Tải bản đầy đủ

Vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ nguyễn khuyến trong thơ ca

Vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ Nguyễn Khuyến trong thơ ca
20:30, 27/11/2008
Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của dân tộc. Ông là một nho sĩ thành công trên con đường
học vấn và hoạn lộ. Ông đạt đến đỉnh cao vinh quang của danh vọng trong lúc xã hội Việt Nam
bước vào giai đoạn đầy đau thương.
Chế độ phong kiến đã trở thành gánh nặng của lịch sử, không đủ khả năng đưa dân tộc thoát khỏi
thảm họa ngoại xâm và nô dịch. Nguyễn Khuyến không đủ dũng khí như các chí sĩ trong phong
trào Cần Vương. Ông đã cáo quan về nhà để giữ tiết trong sạch. Là người có học, có nhân cách
lớn, ông không khỏi u hoài, day dứt trước hiện thực đau lòng của đất nước. Bởi vậy ông đã viết
trong Di chúc:
Ơn vua chua chút đền công
Cúi trông hổ đất, ngửa trông thẹn trời.
Nguyễn Khuyến (1835- 1909), quê ở làng Yên Đổ, tỉnh Hà Nam. Thủa nhỏ thông minh
chăm học. Năm 1864 thi Hương đỗ giải nguyên, năm 1871 đỗ đầu Hội nguyên và Đình nguyên,
nên mọi người thường gọi là Tam nguyên Yên Đỗ. Sau khi thi đỗ, Nguyễn Khuyến ra làm quan
giữ một số trọng trách quan trọng trong triều đình. Một thời gian sau khi thực dân Pháp xâm lược
nước ta ông đã cáo quan về quê với lí do đau mắt vào tuổi 49.
Có thể thấy, Nguyễn Khuyến là một nho sĩ được đào tạo theo khuôn mẫu đạo đức nho
giáo. Với ông, nam nhi phải có nghĩa vụ học hành đỗ đạt làm quan để thờ vua giúp nước , thực
hiện nghĩa vụ “trí quân trạch dân”(vừa giúp vua vừa làm cho dân được nhờ). Nếu vận nước bình
yên, Nguyễn Khuyến chắc chắn sẽ trở thành vị quan thanh liêm, mẫu mực. Nhưng thời Nguyễn

Khuyến, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình bạc nhược lần lượt dâng nước ta cho giặc.
Trong bối cảnh đó, nếu Nguyễn Khuyến tiếp tục làm quan chẳng khác nào tiếp tay cho giặc, đó
là điều mà các nhà nho chân chính, có nhân cách không thể chấp nhận. Còn theo chân các chí sĩ
yêu nước trong phong trào Cần Vương để đối mặt với kẻ thù dtộc, sẵn sàng hy sinh vì nước vì
dân thì ông chưa có đủ dũng khí và bản lĩnh. Nguyễn Khuyến lúng túng trong thái độ ứng xử.
Cuối cùng ông quyết định từ quan về quê để giữ mình trong sạch theo cách xử thế của nho sĩ
phong kiến.
Về quê, tưởng chừng được hưởng thú yên tĩnh thanh nhàn. Nhưng đất nước mỗi ngày lại
có nhiều biến động, thực trạng xã hội đau lòng khiến một nhà nho chân chính như ông không thể
nhắm mắt làm ngơ. Ông luôn mang tâm sự đau buồn u hoài. Ông hổ với đất, thẹn với trời chính
là ông đang hổ thẹn với dân với nước, hổ thẹn với chính bản thân. Nỗi lòng đó được ông giãi bày
qua thơ. Bài thơ Cuốc kêu cảm hứng là tiếng lòng của ông đối với non sông đất nước:
Năm canh máu chảy đêm hè vắng
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi


Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ.
Nguyễn Khuyến nổi tiếng với ba bài thơ thu. Ông đã vẽ nên những bức tranh thu làng
cảnh Việt Nam mang một vẻ đẹp nên thơ, trong sáng. Nhưng dường như trong mỗi bức vẽ đều
chứa đựng tâm trạng u buồn của ông. ở Thu vịnh, nỗi buồn đưa ông tìm về với quá khứ, tưởng
chừng như ông thảng thốt giật mình bởi âm thanh vang lên giữa không trung, hay chính là nỗi
buồn của ông đang choán ngợp cả không gian và thời gian:
Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào.
Với Thu ẩm, ông muốn uống rượu để quên đi nỗi buồn đau. Nhưng thật là nghịch lí: Mắt
lão không vầy cũng đỏ hoe. Mắt đỏ hoe hay chính ông đang thầm khóc cho bi kịch đau buồn của
đất nước, thầm khóc cho nỗi hổ thẹn của chính mình - khi phải sống bất lực trước hiện thực nước
mất. Tâm sự đó còn được ông gửi vào câu thơ tự trào cười ra nước mắt. Nửa đời ông sôi kinh
nấu sử đi thi mong đỗ đạt làm quan giúp nước nhà. Nhưng rồi ông đã không thực hiện được lí
tưởng sống cao đẹp đó. Ông thực sự hổ thẹn khi than: Sách vở ích gì cho buổi ấy/ áo xiêm luống
những thẹn thân già. Trong bài Tiến sĩ giấy cũng là một phần ông tự trào về mình- học giỏi đỗ
cao, tiến sĩ thật. Thế mà sống vô nghĩa không có giá trị đích thực: Tưởng rằng đồ thật hóa đồ
chơi.
Phải có một nhân cách cao đẹp, một tấm lòng gắn bó với đất nước, nhà thơ Nguyễn
Khuyến mới mang nặng một khối đau buồn, u hoài, hổ thẹn đến nhường vậy. Cho đến cuối đời,
trong Di chúc ông muốn con cháu, hậu thế thấu hiểu cho nỗi niềm ấy của ông qua lời thơ:
Đề vào mấy chữ trong bia
Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu.
Giáo viên: Khánh Dương





Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×