hòa giải. Quy định này nhằm bảo đảm mọi
chứng cứ được công khai, các đương sự đều biết các tài liệu, chứng cứ của vụ án để
thực hiện quyền tranh tụng, cho nên ngoài việc quy định nghĩa vụ của đương sự khi
giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì phải gửi bản sao cho đương sự khác;
BLTTDS 2015 còn bổ sung quy định phải tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy
nhiên để hạn chế việc phát sinh thêm thủ tục không cần thiết, nên đã ghép phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với phiên hòa giải.
c. Nội dung hòa giải:
Trước khi mở phiên tòa xét xử, thông thường Tòa án phải tiến hành thủ tục
hòa giải trong phạm vi yêu cầu của các đương sự. Vì vậy, trước khi tiến hành hòa
2 Minh Nhất, Hòa giải trong tố tụng dân sự - Một vài ý kiến để hoàn thiện ,( Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp)


giải, Tòa án cần xem xét các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề gì
để xác định các vấn đề Tòa án phải tiến hành hòa giải3. Việc xác định những nội
dung trước khi tiến hành hòa giải là một bước đệm, là cơ sở xây dựng các phương
án, thực hiện các công việc chuẩn bị để tiến hành hòa giải theo một thứ tự hợp lý
cũng như đề ra cách giải quyết trong những trường hợp có thể phát sinh.
2.3. Thành phần và thủ tục hòa giải vụ án dân sự.
a. Thành phần tham gia phiên hòa giải vụ án dân sự.
Theo quy định tại Điều 209 BLTTDS 2015 quy định về thành phần tham gia phiên
hòa giải bao gồm:
+ Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải đóng vai trò là người tiến hành hòa giải. Mặc
dù việc hòa giải là để cho đương sự tự giải quyết bằng cách thương lượng với nhau
và phải tôn trọng những quyết định thỏa thuận không trái đạo đức và pháp luật.
Nhưng những sự thỏa thuận này phải được tòa án công nhận bằng một quyết định
và quyết định này có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự;
+ Thư ký tòa án là người giúp việc ghi biên bản hòa giải;
+ Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự. Đối với vụ án dân
sự có nhiều đương sự, nếu trong số đó có người vắng mặt nhưng các đương sự có
mặt tại phiên hòa giải đó vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không
ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành
phiên hòa giải giữa các đương sự đang có mặt. Mặt khác nếu đương sự đề nghị
hoãn phiên hòa giải để có mặt các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn
phiên hòa giải và thông báo việc hoãn phiên hòa giải và việc mở lại phiên hòa giải
cho đương sự biết.
+ Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu
của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là
3 Giáo trình Luật tố tụng dân sự Trường đại học Kiểm sát Hà Nội, trang 186.


người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động,
người lao động. Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham
gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);
+ Người phiên dịch (nếu có).
+ Cơ quan, cá nhân, tổ chức có liên quan; Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia
đình, Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ; Ủy ban nhân dân,

Quy định này bảo đảm quyền lợi của đương sự trong phiên hòa giải đồng
thời góp phần tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải; củng cố hồ sơ vụ
án đầy đủ, triệt để hơn trước khi xét xử trong trường hợp hòa giải không thành.
b. Thủ tục tiến hành phiên hòa giải vụ án dân sự.
Trước khi tiến hành phiên hòa giải, Tòa án phải thông báo cho các đương sự,
người đại diện hợp pháp của đương sự thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải,
nội dung các vấn đề cần hòa giải ( Điều 208 BLTTDS 2015). Đồng thời, thẩm phán
phải xác định rõ những vấn đề cần hòa giải mang tính chất quan trọng của vụ án
( Xác định quan hệ pháp luật bị xâm hại, tư cách đương sự tham gia tố tụng, những
tài liệu, chứng cứ,…) để bảo đảm cho việc hòa giải thành công.
Theo quy định tại Điều 210 BLTTDS quy định trước khi tiến hành phiên
họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người
tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm
tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự
về quyền và nghĩa vụ của họ. Sau khi đã kiểm tra đủ điều kiện để tiến hành hòa
giải, thẩm phán sẽ tiến hành phiên hòa giải với việc phổ biến cho các đương sự về
các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự


liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải
thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội
dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi
kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án
(nếu có).
Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của
mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để
phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của
mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án
(nếu có);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn;
trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của
nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất
quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);
Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến;
Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình
bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống
nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội
dung chưa rõ, chưa thống nhất; Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự
đã thống nhất, chưa thống nhất.
Tất cả những vấn đề trên được thư ký tòa án ghi vào biên bản hòa giải với
những nội dung chính quy định tại Khoản 3 Điêu 211 BLTTDS 2015 với đầy đủ
chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của thư
ký Tòa án và của thẩm phán chủ trì phiên tòa.


2.4. Các quyết định của Tòa án dựa trên kết quả hòa giải.
- Trường hợp hòa giải không thành.
Khi việc hòa giải vụ án không đạt được kết quả và không có căn cứ để tạm
đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án thì tòa án lập biên bản hòa giải không thành
và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án
có thẩm quyền ra quyết định này và quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội
dung theo qui định tại Điều 220 BLTTDS 2015
- Trường hợp hòa giải thành.
Khi phiên hòa giải kết thúc, các đương sự đã tìm ra tiếng nói chung, đã thỏa
thuận được với nhau một giải pháp để giải quyết vụ án một cách phù hợp, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của cả đôi bên và được ghi lại trong biên bản hòa giải.
Trong trường hợp này, Tòa án lập biên bản hòa giải thành, trong đó nêu rõ nội dung
tranh chấp và những nội dung đã được đương sự thỏa thuận. Tuy nhiên, BLTTDS
quy định phải dành cho các bên đương sự một thời gian cần thiết nữa để họ suy
nghĩ, cân nhắc lại tất cả những nội dung mà họ đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp.
Hết thời hạn đó mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến tòa án mới ra quyết định
công nhận.
Theo quy định tại Điều 212 BLTTDS 2015, hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày
lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa
thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án
Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện
kiểm sát cùng cấp. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ
án.


Trong vụ án có nhiều đương sự mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người
có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến
quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh
hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị
và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên
hòa giải đồng ý bằng văn bản.
Thấm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu
các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án ( Kể cả
việc người phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và mức nộp). Quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành.
Đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị
phúc thẩm đối với quyết định này. Quyết định này chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận này là do bị nhầm lẫn, lừa
dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
3. Thực trạng và định hướng hoàn thiện pháp luật về hòa giải vụ án dân sự
trong BLTTDS
3.1. Ưu điểm của những quy định pháp luật về hòa giải trong BLTTDS
BLTTDS 2015 đã khắc phục được những nhược điểm của BLTTDS 2004
như việc quy định rõ ràng nguyên tắc hòa giải chỉ áp dụng đối với vụ án dân sự
( tức những vụ việc có tính chất tranh chấp) và không áp dụng đối với việc dân sự
( không có tranh chấp) điều này góp phần giải quyết nhanh chóng các vụ việc dân
sự cũng như thống nhất cách giải quyết của các Tòa án ở các đơn vị. Đồng thời, hòa
giải ngày càng thể hiện vai trò trong những vụ án và mang những ý nghĩa to lớn.
3.2. Hạn chế và biện pháp khắc phục:
Hòa giải có vai trò quan trọng trong tố tụng dân sự nhưng trên thực tế vẫn
còn một số Tòa án xem nhẹ công tác hòa giải, xem đó như là thủ tục bắt buộc mang
tính chất hình thức mà không chú ý đến hiệu quả khiến chế định này đôi khi trở nên


phản tác dụng. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của chế định này trong quá trình giải
quyết VADS cần tiến hành một số biện pháp:
Trước hết, thẩm phán là người chủ trì phiên hòa giải, là người đóng vai trò
quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hòa giải, vì vậy, việc bồi dưỡng và nâng
cao trình độ chuyên môn và kỹ năng hòa giải cho Thẩm phán là yêu cầu cấp thiết.
Thực trạng chung hiện nay là trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của
người dân chưa cao, có nhiều đương sự gây khó khăn cho Tòa án trong khi tiến
hành hòa giải. Đương sự trong vụ án thường có thái độ bất hợp tác như từ chối
nhận giấy triệu tập hoặc cố tình không đến Tòa án để hòa giải. Trong quá trình hòa
giải tại Tòa án, các đương sự không thỏa thuận được có khi bỏ về mà không ký vào
biên bản hòa giải. Các đương sự không hiểu về lợi ích của việc hòa giải thành nên
khi Tòa án mở phiên hòa giải thường cho là không cần thiết và không quan tâm,
chú ý… Vì vậy, người làm công tác xét xử không những phải nắm chắc pháp luật
mà còn phải nắm vững kỹ năng nghiệp vụ.
Thứ hai, Trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng
mặt được quy định tại Khoản 3 Điều 209, nếu các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến
hành phiên họp và việc tiến hành đó không ảnh hưởng quyền, nghĩa vụ của đương
sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp. Tuy nhiên, tại Khoản 3 Điều
212 về việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có quy định:
Trường hợp thỏa thuận có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt
thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu
được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản. Vậy, quy định tại
Điều 212 có mâu thuẫn với quy định tại Điều 209 hay không khi đương sự vắng
mặt mà có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của họ mà vẫn tổ chức phiên họp. Trong
trường hợp này, nếu đương sự vắng mặt không đồng ý với phiên hòa giải thì sẽ gây
mất thời gian, tiền bạc của các đương sự cũng như Tòa án. Nên sửa đổi hai điều
luật này sao cho vừa tương thích với nhau, vừa đảm bảo quyền và lợi ích của
đương sự vắng mặt mà việc tiến hành phiên họp có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
của họ.


Thứ ba, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự vẫn có thể bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là
do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng bức, bị ép hoặc vi phạm điều cấm của luật,
trái đạo đức xã hội. Vì vậy, để tránh mất thời gian và sự phức tạp trong thủ tục tố
tụng thì tại Điều 10 quy định về nguyên tắc hòa giải nên quy định thêm về việc, các
đương sự khi thỏa thuận cần trung thực và bình đẳng. Trong đời sống xã hội, mọi
mối quan hệ đều không thể phân định rõ ràng như luật định mà còn tình, lý. Sự
khác nhau về địa vị kinh tế, chính trị, xã hội của các đương sự có thể dẫn đến
trường hợp vì phụ thuộc lẫn nhau mà phải “tự nguyện thỏa thuận”.
Thứ tư, Thủ tục hòa giải như đã phân tích ở trên, có ý nghĩa rất quan trọng
trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, pháp luật về tố tụng dân sự chỉ quy định bắt buộc
hòa giải đối với cấp xét sử sơ thẩm còn ở cấp phúc thẩm thì không được quy định
rõ ràng trong bộ luật. Nhưng theo quy định của pháp luật được hiểu thủ tục hòa giải
là không bắt buộc đối với cấp phúc thẩm. Bởi vì theo quy định tại chương XVII về
chuẩn bị xét xử phúc thẩm quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc
thẩm, trách nhiệm tiến hành hòa giải của tòa án cũng như vấn đề ra quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự không được đề cập đến. Như vậy cho dù Tòa
án có tiến hành hòa giải giữa các đương sự thì cũng không có thủ tục tiến hành
trong hoạt động sau đó, vụ án vẫn phải đưa ra xét xử, trừ trường hợp đương sự tự
nguyện rút đơn của mình . Trên thực tế, mỗi một vụ án và một giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử,… tốn rất nhiều thời gian, trong khoảng thời gian đó rất có thể sẽ
phát sinh những yếu tố mới dẫn đến các đương sự có thể thỏa thuận được với nhau.
Vì vậy, cần quy định thêm chế định hòa giải cần phải được thực hiện cả trong cấp
xét xử phúc thẩm cũng như giám đốc thẩm, tái thẩm.
Thứ năm, Trên thực tế, có những VADS phức tạp mà các đương sự chỉ hòa
giải được một phần, phần còn lại vẫn còn tranh chấp. Về vấn đề này, pháp luật về tố
tụng dân sự có quy định nhưng không rõ ràng tại Điểm e, Điểm g Khoản 4 Điều
210; Điểm c Khoản 3 Điều 211. Tuy nhiên, quy định này chỉ mang tính chất Thẩm
phán ghi nhận những điểm đã hòa giải được và những điểm chưa nhưng không có


cách giải quyết cụ thể đối với trường hợp này. Vì vậy, cần phải có một điều luật cụ
thể quy định về việc nếu các đương sự chỉ thỏa thuận được một phần tranh chấp thì
trình tự, thủ tục giải quyết thế nào.
III. Phần kết luận:
Hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam là một chế định đặc biệt quan trọng
trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, góp phần giải quyết nhanh chóng vụ án,
giảm bớt số lượng vụ việc mà Tòa án phải giải quyết, tiết kiệm thời gian, tiền bạc
cho Nhà nước cũng như Đương sự. Từ đó có thể thấy, việc quy định nguyên tắc hòa
giải trong BLTTDS là một sự hoàn thiện rõ rệt về chế định hòa giải, là kim chỉ nan
cho Tòa án cũng như các chủ thể có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự đạt hiệu
quả cao.
Việc hoàn thiện chế định hòa giải phải đi theo hướng xây dựng một chế định
pháp luật về hòa giải hoàn thiện, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả nhằm bảo đảm
quyền tự định đoạt của các đương sự, góp phần giải quyết nhanh chóng, hiệu quả
các vụ việc dân sự.


Tài liệu tham khảo:
1. Minh Nhất, Hòa giải trong tố tụng dân sự - Một vài ý kiến để hoàn thiện –
Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp;
2. Bùi Anh Tuấn - Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Luận văn thạc sĩ luật học - Hà Nội, 2014;
3. TS. Nguyễn Ngọc Khánh, Những nguyên tắc tố tụng dân sự đặc trưng trong
bộ luật tố tụng dân sự, tạp chí kiểm sát số 2/2005;
4. Nguyễn Thị Thúy, Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2014;
5. Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành các quy định trong phần "Thủ tục
6.
7.
8.
9.

giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm"của Bộ luật tố tụng dân sự;
Giáo trình Luật tố tụng dân sự trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, 2015
Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Bộ luật tố tụng dân sự 2005;
Phan Vũ Linh, Cần sửa đổi Khoản 1, Khoản 2 Điều 182 BLTTDS về hòa

giải, Tòa dân sự TAND thành phố Cần Thơ;
10. PGS.TS Trần Anh Tuấn, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015, Nxb Lao động



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×