Tải bản đầy đủ

LÝ CÔNG UẨN VÀ ÂM VANG "CHIẾU DỜI ĐÔ"

LÝ CÔNG UẨN VÀ ÂM VANG CHIẾU DỜI ĐÔ

Lý Công Uẩn (974 - 1028), tức Lý Thái Tổ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang
(nay là Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) là một người thông minh, nhân ái, có chí
lớn và là một trong những vị minh quân có nhiều đóng góp cho sự phát triển của
dân tộc. Dưới thời Tiền Lê, ông làm đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ.
Năm 1009, khi Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều) băng hà, Lý Công Uẩn được triều thần
tôn lên làm vua, lập ra nhà Lý, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Trong 20 năm làm
vua, ông đã có những công lao to lớn đối với đất nước trên nhiều phương diện như
xây dựng kinh tế, văn hóa, quốc phòng, củng cố nền độc lập, tự chủ dân tộc. Một
trong những công lao nổi bật mang ý nghĩa lịch sử của Lý Công Uẩn là việc ông cho
dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, đổi tên Đại La thành Thăng Long
và đổi tên nước thành Đại Việt, xây dựng Kinh đô Thăng Long trở thành một
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, xây dựng vương triều Lý thành
một triều đại thịnh trị, khẳng định bản lĩnh và truyền thống lịch sử lâu đời, củng cố
khối đoàn kết thống nhất, đem lại cho dân tộc và đất nước một vị thế mới trên
bước đường phát triển, mở ra một thời kỳ lớn mạnh hùng cường của dân
tộc. Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô) được Lý Công Uẩn ban bố vào thời điểm lịch
sử này - năm 1010, với ý nghĩa và sự tác động đặc biệt, đã trở thành một văn
kiện chính trị, lịch sử, văn hóa quan trọng nổi tiếng trong một nghìn năm qua. Về
mặt văn học, đây là một trong những tác phẩm đầu tiên khai sáng cho truyền

thống yêu nước và nhân văn của văn học dân tộc, thể hiện lòng yêu nước và ý
chí tự cường, đánh dấu một dấu mốc quan trọng trên bước đường xây dựng
quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ. Chiếu dời đô cũng mở đầu cho thể văn
chính luận luôn gắn bó với vận mệnh đất nước, rồi đây sẽ trở nên hết sức quen
thuộc trong đời sống văn hóa của dân tộc.
Chiếu là một thể văn cổ, mang chức năng hành chính, do vua dùng để
ban bố mệnh lệnh cho thần dân biết về những vấn đề liên quan tới vận mệnh đất
nước và vương triều. Chiếu có thể được viết bằng văn vần, văn biền ngẫu hoặc
văn xuôi, câu văn nhiều tầng bậc nhưng chỉnh tề trong phép đối. Ngôn ngữ được
sử dụng trong Chiếu luôn trang trọng và mang tính khẳng định.
Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn là một bài Chiếu có kết cấu chặt chẽ, gồm
214 chữ (trong nguyên bản chữ Hán), ý tứ sâu xa, ngôn từ phong phú và thuyết
phục, Lý Công Uẩn đã bày tỏ với bề tôi và thần dân của mình hai vấn đề quan
trọng: Lý do phải dời đô và việc lựa chọn, xây dựng Kinh đô mới.
Phần đầu của bài Chiếu làm nhiệm vụ đặt vấn đề và có dung lượng câu chữ
lớn hơn phần sau. Điều đó là hợp lý bởi nó có nhiệm vụ thuyết phục hàng triệu thần
dân, đặc biệt là với những người mà quyền lợi đã gắn bó với Hoa Lư từ bao đời nay,
sức ỳ ở họ là rất lớn. Đó là chưa nói tới những lực lượng chống đối, những kẻ
quyền quý vừa bị tước đoạt ngôi bá chủ thiên hạ đang lẩn quất trong núi rừng


Hoa Lư hiểm trở, họ cũng đang chờ đợi thời cơ để lật ngược thế cờ từ tay vị vua
trẻ. Việc dời đô vì vậy ngoài những lý do cao cả mang ý nghĩa dân tộc, thời đại,
còn là một việc nên nhanh chóng tiến hành để giúp Lý Công Uẩn thoát khỏi áp
lực của các thế lực cũ, củng cố và khẳng định địa vị độc lập, tự chủ của mình ở
một miền đất mới.
Mở đầu bài Chiếu, Lý Công Uẩn đưa ra những dẫn chứng hùng hồn từ
sử sách Trung Hoa cho thấy việc dời đô xưa nay không hiếm nhưng thiên đô là
một việc lớn không thể chỉ tuân theo lợi ích vị kỷ của mỗi cá nhân. Việc làm của
các vua Bàn Canh nhà Thương, Thành Vương nhà Chu không phải là việc làm
tự tiện theo riêng mình mà với mục đích chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm,
mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới
theo ý dân, nếu thấy thuận lợi thì thay đổi. Đó là lý do khiến cho vận nước lâu
dài, phong tục phồn thịnh. Đây chính là mục đích của việc dời đô và cũng là
phương châm hành động của Lý Công Uẩn. Vị Hoàng đế vốn là một danh tướng
dũng mãnh đã mở đầu bài Chiếu bằng những kinh nghiệm xương máu rút ra từ
lịch sử để thuyết phục lòng người bằng lý lẽ hùng hồn chứ không phải bằng
quyền uy của một người đứng đầu thiên hạ. Ông khẳng định việc làm của mình
là vì lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển dài lâu của dân tộc, chọn
nơi trung tâm đất nước, trước hết là để tính kế lâu dài, đem lại ấm no cho con


cháu. Việc làm ấy là hoàn toàn thuận theo ý trời, hợp với lòng dân - những
người đã chán ghét cựu triều và đặt niềm tin vào triều đại mới sẽ đem lại sự ổn
định cho đất nước. Từ việc xác định rõ lý do và việc cấp bách phải dời đô, Lý
Công Uẩn đã nói đến chuyện trong nước: Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý
riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ
đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận
ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau
xót về việc đó, không thể không dời đổi. Nạn cát cứ đã thành tai họa của dân tộc
một thời. Một đất nước sẽ chưa thật sự trưởng thành một khi các vịhoàng đế
thắng trận, để củng cố địa vị và lực lượng cứ phải đóng đô cát cứ trên quê
hương mình, cố thủ giữ mình với một tầm nhìn thiển cận. Cố đô Hoa Lư với địa
thế núi rừng, sông nước hiểm trở, đã có một vai trò hết sức quan trọng trong
công cuộc thống nhất đất nước của người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh và là hậu
phương vững chắc cho chiến công oanh liệt của Lê Hoàn trong cuộc kháng
chiến chống quân xâm lược Tống, nhưng nay nó không còn phù hợp với công cuộc
xây dựng và phát triển một quốc gia hùng mạnh thời bình nữa. Địa thế Hoa Lư với núi
rừng bao bọc chỉ phù hợp với những trận chiến ở quy mô nhỏ, không có tầm bao
quát toàn cục đất nước, hợp với thế phòng thủ hơn tấn công, lại không phải ở nơi
trung tâm đất nước, giao thông chủ yếu chỉ bằng đường thủy. Cuối triều Tiền Lê,
sau khi Lê Hoàn mất, các hoàng tử chém giết lẫn nhau tranh giành ngai vàng gây
nên bao cảnh nồi da xáo thịt. Lê Long Đĩnh, vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê lại
là một bạo chúa, lấy việc chém giết, dâm dục làm vui. Đất nước rơi vào cảnh suy
thoái, trầm luân, lòng người ly tán. Trong một bối cảnh như vậy, việc thiên đô là
hợp lẽ tự nhiên, thuận theo lòng người. Nếu là một ông vua tầm thường, vị kỷ,
có lẽ Lý Công Uẩn đã cho dời đô về quê mình, cũng là quê hương của vị quân


sư đại tài Vạn Hạnh. Đó là châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang - vốn cũng là một nơi đô
hội, dân cư đông đúc, mùa màng tươi tốt, đất đai phì nhiêu, bằng phẳng. Nhưng
không, con người vì dân, vì nước ấy đã chọn Đại La. Việc làm đó đã thể hiện
tầm nhìn xa trông rộng, tầm nhìn chiến lược lâu dài của một bậc minh quân , đặt
trách nhiệm với non sông, đất nước lên trên mọi lợi ích cá nhân vị kỷ. Việc dời đô
và lựa chọn Kinh đô mới đã chứng tỏ bản lĩnh và sự lớn mạnh, trưởng thành của
dân tộc Việt trên bước đường phát triển của mình. Cả dân tộc đã giống như một
dòng sông lớn, dòng sông ấy đã băng mình ra biển cả đại dương, kiên quyết
vượt qua những thác ghềnh hiểm trở, nó không còn chịu uốn mình lẩn khuất
trong những mương mạch chật hẹp nữa. Việc dời đô khỏi Hoa Lư để xây dựng
Kinh đô mới, nơi trung tâm hội tụ khí thiêng của sông núi sẽ đưa dân tộc thoát ra
khỏi sự cát cứ vùng miền và cũng là thoát khỏi những nghĩ suy chật hẹp để
vươn mình lên những tầm tư tưởng lớn lao, tạo nên vị thế mới cho đất nước, sẽ
là tiền đề làm xuất hiện một thế hệ những người anh hùng mới, kết tinh tư tưởng
dân tộc và thời đại, tài giỏi thông tuệ về nhiều phương diện, mang dáng vóc và
uy danh của dân tộc Đại Việt. Lý Công Uẩn chính là đại diện cho thế hệ đầu tiên
của những con người khổng lồ về trí tuệ và thể chất đó. Tiếp nối ông sẽ là những
vị vua như Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, những danh tướng như Lý Thường
Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Phạm Ngũ Lão... Tiền đồ
tốt đẹp đáng tự hào ấy được bắt đầu từ ngày chiến thuyền của Lý Công Uẩn dời
rừng núi Hoa Lư để tiến về phía Bắc.
Lời lẽ mở đầu của bài Chiếu vừa hào hùng, có sự kết hợp giữa lẽ và
tình, với sự suy luận mạch lạc, đem lại cho người nghe, người đọc một nhận
thức sâu sắc về lẽ phải và sự hợp lý của việc phải dời đô. Sức thuyết phục của
bài Chiếu không ở chỗ dài lời, dàn trải. Thông qua phép đối, dưới hình thức văn
biền ngẫu, Lý Công Uẩn đã đưa ra những lập luận, lý lẽ và chứng cứ hết sức
thuyết phục. Đó không phải là những lời lẽ cứng nhắc, thuần túy mệnh lệnh của
bậc đế vương (vốn là văn phong quan phương của thể Chiếu) mà đó chính là lý
lẽ của sự thông tuệ, thấu hiểu, của niềm cảm thông, của nghệ thuật hùng biện
xuất phát từ lợi ích chung của dân tộc, là lời tâm tình bộc trực của một vị minh
quân. Sự kết hợp giữa lý và tình có sức thuyết phục cao, giàu cảm xúc, cùng với
lối xưng hô thân mật và nỗi niềm đau xót cho dân chúng và giang sơn đất nước
(Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời) sẽ là giọng điệu chung
xuyên suốt bài Chiếu.
Đoạn mở đầu của bài Chiếu đã tạo được niềm tin tưởng trong lòng người
về mục đích cao cả của việc cần thiết phải dời đô. Nhưng đoạn tiếp theo không
kém quan trọng là phải thuyết phục được muôn dân chọn thành cổ Đại La để xây
dựng Kinh đô mới. Cả hai phần đều hết sức thiết yếu, hỗ trợ lẫn nhau, sự thành
công của nhiệm vụ thứ nhất sẽ là tiền đề cho thắng lợi của nhiệm vụ tiếp theo.
Chỉ một thời gian ngắn, sau khi được quần thần đưa lên ngai vàng, Lý
Công Uẩn đã có ý định dời đô. Ý định đó nảy sinh vào tháng Giêng thì đến tháng
Bảy mùa thu năm Canh tuất (1010) công cuộc vĩ đại đó đã được tiến hành. Rõ ràng


bên cạnh sự anh minh, Lý Công Uẩn còn là một ông vua có tính cách quyết đoán
và táo bạo. Đại La dưới con mắt của nhà chiến lược thiên tài Lý Công Uẩn có
một vị trí thuận lợi đủ đường. Nơi đây đã từng là kinh đô một thuở dưới thời cai
trị của Cao Biền, một người nổi danh về tài xem phong thủy. Nơi ấy cũng đã
từng chứng kiến những chiến công oanh liệt của các thế hệ con dân đất Việt
đánh đuổi quân đô hộ để giải phóng giang sơn đất nước. Và cũng không phải là
ngẫu nhiên khi Ngô Vương sau khi đánh đuổi quân Nam Hán, giành lại độc lập
cho dân tộc đã chọn mảnh đất Cổ Loa cao ráo xưa kia của Thục đế An Dương
Vương - một địa danh rất gần thành Đại La để định đô. Nhưng điều quan trọng
còn là bởi: Đại La ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi.
Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng
mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt,
muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là
thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi
kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Mục đích cuối cùng của việc lựa chọn
kinh đô mới cũng nhất quán với mục đích của việc
dời đô khỏi Hoa Lư, đó là vì lợi ích của dân và tương lai lâu bền của xã tắc . Có
những người phê phán cái nhìn có tính chất phong thủy của Lý Công Uẩn khi
chọn mảnh đất Đại La để xây dựng Kinh đô mới, nhưng cần phải nói rằng chính
cái nhìn có tính chất linh nghiệm đó (ngày nay khoa học đã chứng minh vận
dụng phong thủy trong việc chọn thế đất trong xây dựng và thiết kế là một cách
lựa chọn cần thiết, có tính khoa học, tránh được những tổn thất không đáng có
do không hiểu biết về địa hình và thổ địa) đã góp phần quan trọng vào việc tìm ra
cho dân tộc một vùng đất xứng danh để xây dựng Kinh đô cho muôn đời. Một
Kinh đô vừa ở tư thế tấn công, lại vừa ở vị trí phòng thủ thuận lợi trong thế đối
đầu với các thế lực xâm lược phương Bắc. Đó là nơi trung tâm của bốn phương
đất nước, giao thông thuận tiện, xung quanh Kinh đô là những vùng đất cổ trù phú
lâu đời của tộc Việt với những truyền thống tốt
đẹp đã tồn tại hàng trăm năm. Đó chính là chốn địa linh, địa lợi của đất Việt, nơi
trung tâm hội tụ tinh hoa của giống nòi. Sau một nghìn năm dựng nước và giữ
nước, lịch sử đã chứng minh rằng cái nhìn của Lý Công Uẩn là cái nhìn xuyên thấu
lịch sử, cái nhìn của bậc hào kiệt biết mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời.
Truyền thuyết kể lại: Khi đoàn thuyền của nhà vua vừa đến chân thành
Đại La thì rồng vàng hiện ra và bay lên trời. Dân tộc Việt từ ngàn xưa đã coi rồng
là con vật linh thiêng, là tổ tiên của mình (con Rồng cháu Tiên). Hình ảnh rồng là
biểu hiện mạnh mẽ và tập trung nhất cho sức mạnh tiềm tàng và truyền thống
của cả dân tộc. Trước điềm lành, biểu hiện của thiên thời, địa lợi, nhân hòa đó, Lý
Công Uẩn đã xúc động đặt tên cho Kinh đô mới là Thăng Long (có nghĩa là rồng
bay lên). Tại sao lại là thăng longchứ không phải là hạ long? Bởi cái tên Thăng
Long mang nhiều ý nghĩa trọng đại. Rồng vàng bay lên là biểu hiện của sự chào
đón bậc đế vương đến vùng đất linh thiêng. Nó biểu tượng cho cái mới nhưng
cũng chính là sợi dây nối liền hiện tại, tương lai với truyền thống. Đó cũng là biểu


hiện của sự phát triển, lớn mạnh, biểu tượng của sự khởi đầu đi lên, bay lên. Từ
nay cái tên Đại La sẽ đi vào dĩ vãng, cái cũ sẽ mất đi và cái mới với một sức
mạnh thần kỳ sẽ bắt đầu. Lịch sử Đại Việt sẽ mở sang một trang mới và Thăng
Long - thành phố Rồng bay sẽ trở thành Kinh đô ngàn đời của đất nước.
Kết thúc bài Chiếu vị vua anh minh viết: Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi
của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào? Câu nói ấy thể hiện tinh thần
dân chủ vốn là truyền thống của cộng đồng Việt trong những giờ phút quyết định
của lịch sử.
Chiếu dời đô là sự thể hiện ý chí của toàn dân tộc, là kết tinh cho tinh thần
và văn hóa của thời đại. Đó là tác phẩm đầu tiên mở đầu cho sự hình thành một hệ
tư tưởng mới của Đại Việt: Tinh thần hòa đồng mang màu sắc dân chủ kết hợp
các tri thức đỉnh cao của dân tộc và khu vực, giữa truyền thống yêu nước, tự
hào dân tộc, tinh thần dân chủ nhân ái vốn chứa đựng trong cộng đồng Việt từ
bao đời với các hệ tư tưởng và tôn giáo. Trước hết là với Phật giáo từ bi bác ái ,
vốn đóng vai trò như quốc giáo, với Đạo giáo (thuyết phong thủy trong việc lựa
chọn và xây dựng Kinh đô), và đặc biệt là với Nho giáo, biểu hiện qua tư tưởng
xây dựng một nhà nước tập quyền trên vâng mệnh trời, dưới thuận ý dân, tạo cơ
sở cho sự thống nhất đất nước. Rồi đây tư tưởng hòa đồng, kết tinh tinh hoa
thời đại ấy sẽ là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển và tồn vong của đất nước,
tạo nên một thời đại Lý - Trần oanh liệt trong lịch sử dân tộc.
Chiếu dời đô là áng văn chương có vẻ đẹp toàn diện: Đó là vẻ đẹp hài
hòa của sự thông tuệ, của tấm lòng yêu nước thương dân, của sự hy sinh và
lòng quả cảm, của lòng tự tin, tự hào dân tộc, của sự suy ngẫm cho hiện tại và
tương lai, của sự tiếp nối truyền thống, của khát vọng cháy bỏng về một đất nước
độc lập, thống nhất, thịnh vượng và hùng mạnh. Bài Chiếu vừa là áng văn chính
luận súc tích, có kết cấu chặt chẽ, lập luận lôgic, vừa thể hiện lòng nhân ái bao la
với thứ ngôn từ hùng biện, thuyết phục và độ lượng, nhân ái mà lại mang tinh
thần đối thoại dân chủ.

LÝ CÔNG UẨN VÀ CHIẾU DỜI ĐÔ
Lý Công Uẩn sinh ngày 12 tháng Hai năm Giáp tuất
(974), mất ngày 3 tháng Ba năm Mậu thìn (1028). Ông
người làng Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, nay là làng Dương
Lôi, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ,
từ 3 tuổi làm con nuôi của Thiền sư Lý Khánh Vân (chùa
Cổ Pháp), sau làm tiểu ở chùa Lục Tổ (còn gọi chùa Tiêu
Sơn, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn) do Thiền
sư Lý Vạn Hạnh trụ trì. Nhờ hai vị thiền sư nổi tiếng họ Lý
trực tiếp nuôi dạy, Công Uẩn đã trở thành một thanh niên
tuấn tú, văn võ song toàn, được sung vào đội quân cấm vệ
triều Tiền Lê (980-1009). Về sau ông trở thành một trong


những nhân vật trụ cột của nhà Tiền Lê, làm quan đến chức
Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Năm 1009, sau khi vua Lê
Long Đĩnh (Ngọa Triều) qua đời, với sự ủng hộ của các
thiền sư (đứng đầu là Thiền sư Vạn Hạnh), Lý Công Uẩn
được các quan trong triều đương thời (đứng đầu là quan
Chi hậu Đào Cam Mộc) suy tôn làm vua vào ngày Quý
Sửu, tháng Mười, lập ra nhà Lý, lấy năm sau (1010) làm
niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất. Trong 20 năm ở ngôi
(1009-1028), ngoài những cống hiến quan trọng, có ý nghĩa
cải cách đối với đất nước trên nhiều phương diện: chính trị,
kinh tế, văn hóa…, Lý Công Uẩn đã có một đóng góp mang
tầm vóc lịch sử vô cùng lớn, đó là việc ông quyết định dời
đô từ Hoa Lư ra Đại La (Thăng Long). Thiên đô
chiếu(Chiếu dời đô) ra đời trong hoàn cảnh ấy, trở thành tác
phẩm tiêu biểu nhất cả về nội dung và hình thức cho thể
loại văn chiếu và có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn
học cổ dân tộc.
Nước Việt Nam vào đầu thế kỷ XI đã diễn ra một sự
kiện lịch sử đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự phục hưng
dân tộc, đó là cuộc dời đô từ Hoa Lư về Đại La (tức Thăng
Long sau này). Sự kiện đó gắn liền với tên tuổi và sự
nghiệp của Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), vị vua sáng nghiệp
triều Lý (1009 -1225), một trong những triều đại hùng
mạnh nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.
Lý Công Uẩn lên ngôi, vương triều Lý thành lập,
công lao đó trước hết thuộc về Thiền sư Lý Vạn Hạnh - bậc
cao tăng giữ vai trò cố vấn chính trị tối cao đối với nhà tiền
Lê, một người “đa mưu túc trí” và đặc biệt nhạy cảm với
thời cuộc. Ngay từ khi Công Uẩn còn nhỏ, ông đã phát hiện
ra ở cậu bé những phẩm chất đặc biệt và nhận xét: “Đứa bé
này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải
nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”. [1]
Có lẽ cũng từ sự phát hiện đó, Lý Vạn Hạnh đã cùng
với Thiền sư Lý Khánh Văn (em trai ông, cũng là bậc cao
tăng có uy tín đương thời) dày công dạy dỗ, chuẩn bị cho
Lý Công Uẩn những phẩm chất và năng lực cần thiết, rồi
đưa vào triều làm một chức võ quan khi Công Uẩn mới 20
tuổi.
Vốn là người có sức khỏe, thông minh, trung hậu và
chí lớn, Lý Công Uẩn ngày càng được vua Lê tin dùng và
có uy tín trong triều. Sự kiện có ảnh hưởng quan trọng đối


với sự thăng tiến của Lý Công Uẩn đó là năm 1005, vua Lê
Đại Hành qua đời, các hoàng tử lao vào cuộc tranh ngôi,
đánh nhau suốt 8 tháng trời. Thái từ Long Việt vừa lên làm
vua được 3 ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cung
giết đi để đoạt ngôi. Khi Long Việt bị giết, những kẻ bề tôi
thân cận đều hoảng sợ bỏ chạy, duy chỉ có một người ở lại,
ôm lấy xác vua mà khóc. Người đó là Lý Công Uuẩn. Cảnh
tưởng ấy đã lọt mắt Lê Long Đĩnh, người chủ mưu cuộc sát
hại, nhưng Long Đĩnh không giết Công Uẩn, mà còn khen
là người “trung”, tin dùng và phong cho ông chức Tứ
sương quân Phó chỉ huy sứ, sau thăng đến Tả thân vệ Điện
tiền chỉ huy sứ.[2]
Bản lĩnh và phẩm chất trung hậu rõ ràng cũng đã
giúp cho Lý Công Uẩn gặp thuận lợi trên hoạn lộ. Và, trong
khi hầu hết bá quan văn võ trong triều lẫn chúng dân đều đã
chán ghét nhà Tiền Lê; trong khi ông vua “Ngọa Triều” Lê
Long Đĩnh ngày càng sa đọa và lâm bệnh nặng, thì trong
dân gian, những bài “sấm” kỳ lạ, những bài kệ có tính chất
sấm truyền xuất hiện. Những bài sấm, bài kệ đó đều được
Thiền sư Lý Vạn Hạnh đọc lại và cắt nghĩa cho Lý Công
Uẩn nghe (mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đều là do
Vạn Hạnh làm). Để khích lệ Lý Công Uẩn sẵn sàng tinh
thần nắm giữ ngôi báu, Thiền sư Vạn Hạnh nói: “Thân vệ
là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại nắm binh
quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệ
thì còn ai đương nổi nữa”. 2 Rồi những cuộc vận động ngầm
trong triều của quan Chi hậu Đào Cam Mộc - một người
quyết đoán và chịu ảnh hưởng của Vạn Hạnh…Tất cả đều
nhằm chuẩn bị dư luận và hậu thuẫn tích cực cho Lý Công
Uẩn mọi điều kiện để có thể kế vị ngai vàng.
Ngày Tân hợi tháng Mười năm Kỷ dậu (1009), Lê
Long Đĩnh mất, Lý Công Uẩn với vai trò Tả thân vệ Điện
tiền chỉ huy sứ cùng với Nguyễn Đê, Hữu thân vệ Điện tiền
chỉ huy sứ, mỗi người cầm đầu 500 quân Tùy long vào
cung canh giữ. Giữa lúc tình hình trong triều diễn biến
khẩn trương và đặc biệt nghiêm trọng, Đào Cam Mộc nói
với Lý Công Uẩn: “Người trong nước ai cũng nói họ Lý
khởi nghiệp lớn, lời sấm hiện ra rồi, đó là cái họa không thể
che dấu được nữa. Chuyển họa làm phúc, chỉ trong sớm
chiều. Đây là lúc trời trao người theo, Thân vệ còn nghi
ngại gì nữa?”. Công Uẩn nói: “Tôi đã hiểu rõ ý ông, không
khác gì ý của Vạn Hạnh.”[3]. Đó cũng là lý do để ngai


vàng khó có thể lọt khỏi tay nhân vật vốn đã được giới sư
sãi và các quan lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo ủng hộ.
Vì vậy, ngay sau khi Long Đĩnh mất, quan Chi hậu
Đào Cam Mộc đã cùng với những người chủ sự họp bàn,
chuẩn bị cho Lý Công Uẩn đăng quang. Ngày Quý sửu,
tháng Mười năm Kỷ dậu (1009), Lý Công Uẩn chính thức
lên làm vua, lập ra nhà Lý. Cuộc chuyển giao quyền lực từ
họ Lê sang họ Lý nhìn chung đã diễn ra một cách êm thấm,
hòa bình. Một triều đại mới, mạnh mẽ và tiến bộ hơn đã
thay thế cho triều Tiền Lê vốn đã suy bại từ nhiều năm
trước. Đất nước bước vào thời kỳ phục hưng và phát triển.
Nguồn gốc “Nhà chùa” và tư tưởng bác ái của Phật
giáo chắc chắn đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách
và chính sách cai trị của Lý Thái Tổ. Nhận xét về ông thời
kỳ ở ngôi, các sử thần nhà Lê sau này viết: “Vua ứng mệnh
trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoan
thứ nhân từ, tinh tế hòa nhã, có lượng đế vương. ” 2
Công việc đầu tiên của Lý Thái Tổ ngay sau khi lên
ngôi là đại xá cho thiên hạ, mở cửa nhà ngục, xóa bỏ những
luật lệ hà khắc, xuống chiếu từ nay ai có việc tranh kiện
cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết. Tiếp đó, truy
phong cho cha, mẹ, sắp đặt lại bộ máy nhà nước, phong
chức tước cho những người có công với việc lập ngôi, cho
những người ruột thịt trong hoàng tộc và ban y phục cho
các tăng đạo.
Trong quá trình xây dựng vương triều Lý ở buổi
đầu, các Thiền sư Vạn Hạnh và Khánh Văn vẫn tiếp tục giữ
vai trò quan trọng. Lý Khánh Văn được phong làm Quốc
sư. Còn về Thiền sư Lý Vạn Hạnh, cho đến nay tại chùa
Thiên Tâm (tức chùa Tiêu Sơn, Lục Tổ) vẫn còn bia đá Lý
gia linh thạch, tượng đồng (Thiền sư Vạn Hạnh) và bài vị
ghi rõ: “Lý triều nhập nội tể tướng Lý Vạn Hạnh, thiền sư
thần vị”.3
Một trong những công việc quan trọng trong buổi
đầu thiết lập vương triều, cũng như trong toàn bộ sự nghiệp
của Lý Thái Tổ đó là việc dời đô. Nhận thấy thành Hoa Lư
chật hẹp, “không đủ làm chỗ ở của bậc đế vương“, ngay từ
khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã quyết định tìm đất để lập
đô mới.


Trong lịch sử nước ta, kể từ nhà nước đầu tiên - Nhà
nước Văn Lang cho đến nhà nước phong kiến Lý, đã diễn
ra nhiều cuộc định đô và dời đô, phản ánh những yêu cầu
khác nhau của từng thời kỳ lịch sử.
Thời kỳ Văn Lang, các vua Hùng định đô ở đất Văn
Lang (hay Phong Châu, nay là vùng Bạch Hạc, Việt Trì,
Phú Thọ) đánh dấu việc hoàn thành chặng đường đầu tiên
của công cuộc “xuống núi” của cha ông ta và cắm mốc cho
sự hình thành quốc gia dân tộc. Trong bối cảnh lịch sử đất
nước cách đây trên dưới 2500 năm, đó là một sự lựa chọn
đích đáng, bởi kinh đô Văn Lang nằm ở đỉnh của tam giác
châu thổ Bắc bộ, nơi hợp lưu của ba con sông (sông Lô,
sông Hồng, sông Đà), kinh tế, cư dân phát triển, giao lưu
với các vùng, miền trong nước thuận lợi. Văn Lang không
chỉ xứng đáng là đầu não chính trị của cả nước, mà còn
đóng vai trò một trung tâm kinh tế, một trạm dịch - trung
chuyển các sản vật từ miền thượng du xuống vùng hạ bạn
và ngược lại, quyết định không nhỏ đến sự phát triển của
đất nước ở buổi ban đầu.
Thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán An
Dương Vương dời đô xuống miền Cổ Loa (Đông Anh-Hà
nội). Đây là cuộc dời đô lần thứ nhất, từ miền trung du
xuống vùng trung châu đồng bằng, phản ánh xu thế phát
triển đi lên của dân tộc. Cổ Loa xứng đáng là kinh đô đất
nước ở thời kỳ mới, khi mà cha ông ta đã đủ điều kiện để
chiếm lĩnh vùng châu thổ phì nhiêu và tiến ra biển, hoàn
thiện một mô hình quốc gia dân tộc dựa trên nền tảng văn
minh nông nghiệp lúa nước.
Thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN-938 ), nước mất, kinh
đô không còn, nhưng các đô thị trung tâm của đất nước vẫn
hình thành. Ở nửa đầu thiên niên kỷ I, các đô thị trung tâm
đó chính là Luy Lâu, Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh). Đến
nửa sau của thiên niên kỳ này, vai trò trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hóa của đất nước dưới ách cai trị của các nhà
Tùy, Đường lại thuộc về Tống Bình - Đại La. Tuy vậy, nền
cai trị của chính quyền Hán tộc chưa bao giờ bình yên và
có đến 2 lần bị chia cắt bởi các cuộc khởi nghĩa giành độc
lập của nhân dân ta, dẫn đến sự ra đời của kinh đô Mê Linh
(nay thuộc Vĩnh Phúc) của Hai Bà Trưng vào những năm
40-43 và kinh đô nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế giữa thế
kỷ VI.


Đáng lưu ý là việc lập đô của Lý Nam Đế (tức Lý
Bí). Khi mới khởi binh chống ách đô hộ nhà Lương, khí thế
rất mạnh, quân khởi của Lý Bí tiến đánh thành Long Biên,
khiến Tiêu Tư (Thứ sử Giao Châu) hoảng sợ, phải chạy về
Quảng Châu. Thành Long Biên nằm ở phía Tây Bắc tỉnh
Bắc Ninh ngày nay, trong khu vực Thành phố Bắc Ninh và
huyện Yên Phong. Thành Long Biên từ khi Lý Bí chiếm
được (năm 542) đã trở thành trung tâm của lực lượng khởi
nghĩa. Năm 544, tháng Giêng, Lý Bí lên ngôi, tự xưng là
Nam Việt Đế (sử gọi là Lý Nam Đế), đặt niên hiệu là Thiên
Đức, lập triều đình trăm quan, đặt tên nước là Vạn Xuân,
đóng đô ở Ô Diên (nay thuộc xã Hạ Mỗ, huyện Đan
Phượng, Hà Nội), dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội.
Như vây, vùng đất trung tâm đồng bằng châu thổ Bắc Bộ
(tức Hà Nội ngày nay) một lần nữa (từ sau cuộc định đô
của An Dương Vương ở Cổ Loa) trở thành đất lập đô của
các vương triều độc lập.
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đánh bại quân
Nam Hán, năm 939 Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ
Loa-kinh đô nước Âu Lạc xưa. Khu vực Hà Nội lần thứ 3
được trở thành đất đế đô, và Cổ Loa cũng là kinh đô đầu
tiên của nước ta ở thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập. Tuy
nhiên, nền thống nhất quốc gia chưa thật sự bền vững và
việc định đô ở vùng đất trung tâm đồng bằng vẫn chưa ổn
định. Năm 944, Ngô Quyền mất, chính quyền nhà Ngô suy
yếu, các phe phái phong kiến nổi lên “tranh bá đồ vương”.
Nhờ có Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn, nền thống nhất đất nước
mới được tái lập.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế (sử gọi
là Đinh Tiên Hoàng Đế), đặt quốc hiệu là Đại Việt [4], xác
lập kinh đô mới ở Hoa Lư (khu vực Trường Yên, Hoa Lư,
Ninh Bình ngay nay), xây cung điện, chế triều nghi và định
phẩm hàm cho bá quan văn võ.
Vậy lý do gì để Đinh Tiên Hoàng lập đô ở Hoa Lư,
và vai trò quốc đô của Hoa Lư dù không dài (42 năm),
nhưng cũng trải suốt hai triều đại Đinh (968-979) và Tiền
Lê (980-1009). Sách Việt sử thông giám cương mục
chép: “Nhà vua trước đóng kinh đô ở thôn Đàm nhưng vì ở
đây đất chật hẹp lại không có thế hiểm, nên mới dựng kinh
đô mới ở Hoa Lư …”2. Như vậy, một trong những lý do để
Đinh Tiên Hoàng chọn vùng đất Hoa Lư lập đô đã được sử


cũ chỉ ra, đó là: không quá chật chội, và chủ yếu là có thế
hiểm yếu.
Cũng bởi thế, kinh đô Hoa Lưu trước hết là một
quân thành, đúng hơn, là một căn cứ phòng thủ. Dân tộc
vừa ra khỏi đêm trường Bắc thuộc và hiểm họa ngoại xâm
vẫn còn thường trực; các vương triều Đinh, Tiền Lê đều
vừa non trẻ, vừa mới mẻ. Tất cả đều khiến ông cha ta
không thể không tính đến việc phòng thủ. Không những
thế, ở nước ta thế kỷ X chính là một thế kỷ từ đầu đến cuối
“rền vang tiếng trống trận và ngựa hí quân reo”. Tất cả các
thập kỷ và tháng năm của nó đều căng thẳng, sôi động với
những kế hoạch và diễn biến bạo lực. Trong bối cảnh ấy,
khi mà nền thống nhất quốc gia chưa vững chắc, khi mà
chính thể trung ương tập quyền chưa thật sự vững mạnh,
người ta rất cần một vùng đất lập đô, có thể không rộng
lắm, nhưng phải có khả năng phòng thủ. Đinh Bộ
Lĩnh, người sáng lập kinh đô Hoa Lư, và Lê Hoàn, người
tiếp tục sử dụng Hoa Lư làm kinh đô - đều là những nhà
quân sự lớn. Bởi thế, không lấy làm lạ khi các ông đều lựa
chọn Hoa Lư và khai thác vùng đất này từ lợi thế quân sự.
Trên thực tế, địa thế tự nhiên của Hoa Lư đáp ứng
đầy đủ cho nhu cầu phòng thủ đó. Những dãy núi đá vôi
hiểm trở, quây gần kín, khoanh lại vào trong lòng núi
những thung lũng khá bằng phẳng. Chỉ cần kết nối bịt kín
kẽ hở giữa các dãy núi bằng những đoạn hào lũy là có ngay
được một vòng thành lợi hại, bảo vệ vững chắc cho các
cung điện, kho tàng, doanh trại… được xây dựng bên trong.
Thành Hoa Lư rộng khoảng 300 hécta, chia làm hai khu
vực; khu thành Ngoại và khu thành Nội, với tất cả 10
trường thành nhân tạo.
Nặng về khía cạnh phòng thủ, nhưng Hoa Lư vẫn có
những điều kiện nhất định về giao thông để liên lạc với các
vùng miền trong nước, đảm bảo vai trò của một kinh đô.
Hoa Lư nằm giữ hai tuyến đường bộ quan trọng bậc nhất
của nước ta thời ấy, đó là con đường cổ thiên lý mã ở phía
Đông (nay là quốc lộ 1A) chạy dọc dài đất nước, cách kinh
thành chừng 5 km chiều ngang; và con đường thượng đạo
(đường Lai Kinh) cũng rất cổ, có trước cả đường thiên lý
mã, chạy trên các triền núi phía Tây, nối miền Bắc với miền
Trung đất nước, được sử dụng cho đến tận thế kỷ XVIII
mới bị sạt lấp. Hồi thế kỷ X, từ Hoa Lư đều có các đường


ngang nối với các tuyến đường cổ nói trên. Năm 967, chính
Đinh Bộ Lĩnh đã kéo quân từ Hoa Lư qua Đồng Chiêm,
Hang Nước (sát Hương Sơn) tới Đỗ Động (Thanh Oai) để
đánh dẹp sứ quân của Đỗ Cảnh Thạc bằng con đường cổ
phía Tây.
Về đường thủy, một con sông cổ với nhiều tên gọi:
Đại Hoàng, Thủy Tiên, sông Điềm…song phổ biến nhất là
vẫn tên gọi Hoàng Long, chạy ngang qua thung lũng Hoa
Lư và trở thành tuyến đường thủy quan trọng bậc nhất nối
liền quốc đô với các địa phương. Theo sông Hoàng Long
có thể ngược lên miền núi, đên tận miền biên giới phía Bắc
đất nước, hay xuôi về biển. Năm 990, chính các sứ thần nhà
Tống từ đất Trung Hoa đã theo theo đường biển vào sông
Bạch Đằng, qua sông Luộc, nhập sông Đáy (ở Phủ Lý) rồi
đến cửa sông Hoàng Long (ở cầu Gián Khẩu) và theo sông
này mà tới kinh thành Hoa Lư yết kiến vua Lê Đại Hành.
Một nhánh sông Hoàng Long là sông Sào Khê (Khe Sào)
chảy uốn lượn vào kinh thành. Tương truyền, cũng từ bến
Sào Khê này, vua Thái Tổ nhà Lý đã giong thuyền về Đại
La, mở đầu cho cuộc dời đô vĩ đại vào năm 1010.
Từ kinh thành Hoa Lư, bằng đường thủy có thể theo
sông Chanh vào sông Trường, sông Vân mà ra biển ở các
cửa Đại Hoàng, cửa Tiểu Khang, cửa Càn, cửa Thần Phù...,
gần hơn cả con đường theo sông Hoàng Long ra sông Đáy
rồi cũng ra biển. Ra tới biển thì ngược lên Bắc hay xuôi vào
Nam cũng đều thuận lợi.
Như vậy, kinh thành Hoa Lư nằm giữa hai trục
đường bộ xuyên Việt, lại gắn với mạng lưới sông ngòi, bởi
thế dù nằm sâu trong nội địa, giữa một thung lũng núi đá
vôi hiểm trở nhưng vẫn dễ dàng liên lạc với mọi miền.
Giao thông cũng giúp cho Hoa Lư có điều kiện nhất
định để phát triển kinh tế đô thị. Trong kinh thành không có
khu dân cư với các phường nghề và chợ búa, song phần
“thị” của Hoa Lư lại nằm bên ngoài thành, nơi bến sông
Hoàng Long với kho tàng, bến bãi, thuyền bè và hoạt động
buôn bán tấp nập. Khảo cổ học đã tìm thấy chứng tích về
khu dân cư và các hoạt động buôn bán ở mạn sông Hoàng
Long, đoạn giữa chân núi Nghẽn và chùa Bà Ngô, cách
trung tâm thành Hoa Lư khoảng 2 km, dưới độ sâu độ sâu
từ 1 đến 3-4m. Đó là các đồ đất nung và gốm tráng men,
tiền cổ, gạch: “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, “Giang


Tây quân”…, gáo múc kim loại (dùng cho lò nấu đồng),
dấu vết của thóc, gạo, xương voi, ngựa (động vật chuyên
chở)…
Về phong thủy, thành Hoa Lư có núi Trường Yên
phía trước làm tiền án, núi Đại Vân phía sau làm hậu chẩm,
có hệ thống núi đá xung quanh bao bọc, địa thế vững chãi.
Như thế có nghĩa là Hoa Lư cũng có đủ điều kiện để
thực hiện vai trò của một kinh đô. Sử sách cũ từng miêu
tả: "Hoa Lư là nơi núi non trùng điệp. Núi trong sông, sông
trong núi. Căn cứ thủy bộ rất thuận tiện. Sau lưng là rừng,
trước mặt là đồng bằng, xa nữa là biển cả... Nơi đây non
sông tráng lệ, phong thủy hài hòa xứng đáng chọn để dựng
đô được”.
Đó cũng là lý do chủ yếu nhất để Đinh Tiên Hoàng
chọn Hoa Lư làm kinh đô, và các vua tiền Lê về sau vẫn
lấy nơi này làm quốc đô cho triều đại mình.
Thế nhưng, một vấn đề đặt ra: rằng tại sao Hoa Lư
đáp ứng được yêu cầu lập đô của các vị vua sáng nghiệp
nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhưng lại không thỏa mãn yêu cầu
của vị vua sáng nghiệp nhà Lý? Câu trả lời ở đây là: vấn đề
thời đại. Yêu cầu của các vua sáng nghiệp không đơn thuần
chỉ là yêu cầu của cá nhân, dòng tộc, mà còn là yêu cầu của
thời đại. Bước sang đầu thế kỷ XI, sau 3 triều đại: Ngô,
Đinh, Tiền Lê có vai trò đặt móng xây nền cho nền độc lập,
nhưng khi sự thống thống nhất quốc gia đã tương đối ổn
định, đất nước cần phải bước sang thời kỳ mới, phục hưng
và cất cánh. Lý Thái Tổ cùng với các vị quân sư của ông
(như các Thiền sư Vạn Hạnh, Khánh Văn…) đã nhìn ra yêu
cầu lịch sử ấy. Để thực hiện được yêu cầu mới của lịch sử,
vấn đề đặt ra là phải tìm được vùng đất mới để đóng đô,
khả dĩ thực hiện tốt hơn vai trò của môt trung tâm đất nước
ở thời kỳ phát triển. Kinh đô mới không chỉ là đầu não về
chính trị, mà còn là đầu mối về kinh tế, nơi hội tụ văn hóa
và khí thiêng sông núi; không chỉ lợi về đối ngoại mà còn
phù hợp với triết lý giữ nước mới trong kháng chiến chông
ngoại xâm, chứ không chỉ dùng làm căn cứ thủ hiểm cho
các cuộc nội chiến như ở thời kỳ trước đó.
Vậy đâu là vùng đất lý tưởng cho Lý Thái Tổ dựng
đô mới, xác lập vị thế cao hơn cho triều đại của ông và cho
nước Đại Việt? Đó chính là vùng đất Đại La, trung tâm của


tam giác châu thổ Bắc Bộ, rất gần với châu Cổ Pháp quê
hương của họ Lý-dòng họ đang nắm ngai vàng.
Như đã trình bày, vùng đất trung tâm của châu thổ
Bắc Bộ (tức Hà Nội ngày nay) từ thế kỷ III TCN, thế kỷ VI,
thế kỷ X đã từng là đất đóng đô của lần lượt các triều An
Dương Vương, Lý Nam Đế và Ngô Vương. Các cố đô Cổ
Loa (của nhà Thục, nhà Ngô), Ô Diên (nhà tiền Lý) đều
nằm kề cận đất Tống Bình-Đại La. Khoảng những năm
454-464 thời Bắc thuộc, huyện Tống Bình ra đời, cùng với
trị sở của nó là thành Tống Bình. Có tài liệu cho rằng Lý
Nam Đế đã từng cho xây dựng một tòa thành bằng tre gỗ ở
ven sông Tô Lịch, khu vực thuộc về huyện Tống Bình.
Tuy nhiên, cho đến hết thời thuộc Tùy (581-619),
đầu thời thuộc Đường (618-907), cơ quan quyền lực cao
nhất của chính quyền Hán tộc ở nước ta vẫn đóng ở thành
Long Biên (trị sở Giao Châu). Năm 766, sau khi nhà
Đường thành lập An Nam Đô hộ phủ, phủ Đô hộ mới được
chuyển từ thành Long Biên về thành Tống Bình. Từ đây,
thành Tống Bình có điều kiện để phát triển, trở thành đô thị
lớn nhất của nước ta thời bấy giờ.
Năm 767, Kinh lược sứ Trương Bá Nghi cho khởi
công xây dựng thành mới tại Tống Bình, gọi là La Thành,
cao 2 trượng 2 thước, tức 7,70 mét. Thành có cửa ở ba
hướng: hướng Đông và Tây mỗi hướng có 3 cửa, mỗi cửa
đều có lầu; hướng Nam có 5 cửa. Trong thành xây 20 tòa
nhà. Năm 808, Kinh lược sứ Trương Châu lại sửa sang La
Thành, xây thêm 30 gian nhà có lầu để chứa trên 300.000
khí giới.
Năm 866, tự coi như đã hoàn toàn bình định được
An Nam, nhà Đường đổi nước ta từ Đô hộ phủ (An Nam đô
hộ phủ) thành Tĩnh hải quân, ngang hàng với các đơn vị
hành chính cùng cấp khác của Trung Hoa, phân biệt với các
vùng đất thuộc địa, ngoại vi như An Bắc, An Đông, An Tây.
Cao Biền được cử sang làm Tiết độ sứ, đã cho sửa sang, mở
rộng La Thành với quy mô lớn hơn để làm thủ phủ Tĩnh
Hải quân. Từ đó La Thành được gọi là Đại La Thành.
Theo Lĩnh Nam chích quái, khi thành vừa đắp xong,
một buổi sớm Cao Biền dạo xem phía cửa Đông thì bỗng
thấy trời nổi cơn giông gió rất mạnh, khí đất ngùn ngụt bốc
lên, ánh sáng chói lòa. Một dị nhân áo màu sặc sỡ, dáng


điệu phi thường, cưỡi con rồng đỏ lơ lửng giữa mây khói,
khí bốc một hồi lâu mới tan. Biền kinh sợ, cho là ma quỷ,
muốn thiết đàn để cầu cúng. Đêm ấy, Biền nằm mộng thấy
có thần nhân đến nói rằng: "Ông đừng có nghi ngờ, ta
không phải là yêu khí đâu. Ta là Long Đỗ Vương Chính khí
thần. Vì muốn xem kỹ thành nên mới hiện ra đó thôi!".
Biền tỉnh dậy, hôm sau họp đám dưới quyền than rằng: "Ta
không khuất phục được người phương xa chăng? Đến nỗi
để cho loài ngoại quỷ dòm ngó điều không hay của mình
ru!". Có người khuyên Biền lập đàn và dùng sắt nghìn cân
đúc tượng theo hình dạng thần nhân để làm bùa yểm. Biền
y theo kế đó. Vừa đọc thần chú bỗng trời đất mù mịt, mưa
gió giật đùng đùng, tượng sắt nát vụn và bay tan tác lên
không trung. Biền sợ hãi, từ đấy có ý muốn về phương Bắc.
Người đương đời lấy làm lạ, bèn lập đền thờ thần nhân ở
mạn phía Đông thành. Cũng từ đấy, thành Đại La còn có
tên gọi khác, đó là thành Long Đỗ, tên của vị thần cai quản
tòa thành.
Truyền thuyết nói trên cho thấy rằng, cái vượng khí
đế vương (hay cái ý chí độc lập ) của nước Nam ta (tượng
trưng là thần Long Đỗ) còn mạnh lắm, lấn át cả cái tà khí
phương Bắc, khiến cho Cao Biền vốn là nhà phong thủy,
đồng thời cũng là một phù thủy cao tay của Trung Hoa phải
hoảng sợ. Một khi cái vượng khí đế vương còn mạnh thì
nước nhà sẽ có cơ hội độc lập, Đại La sẽ trở thành quốc đô.
Từ khi chế độ Bắc thuộc chấm dứt (năm 938), trong
vòng hơn 70 năm (939-1010), thành Đại La chỉ còn là một
“đô thành cũ”. Không có cơ quan cai trị nào đóng tại đây
cho đến trước khi vua Lý Thái Tổ lấy đất này lập đô mới
cho nước Đại Việt.
* * *
Trở lại vấn đề lập đô của Lý Thái Tổ, để có quyết
định dời đô ra Đại La, ông đã có chuyến khảo sát kỹ tòa
thành này trước khi quyết định lựa chọn làm quốc đô mới
và ban Chiếu dời đô.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vua thấy thành
Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đến


vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng:
“Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà
Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua
thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế
cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con
cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân,
nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài,
phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý
riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ
Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại
không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật
không hợp. Trẫm [5]rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở
giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính
giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước.
Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà
sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật
hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nướcViệt đó là nơi
thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương,
đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ
thếnào?”.1
Xét trong lịch sử của nước ta, mặc dù đã diễn ra
nhiều cuộc thiên đô, nhiều sự kiện có tầm ảnh hưởng lớn,
nhưng chưa có sự kiện nào có được một công bố thiêng
liêng và giàu ý nghĩa như Chiếu dời đô. Đó thực sự là văn
bản có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ sự phát triển về sau của
đất nước và là một tác phẩm có giá trị trên nhiều lĩnh
vực:sử học, chính trị học, địa lý, triết học, văn học…
Ở góc độ sử học, đó là sự ghi nhận một bước chuyển
giao của lịch sử, từ thời kỳ củng cố, xây đắp nền tảng cho
nền độc lập và thống nhất quốc gia sau hơn một ngàn năm
đất nước bị đô hộ, sang thời kỳ phục hưng và phát triển
toàn diện. Đó cũng là văn bản đầu tiên xác nhận vùng đất
Thăng Long với vị thế của một kinh đô và xác nhận sự kiện
mở đầu cho toàn bộ lịch sử phát triển của tòa kinh đô cổ
kính và lâu đời vào bậc nhất Đông Nam Á này.
Ở góc độ chính trị học, Chiếu dời đô có thể được
xem như một cương lĩnh về phát triển đất nước, một tuyên
cáo về quan điểm trị nước, cũng như phương pháp chính trị


của người đứng đầu nhà nước khi tiến hành một sự nghiệp
lớn. Bài Chiếu gồm ba phần:
Trong phần mở đầu, Lý Thái Tổ dẫn việc dời đô của
các nhà Thương, Chu, hai triều đại nổi tiếng trong lịch sử
Trung Quốc cổ đại, để nói rằng việc dời đô đã có tiền lệ,
xuất phát từ yêu cầu khách quan, “không phải theo ý riêng
mà tự tiện chuyển dời”. Trên bước đường xây dựng một
quốc gia phong kiến hùng mạnh “bất tốn Hoa Hạ” (không
thua kém Trung Hoa) thì sự thịnh trị của các triều đại
Thương, Chu thời Tam đại chính là tấm gương để giai cấp
phong kiến Việt Nam noi theo. Yêu cầu khách quan của
việc dời đô đó là “mệnh trời” và” ý dân”, kết hợp với mục
đích “mưu nghiệp lớn” và “làm kế cho con cháu muôn vạn
đời”. “Trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ
tiện thì dời đổi…” đó chính là quan điểm, là phương pháp
chính trị và phương châm hành động của người làm vua,
biết nắm lấy cái “thiên thời” và cái “nhân hòa”, là sự linh
hoạt hành động, không câu chấp nếp cũ đã lỗi thời.
“Mưu[6] nghiệp lớn”, “làm kế cho con cháu muôn vạn đời”
chính là nói đến mục đích cuối cùng của việc dời đô, việc
trị nước.
Trong phần tiếp theo, bài Chiếu nhận xét và phê
phán hai triều đại Đinh, Tiền Lê vì câu chấp nếp cũ, coi
thường mệnh trời, cứ đóng mãi ở nơi chật hẹp mà vận số
ngắn ngủi, triều đại không dài, trăm họ hao tổn, muôn vật
không được hòa hợp.
Hoa Lư là vùng đất bằng phẳng, nhưng chật hẹp và
bị bao vây bởi các núi đá dựng đứng, ra vào bằng độc đạo.
Rõ ràng đó là địa thế hiểm yếu, lợi về phòng thủ và đã phát
huy tác dụng ở thế kỷ X trong việc ngăn chặn các thế lực
chống đối muốn tiến đánh kinh thành. Từ Hoa Lư, các vua
Đinh, Tiền Lê cũng đã nhiều lần phát quân dẹp loạn và
chinh phạt Chămpa thắng lợi. Đặc biệt, thế thủ hiểm của
Hoa Lư đã giúp cho Lê Hoàn có được lòng tin vững chắc
khi phát quân chặn đánh giặc Tống ở phía Bắc, giành chiến
thắng vang dội trong trận đại thủy chiến trên sông Bạch
Đằng năm 981. Song, thế thủ hiểm của Hoa Lư chỉ phát
huy tác dụng trong thời loạn, và cái “ưu điểm” đó đã biến
thành “nhược điểm”, thành trở ngại cho việc xây dựng và
phát triển vương triều, phát triển quốc gia, dân tộc.


Không những thế, hai triều Đinh, Tiền Lê đóng đô ở
nơi thủ hiểm nhưng lại luôn tồn tại nguy cơ phản loạn.
Loạn không phải từ ngoài đánh vào, mà là từ trong dòng họ
thống trị, từ nội bộ triều đình. Cảnh vua - tôi, cha - con, anh
- em dòng hoàng tộc nghi kỵ nhau, ám hại nhau để giành
giật ngôi báu liên tục xảy ra. Đinh Liễn giết em là Thái tử
Hạng Lang trong lúc vua cha (Đinh Tiên Hoàng) còn sống,
rồi Đỗ Thích là bề tôi trong cung lại giết cả Đinh Tiên
Hoàng và Đinh Liễn; Lê Đại Hành vừa mất thì ba hoàng tử
lao vào đánh nhau, tranh giữ ngai vàng, rồi Lê Long Đĩnh
giết em là Lê Long Việt mới lên ngôi ba ngày để tự mình
làm vua…. Thực tế đó khiến một người làm vua có lương
tri, luôn nung nấu cho số phận dân tộc như Lý Thái Tổ phải
đau lòng. Đó là cái lý do bắt buộc để vị vua sáng nghiệp
vừa mới lên ngôi phải nghĩ đến việc dời đô. Ông
viết:“Trẫm rất đau đớn, không thể không dời”. Cũng bởi
thế, khác với các triều Đinh, Tiền Lê, quan điểm lập đô, dời
đô của Lý Thái Tổ là không chấp nê thói cũ, “nếu có chỗ
tiện thì dời đổi” và không xuất phát từ mục đích phòng
ngự, mà bắt đầu từ sự mong muốn làm sao "để vận nước
lâu dài, phong tục giàu thịnh".
Trong phần ba, bài Chiếu đề cập đến những lợi thế
của thành Đại La, nơi được lựa chọn để ập đô mới: từng là
“đô cũ của cao Vương”, tức là đã được lịch sử khẳng định,
lại ở trung tâm của đất nước, bốn bề bát ngát, thế đất cao
mà bằng phẳng, sông núi tiện nghi sau trước, phong thủy
đắc dụng, muôn vật tốt tươi, phồn thịnh, đáng là chỗ hội tụ
quan yếu của bốn phương. Đề cập đến những điều này, tác
giả của bài Chiếu, tức vua Lý Thái Tổ tỏ ra có kiến thức rất
uyên bác về địa lý, phong thủy, và đến đây, với tư cách của
một nhà chính trị có tầm nhìn lớn, ông đã hội đủ cả ba điều
kiện cho cuộc chuyển đô, đó là: thiên thời, địa lợi và nhân
hòa. “Thiên thời”, đó là “mệnh trời” (trên kính mệnh trời);
“địa lợi”, đó là đã chọn được nơi “thắng địa” (thành Đại
La); và “nhân hòa”, đó là “ý dân” (dưới theo ý dân). Một
khi đã hội đủ cả ba điều kiện ấy, thử hỏi công cuộc thiên đô
còn có điều gì trở ngại (!). Tuy nhiên, yếu tố “nhân hòa” là
yếu tố lòng người, cần có thời gian để chuyển biến nhận
thức, bởi thế nhà vua tỏ ra khá kiên trì, câu cuối cùng của
bài Chiếu còn đặt ra câu hỏi: “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy
mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?” để bá quan văn
võ, để muôn dân được đóng góp ý kiến, và tự trả lời. Phải


chăng, đó là cái “thủ pháp chính trị” vừa khôn ngoan, vừa
chân thực ít người có được, nhất là ở bậc đế vương.
Ở góc độ địa lý học, bài Chiếu chỉ ra những hạn chế
lớn về mặt địa thế của cố đô Hoa Lư đã gây nên hậu
quả: “…thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn
hao, muôn vật không hợp”, đồng thời nêu lên cái ưu thế,
cái “đắc địa” của Đại La: “Huống chi thành Đại La,… ở
giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính
giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước.
Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà
sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật
hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi
thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương,
đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”. Đây rõ ràng
là phương pháp phân tích và so sánh rất lợi hại được vận
dụng khéo léo trong bài Chiếu để tạo ra sức thuyết phục.
Đáng lưu ý là kiến thức về địa lý, bao gồm cả kiến
thức phong thủy và tinh thần của nó quán xuyến toàn bộ
nội dung bài chiếu. Điều đó phản ánh đúng tính chất của
một bài chiếu dời đô là trước hết và chủ yếu phải nói đến
yếu tố “địa lợi”. Nếu không có yếu tố này thì “ý chí” của
con người sẽ không có kết quả, có thể còn đi đến làm trái
với “mệnh trời”.
Đi xa hơn các kiến thức về địa lý thông thường, bài
Chiếu còn thể hiện khả năng phân tích và tầm nhìn lớn của
Lý Thái Tổ về vấn đề phong thủy của vùng đất lập đô.
Thông thường, trong ý thức phương Đông truyền thống, tất
cả các công trình kiến trúc, lăng tẩm, thành quách…, đều
phải đảm bảo những yếu tố về mặt phong thủy. Kinh đô và
lăng tẩm của vua chúa càng phải là những vị trí “đắc địa”,
“vạn niên đại cát”…nhằm đảm bảo sự trường tồn cho triều
đại. Tiêu chuẩn phong thủy thường thấy đó là: tiền án, hậu
chẩm, tả thanh long, hữu bạch hổ và minh đường. Cố đô
Huế của các chúa Nguyễn và vua Nguyên sau này là một ví
dụ mẫu mực về các tiêu chuẩn phong thủy ấy. Các kinh đô
khác trong lịch sử phong kiến Việt Nam cũng phải đảm bảo
những tiêu chí nhất định về phong thủy, ví như thành Tây
Đô của nhà Hồ. Tương truyền, sự hạn chế của tòa thành
này về phong thủy đã khiến cho nó chỉ tồn tại được 7 năm,
thay vì 60 năm như dự đoán của Hồ Quý Lý, vị vua sáng
nghiệp vương triều Hồ.


Với Lý Thái Tổ và Chiếu dời đô, từ việc nhìn ra
những hạn chế của đô thành Hoa lư về mặt phong thủy để
quyết định dời bỏ, ông đã tìm thấy sự tối ưu của thành Đại
La để kiên quyết lập đô mới tại đây.
Về phong thủy, Đại La khác với nhiều vùng đất
khác, không theo nguyên tắc tiền án-hậu chẩm-tả thành
long-hữu bạch hổ…Địa thế của Đại La là thế “rồng cuộn
hổ ngồi” (long bàn hổ cứ), “chính giữa Nam Bắc Tây
Đông, tiện nghi núi sông sau trước…”. Đó là địa thế của
bốn phương sông núi chầu vào, “sơn chầu thủy tụ”, cũng
là“tụ linh tụ phúc” cho muôn đời, nhưng với một tầm nhìn
rộng rãi, bởi các dãy núi đều ở xa, đặc điểm của vùng trung
châu đồng bằng. Địa hình cao mà bằng phẳng, khiến cho cư
dân không phải chịu nạn úng thủy, có phần thiên về
“dương”, lợi cho sự phát triển. Đây cũng là nơi có nhiều
sông hồ, vừa lợi về giao thông đi lại, giao lưu với mọi
miền, vừa là “tụ thủy”, vừa là “chỗ quan yếu của bốn
phương”. Điều đặc biệt là sông Hồng chảy qua đất Đại La
đã lại “dùng dằng” chảy vòng, tạo nên một “vành tai” (Nhĩ
hà). Sông Hồng cùng với các sông Kim Ngưu, Tô Lịch ôm
ấp lấy tòa thành. Dân gian sau này tổng kết: “Nhĩ hà quanh
bắc sang Đông: Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này” cũng
chính là sự khái quát cái địa thế của Đại La-Thăng Long
vậy. Muộn hơn một chút nữa, thời Nguyễn, vua Minh
Mạng sắp đặt hành chính mới, thành lập tỉnh Hà Nội. Tên
chữ Hà Nội cũng lại nói đến cái thế trong sông của vùng
đất này, khi mà có đến hai con sông bao bọc Hà Nội từ
vòng ngoài, đó là sông Hồng và sông Đáy,
Đặc điểm chung nhất của phong thủy Đại La đó là:
địa hình bát ngát, sông nước rộng dài, quanh co uốn lượn,
núi lớn từ xa chầu về. Địa thế “hùng vĩ” thì “vận số”cũng
lâu dài. Ở nước ta chưa có tòa thành nào, kinh đô nào có
lịch sử trường cửu như Đại La-Thăng Long-Hà Nội, đã
1000 năm còn vững chắc ở vị thế kinh đô. Nhận ra được
địa thế hùng vĩ của Đại La cũng phải là người có tầm nhìn
lịch sử, xuyên thấu thời đại. Lý Thái Tổ là người như vậy.
Triều đại của ông cũng nhờ vậy mà tồn tại lâu bền, suốt
hơn 200 năm (1009-1225). Các triều đại tiếp nối đóng đô ở
Đại La-Thăng Long cũng có “vận số” lâu bền. Duy chỉ nhà
Hồ tự tiện dời bỏ đất này mà “vận số” ngắn ngủi (14001407), làm hệ lụy đến vận mệnh của cả dân tộc. Cũng chính
bởi cái địa thế trường cửu của Đại La-Thăng Long-Hà Nội


được Lý Thái Tổ nhìn ra từ năm 1010, mà gần 900 năm
sau, một học giả người Pháp đã cho rằng: “Thật là một sai
lầm lớn nếu ta di chuyển Thủ đô của xứ này đi nơi khác”
(Cousin, Avenir du Tonkin – 15.I.1885).
Một vấn đề đặt ra có tính chất “phản đề” là: vậy thì
nhược điểm về mặt địa thế của Đại La là gì? Có thể trả lời:
dưới góc nhìn quân sự thì Đại La quả là trống trải. Nếu như
lợi thế của Hoa Lư là khả năng thủ hiểm nhờ các dãy núi đá
giăng thành bao bọc, thì Đại La không có lợi thế này. Điều
này, chắc chắn một nhà quân sự như Lý Thái Tổ cùng các
vị quân sư của ông phải nhận ra. Mặc dầu vậy, Lý Thái Tổ
vẫn dứt khoát dời bỏ Hoa Lư và chọn Đại La làm kinh đô.
Đó không chỉ là bởi Đại La cần cho đất nước ở thời kỳ phát
triển, mà còn bởi nó phù hợp với một triết lý giữ nước mới
của thời đại độc lập, triết lý lấy chiến tranh nhân dân làm
nền tảng, không thiên về phòng thủ, lợi dụng thành cao hào
sâu, mà “dĩ đoản chế trường”, “lấy kỳ binh chế trường
trận”, làm kế “thanh dã” (vườn không nhà trống) và toàn
dân đánh giặc (chứ không chỉ quân đội chính quy của triều
định). Bởi thế, đã nhiều lần triều đình kháng chiến chủ
động rút khỏi đô thành, cho giặc “ở nhờ vài hôm” để rồi
sinh lòng kiêu căng mà không lo phòng bị, để rồi đói khát,
dịch bệnh, quân số hao tổn vì bị vây khốn và tập kích, khi
đó cha ông ta mới phản công lấy lại, để rồi “Kinh đô vẫn
thuộc núi sông ta” (Ngô Ngọc Du). Như thế cũng có nghĩa
rằng, cái “nhược điểm” trống trải của Đại La không phải là
điều cần lo ngại, và không hề ảnh hưởng đến cái mục tiêu:
làm “… nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” như đã nói
trong Chiếu dời đô.
Ở góc độ triết học, Chiếu dời đô đề cập đến mối
quan hệ giữa trời, đất và người, đồng thời áp dụng việc xử
lý mối quan hệ ấy để giải thích sự suy vong của các triều
Đinh, Tiền Lê, cũng như củng cố niền tin cho một tương lai
tươi sáng của trăm họ xã tắc và của vương triều Lý, khi Lý
Thái Tổ quyết định dời đô về Đại La. Đó còn là sự trình
bày quan điểm của Lý Thái Tổ về “mệnh trời”, về thế đất,
về “số vận” và lẽ hưng vong của các triều đại, cũng như
cách thức mà ông vận dụng để thuyết phục bề tôi.
Trên thực tế, dời đô là cả một “sự nghiệp” lớn, nhiều
vất vả, hao tổn tài vật, đặc biệt nó trái với thói quen yên vị
của giai cấp thống trị và trái với nếp cũ của các triều đại đi


trước. Sẽ có nhiều kẻ không thần phục và lấy đó làm cơ sở
chống đối, kích động tâm lý phản loạn. Để thuyết phục dư
luận, Lý Thái Tổ đã viện dẫn và đúc kết lịch sử:"Xưa nhà
Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến
Thành Thang ba lần dời đô". Tuy vậy, vẫn chưa đủ. Tình
thế còn buộc ông phải tìm ra lý luận để làm cơ sở cho chủ
trương và hành động thực tiễn. Lý luận đó được nêu ra,
trong đó có tư tưởng quan trọng là: "Trên kính mệnh trời,
dưới theo ý dân, nếu thấy chỗ tiện thì dời đổi". Luận điểm
này vừa là sự kế thừa tư tưởng của quá khứ, vừa thể hiện sự
sáng tạo.
Viện dẫn tư tưởng "mệnh trời" (thiên mệnh), nhưng
không có nghĩa Lý Thái Tổ là con người duy tâm thần bí.
Trong truyền thống của triết học phương Đông, khái niệm
"mệnh trời" có nhiều nghĩa: là “mệnh lệnh của ông trời có
nhân cách”, nhưng cũng có nghĩa là xu hướng vận động tất
yếu của thế gới khách quan. "Mệnh trời" trong Chiếu dời
đô thuộc nghĩa thứ hai. Lý Thái Tổ dùng tư tưởng "Mệnh
trời" chỉ với một mục đích duy nhất là: việc dời đô là tất
yếu, là hợp quy luật. Có dời đô ra Đại La thì vận nước mới
lâu dài, muôn vật mới hưng thịnh.
Nêu ra tư tưởng "theo ý dân" là thể hiện quan điểm
chính trị khác với hai triều Đinh và Tiền Lê của Lý Thái
Tổ. Theo “ý dân” là theo sự hiểu biết của dân, một vấn đề
có ý nghĩa về nhận thước luận mà không phải người làm
vua nào cũng nhận thức được.
"Trên kính mệnh trời", "dưới theo ý dân", đó là hai
vế của một tư tưởng, hay đúng hơn chỉ là một. "Mệnh trời"
ở đây cũng là "ý dân". Sách Thượng Thư từng viết: "Trời
trông thấy là ở dân ta trông thấy, trời nghe thấy là ở dân ta
nghe thấy" ("Thiên thị tự ngã dân thị, Thiên thính tự ngã
dân thính"). Chỉ riêng "ý dân" đã là sức mạnh, "Ý dân" mà
phù hợp với quy luật khách quan, tức là "mệnh trời" thì sức
mạnh càng nhân lên gấp bội. Câu "Trên kính cẩn trời, dưới
theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi" có nghĩa là phải dời
đô, vì đó là tất yếu, là thể theo ý chí, nguyện vọng của nhân
dân.
Nêu lên mối quan hệ mật thiết giữa trời-đất-người,
giữa đế đô và vận nước, và với tiền đồ của triều đại, Lý
Thái Tổ tỏ ra là người có tầm nhìn lớn và có tư duy sâu sắc.


Tư duy đó không thể không xem là có giá trị về mặt triết
học.
Các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư sau này có ý chê
Lý Thái Tổ quá tin vào đạo Phật, đạo Lão, chê cơ cấu tổ
chức triều đình của ông còn chưa phù hợp…, song cũng
đều phải thừa nhận Lý Thái Tổ là người sáng suốt. Sử gia
Ngô Sĩ Liên nói: “Xem việc vua nhận mệnh sâu sắc lặng
lẽ, dời đô yên nước, lòng nhân thương dân, lòng thành cảm
trời, cùng là đánh dẹp phản loạn, Nam Bắc thông hiếu,
thiên hạ bình yên, truyền ngôi lâu đời, có thể thấy là có
mưu lược đế vương. ”.[7]
Ở góc độ văn học, Chiếu dời đô là một áng văn hay
đáng để lưu danh thiên cổ. Đó là tác phẩm mẫu mực của
thể văn chiếu, nhưng giàu chất nghệ thuật. Với lối văn biền
ngẫu, ngôn ngữ cô súc, chọn lọc, lại sử dụng các thủ pháp
so sánh, đối chứng, sử dụng các yếu tố tâm linh như một
dẫn chất diệu kì, lan tỏa, khiến cho người đọc, người nghe
bị lôi cuốn, bị chinh phục. Câu hỏi cuối bài Chiếu như để
ngỏ, khiến cho dư âm còn mãi, khiến cho người ta phải suy
nghĩ, rồi phấn chấn như thấy gần gũi, như thể sẽ được giáp
mặt bậc quân vương để có dịp tâu bày. Hiếm có một “văn
bản chính trị” nào lại dạt dào cảm xúc và có sức dẫn truyền
mạnh mẽ đến như vậy. Có thể xếp Chiếu dời đôngang hàng
với những áng văn chương bất hủ trong kho tàng văn học
cổ Việt Nam.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết khi bài Chiếu
của Lý Thái Tổ được công bố, bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì
thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh
vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có,
điều lợi như thế, ai dám không theo”. Vua cả mừng.2.
Vẫn theo Đại Vỉệt sử ký toàn thư, mùa thu tháng 7
năm Canh tuất, niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất
(1010), “vua từ thành Hoa Lư dời đô ra kinh phủ ở thành
Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở
nơi thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng
Long.” [8]
Đến nơi lập đô mới, việc đầu tiên của Lý Thái Tổ là
cho đắp lại tòa thành. Trước đây, thành Đại La do Cao Biền
xây dựng cao 2 trượng 5 thước (8,06 m), chu vi 3000 bộ
(5,58 km), trong đó có 80 gian nhà. Đến Lý Thái Tổ, sử cũ


cho biết thành Thăng Long không đắp theo phạm vi của
thành Đại La. Thành có hai lớp, lớp ngoài đắp bằng đất, lớp
trong xây bằng gạch, phía Bắc và phía Tây men theo sông
Tô Lịch, phía Nam đoạn đầu men theo sông Kim Ngưu,
phía Đông vẫn nhìn ra sông Hồng. Thành có bốn cửa:
Tường Phù (phía Đông), Diệu Đức (phía Tây), Quang Phúc
(phía Bắc) và Đại Hưng (phía Nam). Thành Thăng Long có
hai khu. Khu ngoài là hoàng thành, gồm dinh thự các quan
lại, các cung điện Hàm Quang, Hoa Thôn, Thái Đường và
đàn Nam Giao. Khu trong là Cung thành, gồm nơi vua ở,
điện Càn Nguyên (nơi các quan vào chầu), điện Tập Hiền
(nơi các quan văn hội họp). Ngoài ra còn các điện Cao
Minh, cung Nghinh Xuân, Long Hoa, Long Thụy, Thúy
Hoa, Ngọc Bội và các kho lẫm… Tổng chiều dài của hai
lớp thành lên tới 25 km. Trong thành có cung điện cao tới 4
tầng. Nhìn chung, Thăng Long thời nhà Lý là một công
trình thành lũy có quy mô lớn nhất so với các thành lũy
được xây dựng ở nước ta từ trước đến bấy giờ.
Tại thành Đại La, từ thế kỷ thứ IX đã có đền thờ
thần Long Đỗ. Tương truyền, khi Lý Thái Tổ mới đến lập
đô, cho đắp thành, thành cứ đắp lên lại sụp đổ. Vua cho
người cầu khấn ở đền thờ thần Long Đỗ thì thấy một
con ngựa trắng từ đền đi ra. Vua lần theo vết chân ngựa, vẽ
đồ án xây thành, thành mới đứng vững. Từ đấy, thần Long
Đỗ còn được gọi là thần Bạch Mã. Thần được vua phong
làm Thăng Long Thành hoàng đại vương. Đền thờ thần
được gọi là đền Bạch Mã, sau trở thành một trong bốn ngôi
đền trấn giữ bốn hướng của Thăng Long thành (tức “Thăng
Long tứ trấn”).2 Đến đây, có thể coi như một sự hoàn chỉnh
mạch tư duy mang tính thần bí giải thích sự “đắc địa” của
vùng đất Đại La-Thăng Long, nơi hội tụ của khí thiêng
sông núi. Mạch tư duy đó bắt đầu từ truyền thuyết về thần
Long Đỗ làm thất bại âm mưu triệt yểm long mạch ở thành
Đại La của Cao Biền, kế đến là truyền thuyết rồng
vàng hiện lên kh[9]i vua Lý Thái Tổ dời đô về Đại La, và
kết thúc bằng truyền thuyết thần Bạch Mã giúp vua Lý xây
thành. Tư duy dân gian là vậy, vừa minh triết và hiện thực,
lại vừa hoang đường, khiến cho lịch sử Thăng Long trở nên
hấp dẫn vô cùng. Đó cũng là câu trả lời cho những gì mà vị
vua sáng nghiệp triều Lý đã tin cảm khi viết những lời
thiêng liêng trong Chiếu dời đô: “Huống chi thành Đại La,
…, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông


Tây, tiện nghi núi sông sau trước...Xem khắp nước Việt đó
là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn
phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”.
Bài Chiếu ra đời trước lúc diễn ra việc dời đô.
Những phân tích và nhận định lúc ấy vẫn còn là giả thiết,
song sự việc diễn ra ở Thăng Long sau này dưới triều Lý
Thái Tổ cũng như toàn bộ lịch sử vương triều Lý cho thấy
giả thiết đó đã trở thành hiện thực. Sự tiện lợi của Thăng
Long về mọi mặt đã làm cho triều Lý vững vàng về chính
trị, hùng mạnh về quân sự, kinh tế, văn hóa phát triển thịnh
đạt. Mặc dù triều Lý đã đi vào quá khứ từ cách đây gần 800
năm, song nói một cách khách quan, đây là triều đại đã tồn
tại dài lâu nhất, không phải chỉ so với hai triều Định, Tiên
Lê trước đó, mà là so với tất cả các triều đại trong lịch sử
chế độ phong kiến Việt Nam.
Cùng với công cuộc dời đô, Lý Thái Tổ còn thực
hiện một loạt các biện pháp nhằm củng cố quyền lực vương
triều và phục hưng dân tộc. Công việc xây dựng đất nước
bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện
cho sự phát triển của quốc gia phong kiến độc lập. Tấm
gương mẫu mực của vị vua khai mở triều đại đã được các
vua kế nghiệp nhà Lý noi theo. Năm 1042, Lý Thái Tông
cho ban bộ Hình thư, bộ luật thành văn đầu tiên của lịch sử
pháp quyền Việt Nam. Điều này chứng tỏ nhà nước trung
ương tập quyền lúc đó tương đối ổn định và đã xây dựng
được một thiết chế khá hoàn bị. Năm 1070, Lý Thánh Tông
cho dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử, chính thức thừa nhận
Nho giáo như một học thuyết cai trị. Năm 1076, Lý Nhân
Tông cho lập Quốc Tử Giám, nền đại học Việt Nam bắt đầu
hình thành. Việc chủ động đào tạo nhân tài và chế độ tuyển
dụng quan lại bằng con đường khoa cử dưới triều Lý đã
đưa Đại Việt lên hàng các nước phát triển và văn minh của
phương Đông thời bấy giờ.
Từ sự lựa chọn sáng suốt của Lý Thái Tổ ở thế kỷ
XI, Thăng Long đã đi vào lịch sử đất nước như một Thủ đô
của muôn đời. Điều đó cũng chứng tỏ giá trị trường tồn của
Chiếu dời đô, tác phẩm thể hiện tư tưởng sáng suốt và tầm
nhìn xuyên thế kỷ mà Lý Thái Tổ đã công bố cách đây vừa
đúng 1000 năm.
Đối với lịch sử Việt Nam, Chiếu dời đô của Lý Thái
Tổ ngoài ý nghĩa là một tuyên cáo cho kỷ nguyên độc lập


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×