Tải bản đầy đủ

Lao động Đánh giá tình hình thực tế việc làm của nước ta trong giai đoạn hiện nay theo quy định pháp luật Việt Nam

Đề 4: Đánh giá tình hình thực tế việc làm của nước ta trong giai đoạn hiện nay
theo quy định pháp luật Việt Nam
I.

PHẦN MỞ ĐẦU

Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo
cuộc sống và sự phát triển toàn diện. Quyền lao động và đảm bảo việc làm của
người lao động đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoá trong Bộ luật Lao động ở nước ta. Vì vậy,
chính sách việc làm là một trong những chính sách cơ bản, quan trọng hàng đầu
của mỗi quốc gia. Chính sách việc làm thông qua việc tạo việc làm, đảm bảo
việc làm, phân bố ngành kinh tế phù hợp nâng cao phúc lợi cho người dân, thực
hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho người dân hòa nhập xã hội,... Chính sách
việc làm ở nước ta thời gian qua đã từng bước thực hiện được mục tiêu đó tuy
nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập 1. Do đó “Đánh giá tình hình thực tế việc
làm của nước ta trong giai đoạn hiện nay theo quy định pháp luật Việt Nam” cần
làm rõ để hiểu hơn về thực trạng việc làm ở nước ta hiện nay, những chính sách
pháp luật quy định về việc làm để qua đó thấy được những thành tựu và những
hạn chế trong vấn đề việc làm – giải quyết việc làm.
II.


PHẦN NỘI DUNG

1. Khái quát chung về vấn đề việc làm – giải quyết việc làm
1.1.
-

Khái niệm việc làm
Dưới góc độ kinh tế, xã hội

Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,
phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi
1

PGS.TS Trần Việt Tiến, Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện, báo

kinh tế và phát triển

1


là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã
hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động
tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
-

Dưới góc độ pháp lí:

 Theo quan niệm quốc tế:
ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm người có việc
làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuân hoặc được
thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính
chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền
công hoặc hiện vật. Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghịquốc tế lần thứ
13 của các nhà thống kê lao động ILO. Còn người thất nghiệp là những người
không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại
làm việc.
 Theo quan niệm của Việt Nam:
“Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm 2”.
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố:


 Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu
sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải
có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc
làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong
phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định.
 Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khản năng tạo ra thu
nhập.
 Tính hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật,
không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm . Tùy theo điều
2

Khoản 1 Điều 9 Bộ luật lao động 2012

2


kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật
có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động
lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí
của việc làm.
Khái niệm về việc làm theo quy định của Việt Nam hiện hành mang tính
khái quát cao, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản. Thứ nhất, ví dụ
như hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ
tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ.
Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau
vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật
pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và
được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác, ví dụ mại dâm ở Việt Nam bị cấm,
nhưng ở Mỹ và một số quốc gia khác lại được coi là một nghề. Thậm chí nghề
này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu.
1.2.

Vai trò, ý nghĩa của việc làm

Việc làm có vai trò quan trọng không thể thiếu đối với từng cá nhân và
toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế,
có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội và chi phối toàn bộ mọi hoạt động
của cá nhân và xã hội.
Đối với người lao động: có việc làm đi đôi với có thu nhập để đảm bảo
cuộc sống của bản thân và gia đình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối
toàn bộ đời sống của cá nhân. Ngoài ra, việc làm còn đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển nhân cách, đạo đức con người sao cho đúng với chuẩn mực.
Theo đó, mỗi người khi có việc làm và những mối quan hệ việc làm sẽ dần hình
thành nhân cách cũng như tâm hồn. Việc không có việc làm có thể sẽ dẫn đến
nhiều hệ lụy như trộm cắp, ù lì, suy nghĩ tiêu cực,… Có việc làm, cuộc sống sẽ
có ý nghĩa hơn.

3


Đối với người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động thông qua việc
làm và mua sức lao động làm tăng năng suất lao động, chất lượng lao động và
hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, việc làm còn là cơ sở đánh giá năng lực người lao
động trong quan hệ lao động của mình.
Đối với xã hội và quốc gia: bảo đảm việc làm là chính sách xã hội có hiệu
quả to lớn trong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững
được kỉ cương, nề nếp xã hội. Thất việc và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp
là tiền đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội. Các tệ
nạn của xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là việc
làm và thất nghiệp. Ngoài ra khi không có vệc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố
ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và ảnh hưởng
đến tình hình chính trị. Việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất. Hiệu quả của
việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất. Kinh tế
phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu
không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố
kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế.
2. Thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta
Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở
nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan
của kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta
phát triển đạt đưọc những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.
Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có
nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Năng suất
lao động năm 2015 của Việt Nam tăng 23,6% so với năm 2010, nhưng vẫn thấp
hơn so với mục tiêu đề ra là tăng 29%-32%.3
2.1.

3

Thực trạng:

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 của Tổng cục Thống kê

4


Tỷ lệ thất nghiệp tăng
Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho biết, lực lượng lao động từ 15
tuổi trở lên của cả nước tính đến thời điểm 01/01/2016 là 54,61 triệu người, tăng
185 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014, trong đó lao động nam chiếm
51,7%; lao động nữ chiếm 48,3%. Đến thời điểm trên, lực lượng lao động trong
độ tuổi lao động ước tính 48,19 triệu người, tăng 506,1 nghìn người so với cùng
thời điểm năm trước. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành
kinh tế năm 2015 ước tính 52,9 triệu người, tăng 142 nghìn người so với năm
2014. Đặc biệt, tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm 2015 ước tính
đạt 21,9%, cao hơn mức 19,6% của năm 2014, trong đó lao động qua đào tạo
khu vực thành thị đạt 38,3% (Năm 2014 là 35,9); khu vực nông thôn đạt 13,9%
(Năm 2014 là 12,0).
Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động, ở thanh niên là vấn đề
đáng quan ngại. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2015
có sự gia tăng là 2,31% (Năm 2013 là 2,18%; năm 2014 là 2,10%), trong đó có
xu hướng tăng thất nghiệp ở khu vực nông thôn (năm 2015 là 1,83% so với năm
2013 là 1,54%; năm 2014 là 1,49%). Điều này được lý giải bởi nền kinh tế khởi
sắc với sự phát triển mạnh của khu vực công nghiệp và dịch vụ là một trong
những nguyên nhân chủ yếu làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2015 lên tới 6,85% (Năm
2013 là 6,17%; năm 2014 là 6,26%). Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi
trở lên năm 2015 là 1,27% (Năm 2013 là 1,21%; năm 2014 là 1,15%).
Mặc dù vậy, một tín hiệu vui được nêu ra trong Báo cáo là tỷ lệ thiếu việc
làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2015 giảm 1,82% (so với năm
2013 là 2,75%; năm 2014 là 2,40%), trong đó khu vực thành thị là 0,82% (Năm
2013 là 1,48%; năm 2014 là 1,20%); khu vực nông thôn là 2,32% (Năm 2013 là
3,31%; năm 2014 là 2,96%). Tỷ lệ thiếu việc làm có xu hướng giảm dần vào
cuối năm (Quý I là 2,43%; quý II là 1,80%; quý III là 1,62%; quý IV là 1,66%)
5


và giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn (Quý I là 3,05%; quý II là 2,23%; quý III
là 2,05%; quý IV là 2,11%).
Ước tính trong năm 2015 cả nước có 56% lao động có việc làm phi chính
thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản có việc làm phi chính thức (Năm 2013
là 59,3%; năm 2014 là 56,6%), trong đó thành thị là 47,1% (Năm 2013 là
49,8%; năm 2014 là 46,7%) và nông thôn là 64,3% (Năm 2013 là 67,9%; năm
2014 là 66,0%).
Năng suất lao động chưa tăng như kỳ vọng
Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, năng suất lao động xã hội
của toàn nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 79,3 triệu
đồng/lao động (tương đương khoảng 3.657 USD/lao động). Tính theo giá so
sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2015 ước tính tăng
6,4% so với năm 2014.
Tính theo giai đoạn, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có
sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, bình quân giai đoạn
2006-2015 tăng 3,9%/năm, trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng 3,4%/năm; giai
đoạn 2011-2015 tăng 4,2%/năm. Năng suất lao động năm 2015 tăng 23,6% so
với năm 2010. Với những nỗ lực tăng năng suất lao động thời gian qua góp phần
không nhỏ thu hẹp dần khoảng cách tương đối của năng suất lao động Việt Nam
so với nước ASEAN. Tuy nhiên, Báo cáo cũng nêu rõ mức tăng 23,6% trong
giai đoạn 2010-205 vẫn thấp hơn so với mục tiêu đề ra là tăng 29%-32%.
Năng suất lao động của nước ta hiện nay vẫn còn ở mức thấp so với các
nước trong khu vực và không đồng đều giữa các ngành và lĩnh vực. Khoảng
cách tương đối về năng suất lao động tuy đã giảm đáng kể, nhưng khoảng cách
tuyệt đối (chênh lệch mức năng suất lao động) giữa Việt Nam với các nước

6


ASEAN có trình độ phát triển cao hơn như Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, Inđô-nê-xi-a lại gia tăng4.
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do: Cơ cấu lao động chưa phù
hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp. Kỹ năng
tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp
chưa cao. Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động,
việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh,
gây áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm. Khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở
những lĩnh vực yêu cầu lao động có trình độ cao. Cơ cấu ngành nghề đào tạo
chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đòi hỏi. Hệ thống
giao dịch trên thị trường lao động yếu kém.
2.2.

Các chính sách và quy định của pháp luật về việc làm ở nước ta
hiện nay

Về hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động
Trong những năm đổi mới, hệ thống pháp luật kinh tế tiếp tục được hoàn
thiện đã góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện cho thị trường lao động
phát triển. Bộ luật lao động năm 2012, Luật bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề,
Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, các nghị định, thông tư
liên quan tới lao động, thị trường lao động và việc làm đã hoàn thiện khung pháp
lý cho thị trường lao động phát triển, tăng cường cơ hội việc làm và hoàn thiện
quan hệ lao động. Các chế độ về tiền lương, thu nhập, trợ cấp ngày càng hoàn
thiện, góp phần nâng cao năng suất lao động và cải thiện thu nhập của người lao

4

Loan Trần: Lao động, việc làm ở Việt Nam 2015: Nỗ lực, nhưng chưa đạt kì vọng,

Kênh thông tin điện tử Kinh tế và dự báo của Bộ kế hoạch và đầu tư.

7


động. Đặc biệt, Luật Việc làm được ban hành đã quy định cụ thể về chính sách
việc làm của Nhà nước. Trong đó, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm tạo việc
làm mà phải có trách nhiệm định hướng phát triển việc làm hướng tới thúc đẩy
và bảo đảm việc làm bền vững cho người lao động; có những quy định về các
giải pháp cụ thể của Nhà nước.
Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách pháp luật về việc làm của
nước ta hiện nay không còn phù hợp và khó thực hiện. Các quy định chủ yếu
điều chỉnh đối với lao động có quan hệ lao động, còn các đối tượng khác như
việc làm ở khu vực phi chính thức, khu vực nông thôn chưa được quy định cụ
thể. Nhiều quy định mới chỉ được thể hiện bằng các văn bản dưới luật, tính pháp
lý chưa cao, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn. Các chính sách còn mang tính
chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể. Còn thiếu các chính sách về bình đẳng việc
làm, việc làm an toàn, các quy định về việc làm đầy đủ, việc làm bán thời gian;
các khái niệm, định nghĩa về thị trường lao động chưa được xác định rõ; các giải
pháp hỗ trợ của Nhà nước chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn... gây
khó khăn trong hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện trong lĩnh vực việc làm.
Việc triển khai tại một số địa phương gặp nhiều lúng túng, vướng mắc do
cơ chế chồng chéo, không phân rõ trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện. Một
số địa phương, doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các chính sách đã được
ban hành, ví dụ như: quy định về việc thành lập Quỹ Giải quyết việc làm địa
phương; đảm bảo tỷ lệ lao động là người tàn tật; việc thực hiện các chế độ đối
với người lao động; triển khai chương trình, dự án gắn với quy hoạch nguồn
nhân lực cũng như kế hoạch tạo việc làm cho người lao động5

5

Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp, Kênh thông tin điện tử Viện nghiên

cứu lập pháp.

8


Về kết nối cung cầu lao động
Hệ thống dịch vụ việc làm rất phát triển trong những năm gần đây, đã tạo
môi trường pháp lý phát triển dịch vụ kết nối cung-cầu về lao động, tăng cường
cơ hội để người lao động tiếp cận thông tin về việc làm, lựa chọn công việc.
Điều đó không những là chủ trương, kêu gọi của Nhà nước mà nó còn được cụ
thể hóa trong luật như điều 13 và điều 14 Bộ Luật Lao động 2012 quy định:
Điều 13. Chương trình việc làm
1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) xây dựng chương trình việc làm của địa
phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.
2. Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội và người sử dụng lao động khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm tham gia thực hiện chương trình việc làm.
Điều 14. Tổ chức dịch vụ việc làm
1. Tổ chức dịch vụ việc làm có chức năng tư vấn, giới thiệu việc làm và
dạy nghề cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của
người sử dụng lao động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động và
thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức dịch vụ việc làm bao gồm trung tâm dịch vụ việc làm và doanh
nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm.
Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập, hoạt động theo quy định của
Chính phủ.
Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được thành lập và hoạt động
theo quy định của Luật doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụ
việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp.

9


3. Tổ chức dịch vụ việc làm được thu phí, miễn, giảm thuế theo quy định
của pháp luật về phí, pháp luật về thuế.
Tuy vậy, trên thực tế tổ chức hoạt động dịch vụ việc làm chưa chuyên
nghiệp, chưa khoa học. Hoạt động của các trung tâm, doanh nghiệp giới thiệu
việc làm còn quá chú trọng vào đào tạo nghề, còn hoạt động tư vấn, giới thiệu
việc làm, thông tin thị trường lao động chưa được chú trọng đúng mức. Sự phối
hợp hoạt động giữa các trung tâm giới thiệu việc làm, giữa trung tâm với các
doanh nghiệp, người sử dụng lao động còn hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực cung
cấp thông tin thị trường lao động, do vậy thông tin thị trường lao động lao động
chưa có sự kết nối giữa các vùng, các địa phương.
Về tín dụng ưu đãi cho sản xuất, kinh doanh
Thông qua việc ban hành gần 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử dụng cơ
chế cho vay tín dụng thông qua các chương trình, tổ chức, hội đoàn thể, Nhà
nước hỗ trợ vốn sản xuất, kinh doanh cho các nhóm yếu thế như lao động nghèo,
lao động nông thôn, lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, lao động
vùng chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp, các tổ chức kinh doanh thu hút nhiều
lao động
Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh: điển hình trong chính sách hỗ
trợ của nhà nước là Thành lập Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ cho vay ưu
đãi tạo việc làm và để thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
( Khoản 5 Điều 12 Bộ Luật lao động 2012). Cụ thể Điều 4 nghị định
03/2014/NĐ-CP quy định :Quỹ quốc gia về việc làm
1. Nguồn hình thành Quỹ quốc gia về việc làm bao gồm:
a) Ngân sách nhà nước;
b) Nguồn hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
c) Các nguồn hợp pháp khác.

10


2. Quỹ quốc gia về việc làm được sử dụng cho các hoạt động sau đây:
a) Cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp
tác, hộ kinh doanh và người lao động để hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng
việc làm;
b) Hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế để hạn chế
người lao động mất việc làm;
c) Hỗ trợ phát triển tổ chức dịch vụ việc làm và hệ thống thông tin thị
trường lao động
Đối với người lao động: Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tín dụng
ưu đãi cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, thanh niên: hỗ
trợ hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất thông qua Chương trình mục tiêu quốc
gia xoá đói giảm nghèo; Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 về
việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc
biệt khó khăn; Quyết định số 126/2008/QĐ-TTg ngày 15/9/2008 về vay vốn
phát triển sản xuất cho hộ dân tộc; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày
29/4/2009 phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao
động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-20206.
Tuy nhiên chính sách tín dụng chưa phù hợp về điều kiện vay và mức vay,
thiếu gắn kết giữa cho vay vốn và hỗ trợ đầu vào tiếp cận thị trường nên hiệu
quả sử dụng vốn chưa cao. Nhiều chính sách ưu đãi tín dụng chồng chéo trên
cùng một đối tượng gây khó khăn cho việc thực hiện và khó đi vào cuộc sống.
Quỹ quốc gia giải quyết việc làm ngày càng tập trung nhiều cho hộ gia
đình vay vốn, ít hỗ trợ các doanh nghiệp để tạo thêm nhiều việc làm mới. Các
quy định về Quỹ giải quyết việc làm chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời gây
khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện
6

Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp, Kênh thông tin điện tử Viện nghiên

cứu lập pháp.

11


Và rất nhiều chính sách khác của nhà nước về việc làm và giải quyết việc
làm như chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính
sách hỗ trợ lao động di chuyển,.. Các chính sách đó tạo ngày càng nhiều việc
làm cho xã hội. Cơ hội có việc làm của người lao động tăng lên, giải tỏa sức ép
về việc làm cho người lao động trong bối cảnh lực lượng tham gia lao động ngày
càng tăng ở nước ta hiện nay.
3. Những kiến nghị giải pháp nhằm giải quyết việc làm trong giai
đoạn hiện nay
Theo dự báo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Giai đoạn 20162020: Bình quân mỗi năm tạo việc làm mới cho 1,5 triệu lao động, trong đó từ
Chương trình mục tiêu quốc gia về Việc làm và dạy nghề và Chương trình việc
làm công khoảng 250 nghìn lao động (có 150 nghìn người lao động thuộc hộ
nghèo); chuyển đổi việc làm cho 800 nghìn lao động nông nghiệp; mỗi năm đưa
khoảng 100 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (có 35 -45
ngàn lao động thuộc hộ nghèo). Đến năm 2020, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp
giảm còn 30%, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước duy trì dưới 3%, trong đó tỷ lệ
thất nghiệp thành thị dưới 4%7. Để thực hiện được các mục tiêu đó, định hướng
chính sách việc làm giai đoạn 2016-2020 là:
Thứ nhất, cần gắn kết chính sách việc làm với chính quá trình và kế hoạch
tổng thể về tái cấu trúc kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững. chủ
động phát triển có tổ chức các thị trường lao động có nhiều tiềm năng và hiệu
quả kinh tế cao, nhất là thị trường lao động chất lượng cao về kinh tế nông
nghiệp, kinh tế biển, công nghệ thông tin và xuất khẩu ỉao động.
Thứ hai, chính sách việc làm cần được thực hiện trong đồng bộ và đồng
thời, thậm chí đi trước một bước với các chính sách kinh tế khác. Đặc biệt, công
tác đào tạo nghề cần bám sát nhu cầu thị trường và đi trước, đón đầu các quy
7

Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp, Kênh thông tin điện tử Viện nghiên

cứu lập pháp.
12


hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở các địa phương, nhất là những địa bàn có tốc
độ đô thị hóa và tốc độ tái cấu trúc kinh tế-xã hội nhanh.8
Sớm bổ sung các chính sách việc làm mới, trong đó đặc biệt chú ý phát
triển nguồn nhân lực trình độ cao trong các ngành, lĩnh vực quan trọng, có ý
nghĩa quyết định đến hiệu quả tăng trưởng kinh tế cao, như kinh tế nông nghiệp
sử dụng công nghệ cao, kinh tế biển, công nghệ thông tin và xuất khẩu lao động
có kỹ thuật, cũng như khai thác tốt đội ngũ lao động từ nước ngoài trở về nước
sau khi kết thúc hợp đồng lao động ở nước ngoài. Mặt khác, cần tạo môi trường
áp lực cao để người lao động Việt Nam khắc phục ảnh hưởng của lao động trong
nền sản xuất nhỏ, tiểu nông, manh mún, được học tập và rèn luyện trong các
trường dạy nghề trọng điểm chất lượng cao, trường đại học đẳng cấp quốc tế,
được quản lý theo mục tiêu bảo đảm chất lượng đào tạo và gắn với nhu cầu của
xã hội.
Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi phát
triển sản xuất, tạo việc làm, chính sách hỗ trợ học nghề, hỗ trợ người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên cho người nghèo,
người dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó
khăn. Tiếp tục thực hiện chiến lược, các chương trình, đề án về việc làm và dạy
nghề, khẩn trương nghiên cứu xây dựng chương trình việc làm cho người thất
nghiệp, thiếu việc làm.
Thứ ba,9 chính sách việc làm phải phát huy được các nguồn lực của xã hội
vào việc tạo việc làm và đảm bảo việc làm. Tăng cường huy động các nguồn
vốn của doanh nghiệp và các tổ chức cho đào tạo nâng cao trình độ người lao
8

PGS.TS Trần Việt Tiến, Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện, báo

kinh tế và phát triển

9

PGS.TS Trần Việt Tiến, Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện, báo

kinh tế và phát triển

13


động. Thực hiện các cơ chế, chính sách ưu đãi (gồm những giải pháp ưu đãi về
thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ về đất đai và ưu đãi tín dụng, hỗ trợ về đào
tạo nhân lực chất lượng cao thuộc ngành nghề mũi nhọn) để khuyến khích mạnh
mẽ các doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo với các hình thức khác nhau như đặt
hàng với các cơ sở đào tạo. Huy động các nguồn vốn của dân để đầu tư xây
dựng cơ sở đào tạo, tổ chức các loại quỹ khuyến học, khuyến tài...

14


III.

PHẦN KẾT LUẬN

Như đã phân tích ở trên, việc giải quyết việc làm, chống thất nghiệp là
nhu cầu quan trong đối với người lao động cũng như xã hội. Những năm gần
đây mặc dù đã có sự quan tâm, sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn hệ thống
chính trị nhằm giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay. Tuy đã có những thành
tựu đáng ghi nhận nhưng vẫn không còn ít điểm hạn chế bộc lộ trên thực tế. Vì
vậy, những giải pháp cơ bản về việc làm cần được tiến hành đồng bộ và có hiệu
quả nhất với sự nỗ lực của toàn xã hội, của toàn hệ thống chính trị trong quá
trình thực hiện chính sách lao động, việc làm của nước ta trong những năm tới
sao cho đảm bảo mục đích hướng đến là tạo nhiều việc làm cho người lao động,
giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông
thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. 10

10

PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí – PGS.TS. Vũ Thị Hồng Vân (Đồng chủ biên): Giáo trình Luật lao động Trường

Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, trang 169

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật lao động 2012
2. Bài viết: “Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp” trên
http://vnclp.gov.vn
3. Bài viết: “Lao động, việc làm ở Việt Nam 2015: Nỗ lực, nhưng chưa đạt
kỳ vọng” trên http://kinhtevadubao.vn.
4. Nghị định 03/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của bộ
luật lao động về việc làm
5. ThS. Triệu Thị Trinh, Trường Đại học Lao động - xã hội, Vấn đề lao động
- việc làm của thanh niên nông thôn hiện nay - Thực trạng và giải pháp,
Kênh thông tin điện tử Bộ lao động - thương binh và xã hội
6. PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí – PGS.TS. Vũ Thị Hồng Vân (Đồng chủ biên):
Giáo trình Luật lao động Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội
7. PGS.TS Trần Việt Tiến, Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và
định hướng hoàn thiện, báo kinh tế và phát triển
8. TS. Nguyễn Minh Phong: Chính sách lao động - việc làm nhìn từ góc độ
kinh tế vĩ mô, Tạp chí Tài chính Điện tử số 96 ngày 15/6/2011
9. Tổng cục Thống kê, Báo cáo điều tra lao động và việc làm 6 tháng đầu
năm 2011, Hà Nội 2011
10. Luật Việc làm 2013
11. Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014
12. Loan Trần: Lao động, việc làm ở Việt Nam 2015: Nỗ lực, nhưng chưa đạt
kì vọng, Kênh thông tin điện tử Kinh tế và dự báo của Bộ kế hoạch và đầu

16


17


MỤC LỤC
Đề 4: Đánh giá tình hình thực tế việc làm của nước ta trong giai đoạn hiện nay theo quy định
pháp luật Việt Nam......................................................................................................................................1
I.PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................................................1
II.PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................................................1
1.Khái quát chung về vấn đề việc làm – giải quyết việc làm.....................................................1
1.1.Khái niệm việc làm...........................................................................................................1
Dưới góc độ kinh tế, xã hội...........................................................................................................1
Dưới góc độ pháp lí: .....................................................................................................................2
1.2.Vai trò, ý nghĩa của việc làm............................................................................................3
2.Thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta................................................................................4
2.2.Các chính sách và quy định của pháp luật về việc làm ở nước ta hiện nay.......................7
Về hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động.........................................................7
Về kết nối cung cầu lao động.........................................................................................................9
Về tín dụng ưu đãi cho sản xuất, kinh doanh......................................................................10
3.Những kiến nghị giải pháp nhằm giải quyết việc làm trong giai đoạn hiện nay.................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................................16

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×