Tải bản đầy đủ

HỆ THỐNG điển cố TRONG sơ KÍNH tân TRANG 梳 镜 新 妆 của PHẠM THÁI 范 泰

HỆ THỐNG ĐIỂN CỐ TRONG SƠ KÍNH TÂN TRANG 梳 梳
梳 梳 CỦA PHẠM THÁI 梳 梳
Trần Hữu Chất
(Học viên Cao học Ngữ văn khóa 12)
Dụng điển là một trong những đặc điểm nghệ thuật khá nổi
bật của văn học cổ điển Việt Nam. Khảo sát hệ thống điển cố
trong một tác phẩm văn học cụ thể là hướng nghiên cứu không
còn mới mẻ nhưng lại vô cùng lý thú và hấp dẫn và giúp chúng
ta hiểu một cách thấu đáo hơn giá trị của mỹ từ đem lại, từ đó
thấy được những ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm, đặc biệt là đối
với những tác phẩm tiêu biểu cho mỗi giai đoạn của lịch sử văn
học.
Sơ kính tân trang của Phạm Thái không chỉ là một tác
phẩm có giá trị về nhiều mặt, nó còn là hiện tượng văn học hiếm
có trong quá trình phát triển của thể loại truyện Nôm. Đây là tác
phẩm lấy tứ từ chính cuộc đời và hành trạng của chính tác giả.
Đó là một thiên tình sử diễm lệ giữa Phạm Kim và Trương
Quỳnh Thư (hiện thân của Phạm Thái và Trương Quỳnh Như).
1. Thống kê và phân loại điển cố trong Sơ kính tân trang
1.1 Hệ thống điển cố được sử dụng trong Sơ kính tân
trang là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành ngôn ngữ

nghệ thuật tác phẩm. Qua khảo sát hệ thống ngôn ngữ nghệ
thuật trong Sơ kính tân trang, chúng tôi đã thống kê được tổng
số 123 điển cố, cụ thể như sau:
Bảng 1: Hệ thống điển cố trong Sơ kính tân trang:


Tác
phẩm

Số
câu
thơ

Tổng Điển cố
Điển cố âm Điển cố
số điển
bán Hán
âm thuần
âm
Hán
Việt
cố
Việt
Việt

Sơ kính
tân
trang 1484 123

Số
Số
Số
Tỉ lệ
Tỉ lệ lượn Tỉ lệ
lượng
lượng
g
62

50,4% 40



32,5% 21

17,1
%

Như vây, qua bảng thống kê trên chúng ta có thể nhận thấy,
điển cố được sử dụng trong Sơ kính tân trang phần lớn là điển
cố nguyên dạng, tức là điển cố có âm Hán Việt chiếm 62 điển cố
(50,4%). Điển cố có âm thuần Việt đuợc sử dụng với số lượng ít
nhất, chiếm 21 điển cố (17%). Còn lại là điển cố có âm bán Hán
Việt với 40 điển cố (32,5%). Đa số các loại truyện Nôm trong
giai đoạn này, thường sử dụng điển cố có nguồn gốc từ Kinh,
Sử, Truyện nhiều hơn là thi liệu. Theo thống kê của chúng tôi,
Sơ kính tân trang có tới 116 điển cố có nguồn gốc từ Kinh, Sử,
Truyện, chiếm 94,3%.
1.2. Điển cố trong Sơ kính tân trang xuất hiện chủ yếu
được phân bố trong câu bát chiếm tới 82 điển cố (58,5%), trong
câu lục là 40 điển cố (28,5%), trong câu thất là 18 điển cố
(12,8%). Điều này cho thấy, trong các tác phẩm truyện thơ Nôm,


điển cố thường được tác giả đặt vào các câu bát nhiều hơn câu
lục, tuy không quá chênh lệch nhưng đây cũng là một đặc điểm
của thể loại này.
Bảng 2: Sự phân bố điển cố ở câu bát và câu lục trong Sơ
kính tân trang
Câu bát

Câu lục

Tác phẩm
Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng Tỉ lệ (%)

Hoa tiên

101

54,0

86

45,9

Truyện Kiều

155

56,9

119

43,7

Sơ kính tân
trang

82

58,5

40

12,8

Điển cố tuy được bố trí ở câu bát nhiêu hơn câu lục song
giữa chúng có sự kết nối chặt chẽ nhằm thể hiện cao nhất ý
nghĩa của điển cố [6, tr.111]. Có thể nói hiện tượng điển cố được
xếp đặt ở câu lục hay là câu bát là yếu tố thuộc về hình thức,
chứa đựng nhiều yếu tố thú vị, đặc sắc về nguồn gốc, đặc tính về
chức năng của điển cố, làm đòn bẩy để các tác giả truyện Nôm
thể hiện chúng một cách thích đáng và cụ thể.
2.2. Một số nhận xét về cách sử dụng điển cố trong Sơ
kính tân trang


2.1. Với vốn tri thức uyên bác và khả năng sáng tạo nghệ
thuật của mình, các tác giả truyện Nôm nói chung và Phạm Thái
nói riêng đã vận dụng các dạng điển cố một cách rất linh hoạt và
thần tình. Nó không chỉ được lồng vào trong ngôn ngữ của tác
giả một cách khéo léo mà cả trong ngôn ngữ của nhân vật cũng
đa dạng, sinh động.
Như chúng ta đã biết, trong truyện thơ Nôm, ngôn ngữ của
tác giả và ngôn ngữ của nhân vật được thể hiện một cách rõ nét.
Cũng như các thể loại khác, các tác giả truyện Nôm cũng thể
hiện nghệ thuật sử dụng điển cố của mình bằng cách khai thác
các chức năng của điển cố, ứng dụng chúng vào việc xây dựng
ngôn ngữ của tác giả qua lời kể, lời tả và lời phát biểu, ngôn ngữ
của nhân vật qua đối thoại và độc thoại. Ở tác phẩm Sơ kính tân
trang có 86 điển cố (61,3%) được lồng vào trong lời kể, lời tả
của tác giả. Điển cố trong lời kể của tác giả rất đa dạng về nội
dung, thích hợp với diễn biến của tình tiết. Có thể nói, phần lớn
nội dung điển cố trong lời kể của tác giả nói về gia thế, sự
nghiệp, tài năng, tình yêu lứa đôi, kết duyên vợ chồng…trong đó
điển cố âm Hán Việt và âm bán Việt hóa chiếm số lượng lớn,
chẳng hạn:
Thềm Trương lan huệ nở hoa,
Sắt cầm đã biết mấy phen hài hòa.
Phạm đường cũng mộng hủy xà,
Năm, ba thơ ngợi, đào hoa nghi kỳ.
Muộn màng thay giấc điềm bi,
Tinh thành ắt cũng có khi cảm thần.


Sửa sang một cuộc âm phần,
Hàm Thư đan phượng lắm phần tinh hoa.
(Câu 53-60)
Trong đoạn trích trên, tác giả đã sử dụng các điển như: Sắt
cầm: đàn cầm và đàn sắt là hai thứ đàn thường đánh hòa âm với
nhau, chỉ cảnh vợ chồng êm ấm, hòa hợp; Mộng hủy xà: chiêm
bao thấy rắn, chỉ điềm sinh con gái; Đào hoa nghi kỳ: chỉ người
con gái đẹp. Thơ Đào Yêu trong Kinh Thi khen người con gái
đẹp đã đến tuổi lấy chồng; Giấc điềm bi: mộng thấy sinh con
trai. Đây đều là các điển Hán Việt có nguồn gốc từ Kinh Thi.
Qua các điển cố xà hủy, bi hùng, tác giả đã thông báo cho người
đọc biết họ Trương đã sinh con gái, họ Phạm đã sinh con trai tuy
hơi muộn, nhưng việc hứa hôn của hai gia đình được như ý. Hầu
như điển cố, thi liệu trong lời kể của tác giả đều là những điển
cố được sử dụng khá phổ biến trong truyện thơ Nôm. Tuy nhiên,
bên cạnh đó có một số điển cố, thi liệu trong lời kể của tác giả
không hoàn toàn dễ hiểu, chẳng hạn:
Nghiệp nhà văn võ theo đòi,
Phạm vây hổ trướng, Trương dồi Lân kinh.
(Câu13-14)
Lân kinh tức là kinh Xuân Thu, chỉ học vấn, văn chương nói
chung. Dùng Lân kinh để nói về kinh Xuân Thu, hơn nữa để chỉ
về việc học hành thì ít khi thấy và khó hiểu nếu không được chú
thích.


Nhìn chung, điển cố dùng trong lời kể của tác giả thường
tuân thủ các nguyên tắc thi pháp truyền thống, đậm nét ước lệ,
tượng trưng. Trong ngôn ngữ trần thuật của tác giả, mặc dù số
lượng điển cố không nhiều, nhưng được sử dụng rất đa dạng để
tả tâm lý, tả ngoại hình nhân vật và tả thiên nhiên. Trước hết là
về tâm lý nhân vật, tâm lý nhân vật trong truyện Nôm giai đoạn
này phức tạp, đa dạng hơn truớc nhiều nhờ sự xuất hiện ít nhiều
của cái nhìn hiện thực trong quan niệm sáng tác của tác giả. Tác
giả của Sơ kính tân trang đã dày công mài giũa công phu từng
đường nét của điển cố để có cái đẹp cô đúc, trang nhã nhưng
không vì thế mà làm mất đi dáng vẻ mềm mại của câu thơ và sự
quyến rũ của đời sống muôn mầu. Bên cạnh đó, điển cố còn
được Phạm Thái vận dụng một cách triệt để, góp phần phản ánh
suy nghĩ của mình trước những sự kiện, diễn biến, tình tiết hoặc
suy nghĩ và hành động của nhân vật.
2.2. Nghiên cứu điển cố trong Sơ kính tân trang nói riêng
và trong các tác phẩm truyện thơ Nôm nói chung, chúng tôi còn
nhận thấy một đặc điểm khá quan trọng trong quá trình vận dụng
điển cố vào ngôn ngữ của nhân vật: Chúng ta đã biết thể loại
truyện Nôm giai đoạn này thuộc phạm trù văn học trung đại nên
nhân vật nói chung vẫn chưa phải là nhân vật điển hình như
trong văn học của chủ nghĩa hiện thực mà chủ yếu là những
nhân vật lý tưởng hóa. Mặc dù Sơ kính tân trang là tác phẩm
kể về mối tình duyên trắc trở của chính tác giả nhưng vẫn không
thoát khỏi những đặc trưng này. Cũng chính vì lý do đó, ngôn
ngữ của nhân vật chính diện mang đậm tính chất ước lệ, cách
điệu hóa cao, dùng nhiều điển cố hơn ngôn ngữ nhân vật phản
diện. Ở tác phẩm này, trong tổng số 54 điển cố được Phạm Thái
sử dụng thì đã có đến 49 điển cố thuộc ngôn ngữ của nhân vật
chính diện và chủ yếu là lời độc thoại của nhân vật chính diện


như: Tri âm, Đào Nguyên, nhạn cá, gió cung Đằng, vẻ nhạn sa,
mối xích thằng, xạ tước, Bồng Đảo, ông Nguyệt lão, duyên ngư
thủy…Ngược lại, đối với ngôn ngữ của nhân vật phản diện
“miệng tuy bồ tát mà tình dạ xoa!” trong Sơ kính tân trang, ta
thấy xuất hiện rất ít điển cố. Điều này cũng giống với một số tác
phẩm khác. Khảo sát tác phẩm ta thấy chỉ có 5 điển cố được sử
dụng trong ngôn ngữ của nhân vật phản diện, tất cả những điển
cố này đều được tác giả sử dụng trong lời đối thoại của nhân vật:
Say tỉnh hồn mai thực bướm ong.
Non nước mơ màng chừng lữ để,
Mây mưa phảng phất chuyện Vu Phong.
Quyên về viễn phố hoa rầu rĩ,
Nhạn tếch Hành Dương nguyệt não nùng.
(Câu 816-820)
Có thể nói rằng, các tác giả truyện thơ Nôm nói chung và
Phạm Thái nói riêng có phương thức sử dụng điển cố khá đa
dạng. Ở bất kỳ dạng thức nào, điển cố cũng được tác giả vận
dụng để thể hiện ngôn ngữ kể, miêu tả, bình luận của tác giả và
và ngôn ngữ đối thoại, độc thoại của nhân vật chính diện, phản
diện. Tất cả đều hướng vào hướng vào thế giới tâm trạng phong
phú của nhân vật cũng như bộc lộ quan niệm, tư duy và cảm xúc
của người trần thuật. Nhìn chung, Sơ kính tân trang của Phạm
Thái tuy chưa phải là tác phẩm thực sự tiêu biểu nhưng nó cũng
đã góp phần giúp cho thể loại truyện Nôm đạt được những giá
trị nhất định về phương diện nghệ thuật sử dụng điển cố.


2.3. Trong Sơ kính tân trang, có khá nhiều điển cố được
xuất hiện với tần số cao, chẳng hạn như: tri âm, màu Thương
Lang, cá nhàn, Đào Nguyên, Tùng Lĩnh, mây mưa, Nguyệt lão,
lá hồng, Tây Trúc, Ngân Hà, Ngưu Nữ…Các điển cố này tuy
được lặp lại nhưng chúng vẫn được Phạm Thái vận dụng rất linh
hoạt, thích đáng, chuẩn mực, hợp cách trong những ngữ cảnh
khác nhau. Chính điều này góp phần làm tăng giá trị cho Sơ
kính tân trang. Về khía cạnh này có thể lấy điển tri âm làm dẫn
chứng tiêu biểu. Điển này dùng để chỉ tình bạn thân thiết, thấu
hiểu nỗi lòng của mình, bạn tri kỷ. Nó bắt nguồn từ câu chuyện
về tình bạn giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ. Theo Liệt Tử, Bá
Nha và Chung Tử Kỳ (đời Xuân Thu) là đôi bạn tri âm, khi Bá
Nha đánh đàn nghĩ tới núi cao, Chung Tử Kỳ liền khen “Cao
vời vợi như núi Thái Sơn”. Bá Nha nghĩ tới sông nước, họ
Chung liền khen “Mênh mông như Trường Giang, Hoàng Hà”.
Trong Sơ kính tân trang, điển này được sử dụng nhiều lần:
Khề khà mấy chén thưởng tâm,
Trạch niềm sẽ tuởng tri âm khéo là.
(Câu 8-9)
Đón xuân nhắn với tri âm,
Tình tình xin tỏ tiếng cầm này cho.
(Câu 463-464)
Gửi rằng: “Thực kẻ có tài tri âm”
Bây giờ gặp kẻ tri âm...
(Câu1350-1351)


2.4. Hệ thống điển cố trong Sơ kính tân trang rất phong
phú về thể loại, đa dạng về hình thức. Trong tác phẩm, thi sĩ
Phạm Thái sử dụng điển cố với tần số nhiều lần đã đành nhưng
không phải lúc nào tác giả cũng chỉ chú ý một cách diễn đạt
thuần túy mà luôn có sự biến đổi linh hoạt, linh động, không
những diễn tả sâu sắc dụ ý nghệ thuật của nhà thơ mà luôn tạo ra
sự mới mẻ, hấp dẫn, không gây nhàm chán cho độc giả. Điển cố
trong Sơ kính tân trang đã được nhà thơ vận dụng trong những
ngữ cảnh rất thích đáng và thần tình. Để nói về mặt trăng với
hàm ý chỉ người con gái đẹp, người ta có thể dùng các mỹ từ
như cung thiềm, cung quế…và đặc biệt là Hằng Nga, Thường
Nga. Theo Hoài Nam Tử, Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ, một nhân
vật truyền thuyết thời vua Nghiêu, đã lấy trộm thuốc trường sinh
bất tử của chồng để được thành tiên và bỏ trốn lên cung Quảng
Hàn. Tuy nhiên, trong văn bản Sơ kính tân trang, điển cố
nguyên dạng Hằng Nga hầu như không được nhà thơ sử dụng
lần nào, khi dẫn điển này nhà thơ đã chuyển dịch rất tài tình, và
sử dụng đúng vị trí của nó, chẳng hạn:
Nước non mấy thú hữu tình.
Mời cô Thường Hiệu, rủ anh Đông Hoàng.
(Câu 118-119)
Cậy ả Hằng vì ta xe mối,
Xe thì xe chớ nới tơ ra,
(Câu 531-532)
Bặc xuyên hoa điệp, cao đê,


Chẳng cô cung nguyêt, cũng dì non Vu.
(Câu 1297-1298)
Khảo sát hệ thống điển cố trong tác phẩm này, chúng tôi
nhận thấy nhà thơ Phạm Thái còn sử dụng nhiều điển cố để diễn
đạt cùng một nội dung. Nói đến việc kén rể thì Phạm Thái dùng
tới điển xạ tước, tước bình, kẻ giường đông, thừa long. Xạ Tước
là bắn chim sẻ lớn, tức là bắn con công. Theo Tục Thông Chí,
Đậu Nghị - người Nam Bắc triều- có người con gái yêu muốn
kén rể, bèn cho vẽ hai con công vào bức bình phong rồi hẹn
rằng: Người nào đến cầu hôn cũng sẽ bắn hai phát, ai bắn trúng
một mắt công thì gả con gái cho. Người đến thử tài đã mười
người nhưng không ai được cả, sau có Lý Uyên đến bắn hai phát
trúng hai con, lấy được vợ. Kẻ giường đông là giường phía
đông. Theo Tấn Thư, Khích Giám cho môn sinh đến nhà
Vương Đạo kén rể. Vương Đạo báo con em đến cả để cùng tiếp
chuyện người nhà họ Khích. Kẻ môn sinh ra về và thưa chuyện
với Khích Giám rằng: con em nhà họ Vương đều tốt người đẹp
nết. Nghe tin có người đến xem kén rể, người nào cũng cố ý làm
ra vẻ, không tự nhiên, duy có một người cứ thản nhiên, nằm
phanh bụng ăn bánh ở giường bên đông như không hay biết gì
cả. Khích Giám nói: Chính người đó sẽ làm chàng rể của ta. Sau
hỏi thăm mới biết người đó là Vương Hy Chi, họ Khích bèn gả
con gái cho. Vì thế điển này được dùng để chỉ việc kén rể như
điển xạ tước. Theo Sở quốc tiên hiền truyện, Thừa long chỉ
chàng rể, việc lấy được chồng xứng đáng. Tuy sử dụng điển cố
cùng diễn đạt một nội dung nhưng không gây ra sự nhàm chán
cho độc giả.
Nguyện lòng này với lửa hương,


Rạng bình xạ tước, níu giường thừa long.
(Câu 487-488)
Lẽ đâu dám kẻ giường đông,
Tước bình xin đợi, thừa long kén tài.
(Câu 1425-1426)
Có thể nói rằng việc sử dụng nhiều điển cố để diễn tả một
nội dung, tuy đây không phải là một sáng tạo của tác giả, song
cũng đem lại nhiều giá trị cho tác phẩm nhất là gây được ấn
tượng với người đọc. Đồng thời nó cũng chứng tỏ khả năng
uyên bác về kiến thức của nhà thơ mà không phải ai cũng có
được.
Không những thế, trong truyện Nôm Sơ kính tân trang,
Phạm Thái còn vận dụng điển theo cách bẻ nhỏ từng chữ của
điển cố rồi hòa vào từng chữ trong dòng thơ, chẳng hạn điển
gieo khăn cầu. Theo Dật sử dẫn lại trong Thái bình quảng ký,
Thôi Sinh
người đời Đường được vợ của mình đã ném chiếc
khăn quàng qua sông, chiếc khăn bỗng hóa thành cây câu ngũ
sắc. Thôi Sinh bèn lên cầu, đi bước nào thì cầu đứt bước đấy,
nên bọn người đuổi theo không qua được. Thôi Sinh thoát nạn.
Như vậy, có thể thấy rõ nếu vận dụng nguyên dạng điển này thì
phải là gieo khăn cầu nhưng đã được Phạm Thái đan xen vào
điển đó những chữ làm cụ thể hóa điển cố đó, nếu ai không biết
điển cố này như thế nào cũng có thể hiểu được nội dung của câu
thơ là lấy chiếc khăn làm cầu.
Thôi vẻ đạo lại màu tiên,


Gieo khăn bắc nhịp cầu lên mấy lần.
(Câu 835-836)
Điển cố có thể là một chữ hoặc một câu đề cập đến một
việc cũ, một tích xưa khiến cho người đọc phải nhớ đến sự việc
ấy mới hiểu ý nghĩa và cái lí thú của câu văn. Như vậy, điển cố
là những ngữ liệu sẵn có được các nhà thơ, nhà văn sử dụng một
cách linh hoạt vào trong các tác phẩm của mình. Tuy nhiên việc
vận dụng nó như thế nào cho đúng, cho hay mới là vấn đề. Tất
nhiên trong sự nghiệp sáng tác của mình các nghệ sĩ đều mong
ước có những tác phẩm được công chúng yêu thích. Chính vì
vậy, khi sáng tác, ai cũng cố gắng làm sao sử dụng thành công
ngôn từ nghệ thuật trong đó có việc vận dụng điển cố. Phải
chăng, trong tâm khảm của thi sĩ Phạm Thái cũng có những suy
nghĩ như vậy, cho nên trong Sơ kính tân trang tác giả đã dày
công sáng tạo bằng tất cả tài năng và nhiệt huyết của mình để
viết lên câu chuyện của chính cuộc đời mình.
3. Giá trị thẩm mỹ của hệ thống điển cố trong ngôn ngữ
nghệ thuật truyện Sơ kính tân trang
3.1. Môi trường văn hóa thời kỳ trung đại được xây dựng
trong khuôn khổ của một hệ thống các lễ tục, nghi thức cụ thể.
Nói cách khác, xã hội phong kiến trung đại Việt Nam là xã hội
của Lễ, Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa, Nhân…Đây là loại hình văn
hóa mang tính phổ quát của các quốc gia chịu ảnh hưởng của
văn hóa Trung Hoa. Không gian và bối cảnh đời sống trong
truyện Nôm Sơ kính tân trang cũng như một số truyện Nôm
của các tác giả cùng thời khác đã có sự gần gũi với khung cảnh
lầu son gác tía, thế giới quan phương chính thống. Do đó, hệ
thống ngôn ngữ mang tính nghi thức, được tác giả sử dụng trong


tác phẩm phải đảm bảo tính quy phạm, chặt chẽ, phản ánh một
cách chính xác các giá trị tôn nghiêm, cao quý, thanh nhã của xã
hội và con người thời bấy giờ. Điều này đã ảnh hưởng một cách
trực tiếp đến hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật Sơ kính tân trang
nói chung và nghệ thuật sử dụng điển cố nói riêng.
Điển cố trong truyện thơ Nôm luôn mang tính bác học, quý
phái, thể hiện cái đẹp ở sự trang trọng, uyên bác, trang nhã. Do
đó, điển cố được sử dụng nhiều trong các tác phẩm văn chương
bác học, góp phần miêu tả những nét “cao quý” để ca tụng đạo
lý, để giáo huấn. Vì vậy, yêu cầu lời thơ, lời văn phải tao nhã,
trang trọng, gợi mở tránh nói thẳng… Chẳng hạn để nói việc trai
gái gặp gỡ, vui chơi ăn ở với nhau, thay vì việc nói cụ thể sự
việc, sợ khiếm nhã, nhà thơ mượn điển cố để diễn tả:
Non nước mơ màng chừng lữ để,
Mây mưa phảng phất chuyện Vu phong.
(Câu 817-818)
Điển mây mưa theo lời tự của bài Phú Cao Đường của Tống
Ngọc thuật việc vua nước Sở chơi đền Cao Đường mộng thấy
thần nữ tiến chăn gối. Sở Tương Vương cùng Tống Ngọc đến
chơi Chằm Vân Mộng, nhìn đền Cao Đường, trên có khí mây.
Vua hỏi Tống Ngọc: Đó là khí gì vậy? Ngọc đáp: đó là mây buổi
sáng (triêu vân). Vua hỏi : Sao lại gọi là triêu vân? Ngọc đáp:
Xưa kia, tiên vương thường đến chơi ở đền Cao Đường, một
hôm ngủ thiếp đi rồi mộng thấy một người đàn bà đến nói rằng:
thiếp là thần núi Vu Sơn, nguyện đến hầu dâng chăn gối. Nhà
vua đem lòng yêu. Khi từ biệt, người con gái nói thiếp ở tại mé
nam núi Vu Sơn, nơi gò cao hiểm trở ấy, sớm làm mây (triêu


vân), tối làm mưa (mộ vũ), sớm sớm, chiều chiều ở dưới chân
núi Dương Đài.Vu Phong còn gọi là Vu Sơn. Tên dãy núi ở phía
đông nam huyện Vu Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, do thế núi hình chữ Vu
nên gọi là Vu Sơn. Sông Trường Giang chảy ngăn ngọn núi này
ra làm hai nên còn gọi là Vu Giáp, có mười hai ngọn núi cao, có
ngọn Triêu Vân, ngọn Thần Nữ, có miếu Thần Nữ. Với việc sử
dụng các mỹ từ này, tác giả đã thể hiện được mối quan hệ ân ái
giữa nam thanh nữ tú mà không gây khiếm nhã cho người đọc,
giữ được sự trang trọng, lịch sự cho câu thơ.
3.2. Trong văn học trung đại nói chung và thể loại truyện
Nôm nói riêng, tác giả rất kỵ giãi bày trực tiếp mà thường thông
qua các điển cố để nói nên những điều mình muốn thể hiện, biểu
đạt. Theo quan niện của các nhà nho, nhà văn trung đại coi văn
chương là một loại sản phẩm cao quý, trang nhã của những tao
nhân mặc khách, nó không phải là thú chơi của những kẻ phàm
phu tục tử. Chẳng hạn, khi nói đến việc trả ơn, người ta thường
có cách diễn đạt như:
Lệ thường: vay mận trả đào,
Người đưa quả ấy ta trao quỳnh này.
(Câu 263-264)
Kinh Thi có câu: “đầu ngã dĩ đào, báo chi dĩ lý”, nghĩa là
ném cho ta quả đào, báo lại ta cho quả mận. Điển “vay mận trả
đào” có dụng ý nói quà tặng biếu có đi có lại, tình nghĩa báo đền
trong quan hệ nam nữ. Điển quả ấy quỳnh này cũng hàm ý
tương tự.
Phạm Thái đã sử dụng một hệ thống điển cố mang tính trang
nghiêm, tôn kính, cô đọng, hám xúc để khắc họa những tính


cách, tái tạo không gian hoặc miêu tả những tính cách nhân vật.
Nhà thơ đã phác họa nên một không gian thẩm mỹ đặc thù khiến
cho người đọc có thể mở ra những trường liên tưởng mới, những
chân trời nghệ thuật mới. Thông qua việc sử dụng điển cố, nhà
thơ từng bước thể hiện sự uyên bác và tài năng nghệ thuật của
bản thân.
3.3. Nghệ thuật sử dụng điển cố trong các tác phẩm là một
trong những nét đặc thù của văn chương phương Đông. Sự hình
thành và vận động của hệ thống điển cố ngoài các nhân tố mang
tính lịch sử, nó còn chịu sự chi phối của các tâm thức văn hóa
truyền thống phương Đông và đặc trưng thẩm mỹ cổ truyền
Trung Hoa, Việt Nam. Quan niệm thẩm mỹ đầu tiên đã tác động
đến điển cố là tinh thần sùng cổ. Đức Khổng Phu Tử trong Luận
ngữ đã phát biểu về những công trình do mình san định chỉ là
“thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ” (thuật lại chứ không sáng tạo
lại, tin tưởng và ưa chuộng cái cũ). Quan niệm này đã phản ánh
trung thực ý thức hoài cổ, tập cổ của người xưa, đó là xu hướng
quay về quá khứ, xem quá khứ là những điển chương, là những
bài học tinh thần sâu sắc nhất đối với con người. Với một ý thức
nhân sinh như vậy, người xưa đã dẫn đến một đặc trưng thẩm
mỹ tương ứng. Đó là sáng tác văn học được soi rọi, đánh giá qua
các tấm gương đạo đức, do đó thủ pháp lặp lại ý tưởng của
người xưa được xem là đúng đắn, là hay, là đẹp. Thời đại quá
khứ, nhân vật lịch sử là những tấm gương, những bài học có giá
trị cho đời sau. Đó là một nội dung cơ bản của nguyên lý “ôn cố
nhi tri tân” của cổ nhân. Trên cơ sở tôn sùng cái cũ, suy tôn cổ
nhân, sử dụng điển cố là một phương thức văn hóa có chiều
hướng thiên về quá khứ để tìm về những hình ảnh, tư tưởng và
bài học của người xưa. Và điều này cũng đã tác động trực tiếp
đến phương thức hình thành, chuyển hóa và tồn tại của hệ thống


ngữ liệu văn hóa như điển cố, thi liệu…trong văn học cổ Trung
Hoa và Việt Nam. Hệ thống mỹ từ văn hóa trong Sơ kính tân
trang là các cứ liệu ngôn ngữ tập cổ, trích dẫn từ thơ văn quá
khứ. Đó là những hình ảnh, tư tưởng của cổ nhân, nó phải thể
hiện sự tôn sùng cái cũ, kinh nghiệm của quá khứ, suy tôn Kinh,
Sử, thuật cổ luận kim. Nó được thể hiện qua hàng loạt các điển
cố.
3.4. Tư duy văn hóa Trung Hoa đã mở rộng biên độ và ảnh
hưởng đến các nước khác trong khu vực một cách sâu sắc. Từ
góc độ ngôn ngữ, chúng tôi nhận thấy tập quán tư duy, suy nghĩ
của một dân tộc tồn tại như một thuộc tính văn hóa. Đặc trưng
của tư duy phương Đông nói chung là lối tư duy cầu tính, thiên
về cảm xúc, trọng sự đăng đối, nặng về thẩm mỹ. Chính điều
này đã tạo nên một bức tranh ý niệm mang tính biểu tượng về
thế giới, hiện thực khách quan và được thể hiện trong ngôn ngữ
Hán. Người xưa lấy cái lý về thái cực, tính đối xứng và khẳ năng
đăng đối trong ngữ nghĩa và hình thức của câu chữ để diễn đạt
những ý tưởng thẩm mỹ, phác họa thế giới hình tượng đặc trưng
của văn học cổ điển. Do đó, các điển cố trong Sơ kính tân
trang, không đơn thuần là sự so sánh, đăng đối tạo nên thần cú,
nhãn tự mà đằng sau nó là những bài học triết mỹ, giáo huấn sâu
xa, nó giúp cho ý nghĩa của câu thơ thêm phong phú.
HỆ THỐNG ĐIỂN CỐ TRONG SƠ KÍNH TÂN TRANG 梳 梳 梳
梳 CỦA PHẠM THÁI 梳 梳 (tiếp theo)
Trần Hữu Chất
(Học viên Cao học Ngữ văn khóa 12)


Có thể nói bức tranh câu chuyện tình của tài tử giai nhân Phạm
Kim và Trương Quỳnh Thư đã được Phạm Thái vẽ nên qua ngòi
bút đầy tâm trạng của mình, một con người cũng đã từng chạy
đua với số mệnh, bôn ba trong hoạn hải ba đào. Với nhân vật
Quỳnh Thư, tác giả không sử dụng lối đặc tả mà nhà thơ đã tiến
xa hơn, khắc họa Quỳnh Thư bằng những đường nét ấn tượng
thông qua những ý nghĩa mang tính biểu tượng của điển cố được
dẫn dụng. Không dừng lại ở những chi tiết cụ thể như đã làm, ở
đây nhà thơ đã vẽ đến phần gợi cảm nhất trên khuôn mặt của
giai nhân. Lông mày rất thanh, xanh màu lá liễu, đôi “má hồng,
môi thắm hây hây” và cả làn da mịn và trắng:
Lam pha màu liễu, mỡ đông da ngà.
Chiều cá nhẩy, vẻ nhạn sa,
Mắt long lanh nguyệt, tóc rà rà mây.
Má hồng môi thắm hây hây,
Khổ mê thược dược, thức say hải đường.
(Câu 410-414)
Trong Sơ kính tân trang, cách sử dụng và bố trí điển cố của
Phạm Thái vừa hấp dẫn, vừa chuẩn mực đồng thời thể hiện cá
tính sáng tạo của nhà thơ. Thông qua các điển cố chuyển dịch,
chuyển dẫn một cách khéo léo, linh hoạt, người đọc có thể tìm
thấy một thế giới hình tượng phong phú, sinh động. Từ những
điển cố nguyên dạng như: Địch Phượng, nghĩa là tiếng sáo trong
như tiếng chim phượng hót mà tác giả đã chuyển dịch thành điển
cố mang cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt rất dễ hiểu Tiêu hay múa
phượng, hay điển Tấn Tần cũng như vậy, tác giả chuyển dịch


bằng cách tăng thêm gia vị cho điển cố, lồng vào điển cố những
từ ngữ mới, cụ thể hóa chúng: rày Tấn mai Tần (nghĩa là tự do
đi lại, nay đây, mai đó)…
Như vậy, điển cố trong Sơ kính tân trang không chỉ mang
tính điển phạm, quy chuẩn mà nó còn đảm bảo tính đăng đối,
khái quát, mang tính biểu trưng sâu sắc và giàu khả năng sáng
tạo. Khả năng đăng đối về những điển cố gốc và chuyển dịch
được sử dụng trong ngôn ngữ vẫn đảm bảo được quan niệm về
những đặc tính thẩm mỹ của thi nhân, góp phần to lớn vào việc
xây dựng hình tượng nhân vật với nhữnh tính cách đa dạng, có
đời sống và diễn biến tâm lí nổi bật, diễn tả được sự vận động
của các sự kiện.
3.5. Ngoài ra, điển cố trong truyện thơ Sơ kính tân trang
còn mang vẻ đẹp của sự giản ước, cô đọng. Bản thân các từ ngữ
này đã thâu tóm trong nó những quan điểm về triết học, lịch sử,
tư tưởng, sự kiện, kinh nghiệm sống… và phạm vi hoạt động, ý
nghĩa và tính chất tối giản của các mỹ từ ấy đã thể hiện một cách
khái quát hàm súc và truyền vẻ đẹp trong sáng, giản dị của mình
đến những câu thơ đã sử dụng nó. Trong quá trình hành chức
của điển cố, quan niệm “ý tại ngôn ngoại”, “huyền ngoại chi
âm”, “cam dư chi vị”, mạch kỵ lộ, gợi mà không tả… của mỹ
học cổ điển phương Đông đã chi phối chặt chẽ đến những từ ngữ
hàm súc và cô đọng này. Chính vì thế, nếu nắm giữ được chiếc
chìa khóa này, người thưởng thức có thể đi vào thế giới nghệ
thuật mà Phạm Thái đã tạo nên trong Sơ kính tân trang và người
đọc hoàn toàn có thể cảm thụ được vẻ đẹp cổ kính, trang nhã của
phong cách nghệ thuật cổ điển một cách hoàn mỹ nhất.


Sơ kính tân trang là một trong những truyện Nôm bác học
phổ biến nhất sau Truyện Kiều, Lục Vân Tiên. Như vậy, có lẽ là
do tác phẩm Sơ kính tân trang ngoài nội dung hấp dẫn, phù hợp
với nhân dân thì về mặt ngôn ngữ nó cũng góp phần rất quan
trọng cho sự thành công của tác phẩm. Tác phẩm có dùng nhiều
từ Hán Việt và điển cố nhưng vẫn giữ được sự trong sáng của
tiếng Việt.
Đề tài “Hệ thống điển cố trong Sơ kính tân trang của
Phạm Thái” được triển khai dựa trên những thành tựu của ngôn
ngữ học, thi pháp học và văn hóa học. Điển cố trong Sơ kính tân
trang tồn tại với tư cách là một phương tiện đặc thù của tác
phẩm. Phạm Thái đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng
tạo, linh động, đích đáng, tự nhiên, gọn gàng, ý vị thanh nhã và
thuyết phục người đọc. Đó là nhờ có sự hòa quyện giữa yếu tố
khách quan và chủ quan theo đặc thù của thi pháp văn học trung
đại, là sự tiếp nhận ảnh hưởng của văn học cổ Trung Hoa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Nguyễn Thạch Giang (2000), Từ điển Văn học Quốc âm, Nxb
VHTT, H.
2.A. Gurevich (1996), Các phạm trù văn hóa trung cổ,
Nxb Giáo dục, H.
3.Võ Minh Hải (2008), Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
từ góc nhìn văn hóa, Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn. Trường Đại
học Quy Nhơn.


4.Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, Bộ
Quốc gia Giáo dục và Trung tâm học liệu Sài Gòn.
5.Bửu Kế (2000), Tầm nguyên từ điển – Cổ văn học từ ngữ
tầm nguyên, Nxb Trẻ, HCM.
6.Đoàn Ánh Loan (2003), Điển cố và nghệ thuật sử dụng
điển cố, Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh.
7.Nguyễn Tôn Nhan (2002), Từ điển thành ngữ, điển tích
Trung Quốc, Nxb VHTT, HCM.
8.Phạm Thái (2002), Sơ kính tân trang (Hoàng Hữu Yên
hiệu đính và chú giải), Nxb ĐHQG Hà Nội, H.
TÓM TẮT
HỆ THỐNG ĐIỂN CỐ TRONG SƠ KÍNH TÂN TRANG 梳 梳 梳
梳 CỦA PHẠM THÁI 梳 梳
Trần Hữu Chất
(Học viên Cao học Ngữ văn khóa 12)
Bài viết đã đặt vấn đề nghiên cứu về điển cố và nghệ thuật sử
dụng điển cố trong một tác phẩm cụ thể - Sơ kính tân trang
(Phạm Thái). Qua số liệu cụ thể, tác giả bài viết đã từng bước
khái quát những đặc điểm nghệ thuật và giá trị văn hóa của hệ
thống điển cố trong tác phẩm đặc biệt, mang tính tự truyện của
quá trình thể loại truyện Nôm Việt Nam. Đóng góp cơ bản của
công trình là sự khái quát, so sánh đối chiếu và xác định đúng
vai trò, vị trí của tác phẩm trong lịch sử văn học cổ điển Việt
Nam.


HẾT



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×