Tải bản đầy đủ

Quan niệm về trời trong văn học thời lí trần

Quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần – Đối chiếu
với tư tưởng Trời trong triết học Trung Quốc
11 Tháng 11 2011 Để lại phản hồi
by phongtauhu in Nghiên cứu khoa học

Tóm tắt
Trời (Thiên) là một phạm trù quan trọng trong hệ thống triết học cổ điển Trung Quốc. Từ các
triều đại Thương, Chu trở về sau, nhiều triết gia đã liên tục đề xuất, tranh luận về nội hàm phạm
trù Trời và mối quan hệ của nó với các phạm trù khác. Trong quan niệm của người Trung Quốc,
Trời có ý nghĩa vô cùng phong phú, bao gồm: trời đất (không gian sinh tồn của vạn vật), ông trời
(thần tối cao – thượng đế), đạo trời, tự nhiên, thiên nhiên, ý trời, lòng trời, mệnh trời, lí trời…
Trải qua lịch sử phát triển lâu dài mấy ngàn năm, hệ thống tư tưởng này đã ảnh hưởng sâu đậm
đến các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam. Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập tự chủ
từ Trung Quốc, các triều đại dưới thời Lí Trần tiếp thu một cách có hệ thống tư tưởng triết học
Trung Quốc, đặc biệt là tư tưởng Trời, làm nền tảng tinh thần cho xã hội phong kiến, củng cố
quyền lực đế vương và địa vị của người chấp chính.
Sáng tác văn học thời Lí Trần tổng hợp tư tưởng Trời của ba trường phái Nho – Phật – Đạo,
trong đó biểu hiện rõ rệt nhất là của Nho giáo. Quan niệm về Trời dưới thời Lí Trần ngoài 6 hàm
nghĩa giống Trung Quốc là trời đất, thiên nhiên, thượng đế, mệnh trời, đạo trời, lí trời, còn có ba
hàm nghĩa mở rộng mang đặc trưng của thời này là: Trời có phân biệt nam bắc, cảnh giới siêu
thoát, không gian càn khôn vũ trụ.

Trên cơ sở tổng hợp, giải thích tư tưởng Trời trong hệ thống triết học Trung Quốc, bài viết đi sâu
phân tích quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần, chỉ ra những nét mới trong tư tưởng của
thời đại này.
Từ khóa: Triết học Trung Quốc, Văn học thời Lí Trần, Trời (Thiên).
越越越越越越越越越越越越越越──越越越越越越越越越越越越越越越


阮阮阮*
越越
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 939 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
1. Dẫn nhập
Thần thoại Trung Quốc ngay từ xa xưa đã bắt đầu đề cập đến phạm trù Trời. Trong đó, tiêu biểu
nhất có thể kể Bàn Cổ khai thiên, Nữ Oa bổ thiên, Ngưu Lang Chức Nữ, Thường Nga bôn
nguyệt, Đường Nghiêu Ngu Thuấn… Nhưng những câu chuyện thần thoại thời cổ đại này rõ ràng
chỉ là một kiểu giải thích hồn nhiên, thuần phác của người xưa về Trời thông qua trí tưởng tượng
phong phú của họ.
Trời là một phạm trù triết học quan trọng mà hầu hết các trường phái triết học Trung Quốc không
thể bỏ qua. Trên thực tế, các nhà triết học thời Tiên Tần, bao gồm Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử
của Nho gia, Lão Tử, Trang Tử của Đạo gia cùng các trường phái triết học khác đã đề xuất và
tranh luận không ít về phạm trù Trời.
Suốt một ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ, và cả thời gian dài giành được độc lập tự chủ dưới thời
Lí Trần, Việt Nam không ngừng tiếp thu những giá trị văn hóa tư tưởng của Trung Quốc để làm
giàu thêm cho vốn văn hóa dân tộc. Thời đại Lí Trần bao gồm liên tiếp 6 triều đại: Ngô, Đinh,
Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ kéo dài gần năm thế kỉ (939-1418), trong đó hai triều Lí Trần là hai triều
đại phát triển hưng thịnh nhất, đạt được nhiều thành tựu nhất trên các phương diện của đời sống
xã hội. Văn học thời đại Lí Trần chính là những di sản văn học thành văn cổ xưa nhất còn lưu lại
được đến ngày nay. Nó phản ánh trung thực diện mạo xã hội ViệtNamđương thời, đặc biệt là
phương diện tư tưởng triết học. Do từng tiếp thu mạnh mẽ tư tưởng triết học Trung Quốc, nên
văn học thời này phản ánh đầy đủ những giá trị tinh thần đã được tiếp thu và chuyển hóa đó. Hơn
nữa, được hình thành trong một hoàn cảnh xã hội đặc thù, tư tưởng Trời trong sáng tác văn học
thời Lí Trần vì vậy cũng chứa đựng nhiều điểm đặc thù so với tư tưởng vốn có của Trung Quốc.




Trên cơ sở tổng hợp, giải thích tư tưởng Trời trong hệ thống triết học Trung Quốc, bài viết đi sâu
phân tích quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần, chỉ ra những nét mới trong tư tưởng của
thời đại này.
2. Tư tưởng Trời trong triết học Trung Quốc
Trời (Thiên) từ trước đến nay luôn là một phạm trù quan trọng trong hệ thống triết học Trung
Quốc[1]. Có thể nói, loài người từ khi thoát khỏi đời sống của động vật và tiến hóa lên người,
hình thành năng lực phán đoán tư duy, đã bắt đầu quan tâm tìm hiểu, giải thích sự vận hành của
trời đất. Khi đó, việc quan sát trời đất và giới tự nhiên không ngoài mục đích truy cầu một cuộc
sống ổn định, bền vững. Nếu nắm bắt được quy luận vận hành của tự nhiên, sử dụng những tri
thức này để điều chỉnh hành động và thái độ sống của mình, con người có thể sinh tồn hòa hợp
với tự nhiên, có thể đối phó hiệu quả trước những biến đổi khắc nghiệt của hoàn cảnh cuộc sống.
Khi đó, con người xem trời đất là mục tiêu, là chuẩn mực, tôn sùng giới tự nhiên, thậm chí thần
thánh hóa giới tự nhiên, xem trời là vị chủ tể tối cao sáng tạo ra và làm chủ vũ trụ. Về sau, sự
hiểu biết của con người về giới tự nhiên ngày càng phong phú, để duy trì lâu dài cuộc sống bình
yên và no ấm, con người đã tiến thêm một bước để chinh phục và làm chủ giới tự nhiên. Quá
trình đó khiến cho tư tưởng triết học về Trời ở Trung Quốc không ngừng phong phú thêm[2],
thậm chí đan xen nhiều mâu thuẫn phức tạp.
Chữ Trời trong kim văn (văn tự khắc trên đồ sắt, đồng) thời cổ đại Trung Quốc có nghĩa là đỉnh
đầu, phía trên đầu, là hình ảnh một con người đội trên đầu cả bầu trời. Học giả đời Tống Hứa
Thận trong cuốn Thuyết văn giải tự giải thích về Trời như sau: “Trời, ở phía trên đầu, chí cao vô
thượng, kết hợp của ‘nhất’ và ‘đại’”[3]. Quan niệm trên cho thấy rằng, trong cách nhìn nhận của
cư dân Trung Quốc cổ đại, Trời là thế giới sự vật và hiện tượng bao la rộng lớn trên đầu con
người, bao gồm bầu trời, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, mây gió, mưa bão, sấp chớp… Trời rộng
lớn vô tận, con người có thể dùng mắt để nhìn, dùng tai để nghe, chứ không thể đo lường được,
càng không thể suy đoán đầy đủ sự biến hóa muôn hình vạn trạng của nó. Đây được xem là hàm
nghĩa đầu tiên, nguyên gốc của phạm trù Trời.
Trời bản thân cũng là một sự vật hiện tượng của tự nhiên. Trời tự nhiên đã có, không phải vì ý
chí nguyện vọng của con người mà hình thành, nên Trời từ chỗ là thế giới hiện tượng trên đầu
con người mở rộng thêm hàm nghĩa “tự nhiên nhi nhiên”, tức tự nhiên, bản thân nó vốn là
vậy[4]. Quan điểm này có nguồn gốc từ Đạo gia, khác với quan niệm về “tự nhiên”, “thiên
nhiên” của Nho gia[5]. Hàm nghĩa này đồng thời ám chỉ quy luật vận hành của tự nhiên, như
kiểu bốn mùa xuân hạ thu đông trong một năm tự nhiên nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Đó
cũng là bản chất tồn tại của giới tự nhiên.
Trời từ hàm nghĩa hiện tượng tự nhiên và qui luật tự nhiên tiếp tục mở rộng sang hàm nghĩa vị
thần linh tối cao vô thượng, tức Thượng đế[6]. Trong hoàn cảnh không có cách nào để giải thích
rõ ràng bản chất của Trời, cộng thêm sức tưởng tượng phong phú dưới thời nguyên thủy, còn
người gán cho Trời hàm nghĩa thần tối cao. Ngoài các cách gọi là Trời hay Thượng đế, trong điển
tịch Trung Quốc xưa còn có nhiều cách gọi khác cùng mang hàm nghĩa này là: Hoàng thiên,
Thượng thiên, Hạo thiên, Thương thiên, Mân thiên, Ngọc Hoàng Thượng đế, Hoàng thiên
Thượng đế, Hạo thiên Thượng đế, Minh Chiêu Thượng đế…[7] Trời ở đây không chỉ thống lĩnh
giới tự nhiên như trăng sao, sấm chớp, mà còn thống lĩnh cả xã hội loài người như trật tự xã hội,


chính trị pháp luật, đạo đức nhân luân… Do đó, Trời là vị thần tối cao đồng thời giữ tư cách chủ
tể cả giới tự nhiên và xã hội. Hàm nghĩa này vô hình trung dẫn đến việc mở rộng phạm trù Trời
sang các hàm nghĩa khác: mệnh trời, ý trời, lòng trời, lí trời…
Căn cứ vào Kinh Thi và Kinh Thư, Trời được xem là có đặc trưng tính cách của con người. Trời
có ý chí, luôn hướng tới điều chí thiện, luôn đề cao chính nghĩa. Trời không chỉ thống lĩnh điều
hành các hiện tượng tự nhiên, mà còn thống lĩnh cả “chính đạo” trong xã hội[8]. Có thể thấy
rằng, vì Trời vô cùng thần bí, sức mạnh vô song, vượt ra khỏi mọi sự đo lường của tư duy con
người, có khả năng chở che hóa dục muôn loại, nên Trời được tôn xưng là vị thần tối thượng có
đủ mọi năng lực. Trời và con người giống nhau ở chỗ không ngừng hướng thượng để truy cầu
những điều thiện mĩ.
Trời làm chủ vạn vật, nhưng Trời làm thế nào để thực hiện quyền uy tối thượng đó của mình?
Người Trung Quốc xưa cho rằng Trời có ý chí và mệnh lệnh. Do đó, dẫn đến phát sinh hai hàm
nghĩa của Trời là ý trời và mệnh trời.
Quan niệm về “ý trời” ngay từ thời Ân Thương đã có, người sau này góp công khẳng định và đề
cao thuyết “ý trời” là Mặc Tử. Mặc Tử nhấn mạnh Trời có ý chí, là vị thần tối cao có đủ quyền
năng thưởng thiện phạt ác. Mặc Tử nói: “Người thuận ý trời, hành sự yêu quí lẫn nhau, mưu sự
lợi ích lẫn nhau, người đó ắt sẽ được thưởng; còn người nghịch với ý trời, hành sử thù ghét lẫn
nhau, giao tế mưu toan ám hại nhau, người đó ắt sẽ bị trời phạt.” [9] (Mặc Tử, Thiên chí
thượng) Có thể thấy rằng, ý trời là tiêu chuẩn để Mặc Tử suy xét hành động và lời nói của mọi
người, đồng thời lấy đó để khuyên răn người cầm quyền biết hành thiện bỏ ác. Ý trời cũng chính
là lòng trời, Trời mong muốn con người thương yêu nhau và mang lợi ích đến cho nhau, Trời
ghét những người thù ghét và mưu hại nhau; Trời mong muốn con người nhân nghĩa và ghét
người bất nhân bất nghĩa; Trời ghét nước lớn ỷ thế hiếp đáp nước nhỏ, ghét người có quyền uy
ăn hiếp kẻ thường dân. Rõ ràng, tư tưởng “ý trời” của Mặc Tử có tác dụng duy trì trật tự xã hội,
thiết lập chuẩn mực đạo đức và công bằng xã hội. Quan niệm này rõ ràng đã mượn quyền uy của
Trời để biểu hiện lý tưởng, ý chí và nguyện vọng của bản thân ông và mọi người dân đương thời.
Quan niệm về “ý trời” có mối quan hệ nhất quán với quan niệm “mệnh trời”. “Mệnh” được đề
cập đến ở đây vốn có nghĩa là “mệnh lệnh”, “mệnh trời” chính là mệnh lệnh do thượng đế ban
xuống. Vậy làm sao để tiếp thu mệnh trời? Các nhà Nho Trung Quốc cho rằng, “mệnh trời” được
thể hiện thông qua các sự vật và hiện tượng tự nhiên như: thiên tai dịch họa, núi sông cây cỏ,
chim thú côn trùng… Nếu các sự vật và hiện tượng trên phát sinh điều dị thường, tức là đã đại
diện cho một chủ ý nào đó muốn truyền đạt đến con người của thượng đế. Thông qua quan niệm
này, các sự vật và hiện tượng tự nhiên được liên hệ với Trời. Vì vậy, “mệnh trời” là phương thức
biểu đạt của “ý trời”. Vì ý chí của Trời là cố định không thể thay đổi nên mệnh lệnh của Trời
cũng trở thành một định luật kiên cố, con người chỉ có thể tuân hành, không thể đối lập phản
kháng. Vì vậy, “mệnh trời” chuyển sang hàm nghĩa là số mệnh, vận mệnh, định mệnh mà con
người bị động tiếp nhận và không thể cải biến.
Nho gia bàn nhiều về “mệnh trời”, người tiếp nối quan điểm truyền thống và xây dựng thành học
thuyết “mệnh trời” là Khổng Tử[10]. Theo quan điểm Nho gia, “mệnh trời” là một kiểu định
mệnh mang tính tất nhiên bên ngoài con người, con người chỉ có thể thuận ứng theo mệnh trời
mà không thể phản kháng đối nghịch tính tất nhiên đó, đồng thời cũng phải thuận theo ý chí của


Trời. Nói như vậy, phải chăng chúng ta đã thừa nhận Trời có khả năng định đoạt mọi sự hưng
vong của quốc gia, trị loạn của xã hội, thọ yểu của đời người; con người hoàn toàn bất lực trước
ý trời, bó tay trước số mệnh? Không hoàn toàn như vậy, Trời mặc dù là chủ tể thống lĩnh vạn vật,
thế nhưng ý chí của Trời lại chịu sự chi phối và tác động qua lại lẫn nhau với ý chí của con
người. Trong mối quan hệ với bậc đế vương, mệnh trời thông thường thuận với ý dân [11]. Như
vậy, bản thân “mệnh trời” có quy luật hình thành của nó, chứ không phải tùy tiện thiết lập mà
không dựa trên bất cứ nguyên tắc nào.
Từ đời Tống trở đi, Trời có thêm hàm nghĩa là “lý trời” (thiên lý). Hai anh em môn đồ Nho gia
Trình Di, Trình Hạo đề xuất mệnh đề “Thiên giả, lý dã” (Trời chính là lý), chính thức bổ sung
hàm nghĩa “lý trời” cho phạm trù Trời[12]. Tư tưởng “lý trời” do Trình Di vận dụng tư tưởng
Nho – Phật – Lão tổng hợp mà thành. “Lý trời” tức là quy luật vận hành của “đạo Trời” (thiên
đạo), nguyên lý về đạo đức luân lý xã hội, cùng với nguyên lý biến hóa của vạn sự vạn vật. Hàm
nghĩa “lý trời” của Trời rõ ràng có mối quan hệ mật thiết với ý trời, mệnh trời. Không chỉ như
vậy, quan niện về “lý trời” của Trình Di nhất định tương thông với quan niệm “đạo Trời”. Về
sau, lí học gia Chu Hi đã kế thừa học thuyết “thiên lý” của Trình Di và Trình Hạo, đề xuất các
mệnh đề “Thiên tức lý dã, kì tôn vô đối” (Trời tức là lý chúng không đối lập nhau), “Thiên chi sở
dĩ vi thiên giả, lý nhi dĩ” (Trời sở dĩ được gọi là Trời, vì nó có lý), “Nghịch lý, tắc hoạch tội ư
thiên hĩ” (Đi ngược lại lý, tức tạo tội với Trời) để khẳng định Trời có ý nghĩa là “lý trời”.
Nhà Nho đời Minh Vương Thủ Nhân (tức Vương Dương Minh) lấy Tâm để giải thích Trời. Ông
cho rằng: “Tâm giả, thiên địa vạn vật chi chủ dã, tâm tức thiên, ngôn tâm tức thiên địa vạn vật
giai cử chi hĩ” (Tâm làm chủ trời đất vạn vật, tâm tức là Trời, nói đến tâm tức là đã bao hàm trời
đất vạn vật ở trong đó). Theo ý kiến của Vương Thủ Nhân, vạn sự vạn vật, bao hàm cả “vật lý”
đến “thiên lý” đều không tồn tại ở bên ngoài tâm, ở ngoài tâm không có sự vật sự việc, cũng
không có cả “lý”. Tâm tức là Trời, Trời bao hàm cả trời đất vạn vật ở bên trong, đặc tính rộng lớn
và phổ biến khắp mọi nơi của Trời cũng chính thể hiện đặc tính của Tâm[13]. Do đó, vạn sự vạn
vật từ một Tâm này mà sinh ra, Tâm của Trời cũng chính là hình ảnh phản chiếu Tâm của người,
chỉ có một điều khác là Tâm của Trời vốn tuyệt đối thiện lành không ác[14].
Tóm lại, Trời là một trong những phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc, nội hàm của nó
vô cùng phong phú, hàm chứa phạm vi vô cùng rộng lớn[15]. Chúng tôi tạm thời chỉ ra các hàm
nghĩa thượng đế, đạo trời, thiên nhiên, ý trời, mệnh trời, lý trời, tâm trời… Có thể kết luận, quá
trình diễn biến về hàm nghĩa của phạm trù Trời phản ánh quá trình diễn biến tư tưởng quan niệm
của người Trung Quốc xưa. Mặt thần bí của Trời ngày một nhạt dần, mặt triết học lý tính của
Trời ngày một sâu đậm, điều này chứng tỏ sự phát triển không ngừng của khoa học tự nhiên luôn
ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng quan niệm của các triết gia. Hơn nữa, theo xu hướng điều hòa,
dung hợp giữa ba trường phái triết học Nho – Phật – Lão, tư tưởng về Trời cũng theo đó mang
thêm màu sắc dung hợp tư tưởng tam giáo.
3. Tư tưởng Trời trong văn học thời Lí Trần
Người Việt luôn tự xưng mình là con cháu của thần tiên. Theo truyền thuyết sáng thế Hồng Bàng
thị truyện chép trong Lĩnh Nam chích quái do sử quan Việt Nam thế kỉ thứ 15 Vũ Quỳnh biên
soạn, thì thủy tổ của người Việt là thần rồng Lạc Long Quân cùng tiên điểu Âu Cơ. Cả hai nửa
thần nửa người, lại mang dấu vết của động vật, đặc điểm này rõ ràng thể hiện quan điểm dung


hòa “Thần – Nhân – Vật” của người Bách Việt xưa, nổi bật trong đó là quan niệm vạn vật hữu
linh và tín ngưỡng tô-tem, cộng với tư tưởng Thiên – Nhân hợp nhất còn ở dạng thuần phác nhất.
Xét về nguồn gốc, thủy tổ của người Việt ngày nay và tộc Bách Việt ngày xưa vốn tương đồng
nhau. Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, tổ tiên của Lạc Long Quân chính là vua Viêm
Đế (tức Thần Nông Thị), cháu ba đời của Thần Nông Thị là Đế Minh lúc đi tuần thú ở vùng đất
Ngũ Lĩnh của Phương Nam (nay tỉnh Hồ Nam) đã cưới Vụ Tiên Nữ làm vợ, sau đó sinh một nam
là Khương Lộc Tục. Sau đó Đế Minh truyền ngôi cho Đế Nghi làm vua phương bắc, phong Lộc
Tục làm Kinh Dương Vương trấn thủ phương nam, quốc hiệu là Xích Quỉ. Nước Xích Quỉ phía
bắc giáp Động Đình Hồ, phía nam giáp Chiêm Thành, phía tây giáp vùng Tứ Xuyên, Ba Thục và
phía đông giáp Nam Hải. Kinh Dương Vương lấy con gái Long Nữ của Động Đình Quân sinh
một con trai là Sùng Lãm, sau kế thừa vương vị xưng là Lạc Long Quân. Sùng Lãm lấy con gái
của Đế Lai là Âu Cơ sinh ra 100 trứng, sau đó nở ra 100 đứa con trai, tức tổ tiên của tộc Bách
Việt. Sau đó Lạc Long Quân và Âu Cơ mỗi người dẫn theo 50 đứa con phân bố trên rừng dưới
biển khắp nơi để sinh tồn, lập nghiệp, một nhánh trong đó là họ Hồng Bàng, tức Hùng
Vương[16]. So sánh truyền thuyết sáng thế này với những tác phẩm thần thoại Trung Quốc như
Bàn Cổ khai thiên, Tam hoàng ngũ đế, Nữ Oa và Phục Hi… có thể thấy mặc dù phía Việt Nam
không bàn nhiều về quá trình khai thiên lập địa như Trung Quốc, nhưng tư tưởng sáng thế của
hai bên thể hiện trong tác phẩm về cơ bản là tương đồng nhau.
Tư tưởng Trời của Trung Quốc truyền vào Việt Nam được người Việt Nam tích cực tiếp thu và
chuyển hóa. Do hấp thu những đặc trưng văn hóa bản địa và nhu cầu lịch sử, tư tưởng Trời ít
nhiều có sự mở rộng hàm nghĩa, tạo nên nét đặc sắc của tư tưởng Trời thời Lí Trần. Trong phần
này, chúng tôi tiến hành phân tích tư tưởng Trời trong văn học thời Lí Trần từ 9 góc độ: (1) Trời
mang nghĩa trời đất, (2) Trời mang nghĩa tự nhiên, (3) Trời mang nghĩa thượng đế, (4) Trời mang
nghĩa mệnh trời, (5) Trời mang nghĩa đạo trời, (6) Trời mang nghĩa lý trời, (7) Trời có phân biệt
nam bắc, (8) Trời mang nghĩa cảnh giới siêu nhiên, (9) Trời mang nghĩa càn khôn vũ trụ và hư
không pháp giới.
3.1. Trời mang nghĩa trời đất (Thiên địa chi thiên)
Trời là không gian vật chất tồn tại xung quanh con người, bao gồm tất cả những sự vật và hiện
tượng hữu hình của thế giới tự nhiên mà các giác quan của con người có thể quan sát và nhận
thức được chúng[17].
Các tác giả văn học thời Lí Trần đều cảm nhận rằng “Trời mang nghĩa trời đất” này có phạm vi
vô cùng rộng lớn, là không gian bao trùm tất cả các sự vật và hiện tượng của thế giới tự nhiên.
Thiền sư Dương Không Lộ dùng “vạn lí” (muôn dặm) để miêu tả chiều kích của Trời: “Muôn
dặm sông xanh muôn dặm trời” [18] (Ngư nhàn), Trần Thánh Tông dùng chữ “viễn” (xa) để mô
tả Trời: “Cảnh thu xa ở ngoài trời xa”[19] (Tự thuật), Trần Quang Triều lại dùng “khoát” (rộng),
“cao” (cao lớn) để miêu tả Trời: “Biển rộng trời cao tìm chốn nào”[20] (Đề Phúc Thành từ
đường). Trời ở trên đầu con người kết hợp với mặt đất dưới chân người, tạo ra một không gian tự
nhiên cao rộng của trời đất. Trương Hán Siêu sử dụng không gian trời đất của danh thắng Ngũ
Hồ ở Trung Quốc để so sánh và ca ngợi phong cảnh xinh đẹp của núi Dục Thúy: “Trời đất ở Ngũ
Hồ rộng thênh thang, hãy tìm lại tảng đá ngồi câu khi trước”[21] (Dục Thúy sơn), Nguyễn Phi
Khanh cũng từ không gian trời đất để miêu tả cảnh sắc buổi sáng sớm ở Hóa Thành: “Nước triều
dâng lên, trời đất sáng dần; trăng sáng bạc và sông mênh mông”[22] (Hóa Thành thần chung).


Không gian trời đất vật chất hữu hình này bao trùm tất cả các sự vật và hiện tượng của tự nhiên,
trong đó có mặt trời mặt trăng, các vì sao, sông núi, gió mưa, cây cỏ, lam khí, sóng vỗ, chim thú:
“Một con chim âu trắng giữa khoảng trời nước liền nhau”[23] (Thiền sư Huyền Quang – Chu
trung), “Nước triều xuống, tiếng sáo bên sông xa vẳng; trời rộng, mây là là ngọn cây”[24] (Chu
Văn An – Nguyệt tịch bộ tiên du sơn tùng kính), “Sắc trời phau phau nhạn khuất trong mây”[25]
(Trần Quang Triều – Quá An Long), “Nước mùa thu lồng trời mùa thu”[26] (Trần Thánh Tông –
Hạnh Thiên Trường hành cung), “Nhân đi việc quan, lên chơi núi quê nhà; ngẩng đầu nhìn trời
cao muôn dặm… Núi Yên Phụ chỉ cách trời một nắm tay”[27] (Phạm Sư Mạnh – Hành dịch đăng
gia sơn), “Sau mưa tiếng suối chảy ầm ầm, trời tạnh lam chướng sạch làu làu”[28] (Nguyễn Phi
Khanh – Du Côn Sơn), “Ven biển mặt trời thanh bình chiếu sáng con đường thiên tử đi, ở trên
trời sao Văn tinh quét sạch lam chướng”[29] (Phạm Sư Mạnh – Họa đại Minh sứ Dư Quý),
“Nhìn sóng lớn trên dưới đều là trời, lên núi cao đông nam đều là biển”[30] (Phạm Sư Mạnh –
Đăng Dục Thúy sơn lưu đề), “Giữa trời sáng rỡ mặt trời và mặt trăng”[31] (Khuyết danh – Xuất
xử), “Sông núi hoa chim đem mùa xuân lại cho trời đất, thành quách lâu đài gợi lên ý cổ
kim”[32] (Trần Thuấn Du – Bảo Sơn tự)… Dưới sự quan sát của các thi nhân thời Lí Trần, Trời
vô cùng cao, đất vô cùng rộng, sông biển vô cùng sâu, ba thứ hợp lại tạo thành không gian sinh
tồn của vạn vật.
Không chỉ là không gian tồn tại của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, Trời của trời đất cũng là
không gian diễn ra các hoạt động sinh hoạt và tồn tại của con người: “Thân trượng phu đội trời
đạp đất, chí khí phải cao vượt người cùng lứa… để lại được tiết tháo trung nghĩa cùng trời đất,
thì đời sau còn nói chuyện cao nhã về con người toàn vẹn nghìn xưa”[33] (Nguyễn Chế Nghĩa –
Ngôn Hoài), “Thân thế mịt mù tựa vào mái thuyền, buồm khách ngoài trời xa, chim về tổ vội
vàng”[34] (Phạm Tông Ngộ – Du Phù Thạch nghiêm nãi tiên tổ tu hành chi địa chu trung tác),
“Người ta sống trong trời đất như một nhà trạm, sao có thể lìa bầy ở cô đơn một mình lâu
được”[35] (Nguyễn Phi Khanh – Tặng Đông Triều Phạm tiên sinh)…
Trời đất ngoài việc là không gian sinh tồn của con người, còn là không gian mà con người tu
dưỡng chân tính của bản thân mình: “Nghìn màu xanh, muôn vẻ thúy, tràn ngập làng nước; góc
bể bên trời là nơi nuôi dưỡng chân tính của ta”[36] (Tuệ Trung Thượng Sĩ – Dưỡng chân). Quan
điểm tu dưỡng mà Tuệ Trung Thượng Sĩ đề cập ở đây mang đặc trưng quan điểm tu tâm dưỡng
tánh của Phật giáo. Ngoài ra, không gian tự nhiên trời đất cũng là đối tượng chứng kiến mọi sự
hưng vong của quốc gia, sự trị loạn của xã hội, cũng như những cuộc chiến tranh vệ quốc của các
anh hùng dân tộc: “Muôn đội thuyền bày, rừng cờ phấp phới; hùng hổ sáu quân, giáo gươm
sang chói; thắng bại chửa phân, bắc nam lũy đối; ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, bầu trời đất
chừ sắp hoại.”[37] ( Trương Hán Siêu – Bạch Đằng Giang phú)
Tuy được cấu tạo bởi vật chất, nhưng do phạm vi của Trời vô cùng rộng lớn, con người không
thể đo lường cùng tận, lại thêm quy luật vận hành vô cùng kì diệu, nên con người không có cách
nào chạm được đến ranh giới của Trời, cũng không thể nào cùng thông được sự vận hành biến
diệt của Trời: “Trong trời đất có ai hiểu thấu lẽ biến diệt, ngọn bút không có miệng vẫn nói
chuyện hưng vong”[38] (Đinh Củng Đán – Cù Đường đồ)
Năm 1010 dưới triều Lí, vua Lí Công Uẩn ban Chiếu dời đô, chuyển kinh đô từ thành Hoa Lư
đến thành Thăng Long. Ông đã đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của loại không gian trời đất
này đến vận mệnh hưng thịnh của quốc gia: “Ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thề rồng


cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, địa thế rộng mà
bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất
mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng
yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.”[39] (Lý
Công Uẩn – Thiên đô chiếu). Theo quan điểm của Lí Công Uẩn, kinh đô cần phải được thiết lập
ở nơi trung tâm của trời đất, ở chính giữa bốn phương đông tây nam bắc, phù hợp với yêu cầu
của địa thế phong thủy. Làm được như vậy quốc gia ắt sẽ hưng thịnh, bá tánh ắt sẽ an cư lạc
nghiệp. Quan điểm của Lí Công Uẩn rõ ràng tiếp thu lí luận về địa lí phong thủy truyền thống
của Trung Quốc, đồng thời bao hàm cả quan điểm về Trời trong triết học Trung Quốc.
Tóm lại, Trời mang hàm nghĩa trời đất trong văn học thời Lí Trần chính là không gian rộng lớn
của thế giới tự nhiên trời đất. Không gian đó bao trùm toàn bộ sự vật hiện tượng của giới tự
nhiên và loài người sống trong xã hội. Con người mặc dù có thể dùng các giác quan để quan sát
và nhận thức về Trời, nhưng tuyệt không thể nào cùng thấu những động thái biến chuyển kì diệu
của nó. Trời này là Trời thuần túy mang tính vật chất, chưa từng bị mở rộng hàm nghĩa. Một vấn
đề quan trọng khác là những sáng tác miêu tả Trời này đại bộ phận có tính văn học cao, đồng
nghĩa với việc khiếm khuyết chất lý tính của triết học. Nguyên nhân có thể là do người Việt trước
đây không có sở trường về mặt lý tính của triết học, hơn nữa đối với loại Trời vật chất này, sự tồn
tại của nó vốn rất rõ ràng, mọi người đều có thể trực tiếp cảm nhận mà không cần biện luận
nhiều. Vì vậy, những sáng tác được dẫn ra phía trên mang đậm đặc trưng cảm tính của văn học,
Trời và các sự vật hiện tượng giao hòa lẫn nhau, tạo nên bối cảnh phù hợp với cảm xúc và trạng
thái nội tâm của văn sĩ.
3.2. Trời mang hàm nghĩa tự nhiên (Thiên nhiên chi thiên)
“Thiên nhiên” hay “tự nhiên” được đề cập đến ở đây hoàn toàn khác với Trời của trời đất phía
trên. Học giả Lí Thân của Trung Quốc nhận định về loại Trời này như sau: “Trời là tên gọi chung
của vạn vật, cũng là trạng thái tồn tại của vạn vật, đặc điểm chung của chúng là ‘tự nhiên nhi
nhiên’. Vì vậy, nói đến Trời, tức là chỉ những thứ ‘tự nhiên nhi nhiên’; còn nếu nói đến những
thứ ‘tự nhiên nhi nhiên’, tức là đã nói đến Trời. Vì vậy, Trời và tự nhiên trở thành từ đồng nghĩa,
Trời mang hàm nghĩa ‘tự nhiên nhi nhiên’. Thiên nhiên, có thể gọi tắt là Thiên (Trời)” [40]. “Tự
nhiên nhi nhiên” được đề cập ở đây chính là trạng thái vốn có của trời đất vạn vật, tức là tự nhiên
vốn chưa qua bàn tay tác động của con người. Đặc trưng quan trọng của “tự nhiên nhi nhiên”
chính là “vô vi”, tức mang tính chất vô ý chí, vô công năng, vô tình cảm, tùy thuận trạng thái tự
nhiên vốn có. Hàm nghĩa này của Trời rõ ràng xuất phát từ tư tưởng Đạo gia. Đạo gia cho rằng
cảnh giới tự nhiên vô vi chính là trạng thái tồn tại lí tưởng của trời đất, con người và vạn vật.
Như vậy, “tự nhiên” ở đây chính là trạng thái bản chất của vạn vật, cái định luật vốn có của trời
đất, chưa qua sự can thiệp cải tạo của con người.
Các tác giả văn học thời Lí Trần đều cho rằng Trời có quy luật tồn tại và vận hành một cách tự
nhiên, quy luật này là thường hằng bất biến, hoàn toàn không có liên quan đến ý chí của con
người. Lê Cảnh Tuân cho rằng trật tự vần xoay tiếp nối nhau của 4 mùa chính là biểu hiện tự
nhiên của Trời: “Núi sông trùng điệp, đường khách xa xăm; đông qua xuân tới, đạo trời vần
xoay; muôn việc hững hờ qua, theo thời tiết thay đổi”[41] (Giang trung phùng lập xuân nhật),
Đoàn Nhữ Hài cũng từng có cách nhìn tương tự: “Đất trời lượng che chở, đông hàn tiếp đến
dương xuân”[42] (Nghĩ Anh Tông hoàng đế tạ thượng hoàng biểu), Trần Nguyên Đán lại sử


dụng hình ảnh nở rụng của hoa mai để bàn luận về khí trời (thiên khí): “Cây mai ngậm hạt ngọc
như đưa tin thời tiết của trời, Khóm trúc cài trâm ngọc xanh, như để lộ sự huyền bí của đất”[43]
(Tiểu vũ), Nguyễn Nguyên Ức đặc biệt dùng quy luật chuyển tiếp nóng lạnh tự nhiên của trời đất
để nhấn mạnh quy luật chuyển biến về sự hưng vong của quốc gia: “ Nước trị hay loạn cốt ở
trăm quan, được (lòng) người thì nước trị, mất (lòng) người thì nước loạn. Thần trải xem các
bậc đế vương đời trước, thấy chưa từng ai không dùng quân tử mà hưng được nghiệp, không
dùng tiểu nhân mà bị tiêu vong. Tuy nhiên nguồn gốc dẫn đến những sự hưng vong đó, không
phải là cái cớ một sớm một chiều. Chúng xuất hiện dần dần. Ví như trời đất, không thể nóng hay
rét bất thần, mà phải biến chuyển dần dần qua mùa xuân thu. Vua chúa cũng không thể bất thần
hưng hay vong được, mà phải dần dần do làm thiện hay gây ác.”[44] (Thiên hạ hưng vong trị
loạn chi nguyên luận). Có thể thấy, Trời có quy luật vận hành tự nhiên, giống như quy luật
chuyển hóa bốn mùa xuân hạ thu đông của thời tiết.
Ngoài ra, mọi sự vật và hiện tượng tự nhiên đều do trời đất tạo hóa sản sinh, như: núi sông, biển
cả, đường sá, phong cảnh: “Trời đất mở ra lộ Tam Giang”[45] (Phạm Sư Mạnh – Tuần thị Chân
Đăng châu), “Cảnh tốt hoà lành, đồ tựa vẽ tranh. Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo, nhìn chi vua Bụt
tu hành. Hồ sen trương tán lục, suối trúc bấm đàn tranh.”[46] (Thiền sư Huyền Quang – Vịnh
Vân Yên Tự phú). Chức năng tự nhiên của Trời là che chở cho tất cả con người và vạn vật của
thế gian: “Trời đất cùng che chở, mặt trăng và mặt trời cùng sáng soi, cho nên mới sinh thành
muôn vật, phát triển nuôi dưỡng mọi loài.”[47] (Lê Văn Hưu – Đại Việt sử kí, Nhược tư luận).
Địa hình núi sông hiểm trở cũng đều do trời đất tự nhiên sắp đặt: “Chốn trời đất đặt bày, ấy địa
trục phương Nam mạnh thế”[48] (Nguyễn Bá Thông – Thiên Hưng trấn phú), “Từ có vũ trụ, đã
có giang san, thật là trời đất đặt ra nơi hiểm trở.”[49] (Trương Hán Siêu – Bạch Đằng Giang
phú). Có thể thấy, vạn vật trong trời đất đều do tự nhiên tạo dựng, đồng thời cũng chịu sự chi
phối của tự nhiên. Sự tạo dựng và chi phối này vốn là chức năng tự nhiên của Trời, từ xưa đến
nay tự nó vốn là vậy, không do bất kì ý chí của cá nhân hay thần thánh nào can dự đến.
Trong một bài thơ hàm chứa quan niệm Phật giáo, tác giả đã khéo léo sử dụng đặc trưng bản chất
của các hiện tượng tự nhiên như “gió trời” (thiên phong) và “trăng xưa” (cổ nguyệt) để làm đối
tượng tham chiếu, nhấn mạnh phật tính vốn sáng suốt vô mê của mỗi con người, từ đó cổ vũ mọi
người dừng bặt hết mọi sự động niệm của tự tâm: “Đừng có tìm Thiếu Thất với Tào Khê, thể tính
vằng vặc chưa có mê lầm, mặt trăng xưa soi nào kể gì xa hay gần, gió trời thổi nào chọn nơi cao
hay thấp.”[50] (Tuệ Trung Thượng Sĩ – Thị chúng). Mặt trăng từ xưa đến nay chiếu rọi không
phân biệt xa gần, gió trời từ xưa đến nay thổi không phân biệt cao thấp, đây chính là bản chất
xảo diệu tự nhiên của vạn vật.
Tóm lại, nhiều tác giả văn học Lí Trần khẳng định bản chất “vô vi”, “tự nhiên nhi nhiên” của
Trời. Cách nhìn này hoàn toàn đối lập với quan điểm cho rằng Trời là vị thần linh tối cao có ý chí
và nhân cách.
3.3. Trời mang nghĩa thượng đế (Hoàng thiên chi thiên)
Học giả La Quang trong cuốn Trung Quốc triết học đại cương đã chỉ ra những đặc điểm của Trời
mang nghĩa thượng đế: Trời là vị thần vô hình tướng, Trời tối cao vô thượng, Trời chí tôn chí đại,
Trời không có gì là không biết, Trời không có gì không thực hiện được, Trời trường tồn không có
điểm cuối[51]. Học giả Trương Lập Văn xem Trời là vị thần có nhân cách, đồng thời chỉ ra mấy


đặc điểm của Trời: Trời và con người đều có những cảm xúc vui, mừng, buồn, giận giống nhau;
Trời có thể định đoạt vận mệnh con người, Trời có thể thu hồi mệnh lệnh và khiển trách người,
Trời có tấm lòng yêu quý điều nhân đức và đề cao điều thiện[52]. Từ những ý kiến trên, có thể
rút ra 3 đặc trưng chủ yếu của Trời mang nghĩa thượng đế này như sau: (1) Trời là vị thần linh tối
cao thống lĩnh chư thần, tức là vị chủ tể duy nhất của thế giới thần linh, vì giữ địa vị tối cao vô
thượng nên Trời có quyền lực vô hạn, có thể quan sát và chi phối đến tất cả các mặt của giới tự
nhiên và đời sống xã hội; (2) Trời là vị tổ sản sinh và hóa dục nhân loại vạn vật, đồng thời thiết
lập nên trật tự xã hội loài người; (3) Trời luôn đầy ắp lòng yêu thương, có những tình cảm vui
mừng buồn giận của con người, thường quan sát theo dõi công tội của từng người để thưởng
thiện phạt ác. Trời này từ trước đến này được gọi bằng nhiều cách khác nhau: Hoàng thiên,
thượng đế, thiên công, lão thiên, Ngọc Hoàng thượng đế, Ngọc đế, thượng thiên, hóa công, tạo
hóa…
Tác giả văn học Lí Trần đều chủ trương Trời là vị thần tối cao sáng tạo ra càn khôn vũ trụ và xã
hội loài người, cũng như thiết lập nên những quy phạm luân lí đạo đức xã hội. Nguyễn Phi
Khanh chỉ ra vai trò sáng tạo vũ trụ của Trời cùng với tính chất huyền diệu của nó: “Tay thước
trời dựng xây vũ trụ, thân khuôn lớn đúc nên mọi thứ… Nếu không phải tạo vật huyền diệu, hóa
công tuyệt xảo thì sao được như thế”[53] (Diệp mã nhi phú), sử gia Lê Văn Hưu cho rằng Trời
hóa sinh loài người, đồng thời vì người dân mà chọn ra bậc minh quân có đầy đủ đức hạnh và tài
trí: “Trời sinh dân, lại đặt ra vua, ấy là để vua chăn dắt dân, chẳng phải để vua tự cung phụng
mình”[54] (Đại Việt sử kí – Tự phụng luận). Không chỉ sáng tạo ra sự sống, Trời còn nỗ lực giáo
hóa, dẫn dắt con người và vạn vật: “Trời không đâu không giáo hóa”[55] (Đoàn Nhữ Hài – Nghĩ
Anh Tông hoàng đế tạ thượng hoàng biểu), “Trời sai sao Cảnh Tinh, chim Phượng Hoàng mở
mang điển chương”[56] (Nguyễn Phi Khanh – Hạ Trung thư thị lang). Trời vì vận mệnh của
quốc gia mà tuyển chọn lương thần để phò chính: “Trời dành một vị quốc lão để phò vận thịnh,
vua yêu vị cựu thần được ba triều nương tựa”[57] (Nguyễn Phi Khanh – Nguyên đán thượng
Băng Hồ tướng công), Trời thương tiếc cho những vị hiền thần không được vua trọng dụng, nên
cảm thông cho nỗi lòng trắc ẩn của họ: “Xã tắc đương hồi thịnh, trời cũng giúp vì; đâu chịu để
tiên sinh già đi ở chốn non xanh”[58] (Trần Nguyên Đán – Tặng Chu Tiều Ẩn), “Địa vị tam cô
trọng yếu, đức càng sáng tỏ, trời chẳng để ông ở lại nơi miếu đường nữa”[59] (Trần Đình Quân
– Vãn Vương Thiếu Bảo nhữ chu). Trời cũng cảm thông với nỗi lòng của những nhà Nho ưu thời
mẫn thế: “Trên đầu có trời già, nương tựa tháng ngày, cõi đời là cảnh mộng, phó mặc mây
khói”[60] (Nguyễn Phi Khanh – Thành trung hữu cảm kí trình đồng chí), “Phong độ hai ông già
đã nghìn năm xa rồi, nay trời trao chức, hoa cúc ẩn dật phải ra gánh vác”[61] (Đỗ Khắc Chung
– Vịnh cúc), “Quan nhàn hạ, ta tìm được bí quyết tu thân, già đi rồi, lòng học đạo đã có trời
biết”[62] (Nguyễn Phi Khanh – Đề Huyền thiên tự).
Trời luôn quan sát mọi việc của thế gian, thể hiện sự vui mừng trước công trạng và sự tức giận
trước sai trái của con người. Năm 1013, Lí Công Uẩn điều binh chinh phạt loạn quân đất Diễn
Châu, đánh xong trở về qua cửa biển Biện Khẩu gặp phải sóng to gió lớn, ông cho rằng Trời nổi
giận và trách phạt sai lầm của ông, bèn lập đàn đốt hương khấn vái rằng: “Còn trong khi binh
đao xô xát, hoặc giết oan người trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi
giận vạch rõ lầm lỗi cho tôi, thì dù cho thân này có phải chết cũng không dám phàn nàn gì. Tuy
nhiên, đối với sáu quân, tội đó xin dung thứ. Dám mong lòng trời soi xét.”[63] (Chinh hoàn quá
Biện Khẩu, ngộ bạo phong sậu vũ, đảo ư thiên) Đoạn văn trên của Lí Công Uẩn thể hiện thái độ
kính sợ và tuân mệnh của ông đối với Trời. Đào Cam Mộc lúc khuyên bảo Lí Công Uẩn soán


đoạt ngôi vua của Lê Ngọa Triều cũng lấy lý lẽ Trời ghét kẻ hung bạo, phế trừ kẻ ác để tăng sức
thuyết phục: “Mới rồi chúa thượng u mê bạo ngược, làm nhiều điều bất nghĩa, trời chán ghét
ông ta thất đức nên không cho hưởng hết tuổi thọ.”[64] (Khuyến Lí Công Uẩn tức đế vị)
Trời có ý chí, nên việc thừa kế ngôi vua là do ý Trời quyết định. Cuối triều Lí, do không sinh
được con trai kế vị, vua Lí Huệ Tông đã tự trách tội của mình, dự định nhường ngôi cho Trần
Cảnh nên tập hợp quần thần nghị sự. Ông nói: “Trẫm vì thất đức, mang tội với trời, tuyệt đường
kế tự, đành truyền ngôi cho con gái… Thượng hoàng để chàng hai nối ngôi, đó là ý trời. Trời đã
cho mà không nhận thì sẽ phải chịu tội đấy.” [65](Việt sử lược, Lí Huệ Tông dục tốn vị ư Trần
Cảnh chi tranh biện) Trời ghét cảnh chiến tranh loạn lạc: “Chừng như lòng trời đang chán loạn
lạc”[66] (Phạm Nhữ Dực – Tị tặc sơn trung trừ dạ) và yêu quí cảnh thái bình thịnh thế. Vì Trời
có tâm nên có thể thấu hiểu nhân tâm: “Rốt cuộc chỉ có trời già mới biết được lòng mình.”[67]
(Phạm Nhữ Dực – Họa Nguyễn Vận đồng khiển muộn thi vận kì nhất)
Trong quan niệm của các tác giả thời Lí Trần, Trời luôn luôn khen thưởng, trợ giúp, phù trợ cho
những người thiện lương biết giữ đức, đặc biệt là minh quân và lương thần. Trong Lâm chung di
chiếu, vua Lí Nhân Tông đã nhấn mạnh sự phù trợ của tổ tông và hoàng thiên đối với sự nghiệp
và vận mệnh của quốc gia, dân tộc: “Nhờ anh linh của tổ tông và hoàng thiên tin giúp nên bốn
bể yên lành, biên thùy ít loạn”[68] (Lâm chung di chiếu), vua Trần Nhân Tông cũng khẳng định
sự phù trợ của hoàng thiên đối với sự nghiệp chấp chính của mình: “Trẫm nhờ ơn chăm bẫm của
hoàng thiên mới hưởng được ngôi chí tôn. Việc dân quá đỗi gian nan, chính sự quá ư phiền
nhiễu”[69] (Lục thời sám hối khoa nghi tự). Trần Công Cẩn trong bài Bàn Khê điếu huỳnh phú
mượn câu chuyện Khương Thái Công phò trợ Chu Văn Vương diệt Thương lập Chu, đồng thời
khẳng định sự ủng hộ của hoàng thiên đối với những vương triều xem trọng chính nghĩa: “Đó
chẳng phải là trời giáng điểm làm để làm rạng rỡ đức độ vua tôi lúc bấy giờ đấy sao?… Ôi,
mệnh trời đến như thế, há chẳng phải trời cho ngọc huỳnh mà báo điềm tốt đó sao?… Đó chẳng
phải là trời lấy tin lành mà nêu lên điềm tốt đấy sao?”[70] (Bàn Khê điếu huỳnh phú)
Năm Canh Ngọ 1150 triều Lí, Lí Thần Tông bị trọng bệnh, quan Thái úy Đỗ Anh Vũ đã tự thân
trai giới tắm gội lập đàn cầu đảo cho vua khỏi bệnh, hoàng thiên cảm động lòng trung thành đó
mà đáp ứng ý nguyện: “Thái Úy tắm gội trai giới, chọn đất lập đàn, dựng nghi trượng cầm ngọc
khuê, cầu xin chịu bệnh thay vua. Hoàng thiên thương Thái úy là người trung hiếu , nên cho một
phương thuốc thần, vua uống viên kim đan lập tức khỏi bệnh.”[71] (Khuyết danh – Cự Việt quốc
Thái úy Lí công thạch bi minh tự) Đoạn văn trên chứng minh Trời luôn ủng hộ, giúp vì bậc trung
thần nghĩa sĩ.
Trời đã giáng điềm lành để tán dương và phù rập cho người biết giữ gìn đức hạnh, đương nhiên
cũng sẽ giáng tai ách để trừng phạt và tiêu diệt kẻ gian tặc bất chính. Nguyễn Công Bật viết trên
mặt sau bia tháp Sùng Thiện Diên Linh như sau: “Sau này nếu kẻ nào trong hai xã sáu thôn hoặc
người tứ xứ chiếm ruộng tam bảo làm của riêng thì xin hoàng thiên và thập bát long thần tru
diệt.”[72] (Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, mặt sau)
Người Việt Nam trong thời gian dưới ách thống trị của phương Bắc luôn luôn hy vọng xuất hiện
thánh nhân để dẫn dắt dân tộc đấu tranh giành độc lập tự chủ. Lê Văn Hưu cho rằng hoàng thiên
có thể đáp ứng ý nguyện này của con người: “Thắp hương khấn trời, xin trời vì nước Việt ta sớm
sinh thánh nhân, để tự làm vua nước nhà, khỏi bị người phương Bắc xâm chiếm bóc lột.”[73]


(Đại Việt sử kí – Ngã Việt thuộc Đông Hán chi thời luận) Lê Văn Hưu trong một bài sử luận
khác cũng cho rằng Đinh Tiêng Hoàng chính do hoàng thiên vì vận mệnh đất nước ta mà sinh ra:
“Chắc hẳn ý trời muốn vì nước Việt ta, lại sinh bậc thánh triết để tiếp nối chính thống của Triệu
Vương chăng?”[74] (Đại Việt sử kí – Đinh Tiêng Hoàng luận).
Tóm lại, Trời mang hàm nghĩa thượng đế trong văn học Lí Trần chính là vị thần tối cao sáng
thủy càn khôn vũ trụ và nhân loại vạn vật, cũng là đối tượng thiết lập những quy phạm đạo đức
luân lí làm rường mối cho xã hội. Trời thông qua quyền lực của đế vương gián tiếp chỉ đạo điều
hành quốc chính, chọn minh quân để dựng nước trị dân, dùng lương thần để phò tá minh quân.
Trời còn giữ trọng trách khuyến thiện trừng ác, thưởng công phạt tội. Tư tưởng Trời này rõ ràng
tiếp thu quan niệm trời là vị thần tối cao của Nho gia, đặc biệt kế thừa sâu sắc hệ thống tư tưởng
triết học của Đổng Trọng Thư.
3.4. Trời mang nghĩa mệnh trời (Thiên mệnh chi thiên)
Hàm nghĩa này của Trời trước sau nhất quán với hàm nghĩa thần tối cao, tức thượng đế. Mệnh
trời một mặt dùng để chỉ ý chỉ và mệnh lệnh của Trời, một mặt dùng để chỉ vận mệnh, số mệnh
của con người do Trời sắp đặt. Bởi vì con người chủ thể khi đối diện với mệnh trời thì cái chủ thể
ấy mờ nhạt đi, con người trở nên vô năng, bất lực trước mệnh trời, nên mệnh trời chính là một
định luật mang tính tất nhiên khách quan bên ngoài và chi phối cuộc sống con người. Vì vậy, con
người cần phải thuận ứng theo mệnh lệnh của Trời, tuyệt không thể phản nghịch lại tính tất nhiên
đó, tức không phản nghịch lại ý chí của Trời.
Các tác giả thời Lí Trần tin tưởng rằng Trời luôn ban hành các mệnh lệnh, mệnh lệnh đó là bất di
bất dịch, cố định và hiển nhiên trở thành định mệnh, do đó con người nhất định phải tuân theo
mệnh trời. Các triều đại nối tiếp nhau thống trị thiên hạ đều do mệnh trời sắp đặt: “Từ xưa nước
Nam Việt đã có các bậc đế vương trị vì thiên hạ, riêng nhà Lí ta vâng chịu mệnh trời, làm chủ
bốn biển, các vị thánh vương truyền nối đã hơn 200 năm.”[75] (Lí Chiêu Hoàng – Thiện vị
chiếu) Lí Chiêu Hoàng khẳng định, sự trị vì đất nước của các đời vua triều Lí là thuận theo mệnh
trời. Cũng vậy, đối với Lí Công Uẩn, việc quốc gia đại sự như định đô và dời đô cũng đều do
Trời định đoạt, bậc thiên tử phải tuân theo mệnh trời, nếu làm ngược lại ắt sẽ chuốc lấy bại vong:
“Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu;
trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài,
phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời,
không noi theo dấu cũ của Thương Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại
không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích
nghi.”[76] (Thiên đô chiếu) Lí Công Uẩn cho rằng những triều đại biết tuân theo mệnh trời thì
vận mệnh quốc gia sẽ trường tồn, sự nghiệp thịnh vượng, các mặt của nền văn hóa xã hội sẽ xán
lạn rỡ ràng. Ông phê phán hai triều Đinh Lê xem thường mệnh trời nên vận mệnh ngắn ngủi, sự
nghiệp sớm phải suy vong. Không chỉ việc định đô, ngay cả việc thảo phạt phản thần hay loạn
quân đều do mệnh trời sắp đặt: “Nay, Tồn Phúc càn rỡ, tự tôn tự đại, tiếm xưng vị hiệu, ban
hành chính lệnh, tụ tập quân ong kiến, làm hại dân biên thuỳ. Vì thế, trẫm cung kính thi hành
mệnh trời trách phạt, bắt được bọn Tồn Phúc, gồm năm người, đều đem chém đầu ở chợ”[77]
(Lí Phật Mã – Bình Nùng chiếu), “Nhận chức tướng quân xong, vâng lệch trời đi chinh
phạt.”[78] (Nguyễn Ức – Tống Cúc Đường chủ nhân chinh Thích Na)


Tất cả mọi sự thành bại sống chết của con người đều phải tuân theo mệnh trời, hoàn toàn không
thể kháng cự và trốn chạy khỏi nó. Phạm Nhữ Dực cho rằng nhất cử nhất động trong cuộc sống
con người đều do số mệnh quyết định: “Hành tàng hay dụng xả không gì là không có số
mệnh”[79] (Kí Quách huyện thừa). Đối với ông, sự gặp gỡ của bạn bè lâu năm xa cách nhau
cũng không thể không do duyên số Trời định: “Chúng ta hội họp không phải là không có số, chớ
có chầm chậm khi dốc chén rượu biếc”[80] (Phạm Nhữ Dực – Liên Đình nhã tập). Vua Lí Nhân
Tông cũng cho rằng sự sống chết của con người chính do số mệnh quyết định: “Mọi loài sinh
vật, không có loài nào là không chết. Chết, là cái số lớn của trời đất, cái lý của vạn vật là như
vậy”[81] (Lâm chung di chiếu). Trần Thánh Tông xót thương cho cái chết của Trần Trọng Trưng
mà cảm thán như sau: “Vô cớ mà sổ trời lại ghi năm tháng của ông, chẳng kể gì đến trần gian ai
nên sống mà ai nên chết”[82] (Vãn Trần Trọng Trưng), Trần Thánh Tông cho rằng trên trời có sổ
sanh tử ghi chép về sinh mệnh của mỗi người. Sau khi sủng phi Nguyễn Bích Châu của vua Trần
Duệ Tông mất, ông đã viết một bài tế văn trong đó có nói rằng: “Số mệnh đã định chừ trời kia
không vì, vì đâu nên nỗi chừ lỗi trẫm khó từ.”[83] (Nguyễn Bích Châu tế văn) Rõ ràng ông
khẳng định mạng sống con người là do số trời định đoạt.
Vua Trần Thái Tông chủ trương đời người giàu nghèo sang hèn đều được quyết bởi số trời, nếu
con người vì quá nghèo hèn mà trộm cướp tài sản của người khác, người đó sẽ bị đọa lạc vào địa
ngục u minh: “Hay đâu phú quý tại trời, còn nuôi ý tham cầu xằng bậy, bả chó đào hang, khoét
vách xuyên tường, theo chân tướng quân Sơn Dương, hay tập theo gương người quân tử Lương
Sơn. Nghịch trời phản đất, dối pháp khinh hình, còn sống thì bị luật pháp khảo tra, chết đi thì bị
minh ty đánh đập.”[84] (Luận văn ngữ lục – Giới thâu đạo) Quan điểm trên của Trần Thái Tông
thực chất là lặp lại những điều luật răn cấm trong đạo Phật, tư tưởng của ông rõ ràng thể hiện
màu sắc tổng hợp của tư tưởng Nho và Phật.
Nước Việt Nam từ thời Ngô về sau độc lập tự chủ, vua tôi các triều Lí Trần để khẳng định cương
vực lãnh thổ của quốc gia đã nhiều lần vận dụng tư tưởng mệnh trời để tăng thêm sức đanh thép
của lời tuyên bố: “Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận tại sách trời, cớ sao lũ
giặc phản nghịch còn sang xâm phạm, chúng bây ắt sẽ chuốc lấy bại vong.”[85] (Lí Thường Kiệt
– Nam quốc sơn hà) “Sách trời” mà vị tướng quân Lí Thường Kiệt nhấn mạnh không ngoài loại
sách ghi rõ sự khác biệt về cương vực lãnh thổ giữa Nam Bắc theo mệnh lệnh của Trời, nên rõ
ràng sách trời cũng chính là mệnh trời. Nhờ sử dụng quan niệm “mệnh trời”, tính chính nghĩa
của cuộc kháng chiến được khẳng định ở mức cao hơn. Lí Thường Kiệt đã rất thông minh trong
việc vận dùng một học thuyết mà Trung Quốc luôn đề cao để đả phá lại dã tâm xâm lược của bọn
giặc phương Bắc. Ông còn khéo léo cảnh cáo bọn giặc đi ngược lại với mệnh trời (nghịch lỗ) sẽ
chuốc lấy thất bại thảm hại. Với Lí Thường Kiệt, sách trời vạch rõ sự khác biệt về cương thổ thì
đối với Nguyễn Bá Tĩnh, sách trời còn ghi chép sự khác biệt về thổ sản giữa Nam và Bắc: “ Sách
trời đã định nước Nam có những thổ sản khác biệt với phương Bắc.”[86] (Trực giải chỉ nam
dược tính phú)
Tóm lại, văn học Lí Trần khẳng định có mệnh trời, bao gồm mệnh lệnh do Trời ban hành và cả
thứ định mệnh mang tính tất nhiên. Con người khi đối diện với bất kì hoàn cảnh nào nhất thiết
đều phải tuân theo mệnh trời, bằng ngược lại ắt sẽ chuốc lấy tổn thất bại vong. Tư tưởng thiên
mệnh trong văn học Lí Trần rõ ràng tiếp thu từ học thuyết thiên mệnh của Nho gia, nhưng hầu
như không có tác giả nào khẳng định tính chủ động biến đổi hoàn cảnh của con người trước hoàn
cảnh như Tuân Tử.


3.5. Trời mang nghĩa đạo trời (Thiên đạo chi thiên)
Hàm nghĩa “đạo trời” cũng có mối quan hệ mật thiết với hàm nghĩa “thượng đế”. Đạo trời (thiên
đạo) chính là quy luật và chuẩn mực vận động của trời đất vạn vật. Quy luật này bao phủ tất cả
sự vật và hiện tượng của giới tự nhiên, đồng thời điều chỉnh tất cả mọi hành vi đạo đức của con
người, tạo nên quỹ đạo tồn tại và phát triển của vạn vật.
Tác giả văn học thời Lí Trần cho rằng Trời xây dựng đạo trời để làm khuôn mẫu cho vũ trụ vạn
vật, các bậc thánh nhân căn cứ vào đạo trời mà thiết lập đạo người (nhân đạo) để giáo hóa nhân
quần. Một vị Nho sĩ đời Trần phát biểu: “Lớn lao thay vị thần thánh Hy Hiên, căn cứ vào đạo
trời mà lập ra đạo “đại trung” để dạy dân. Đặt ra văn tự để tiện dùng, lấy chữ nghĩa để mà ghi
chép. Lập ra sử quan để giữ gìn phép tắc, làm ngay ngắn mối quan hệ giữa vua tôi. Đến khi
Nghiêu Thuấn nối ngôi, công nghiệp lại rỡ ràng hơn thuở trước. Vũ Thang khép mình nên cung
kính, Kiệt Trụ buông lỏng nên bạo tàn. Văn Vũ hoà mục mà khiêm cung, U Lệ hôn mê mà tàn
bạo… Người lấy đức để dấy nền thịnh trị, kẻ tối tăm nên làm mất nước nhà. Ai cầm bút ghi chép
thẳng thắn mà được nêu đầy đủ rõ ràng nơi sử sách? Ôi! Từ khi bánh xe họ Cơ dời sang phía
đông, kỷ cương của nhà vua suy đồi không dựng lại được. Giáo mác ngổn ngang bờ cõi, người
hoá ra cầm thú ăn thịt lẫn nhau. Tôi giết vua, con lại giết cha, luân thường theo đó mà mai
một.”[87] (Khuyết danh – Đổng Hồ bút phú) Phục Hi và Hiên Viên chính là những vị thánh hiền
thời cổ đại Trung Quốc, họ căn cứ vào đạo trời mà sáng tạo ra văn tự và chức quan chép sử với
mục đích ghi chép đạo làm người để giáo hóa muôn dân. Nghiêu Thuấn, Vũ Thương, Văn Vũ vì
nghiêm mật tuân theo nhân đạo nên quốc gia thịnh vượng, bách tính lạc nghiệp âu ca. Thời Kiệt
Trụ, U Lệ vì thi hành bạo chính, không tuân giữ nhân đạo nên bách tính thống khổ, quốc gia suy
vong. Con người một khi không biết giữ gìn nhân đạo, kỉ cương xã hội ắt sẽ suy đồi, đạo lý luân
thường bại hoại, loài người sống chẳng khác nào cầm thú. Các tác giả vận dụng những câu
chuyện và nhân vật trong lịch sử Trung Quốc cổ đại để chứng minh cho quan niệm đạo trời của
mình.
Trời xây dựng đạo trời để làm khuôn mẫu cho quá trình tu thân của con người, cương thường đạo
đức cũng do Trời thiết lập để giáo hóa con người theo lễ nghĩa, và đó cũng là yêu cầu của Trời
đối với người: “Đạo đức con người vốn do trời tạo ra”[88] (Ngụy Tự Hiền – Báo Ân thiền tự bi
kí), “Hiếu tâm đà thấu trời Nghiêu rộng, nhân trạch thêm sâu đất Vũ tràn.”[89] (Phạm Nhân
Khanh – Hỗ bái Sơn Lăng hồi kinh)
Tóm lại, tác giả thời Lí Trần bàn về đạo trời không nhiều, những tài liệu còn lưu lại chủ yếu nhấn
mạnh con người căn cứ vào đạo trời để thiết lập đạo đức nhân luân làm rường mối cho xã hội, trở
thành khuôn mẫu để con người tu thân.
3.6. Trời mang nghĩa lý trời (Thiên lý chi thiên)
Học giả Lí Thân xác định phạm trù “lý trời” như sau: “Khi con người nhận thức càng sâu sắc về
thế giới, thì họ sẽ phát hiện ra, không chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, mà cả kết cấu tự thân của
sự vật, quan hệ tương hỗ giữa vật và vật, cùng với tính vận động tất nhiên của sự vật… đều là
quá trình vận hành khách quan không chịu sự ảnh hưởng, tác động của con người; tiếp đó lại
mang trật tự xã hội và các loại hành vi quy phạm do chính trật tự này quyết định đều xem như
một loại tồn tại mang tính tự nhiên, vạn cổ bất biến, con người chỉ có thể tuân thủ chứ không thể


phản đối. Thứ này lúc đầu gọi là lý, về sau gọi là thiên lý. Lý tức là sự tồn tại tự nhiên, là xu thế
tất nhiên, cũng chính là trời, trời vì vậy có thêm hàm nghĩa là lý, mà ngay chính ý nghĩa của trời
cũng đã bao hàm lý”[90] .
Các tác giả thời Lí Trần cho rằng Trời có thiên tính, thiên chân. Cái thiên tính, thiên chân này thể
hiện rõ rệt nhất trên chính thân thể con người. Vua Trần Nhân Tông thông qua việc miêu tả hình
ảnh cây trúc để tán thưởng phẩm chất cao quý của đội ngũ nô bộc của mình: “Trải tuyết lạnh mà
tâm thông suốt, dầu giải trong sương mà đốt cứng cỏi. Mượn ngươi làm tôi đòi, sợ rằng trái với
tính tự nhiên của nhà ngươi.”[91] (Trúc nô minh) Ông ca ngợi những người nô bộc mặc dù hứng
chịu bao nhiêu gian khổ nhưng vẫn giữ trọn tấm lòng trung trinh, tiết tháo. Trần Hiệu Khả lại lấy
“thiên chân” để nhấn mạnh cuộc sống ẩn dật đầy thú vị của mình: “Ngả nghiêng một giấc, vui
với tính trời, tỉnh dậy muôn việc đều quên hết.”[92] (Tức sự) Vì Trời ẩn chứa thiên chân, thiên
tính, tức cái lý tồn tại của Trời, nên Trời là đối tượng chí thanh, chí hư và chí đại: “Trong việc
‘xuất’, ‘xử’ của kẻ hiền đạt, thì ‘xuất’ là để hành động theo lẽ trời, ‘xử’ là để tìm thú yên vui,
cũng theo lẽ trời. Trời là gì? Là cái chí thanh chí hư, chí đại đó thôi! Bốn mùa thành năm mà
không tỏ ra có công, vạn vật chịu ơn mà không lộ rõ dấu vết. Không phải trời là chí thanh, chí
hư, chí đại, thì đâu được như thế?”[93] (Thanh hư động kí) Trời trong mắt của các tác giả đương
thời vốn viên mãn không khiếm khuyết, do đó cũng được xem là mục đích cuối cùng của đời
người, nên có lời khấn nguyện như sau: “Nguyện thứ 10 đạt được thanh tịnh như Trời.”[94]
(Trần Thái Tông – Lục thời sám hối khoa nghi, Chí tâm phát nguyện)
Trời vốn có cái lý sinh hóa vận chuyển vũ trụ vạn vật: “Đất trời có tượng, tỏ chở che để nuôi
dựng muôn linh; thời tiết không hình, ngầm nóng lạnh để hoá thành vạn vật. Vì thế cho nên, ngó
nhòm trời đất, kẻ cung phàm đều biết được mối manh; tra xét âm dương, bậc thánh triết hiếm
nay cùng vận số. Thế nhưng, đất trời chứa đựng âm dương, mà dễ hiểu, là vì có tượng; hai khí ở
trong trời đất, mà khó hay, là bởi không hình. Cho nên mới biết, tượng rõ dễ hay, tuy ngu chẳng
rối; hình ngầm khó thấy, dẫu trí còn mê. Phương chi, đạo Phật chuộng hư, cưỡi ‘không’ ngự
‘tịch’.”[95] (Phạm Sư Mạnh – Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn Đại Bi tự) Trời đất ẩn tàng hai khí
âm dương, hai khí này phối hợp sản sinh và dưỡng nuôi vạn vật. Con người đều có thể nhận thức
được lý trời, nhưng tuyệt không thể cùng thấu nó. Nguyễn Bá Tĩnh cho rằng cái “tính nhất” biến
hóa khôn lường tạo thành vạn vật thù biệt nhau: “Trời sinh một tính, vật hóa muôn loài. Đôi khí
âm dương chuyển vận, bốn mùa hàn thử vãng lai.” [96] (Nam dược quốc ngữ phú) Quan điểm
này cũng từng được Nguyễn Cố Phu phát biểu như sau: “Một khí hồng quân chuyển cả trời đất,
tám phương bốn biển đều được nhào luyện.”[97] (Bắc sứ ứng tỉnh đường tịch thượng phú thi)
Tóm lại, lý trời trong văn học Lí Trần được thể hiện không nhiều. Các tác giả cho rằng Trời có
thiên tính, thiên chân, đồng thời phản chiếu lên con người tạo thành tính người (nhân tính). Trời
ẩn chứa hai khí âm dương, dưỡng dục nên vũ trụ vạn vật, từ “nhất lý” phát tán ra thành “vạn
thù”, do đó con người không thể cùng thấu được đặc tính của nó. Các quan điểm này về cơ bản
tiếp thu tư tưởng lý học Trung Quốc thời Tống Minh.
3.7. Trời có phân biệt Nam Bắc (Bắc Nam khu biệt chi thiên)


Khẳng định quốc gia độc lập tự chủ là một trong những vấn đề đối ngoại quan trọng dưới các
triều đại phong kiến ViệtNam. Các vương triều ViệtNamđã nhiều lần tuyên bố với phương Bắc
về nền độc lập tự chủ của đất nước, nhất là khi hai bên giao chiến hay khi phía ViệtNamđón tiếp
sứ thần Trung Quốc. Vấn đề này đã thể hiện phong phú trong văn học thời Lí Trần.
Nếu như có sự phân biệt giữa hai nước Trung Việt, thì rõ ràng chỉ cần chỉ ra sự khác biệt về
cương vực lãnh thổ là được, tại sao các tác giả còn nhấn mạnh sự khác biệt về “thiên vực”? Giải
thích vấn đề này không khó, một là bởi vì trời đất vốn không có sự phân chia, sự khác biệt về địa
vực tất yếu dẫn đến sự khác biệt về “thiên vực”; hai là để nhấn mạnh Việt Trung không chỉ khác
biệt nhau về cương vực lãnh thổ, mà còn khác biệt nhau về các phương diện tư tưởng, văn hóa,
chính trị, xã hội…; ba là muốn ám chỉ sự phân biệt cương vực Nam Bắc là ý chỉ của Trời, tức
đấng Thượng đế. Trời đã chia bầu trời thành trời Bắc (Bắc thiên) và trờiNam(Namthiên, hay Việt
thiên) khác biệt nhau tương ứng với lãnh thổ hai nước Trung Quốc và Đại Việt. Trời đã phân chia
như vậy, con người tất nhiên không được phản nghịch thiên mệnh. Do đó, vận dụng ý trời để
khẳng định danh nghĩa và tư cách chính đáng của quốc gia, người Việt nhờ vậy tiến thêm một
bước vững chải trong việc củng cố nền độc lập tự chủ của đất nước.
Đầu tiên, các tác giả thời Lí Trần đã nhấn mạnh sự phân biệt lãnh thổ Bắc Nam: “Đất chia giới
hạn nam bắc, hiểm trở như thành bằng sắt, hào nước sôi; trời đặt ra nơi động phủ thần tiên, cao
chênh vênh”[98] (Phạm Sư Mạnh – Tam Thanh động), sau đó khẳng định sự phân biệt khu vực
bầu trời Bắc Nam: “Trời đất có bắc có nam, tầm mắt thênh thang; núi sông chỗ bằng chỗ hiểm,
tấc lòng trung trinh.”[99] (Nguyễn Phi Khanh, Tống Trung sứ Vũ Thích Chi) Trong hai bài thơ
thù ứng với sứ Trung Quốc, vua Trần Nhân Tông một mặt biểu hiện thái độ tôn kính đối với
khách quý từ phương Bắc đến, một mặt khéo léo khẳng định sự khác biệt về cương vực quốc gia:
“Chẳng hay phúc lành của hai ngôi sao sứ thần, còn vằng vặc soi trời Việt được mấy đêm
nữa!”[100] (Tống bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai), “Hai ngôi sao sứ thần chiếu xuống
trời Nam, ánh sáng dẫn theo cung độ mỗi đêm diễu quanh ba vòng.”[101] (Tống bắc sứ Ma Hợp,
Kiều Nguyên Lãng) Vị Phật hoàng sáng lập thiền phái Trúc Lâm này chủ trương mặc dù cương
vực trời đất có sự phân chia Nam Bắc, thế nhưng lòng “kiêm ái” tuyệt không có sự thù biệt Nam
Bắc: “Trời đất vốn một lòng yêu thương không phân biệt nam bắc; còn lo gì gặp bước gian truân
gió mưa sấm sét.”[102] (Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn)
Các tác giả tiếp tục chỉ ra, trời Bắc có hoàn cảnh của nước phía bắc, trời Namcũng có tình cảnh
của nước phía nam. Thiền sư Đỗ Pháp Thuận đáp lời vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước như sau:
“Vận nước như dây leo quấn quít, trời Nam mở nền thái bình. Hãy dùng phép vô vi ở nơi cung
đình, thì mọi chốn đều dứt hết đao binh.”[103] (Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn) Trong một bài
thơ đậm màu sắc sấm vĩ, thiền sư Nguyễn Vạn Hạnh đã dự tri triều Lí sẽ thay thế triều Tiền Lê
chấp chính, thiết lập một vương triều thịnh trị ở cõi trời Nam: “Cây tật lê chìm xuống biển Bắc,
cây mận mọc lên ở trời Nam, bốn phương dẹp yên binh lửa, tám cõi mừng chúc cảnh thái
bình.”[104] (Yết bảng thị chúng)
Nguyễn Bá Tĩnh là danh y Việt Nam đương thời, khi bàn về các loại thảo dược của phương Nam,
ông ca ngợi trời đất phương Nam đã ban tặng cho bách tính đời sống bình yên ổn định: “Cây cỏ
tuy nhiều nhưng gốc rễ khác nhau, tập hợp thành các phương thuốc tốt, rộng tay cứu độ chúng
sanh. Nếm một viên linh đơn, quả ứng nghiệm là thuốc tiên độ thế. Người người được sống trong
cõi trường thọ nhân ái, nơi nơi tụ hội hòa khí của gió xuân, dựng xây cuộc sống đủ đầy, đặt thế


nước vững mạnh, thật không phụ ơn rộng của đất trời phương nam.”[105] (Trực giải chỉ nam
dược tính phú) Quan điểm của Nguyễn Bá Tĩnh rõ ràng đã dung hợp tư tưởng tam giáo. Sức
khỏe của thân thể con người chính là nền tảng quan trọng của nhân nghĩa đạo đức xã hội, tất cả
do trờiNam của người nướcNam ban giáng.
Tóm lại, các văn nhân thi sĩ trong quá trình tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, đương
nhiên cũng đã hấp thu thuyết “trung tâm luận” của người Trung Quốc. “Trời Nam” có lúc được
dùng để nhấn mạnh là khu vực phía nam của quốc gia trung tâm Trung Quốc, cũng có lúc để
khẳng định tinh thần độc lập tự chủ của Đại Việt, xem mình là quốc gia ngang hàng không thua
kém gì với Trung Quốc. Ngoài ra, ở vùng đất phương nam này cũng có quốc gia, có thái bình, có
nhân dân, có hoàng đế, có dược thảo… Loại Trời này rõ ràng mang đặc trưng ViệtNam, nó là sự
mở rộng và kết hợp của hai hàm nghĩa Trời là thế giới vật chất và Trời là vị thần chủ tể.
3.8. Trời mang nghĩa cảnh giới siêu thoát (Thiên giới chi thiên)
“Thiên giới” được đề cập ở đây chính là cảnh giới thần bí trên trời, các tôn giáo thường gọi là
thiên đường, tiên cảnh, cõi trời… Trời này là nơi trú ngụ của thượng đế và các đấng thần linh mà
người phàm không thể nào đến được. “Thiên giới” vốn không phải là sản phẩm của văn học thời
Lí Trần, mà nó có nguồn gốc từ tín ngưỡng tôn giáo dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng Trung Quốc
thời cổ đại, được các nhân sĩ Việt Nam tích cực tiếp thu và chuyển hóa như một hình tượng trong
sáng tác văn học.
Thượng đế là vua ở thiên giới, thiên tử là vua ở nhân gian, tư cách và thân phận của cả hai đối
tượng trên có sự tương đồng. Vì vậy, cung điện của thiên tử đôi lúc bị xem như là cung điện của
thượng đế, tức là cung điện chốn thiên đình. Nguyễn Phi Khanh trong lúc lòng ngập tràn cảm
hứng văn học đã hình dung lầu các của vua như cung khuyết ở 9 tầng trời: “Gác cao vừa mở,
đồng hồ nước qua đêm đã cạn, cung khuyết chín tầng khí trời lành lạnh, mây mở ngày lành, bầu
trời hửng sáng, xuân gieo đức vua, mưa móc rộng khắp.”[106] (Hoạ Chu hàn lâm vị ương tảo
triều) Phạm Nhữ Dực trong một bài thơ của mình đã dùng hình ảnh của cõi tiên đầy sự thần bí
mầu nhiệm để miêu tả nơi ở của hoàng đế: “Bốn ngựa ruổi rong trong mây mù lam chướng,
ngoảnh đầu trông cửa trời, mịt mùng năm thức mây, mưa tới cửa cung cấm giật mình nghe đội
vòng kêu rộn, trông vời trên điện Thông Minh thấy một đoá hồng. Từ trong hang núi bay ra
đượm nhuần muôn vật, tấm lòng tha thiết được theo sau xe rồng, sớm chiều mong được vời gọi
đến bên nhà vui, làm trận mưa rào của nhà Thương dội xuống tưới khắp cho dân bốn
biển.”[107] (Ngũ vân xí chiêm) Phạm Nhữ Dực thông qua bài thơ trên thể hiện lòng trung quân
và ý nguyện trí quân trạch dân của ông. Các tác giả không chỉ xem các triều đình thời Lí Trần là
thiên đình mà còn xem các vương triều Trung Quốc là thiên triều, cách nhìn này thể hiện thái độ
hòa hiếu, tôn trọng nước lớn của người Đại Việt. Ngô Chân Lưu khi tiễn sứ thần Trung Quốc Lí
Giác có viết: “Ánh nắng lành, gió tốt, cánh buồm gấm giương; thần tiên trở về quê hương của
hoàng đế; ngàn trùng muôn dặm lướt sóng xanh; đường về nơi chín tầng trời xa xôi. ”[108]
(Ngọc lang quy) Nhà sư gọi triều Tống là thiên triều, sứ Tống là thần tiên trên trời giáng thế.
Không chỉ cung điện của vua mới được xem là thiên cung, những kiến trúc chùa miếu nơi làng
quê hay núi đồi cũng được thi nhân xem là cảnh giới của thiên cung. Đương nhiên chức phận của
giới đạo sĩ hay tăng lữ hoàn toàn khác với hoàng thiên và vua chúa, thế nhưng phong cảnh thần
bí của chùa miếu lại giống tiên cảnh ở phong vị thanh tịnh giải thoát. Nguyễn Phi Khanh sau một


đêm ngủ ở chùa Thiên Thánh Hựu Quốc đã phấn khích viết rằng: “Cung điện thần tiên gần với
cảnh Bồng Lai, nhạc trời ở bên tai nên giấc mộng dễ tỉnh, sáng mùa xuân thức dậy không có
việc gì làm, chỉ xem hoa nở trước gió xuân ở ngoài sân.”[109] (Thiên Thánh Hựu Quốc tự tảo
khởi) Cuộc sống nơi chùa miếu khiến cho tinh thần thi nhân an nhiên tự tại, giống như đang sống
trong không gian sinh đẹp của Bồng Lai tiên cảnh. Một tác giả khác cũng có cảm nhận như vậy:
“Gió thổi trên nhánh tùng xanh, giống như tiếng tấu nhạc nơi cung trời; trăng chiếu lên khóm
trúc biếc, lồng lộng như ánh sáng soi tỏ nơi cõi Phật.”[110] (Khuyết danh – Hưng Phúc tự bi)
Những ví dụ trên rõ ràng cho thấy các tác giả thời này tiếp thu sâu sắc ảnh hưởng của tín ngưỡng
dân gian.
Cõi trời cũng chính là nơi trú ngụ của thế giới thần linh. Các nhân vật Ngưu Lang Chức Nữ trong
thần thoại Trung Quốc đều cư trú ở thiên giới: “Chuôi sao Bắc Đẩu chuyển về tây, mặt trời lặn,
là kỳ hẹn mùa thu của Chức Nữ và Ngưu Lang ở trên trời, mây giăng chót vót trên bến sông
Ngân như chiếc lọng, trăng vắt chênh chếch ở cầu sao như lưỡi câu.”[111] (Phạm Nhân Khanh –
Thất tịch, kì nhất) Thiên giới và âm giới được xem là nơi mà người ta sau khi chết trở về. Trần
Duệ Tông đau xót ái phi của mình ra đi mà than rằng: “Than ôi thương thay chừ hồn bỏ trẫm đi,
nếu ở trên trời chừ như chim kia dực phi, nếu ở dưới đất chừ như cây liên lý chi.”[112] (Nguyễn
Bích Châu tế văn) Vì thiên giới là nơi lực lượng thần linh thường trú, nên việc tế tự của người
phàm sẽ cảm ứng đến thiên giới: “Bạch đàn hương ấy hương bạch đàn, vẫn lấy làm lục cúng;
trầm thủy hương này hương trầm thủy, cũng cảm đến chư thiên.” [113] (Nguyễn Bá Tĩnh –Nam
dược quốc ngữ phú)
Tóm lại, Trời mang nghĩa cảnh giới giải thoát trong sáng tác thời Lí Trần là kết quả tổng hợp của
các yếu tố hình tượng văn học, tư tưởng triết học và tôn giáo tín ngưỡng. Trời này là cảnh giới
giải thoát, hoàn toàn khác với không gian cuộc sống đời thường, chỉ có cung điện của vua hay
chùa miếu mới có màu sắc tương tự. Hàm nghĩa này rõ ràng cũng đã tiếp thu từ tín ngưỡng dân
gian Trung Quốc.
3.9. Trời là không gian càn khôn vũ trụ (theo Nho) hay hư không pháp giới (theo Phật)
(Càn khôn vũ trụ dữ hư không pháp giới chi thiên)

Trời mang nghĩa càn khôn vũ trụ xuất phát từ triết học cổ điển Trung Quốc. Học giả La Quang
cho rằng Kinh Dịch từng đề cập đến Trời này: “Cách gọi chung trời đất trong triết học bắt đầu từ
trong Kinh Dịch. Kinh Dịch dùng trời đất để đại diện cho càn khôn, cũng đại diện cho âm dương.
Trời đất ở đây đã không phải là thượng đế và hậu thổ trong tôn giáo” [114]. Nhiều triết gia thời
Tống Minh cũng giải thích Trời thành “càn khôn vũ trụ”. Học giả Trương Lập Văn bàn về vấn đề
này như sau: “Thời Bắc Tống, Trương Tải dùng ‘thái hư’ để giải thích trời, ‘vì có thái hư, mới có
cách gọi Trời’ (阮阮阮阮阮阮阮阮 Do thái hư, hữu thiên chi danh). Thái hư là căn cứ để gọi trời, ‘thái
hư chính là vốn quý của Trời’ (阮阮阮阮阮阮阮阮 Thái hư giả, thiên chi bảo giả), cũng chính là thực thể
của Trời. Cái chất quý giá của thái hư là gì? Trương Tải cho rằng, ‘thái hư tức khí’ ( 阮阮阮阮 Thái
hư tức khí)” [115]. Có thể thấy, hàm nghĩa càn khôn vũ trụ của Trời là do Nho gia đề xướng.
Cụm từ “hư không pháp giới” vốn là cách gọi càn khôn vũ trụ trong kinh điển Phật giáo. Phật
giáo cho rằng trong hư không pháp giới có hằng hà sa số thế giới, cũng có thể chia chúng thành


tam thiên đại thiên thế giới. Các giác quan của con người không thể nào hiểu thấu được, chỉ khi
nào giác ngộ bản tính mới thật sự có thể thể nghiệm được cảnh giới hùng vĩ này của Trời. Trời
mang nghĩa càn khôn vũ trụ hay hư không pháp giới chính là sự tổng hợp tư tưởng Trời của hai
trường phái triết học trên.
Tác giả thời Lí Trần khi biên soạn sách Phật hay sáng tác thơ kệ thường hay đề cập đến Trời với
nét nghĩa “hư không pháp giới”. Trời này có khi được gọi là “không”, “đại thiên”, “tam giới”:
“Chúng sinh đông đảo như số bụi trong không gian… Phép Phật rất từ bi, ánh sáng linh quang
bao trùm cả nghìn đại thiên thế giới, muôn vị thần đều hướng theo giáo hoá, ba cõi đều trở về sự
hồn toàn”[116] (Khuyết danh – Phật pháp), cũng có lúc gọi là “đại thiên sa giới”, “thái hư”:
“Đạo vốn không màu sắc, ngày ngày vẫn phô bày vẻ mới lạ, tươi trẻ, dù ở ngoài thế giới hà sa,
tức ba nghìn đại thiên thế giới, chốn nào mà chẳng là nhà của nó.”[117] (Phạm Thường Chiếu –
Đạo), “Có lúc lên thẳng đỉnh núi trơ trọi, kêu dài một tiếng, lạnh cả bầu trời.”[118] (Dương
Không Lộ – Ngôn hoài) Trời “hư không pháp giới” cũng không hoàn toàn là thực thể mang tính
vật chất, giác quan con người không thể nào bao quát hết vì nó chính là cảnh giới của nội tâm:
“Tìm cái tâm ở ngoài trời thì khó mà định được cái thể của nó, như ở đời mà trồng quế, sao
thành rừng được, tất cả càn khôn đều ở trên đầu một sợi lông, mặt trời, mặt trăng đều nằm gọn
trong hột cải.”[119] (Nguyễn Khánh Hỉ – Đáp Pháp Dung sắc không, phàm thánh chi vấn) Chỉ
có những người giác ngộ mới cảm nhận được diện mạo chân thật của cảnh Trời này. Có thể nói,
Trời này chính là cảnh giới tâm linh của người tu hành.
Phật giáo xem Trời “hư không pháp giới” là cảnh giới nửa hư nửa thực, Nho gia lại xem “càn
khôn vũ trụ” đồng nghĩa với không gian trời đất: “Ngang trời dọc đất, lòng cầm chắc
trước”[120] (Trần Nguyên Đán – Đề Quan lỗ bạ thi tập hậu), “Ngoảnh nhìn bốn phía trời đất,
trăng sáng như ban ngày, cây cỏ nửa phần xơ xác, trời đang xuống sương.”[121] (Phạm Nhân
Khanh – Thu dạ), “Thân trượng phu đội trời đạp đất, chí khí phải cao vượt người cùng lứa, để
lại được tiết tháo trung nghĩa cùng trời đất, thì đời sau còn nói chuyện cao nhã về con người
toàn vẹn nghìn xưa.”[122] (Nguyễn Chế Nghĩa – Ngôn hoài) Nhưng có điều, hàm nghĩa của
“càn khôn vũ trụ” ngoài bao quát không gian trời đất, còn hàm chứa thời gian vĩnh hằng của trời
đất. Vì vậy, phạm vi của càn khôn vũ trụ còn rộng lớn hơn cả phạm vi trời đất.
Các tác giả thời Lí Trần đã sử dụng phạm trù Trời với hàm nghĩa siêu việt không thời gian của
Nho Phật, từ đó tạo nên sự liên thông dung hợp giữa hai trường phái triết học này ở thời Lí Trần.
4. Kết luận

Thời đại Lí Trần tiếp thu hệ thống tư tưởng triết học Trung Quốc từ thời Minh trở về trước. Sáng
tác văn học thời kì này tiếp thu và tổng hợp tư tưởng Trời từ ba trường phái triết học Nho – Phật
– Đạo, trong đó biểu hiện rõ rệt nhất là tư tưởng Nho gia. Tư tưởng Trời trong văn học thời Lí
Trần ngoài sáu hàm nghĩa giống Trung Quốc là Trời mang nghĩa trời đất, Trời mang nghĩa tự
nhiên, Trời mang nghĩa thượng đế, Trời mang nghĩa mệnh trời, Trời mang nghĩa đạo trời, Trời
mang nghĩa lý trời, còn có thêm ba hàm nghĩa mở rộng mang đậm màu sắc thời đại là Trời có
phân biệt nam bắc, Trời mang nghĩa cảnh giới siêu nhiên, Trời mang nghĩa càn khôn vũ trụ và hư
không pháp giới.


Nhìn tổng thể có thể thấy, văn học Lí Trần đã hấp thu và thể hiện trọn vẹn hệ thống tư tưởng Trời
của Trung Quốc, bao gồm tư tưởng thần học về Trời, tư tưởng vật lý về Trời và tư tưởng triết học
về Trời. Trong đó, tư tưởng thần học về Trời và tư tưởng vật lý về Trời rõ ràng chiếm vị trí ưu
thế, trong khi tư tưởng triết học về Trời ít được các tác giả thời Lí Trần quan tâm thể hiện.
Ba hàm nghĩa mở rộng về Trời của văn học thời này về cơ bản có nguồn gốc từ tư tưởng Trời của
Trung Quốc. Mặc dù chủ trương Trời có sự phân chia nam bắc, thế nhưng các tác giả đều khẳng
định không có sự phân chia ở các hàm nghĩa thượng đế, lý trời, mệnh trời, đạo trời, ý trời.
Nguyễn Thanh Phong*
* Thạc sĩ, Giảng viên Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm, ĐH An Giang.
* 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[1] Học giả Trương Lập Văn trong cuốn “Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư –
Thiên” phát biểu: “Trời là phạm trù cổ xưa nhất, thường thấy nhất trong hệ thống triết học cổ
điển Trung Quốc; đồng thời, Trời cũng là phạm trù xuyên suốt tự cổ chí kim. Từ thời Tam đại trở
về sau, Trời luôn là vấn đề trọng tâm mà các nhà triết học quan tâm tìm hiểu. Ngày nay, mặc dù
cách giải thích và nhìn nhận về Trời so với người trước có nhiều khác biệt, nhưng Trời vẫn luôn
là một đề tài triết học thu hút nhiều người quan tâm”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc
triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 1).
[2] Học giả Trương Lập Văn trong sách trên cũng cho rằng: “Trong quá trình phát triển của triết
học Trung Quốc, nội hàm ý nghĩa của phạm trù Trời tùy theo nhu cầu và diễn biến của từng thời
đại, đã không ngừng cụ thể hóa và phong phú thêm”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc
triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 1).
[3] Hứa Thận, Thuyết văn giải tự, nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thiên, điên dã, chí cao vô
thượng, tùng nhất đại).
[4] Học giả Lí Thân trong cuốn “Trung Quốc cổ đại triết học hòa tự nhiên khoa học” giải thích
quá trình mở rộng hàm nghĩa này như sau: “Trời là cách gọi chung của vạn vật, trạng thái tồn tại
của vạn vật có điểm chung là ‘tự nhiên nhi nhiên’. Do đó nói đến Trời, tức là chỉ những thứ vốn
‘tự nhiên nhi nhiên’ mà hình thành; ngược lại, nói đên những thứ ‘tự nhiên nhi nhiên’ mà hình
thành tức cũng là nói đến Trời. Từ đó, tự nhiên và Trời trở thành từ đồng nghĩa, Trời bắt đầu
mang hàm nghĩa ‘tự nhiên nhi nhiên’, ‘thiên nhiên’ gọi tắt là Thiên”. (Lí Thân, Trung Quốc cổ
đại triết học hòa tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân Dân xuất bản xã, Thượng Hải, 2001,
trang 102).
[5] Tác giả Trương Lập Văn nhận định: “Đạo gia cho rằng Trời là tự nhiên, loại tự nhiên này
không phải giới tự nhiên mà Nho gia tuyên nói, mà là ‘tự nhiên nhi nhiên’. Mặc dù Đạo gia cũng
xem Trời là vật chất tự nhiên, nhưng cũng nhấn mạnh tính chất và đặc điểm căn bản của nó là ‘tự
nhiên vô vi’, so với quan niệm xem Trời là sự vật hiện tượng tự nhiên của Nho gia có điểm khác


biệt”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất
Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 2).
[6] Học giả Trương Lập Văn giải thích quá trình mở rộng hàm nghĩa này như sau: “Trong lúc con
người ngẩng đầu nhìn lên trời, một mặt từ tầm mắt của mình, con người quan sát thấy bầu trời tự
nhiên, một mặt nhận thấy muôn vàn sự biến đổi nhanh chóng của hiện tượng thiên nhiên, vô
cùng thần bí mà đầu óc con người không thể tính toán đo lường được, do đó Trời mang thêm ý
nghĩa là lực lượng siêu nhiên, có phẩm chất của con người nhưng năng lực vượt lên trên con
người…… Thời Hạ, Thương, Chu, do trình độ nhận thức của con người còn thấp kém, nét nghĩa
thần linh tối cao mang phẩm chất con người của Trời được xác lập, Trời không chỉ có năng lực
chi phối mọi sự vận hành biến đổi của giới tự nhiên, mà còn có khả năng điều khiển mọi việc
trong xã hội loài người, từ việc nước, việc vua đến công việc cá nhân của mỗi người. Kim văn,
Thượng thư đều có những ghi chép về việc Trời muốn vua Thành Thang nhà Thương chinh phạt
vua Kiệt nhà Hạ, Chu Võ Vương chinh phạt vua Trụ nhà Thương để thay thế hôn quân trị vì
thiên hạ. Nét nghĩa vị thần tối cao này của Trời được gọi tắt là Thượng đế, Thiên đế hoặc Đế”.
(Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược
xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 2). Cũng về vấn đề này, học giả Lí Thân giải thích như sau:
“Trời đầu tiên được dùng để chỉ bầu trời, về sau do thượng đế thường trụ ở trên bầu trời, mệnh
lệnh của thượng đế cũng từ trên trời mà truyền xuống, do đó, mệnh lệnh từ trên trời truyền xuống
chính là mệnh lệnh của thượng đế, lệnh Trời tức là lệnh của thượng đế. Trong sự diễn biến quan
niện đó, người ta bèn dùng trú xứ của thượng đế để gọi thượng đế, tức Trời. Hai danh từ Trời và
Thượng đế cùng biểu đạt một khái niệm: thần tối cao”. (Lí Thân, Trung Quốc cổ đại triết học
hòa tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân Dân xuất bản xã, Thượng Hải, 2001, trang 101).
[7] Cách viết chữ Hán của những từ trên lần lượt là: 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮
[8] Dư Đôn Khang cho rằng: “Trong hệ thống tư tưởng thần học thiên mệnh thời Tây Chu, Trời
được dùng để chỉ vị thần tối cao đồng thời mang tư cách chủ tể thống lĩnh giới tự nhiên và xã
hội. Vị Trời này không chỉ thống lĩnh mặt trời, mặt trăng, các vì sao, chưởng quản tất cả thần linh
của giới tự nhiên, luôn quan tâm không mệt mỏi đến trật tự cuộc sống con người, thiết lập hệ
thống quy phạm đạo đức và trật tự xã hội cho loài người”. (Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung
Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Trung Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh,
1996, trang 45~50).
[9] Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thuận thiên ý giả, kiêm
tương ái, giao tương lợi, tất đắc thưởng; phản thiên ý giả, biệt tương ố, giao tương tặc, tắc đắc
phạt) (阮阮‧阮阮阮)阮
[10] Học giả Mâu Chung Giám ( 阮 阮 阮 ) bàn về tư tưởng “mệnh trời” của Khổng Tử như sau:
“Khổng Tử tin tưởng và kính sợ mệnh trời, ông đã giải thích mệnh trời trên cơ sở triết học,
Khổng Tử nói: ‘Chỉ có Trời là lớn’ (阮阮阮阮阮Duy thiên vi đại) (Luận ngữ, Nghiêu viết), ‘Sợ mệnh
trời’ (阮阮阮阮Úy thiên mệnh) (Luận ngữ, Quí thị), ‘Năm mươi tuổi mà biết được mệnh trời’ (阮阮阮阮
阮阮阮Ngũ thập nhi tri thiên mệnh) (Luận ngữ, Vi chính). Học sinh của Khổng Tử là Tử Hạ cũng
nói rằng: ‘Sống chết có số mệnh, giàu sang là do trời sắp đặt’ ( 阮阮阮阮阮阮阮阮阮 Sinh tử hữu mệnh,
phú quí tại thiên) (Luận ngữ, Nhan Uyên). Khổng Tử cho rằng việc sống chết, giàu sang khốn


khó và sự nghiệp thành bại của đời người là do trời quyết định, nên con người không thể xem
thường Trời”. (Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Trung
Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996, trang 90).
[11] Tác giả Trương Lập Văn cho rằng: “Nhà Nho quan niệm, ý chí của trời và ý chí của dân
không xung đột đối lập nhau, mà có tính nhất trí nhau. Sự thành bại, hưng vong của vương
nghiệp nhà Thương Chu đều do nhà vua biết “kính đức bảo dân”; ai biết “kính đức bảo dân”,
người đó sẽ được hoàng thiên chấp nhận cho trị vì thiên hạ; bằng ngược lại, hoàng thiên sẽ giáng
tai ương để cảnh cáo thiên tử, sau đó thu hồi sứ mệnh trị vì thiên hạ”. (Trương Lập Văn chủ biên,
Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996,
trang 2).
[12] Học giả Lí Thân tiến hành kết hợp hai khái niệm “Thiên” và “Lý”, từ đó nhận định: “Khi
nhận thức của con người về thế giới ngày một sâu sắc thì người ta phát hiện ra rằng, không chỉ
trạng thái tồn tại của sự vật, mà ngay cả kết cấu tự thân của sự vật, quan hệ tương hỗ giữa các sự
vật, tính tất nhiên liên động của sự vật… đều là những quá trình vận động khách quan không
chịu sự ảnh hưởng của con người, tiếp đó lại lấy trật tự xã hội và các loại hành vi quy phạm do
trật tự xã hội quyết định, cũng đều xem như một thứ tồn tại tự nhiên, xưa nay không đổi, con
người chỉ có thể tuân thủ, mà không thể làm trái ngược. Cái này lúc đầu gọi tên là ‘lý’, sau đó
gọi là ‘lý trời’. ‘Lý’ tức là tồn tại tự nhiên, là xu thế tất nhiên, cũng chính là Trời, Trời vì vậy
mang hàm nghĩa của ‘lý’, hơn nữa, hàm nghĩa của Trời bản thân nó cũng đã bao hàm ‘lý’. (Lí
Thân, Trung Quốc cổ đại triết học hòa tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân Dân xuất bản xã,
Thượng Hải, 2001, trang 102-103).
[13] Xem rõ thêm tại: Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng
thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 2.
[14] Học giả Trương Lập Văn nhận định: “Tâm ý của Trời là nhân đức thương người, thông qua
âm dương nóng lạnh mà thể hiện lòng yêu mến điều nhân, tránh xa điều ác, mở mang đức lớn,
dùng hình phạt nhẹ. Khi Trời dùng các hiện tượng tai dị để khiến trách, cảnh cáo thiên tử, thì
cũng là lúc Trời thể hiện bản tâm nhân đức, yêu mến việc mang lại lợi ích cho con người. Nói
như vậy có nghĩa là, bản chất của Trời đã hàm chứa các chuẩn mức đạo đức luân lý nhân, nghĩa,
trung, tín… Chính vì bản thân đã hàm chứa những phẩm chất đạo đức, cho nên Trời có thể phú
cho con người những đức tính nhân, nghĩa, trung, tín…” (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc
triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 9).
[15] Học giả Trương Đại Niên thống nhất các hàm nghĩa của Trời thành ba nhóm: chủ tể tối cao,
thế giới tự nhiên rộng lớn và nguyên lý tối cao. (Trương Đại Niên, Phân tích tư tưởng “Thiên
nhân hợp nhất” trong triết học Trung Quốc, Bắc Kinh đại học học báo – Triết học xã hội khoa
học bản, 1985, kì 1). Học giả Trương Lập Văn chia quá trình diễn biến về hàm nghĩa của phạm
trù Trời thành 9 giai đoạn, tương ứng với 9 nét nghĩa khác nhau: “Diễn biến của phạm trù Trời
trong triết học Trung Quốc, từ thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) sang thời Xuân Thu Chiến Quốc,
Tần Hán, Ngụy Tấn, đến thời Tùy Đường, Tống Minh Thanh, cho đến thời cận đại suốt bốn năm
ngàn năm phát triển, có 9 giai đoạn tiến triển từ Thiên đế → Thiên đạo → Thiên nhân → Thiên
nhiên → Thiên chân → Thiên lý → Thiên tâm → Thiên khí → Thiên diễn, thể hiện tinh thần
thời đại của mỗi giai đoạn hoặc tinh hoa trào lưu tư tưởng của mỗi thời đại”. (Trương Lập Văn


chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài
Bắc, 1996, trang 20).
[16] Xem thêm tại: Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà
Nội, 2002, trang 23~25.
[17] Học giả Trương Lập Văn từng giải thích tường tận về loại Trời này như sau: “Trời là giới tự
nhiên, là không gian vũ trụ. Trời xanh cao vời vợi, cũng chính là bầu trời phía trên đỉnh đầu con
người. Người thượng cổ thường dùng mặt đất để đối xứng với bầu trời, đây chính là hai thực thể
lớn, trong đó con người ở giữa, chịu sự dưỡng dục của trời đất. Trời trở thành không gian tự
nhiên rộng lớn không giới hạn, bao hàm trong nó mặt trăng, mặt trời, các vì sao không ngừng
vận hành, cả sấm vang chớp giật. Trời cũng là không gian sinh tồn của người và vạn vật. (Trương
Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Đài Bắc, Thất Lược
xuất bản xã, 1996, trang 9). Chu Hi gọi Trời này là “Trời xanh của tự nhiên” ( 阮阮阮阮阮阮阮 Tự
nhiên đích thương thương chi thiên), Phùng Hữu Lan gọi là “Trời vật chất” ( 阮阮阮阮 Vật chất chi
thiên).
[18] Viện Văn học Việt Nam biên soạn, Thơ văn Lí Trần, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội,
Hà Nội, 1977, trang 386. Từ đây trở đi, người viết thống nhất viết tắt là: Thơ văn Lí Trần, [I‧
386]. Trong đó, phía trước là tên sách, phía sau là số tập và trang trích dẫn. Nguyên văn:阮阮阮阮阮
阮阮阮阮(Vạn lí thanh giang vạn lí thiên)阮阮阮阮阮阮阮
[19] Thơ văn Lí Trần, [II‧407]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thu cảnh viễn lai thiên ngoại viễn)
阮阮阮阮阮阮阮
[20] Thơ văn Lí Trần, [II‧620]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Hải khoát thiên cao hà xứ tầm)阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮
[21] Thơ văn Lí Trần, [II‧734]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Ngũ Hồ thiên địa khoát, Hảo
phỏng cựu ngư ki)阮阮阮阮阮阮阮阮
[22] Thơ văn Lí Trần, [III‧473]. Nguyên văn: 阮 阮 阮 阮 阮 阮 阮 阮 阮 阮 阮 阮 阮 (Triều sinh thiên địa hiểu,
nguyệt bạch hựu giang không)阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[23] Thơ văn Lí Trần, [II‧684]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Giang thủy liên thiên nhất âu bạch)阮阮
阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮
[24] Thơ văn Lí Trần, [III‧53]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 (Triều hồi giang địch huýnh,
thiên khoát thụ vân đê)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[25] Thơ văn Lí Trần, [II‧618]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thiên sắc y y nhạn một vân)阮阮阮阮‧阮阮
阮阮阮阮阮
[26] Thơ văn Lí Trần, [II‧412]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu)阮阮阮
阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮阮


[27] Thơ văn Lí Trần, [III‧79]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮……阮阮阮阮阮阮阮(Hành dịch đăng
gia sơn, Kiều thủ vạn lí thiên… An Phụ thiên nhất ác)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[28] Thơ văn Lí Trần, [III‧423]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Vũ hậu tuyền thanh lưu
tốc tốc, Thiên tình lam khí tịnh quyên quyên)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮
[29] Thơ văn Lí Trần, [III‧117]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Hải biên hóa nhật minh
hoàng đạo, Thiên thượng Văn tinh thanh chướng lam)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[30] Thơ văn Lí Trần, [III‧87]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Kình ba thiên thượng hạ, ngao
bối hải đông nam)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[31] Thơ văn Lí Trần, [I‧221]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮(Trung thiên yết nhật nguyệt)阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮
[32] Thơ văn Lí Trần, [III‧504]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 (Giang sơn hoa điểu
xuân thiên địa, thành quách lâu đài thế cổ kim)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮
[33] Thơ văn Lí Trần, [II‧585]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮……阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮 (Đỉnh thiên lập địa trượng phu thân, chí khí đường đường mại đẳng luân… Lưu đắc càn
khôn trung nghĩa tiết, cao đàm thiên cổ nhất hoàn nhân)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮
[34] Thơ văn Lí Trần, [II‧830]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Du du thân thế ỷ lan can,
thiên ngoại khách phàm qui điểu tật)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[35] Thơ văn Lí Trần, [III‧471]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 (Nhân sinh thiên địa
nhất cừ lư, vô nại li quần cửu tỏa cư)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[36] Thơ văn Lí Trần, [II‧226]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thiên thanh vạn thúy mê
hương quốc, Hải giác thiên đầu thị dưỡng chân)阮阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮
[37] Thơ văn Lí Trần, [II‧738]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Trục lô thiên lí, tinh kì ỷ nĩ; tì hưu lục quân, binh nhận phong khởi. Thư hùng vị
quyết, Nam Bắc đối lũy; Nhật nguyệt hôn hề vô quang, thiên địa lẫm hề tương hủy)阮阮阮阮‧阮阮阮阮
阮阮阮阮
[38] Thơ văn Lí Trần, [II‧438]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thiên địa hữu thùy cùng
biết diệt, bút đoan vô khẩu ngữ hưng vong)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮
[39] Thơ văn Lí Trần, [I‧229]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 (Trạch
thiên địa khu vực chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế, chính nam bắc đông tây chi vị, tiện giang
sơn hướng bội chi nghi, kì địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải, dân cư miệt hôn
điếm chi khốn, vạn vật cực phồn phụ chi phong, biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa, thành tứ
phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế đế vương chi thượng đô)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮


[40] Lí Thân 阮阮阮Trung Quốc cổ đại triết học và tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân dân Xuất
bản xã, Thượng Hải, 2001, trang 102阮
[41] Thơ văn Lí Trần, [III‧528]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Sơn trùng
thủy phục khách trình viễn, đông tận xuân sinh thiên đạo hoàn, vạn sự vô tâm tùy tiết biến) 阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮
[42] Thơ văn Lí Trần, [II‧723]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 (Thiên địa bao dung lượng,
dông hàn kế dĩ dương xuân)阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[43] Thơ văn Lí Trần, [III‧160]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 (Mai hàm ngọc lạp
truyền thiên tín, trúc tính lang trâm tiết địa cơ)阮阮阮阮阮阮阮
[44] Thơ văn Lí Trần, [I‧461]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Trị
loạn tại thứ quan, đắc nhân tắc trị, thất nhân tất loạn. Thần lịch quan tiền thế đế vương vị thường
bất dĩ dụng quân tử nhi hưng, bất dĩ dụng tiểu nhân nhi vong giả dã. Nguyên kì trí thử phi nhất
triêu nhất tịch chi cố, sở do lai giả tiệm hĩ. Thiên địa bất năng đốn vi hàn thử, tất tiệm ư xuân thu;
nhân quân bất năng đốn vi hưng vong, tất tiệm ư thiện ác)阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[45] Thơ văn Lí Trần, [III‧101]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thiên khai địa khoát Tam Giang lộ)
阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[46] Thơ văn Lí Trần, [II‧710]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮阮
[47] Thơ văn Lí Trần, [II‧362]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thiên địa
tính kì phú tái, nhật nguyệt tính kì chiếu lâm, cố năng sinh thành vạn vật, phát dục thứ loại)阮阮阮阮
‧阮阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮
[48] Thơ văn Lí Trần, [III‧499]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Thử thiên đại thiết hiểm,
dĩ trángNam cực khôn duy chi thế)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮
[49] Thơ văn Lí Trần, [II‧738]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮(Tự hữu vũ trụ, cố hữu
giang sơn, tín thiên tiệm chi thiết hiểm)阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮阮阮
[50] Thơ văn Lí Trần, [II‧265]. Nguyên văn:阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮
(Hưu tầm Thiếu Thất dữ Tào Khê, thể tính minh minh vị hữu mê, cổ nguyệt chiếu phi quan viễn
cận, thiên phong xuy bất giản cao đê)阮阮阮阮阮‧阮阮阮阮阮阮
[51] Xem thêm tại: La Quang, Trung Quốc triết học đại cương, Đài Loan Thương vụ xuất bản
xã, Đài Bắc, 1999, trang 47~48.
[52] Xem thêm tại: Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư –
Thiên, Đài Bắc, Thất Lược xuất bản xã, 1996, trang 4.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×