Tải bản đầy đủ

phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong thu ẩm

Tìm và phân tích đặc điểm phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong bài thơ sau
Thu ẩm
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy
Độ năm ba chén đã say nhè.
Nguyễn Khuyến
Cứ mỗi khi nhắc tới mùa thu là con người ta lại cảm thấy trong đó là cả thế giới của một kiểu
tâm trạng hết sức đặc trung trong văn học, đó là tâm trạng buồn, buồn thương, buồn nhớ, buồn
man mác…buồn. Với đủ những cách thức để đi đến những tâm trạng đó, các nhà thơ đã sử dụng
một cách khéo léo, tinh tế những yếu tố của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật để bày tỏ, để diễn
tả tâm trạng của mình qua bức tranh thu buồn kia. Đến với nhà thơ Nguyễn Khuyến, nhà thơ đã
được mệnh danh là người đã vẽ nên những bức tranh làng quê vùng Bắc Bộ Việt Nam vào mùa
thu đầy đủ và đẹp đẽ nhất, người đọc có lẽ sẽ nhắc tới ngay bài thơ “thu ẩm” trong chùm thơ
thu rất nổi tiếng của ông. Nhan đề bài thơ là “thu ẩm” có nghĩa là mùa thu uống rượu là nhãn
tự, là nơi nói lên nội dung chính của bài thơ, và ở đây, bài thơ là một bức tranh mùa thu với đủ
sắc màu và âm thanh dưới cái nhìn, dưới con mắt của một thi nhân, của một con người đang

đơn độc nâng chén với cuộc đời. Năm câu thơ đầu tiên, nhà thơ mở ra một khung cảnh làng quê
vào mùa thu trong một thời điểm vô cùng đặc biệt, đó là ban đêm.
Không giống như các thi nhân khác, không tìm đến với những thời điểm có thể coi như là kiểu
công thức văn học, không bước theo những lối đi quen thuộc để tả cảnh và rồi tả tình, không lựa
chọn hoàng hôn, cũng không lựa chọn chiều tà. Hoàng hôn và chiều tà là những thời điểm rất
đặc trưng trong văn học, khiến cho người ta cứ mỗi khi nhắc tới đều cảm nhận được ngay cảnh
và tình trong đó, rất hay và rất sâu sắc. Đó là hai thời điểm đã đem lại những thành công rực rỡ
cho biết bao tác phẩm thơ, nhưng với nhà thơ Nguyễn Khuyến, hai thời điểm đó dường như đã
quá thân quen, và nó cũng không phù hợp với những tâm trạng mà thi sĩ đang ôm ấp trong lòng.
Nhà thơ đã tạo nên một dấu ấn rất riêng cho mình ngay từ cách chọn thời điểm miêu tả cảnh ở
đầu bài thơ.
“Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe”
Giữa thời điểm ban đềm đầy mới mẻ ấy, nhà thơ đã khám phá những cảnh vật rất bình dị, rất
thân thuộc và hơn nữa là rất đặc trưng của mùa thu nơi thôn dã. Trong đêm tối, dường như tất


cả mọi vật đều bị bao trùm bởi một màu đen của trời đất, tưởng chừng con người ta sẽ chẳng thể
trông thấy một thứ gì huống chi là ngắm, ngắm để tìm thấy cái đẹp trong không gian tối mịt. Nhà
thơ Nguyễn Khuyến đã từ từ vẽ nên trước mắt người đọc một ngôi nhà năm gian “thấp le te”
hay chăng là những con đom đóm đang bay vò vè trong không trung và phát ra một thứ ánh
sáng “lập lòe”. Những gì mà nhà thơ nhìn thấy và vẽ nên thật quá giản đơn và mộc mạc nhưng
ai bảo sự giản đơn và mộc mạc ấy không đẹp. Lặng mình cô đơn ngắm cảnh vật trong một không
gian đặc biệt, một không gian rộng lớn, mịt mù của màu đen, không gian có chiều sâu thăm
thẳm của đêm tối, thì việc nhìn thấy một thứ gì đó đã là rất tuyệt. Chỉ có một mình nhà thơ với
không gian và cảnh vật, chẳng có người thân, chẳng ai bầu bạn, lúc này đây, chỉ có vật kia là
bầu bạn cùng nhà thơ, gian nhà cổ, rộng mà vắng bóng người, “thấp le te”, hay những con đom
đóm bay đi kiếm mồi trong đêm, phát ra thứ ánh sáng mà nhà thơ gọi là “lập lòe” nó không
sáng chói, không yếu ớt mà nhẹ nhàng, bé bỏng, mờ ảo, mơ hồ, lúc có lúc không làm cho không
gian trước con mắt của nhà thơ bỗng trở nên thú vị và vui mắt bởi cái “lập lòe”của đom
đóm.Vẫn trong thời điểm đặc biệt ấy, thi sĩ ấy, con người ấy vẫn lẻ loi, một mình, ngồi nhâm nhi
từng ngụm rượu và ngắm cảnh, ngắm cảnh như thể đi tìm những người bạn thiên nhiên, cảnh vật
đang thức cùng mình trong đêm khuya tĩnh lặng.
“Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao long lánh bóng trăng loe”
Đêm khuya là một thời điểm mà theo quy luật của tự nhiên, mọi vật đã đến lúc nghỉ ngơi, con
người cũng đi phải thiếp đi một giấc sau một ngày lao động nhưng trong bài thơ của Nguyễn
Khuyến thì không như vậy. Ông không để cho cảnh vật chìm vào trong giấc ngủ mà để chúng
thức, thức cùng ông, để ông được nhìn ngắm cảnh đẹp đêm thu, để ông không phải cô đơn, một
mình ngồi uống rượu trong đêm khuya thanh vắng. Bức tranh thu của nhà thơ cứ dần hiện lên


một rõ nét hơn với đủ những màu sắc của cảnh và vật. Nguyễn Khuyến đã tìm đến để ngắm, để
làm bạn với những vật sống không tuân theo quy luật của con người khi màn đêm buông xuống,
những cảnh vật trước mắt ông đều đang thức, đang tiếp tục quy luật sống của mình vào ban
đêm. Mùa thu tới, cảnh vật đều như đang hòa mình vào cái khí thu đang lan toả khắp mọi nơi,
không còn cái gió mát lộng sau một ngày nắng chói của mùa hè, không còn cái gió lạnh thấu
xương của mùa đông, cũng không còn làn gió ấm áp lẫn trong mưa phùn của mùa xuân, mà nay,
thay thế cho tất cả những thứ đó là một làn gió nhẹ, nhẹ mà hơi se lạnh, gió cứ luồn qua từng
ngõ ngách, lướt trên từng sự vật, bao phủ lên không gian một hơi thu rõ rệt. Cơn gió nhẹ hiu hiu
làm cho làn sương đêm bay đi mọi nơi, bám vào vạn vật trên con đuờng mà nó đi qua. Cơn gió
ấy đưa làn sương đi qua con mắt, đi qua tâm hồn của thi sĩ, làn sương trắng mỏng manh kia
bỗng trở nên đẹp, có màu sắc như những cảnh vật mà thi sĩ đã vẽ nên trong bức tranh thu. Làn
sương trắng giờ mang trên mình cái sắc mờ của “màu khói nhạt” nhẹ bay “phất phơ” trên lưng
giậu cúc tần quanh năm gian nhà cỏ bình dị. Làn sương tưởng chừng như rất đỗi bình thường
vậy mà nay, trong sự cảm nhận của một con người đang có trong mình một chút men say, có
trong mình một chất thơ nồng nàn, làn sương ấy có cái đẹp lạ lùng, cái đẹp ấy là cái đẹp mà
chắc hẳn chỉ có mùa thu mới có thể đem đến cho nó, chỉ có mùa thu mới có thể khoác lên cho
làn sương cái dáng vẻ “phất phơ” mềm mại, yểu điệu giữa màn đêm sâu thẳm. Cái nhìn của nhà
thơ trải qua từng cảnh, từng sự vật, từ gian nhà cỏ, qua ngõ tối sâu thẳm, hết lưng giậu cúc tần
và giờ là tới bờ ao trước mặt. Mặt ao giờ đây cũng chuyển động, cũng họat động như bao vật
khác mà nhà thơ đã trông và đã ngắm. Làn ao lúc này không giống như ban ngày đón nhận sự


phản chiếu chói chang của ánh nắng mặt trời mà đã khác rồi. Đêm đến, mặt trời đã khuất sau
lũy tre làng đằng xa, mặt trời đã nhường chỗ cho mặt trăng, mặt trăng xuất hiện, phát ra một
thứ ánh sáng nhẹ nhàng, dễ chịu, một thứ ánh sáng mà trong đêm thu, khi nhìn thấy con người ta
có tẻer có cảm giác thật dễ chịu, mát mẻ cũng có mà ấm áp cũng có. Trước gió và trăng thu, gió
thu lướt lăn tăn sóng mặt nước, trăng thu soi bóng vàng loe, một cảm giác nhẹ nhàng trong một
không gian với những gam màu cũng thật nhẹ, thật êm dịu. Ánh trăng sáng soi xuống làn nước
ao đang gợn sóng nhẹ tạo nên một cảnh tượng thật đẹp và huyền diệu. Vẫn chỉ có một trăng,
nhưng trăng trên cao lại khác với tăng trong làn ao trước mắt thi si. Phải chăng sự khác biệt ấy
chỉ có với tâm hồn của một thi sĩ, trăng trên bầu trời đêm thật tròn, thật sáng, còn trăng trong
làn ao lóng lánh, mờ ảo, diệu kỳ và càng trở nên đẹp hơn, quyến rũ hơn khi trăng ấy quyện mình
vào hơi sương mờ bay là là trong gió. Nhà thơ cô đơn mà lại trở nên không còn cô đơn nữa, nếu
trước khi ngắm cảnh, ông thực sự chỉ có một mình, một mình cùng chén rượu trong đêm thì giờ
đã khác, xung quanh nhà thơ đã có biết bao cảnh vật đẹp đẽ sang sống, đang họat động, đang
khoác trên mình chiếc áo mùa thu giản đơn, mộc mạc mà đẹp đẽ, hấp dẫn. Khép lại những câu
thơ miêu tả cảnh thu nơi thôn quê, nhà thơ đã đặt một câu hỏi tu từ đầy thú vị
“ Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?”
Bốn câu thơ trên, nhà thơ vẫn đang miêu tả cảnh trong thời điểm là ban đêm, vậy mà đến câu
thơ thứ năm này, ta lại trông thấy ở đó màu của ánh sáng, màu của ban ngày hiện lên giữa đêm
tối. Phải chăng trong đêm thu đẹp đẽ ấy, thi sĩ vẫn để tâm hồn mình vẩn vơ, tương tư về một thứ
ánh sáng, thứ ánh sáng của ban ngày, thứ ánh sáng trong xanh, sâu thẳm của bầu trời không
gợn một bóng mây. Đây là tả cảnh hay ước mơ nhỏ nhoi của thi sĩ về một không gian, một cuộc
sống tươi đẹp, vui vẻ. Nhà thơ hỏi “da trời ai nhuộm”, hỏi một điều chẳng bao giờ là sự thật,
chẳng bao giờ có, ai có thể “nhuộm” được màu của bầu trời để cho nó có được cái màu “xanh
ngắt” đẹp đẽ ấy. Chỉ có điều đó trong ước mong, trong niềm khát khao và chỉ có niềm khát khao,
hi vọng mới làm nên điều chưa từng có đó trong tâm hồn của tác giả, của một con người đang
ngân nga trong chén rượu khuya. Ở câu thơ này, Nguyễn Khuyến đã thật khéo léo khi sử dụng
nghệ thuật đảo ngữ, đáng lẽ câu thơ phải là “ai nhuộm da trời mà xanh ngắt” nhưng nhà thơ lại
sắp xếp câu chữ thành “da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”. Nhà thơ muốn nhấn mạnh một câu hỏi
tu từ không có lời giải để khẳng định cái đẹp của thiên nhiên, hay của cuộc sống mà thi sĩ luôn
tìm kiếm để bầu bạn. Trong những câu thơ miêu tả cảnh thiên nhiên làng quê thu vào một đêm
khuya tĩnh lặng, dường như nhà thơ đã nhìn, đã ngắm, đã cảm nhận bằng thị giác và cảm giác,
chính vì vậy mà hang loạt nhưng từ láy như “le te”, “lập lòe”, “phất phơ”, lóng lánh” cùng
nhiều từ ngữ giàu tính tạo hình khác đã được sử dụng một cách tài tình và khéo léo để làm cho
bức tranh thu mộc mạc giản dị ấy vẫn trở nên đẹp, đẹp vẻ đẹp của sự gần gũi, của sự hấp dẫn và
chân thật. Đặc biệt, trong câu thơ thứ tư “làn ao lóng lánh bóng trăng lòe”, cách vận dụng và
sắp xếp các từ ngữ đã thể hiện sự tài năng rất khác biệt của Nguyễn Khuyến. Bóng trăng vàng từ
mặt nước sáng loé ra, bốn chứ “l” nối tiếp nhau trong một câu thơ đã tạo cho bài thơ một sức
nặng, gợi tả chất vàng nước kim loại, ba dấu sắc khứ thanh là “lóng, lánh, bóng” gởi sự bắn đi
của ánh sáng, từ “loe” với vần “oe” đã gởi ra một hình khối tròn trịa, bầu bĩnh như trăng trên
bầu trời đêm thu. Bức tranh cảnh đêm thu của Nguyễn Khuyến có gì là kiêu sa, có gì là diễm lệ,
sang trọng đâu, vậy mà tất cả lại hiện lên đẹp đẽ đến vậy, đáng yêu đến vậy. Cảnh như hút hồn
người vào đó để cùng thưởng thức, cùng cảm nhận về cái đẹp mà chỉ có nơi làng quên, thôn dã


mới có được. Bài thơ vẫn chưa dừng lại ở đó, câu thơ thú vị ấy như một cái khép lại cho tả cảnh
nhưng như là một bước chuyển, mở ra những câu thơ cuối, tả tình, tả mình, tả tâm trạng.
“Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe
Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy
Độ năm ba chén đã say nhè”
Đến câu thơ thứ sáu này, người đọc vẫn thấy những vần thơ miêu tả của thi sĩ, nhưng giờ thi sĩ
ấy không miêu tả cảnh trước mặt mình nhìn thấu mà đi tả chính bản thân mình, bản thân của
một con người đang mang nặng trong lòng những nỗi đau chua chát của cuộc đời. Nhà thơ tả
một con người đang đắm mình trong chén rượu, uống rượu để thao thức, để ngẫm qua một đêm
dài, nhưng thao thức lại để uống rượu để quên đi những nõi đau mà ông biết cho dù thế nào nó
vẫn mãi mãi không bao giờ có thể xóa đi trong trí nhớ và tâm hồn mình. Nếu nỗi đau về thế sự,
con người ta còn có thể cố gắng lãng quên đi phần nào và tìm về với nơi mình đã bắt đầu, gia
đình, người thân, nhưng một nỗi đau khi nơi ấy cũng chẳng còn nữa thì còn có gì để quên được
nữa đây. Sự thực về cuộc đời là một tấn bi kịch mà thi sĩ phải một mình gánh lấy, vợ chết, con
mất, bạn chí thân qua đời, tuổi đã già, yếu đau, uống chút men say của rượu để cố quên, để vơi
bớt đi nỗi buồn. Dường như chén rượu mà nhà thơ uống đang tràn đầy nước mắt, đôi mắt của
tuổi giả đã hõm xuống, nheo lại nhưng giờ thì điều đó càng rõ hơn khi con người ấy khóc, khóc
cho cuộc đời của chính mình, đôi mắt “đỏ hoe” trước những nỗi niềm và sự đau khổ trước bao
mất mát quá lớn. Hai câu thơ kết ý tại ngôn ngoại, thấm một nỗi buồn mênh mông. Thi sĩ nâng
chén rượu để tiêu sầu nhưng rượu vào, sầu chẳng vợi mà sầu lại càng sầu, buồn đau lại càng
buồn đau gấp bội. Tìm đến rượu đâu phải để tìm thú vui cho bản thân mình, thi sĩ không uống
rượu để biến mình thành kẻ say, thành kẻ hư vì rượu mà mượn rượu để ngắm cảnh, để say sưa
một chút rồi “say nhè” và chìm vào giấc ngủ sau biết bao cảm nhận trước cảnh, biết bao tâm
sự, cảm xúc về một thực tại tâm trạng, sự đớn đau tận cùng, sự thương tâm cho số phận của một
người đàn ông, một đấng nam nhi. “Thu ẩm” đã kết lại tại những vần thơ đầy xúc động này, có
lẽ mỗi người đọc sau khi thưởng thức xong cái đẹp mùa thu trong bài thơ mà không hề thấy có
bất kỳ sự xuất hiện của một chữ “thu”nào đều phải lặng im và suy tư về cuộc đời và số phận của
thi sĩ, của nhân vật trữ tình trong bài thơ. Ta chợt nhận ra rằng, trong xã hội phong kiến lúc bấy
giờ, mỗi biến loạn của thế sự lại khiến cho con người ta biết bao mất mát, đau đớn, nạn nhân
của nó không chỉ là những người phụ nữ mà những người đàn ông như chính nhà thơ cũng là
một trong những nạn nhân phải gánh chịu hậu quả, chịu cảnh mất hết người thân, phải sống cô
đơn, lẻ loi một mình đáng thương vô cùng. Bằng tài năng và sự khéo léo của mình, nhà thơ đã
viết nên một bài thơ mang đậm dấu ấn và âm hưởng riêng của một Nguyễn Khuyến đã tài tình và
tinh tế viết nên một áng thơ giàu tính thẩm mĩ, tính đã nghĩa, từ cảnh mà tình, rồi tình lại nhuốm
lên cảnh. Tất cả những phong cách ngôn ngữ nghệ thuật đó đã khiến cho những vần thơ “thu
ẩm” của Nguyễn Khuyến mãi là một kiệt tác văn học tuyệt vời và xúc động.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×