Tải bản đầy đủ

Ba bài thơ thu của nguyễn khuyến

Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến
Thứ Năm, 31/03/2011, 05:00 CH | Lượt xem: 2052
Phân tích / Bình giảng bài thơ "Thu vịnh", "Thu điếu" và "Thu ẩm" của Nguyễn Khuyến

Bình bài thơ "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến
Bài làm
Đi câu là một cái thú thanh tao của các bậc trí giả. Có bậc hiền nhân có tài, bất đắc chí
đi câu để chờ thời. Ngồi trên bờ ao mà nghĩ đến chuyện năm châu bốn biển, nghĩ đến
thế sự đảo điên, "cá ăn đứt nhợ vểnh râu ngồi bờ" (có người còn dùng lưỡi câu thẳng
như Khương Tử Nha - Trung Quốc). Có bậc đại nhân vác cần đi câu để hưởng thú
nhàn tản, hòa hợp với thiên nhiên, suy tư trong trạng thái thư giãn. Nguyễn Khuyến đi
câu theo kiểu này. Ông đã mở hết các giác quan để cảm nhận mùa thu, cũng là mùa
câu của xứ Bắc. Như những đứa trẻ trong xóm, ông câu cá cũng chăm chú, cũng hồi
hộp, cũng say mê. Kết quả của cuộc chơi ấy là ông đã được một bài thơ " Thu điếu"
vào loại kiệt tác của nền văn học nước nhà:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Hình ảnh mùa thu hiện lên trong bài thơ với một không gian hẹp ở chốn làng quê của
tác giả, trong một cái ao nhỏ với chiếc thuyền câu nhẹ thênh thênh:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,


Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Cái tôi trữ tình lặn phía sau ngôn từ. Cảm giác của thi nhân thì hiện lên sắc sảo và tinh
tế. Mùa thu đã vào chiều sâu, "ao thu lạnh lẽo" với mặt nước "trong veo" rất muốn
nhìn, ao thu như là chiếc gương tròn của làng quê. Làng Bùi của nhà thơ là đồng
chiêm trũng rất nhiều ao, ao nhỏ. Ao nhỏ thì thuyền câu cũng nhỏ theo " bé tẻo teo".
Âm eo là tử vận hiểm hóc, vậy mà câu thơ trôi chảy tự nhiên như không, như không
có chút gì là kĩ xảo cả.
Thuyền câu đã hiện ra đấy mà người câu đâu chẳng thấy. Cũng chưa thấy cần thấy
nhợ gì cả. Người đi câu còn mải mê với trời nước của mùa thu:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Ao thu không còn tĩnh lặng nữa mà đã nổi sóng với hai thanh trắc ở đầu câu (sóng
biếc) và hai thanh trắc ở cuối câu (gợn tí). Sóng nhỏ vì ao nhỏ, lại là trong chỗ khuất.
Gió nhẹ, gió heo may mùa thu. Sóng lại có màu sắc, "sóng biếc" thật đẹp. Ngòi bút
của tác giả tinh tế đến từng chi tiết nhỏ. Hai câu thực đối rất chỉnh. "Sóng biếc" đối
với "lá vàng", đều là màu sắc đặc trưng của mùa thu. "Hơi gợn tí" đối với "sẽ đưa
vèo", vận động của chiều dọc tương xứng với vận động của chiều ngang thật tài tình.
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Nhà thơ đã thả hồn theo chiếc lá vàng "sẽ đưa vèo" trên mặt ao trong veo. Cái màu
vàng của mùa thu mà bao nhiêu thi nhân đã ngợi ca:
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô
(Lưu Trọng Lư)
Vàng rơi ! Vàng rơi ! Thu mênh mông.
(Bích Khê)
Và đây là chiếc lá vàng của Nguyễn Khuyến trong bài thơ "Thu điêu" dưới ánh mắt
của Xuân Diệu: "Cái thú vị của bài "Thu điếu" ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ,
xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá
thu rơi...". Lời bình của Xuân Diệu thật là tâm đắc.


Nhà thơ mở không gian lên chiều cao tạo nên không khí khoáng đạt và không gian
được mở rộng nên bức tranh "Thu điếu" thêm đường nét, thêm màu sắc:


Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Màu da trời "xanh ngắt" thật là đẹp, màu xanh sao mà tha thiết. Trong màu "xanh
ngắt" có cái thăm thẳm của chiều cao. Mây không trôi mà "lơ lửng", những áng mây
trắng "lơ lửng" trên bầu trời "xanh ngắt" thật là thanh bình. Rồi tác giả lại trở về cận
cảnh với hình ảnh của làng quê. "Ngõ trúc quanh co", đường làng quanh co thân thuộc
với bóng tre trùm mát rượi. Nhưng bao giờ trong thơ Nguyễn Khuyến tre cũng nói là
trúc, "Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu" (Thu vịnh), "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo".
Nguyễn Khuyến thích cái hình thể loại cây chí khí ấy "Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn
thẳng". Những nét trúc thẳng đối lập với những nét quanh co của đường làng thật là
gợi cảm. Trời lạnh, đường quê vắng vẻ, "khách vắng teo". Bức tranh thu đượm buồn.
Các thi sĩ thích miêu tả cảnh thu trong tĩnh lặng, đẹp, nhưng buồn. Sau Nguyễn
Khuyến, nhà thơ lãng mạn Xuân Diệu cũng viết:
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò.
Đây mùa thu tới
Bài thơ kết thúc với hình ảnh của người đi câu như một nét tự họa:
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Nhà thơ thu mình lại "tựa gối ôm cần", dường như để tương xứng với khung ao nhỏ,
với chiếc thuyền "bé tẻo teo". Người đi câu đang đắm chìm trong suy tư thì một cử
động đã làm cho nhà thơ sực tỉnh:
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Ba chữ "đ" (đâu, đớp, động) miêu tả một chút xao động trong làn ao và rất nhiều xao
động trong lòng thật là tài tình.
Có ý kiến cho rằng cử chỉ đi câu của Nguyễn Khuyến giống với Khương Tử Nha và
nhà bình luận đó hết lời ngợi ca cả hai ông. Không! Nguyễn Khuyến đâu có còn chờ


thời. Nhà thơ chỉ muốn tan hoà vào thiên nhiên, vào non nước. Toàn bộ hình tượng
thơ "Thu điếu" đã sửa soạn cho thái độ này. Khung cảnh hẹp, làn ao nhỏ, chiếc thuyền
"bé tẻo teo". Nhà thơ thu mình lại "tựa gối ôm cần" hòa điệu với thiên nhiên, tan hòa
với non nước. Thế thì làm sao thái độ đi câu của Nguyễn Khuyến lại giống với thái độ
đi câu của Khương Tử Nha được ? Còn đồng tình với ai đó là chuyện riêng. Tôi đồng
tình với Nguyễn Khuyến.
Trong chùm thơ ba bài viết về mùa thu của Nguyễn Khuyến, nếu được chọn một bài
thì đó là bài "Thu điếu". Bài thơ "Thu điêu" là kiệt tác trong nền thơ cổ điển nước nhà.
Bức tranh mùa thu được miêu tả bằng những hòa sắc tinh tế, những đường nét gợi
cảm. Nhạc điệu cũng độc đáo. Vần gieo hiểm hóc mà tự nhiên, hồn nhiên. Theo Xuân
Diệu, cả bài thơ không non lép chữ nào. Thật là một nghệ sĩ cao tay. Cái tình của nhà
thơ cũng theo kịp cái tài. Cái tình của nhà thơ đối với quê hương làng cảnh, với non
sông đất nước thấm trong mỗi chữ mỗi lời làm xúc động hết thảy mỗi tâm hồn Việt
Nam.
Nguyễn Đức Quyền

Phân tích bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến.
Bài làm
Trong nền thơ ca dân tộc có nhiều bài thơ tuyệt hay nói về mùa thu. Riêng Nguyễn
Khuyến đã có chùm thơ ba bài: Thu vịnh, Thu ẩm và Thu điếu. Bài thơ nào cũng hay,
cũng đẹp cho thấy một tình quê dào dạt. Riêng bài “Thu điếu”, nhà thơ Xuân Diệu đã
khẳng định là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. “Thu điếu”
là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc: Cảnh đẹp mùa thu quê hương, tình yêu thiên
nhiên, yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.
“Thu điếu” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ tinh tế, giàu
hình tượng và biểu cảm. Cảnh thu, trời thu xinh đẹp của làng quê Việt Nam như hiện
lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngọn bút thần tình của Nguyễn Khuyến.
Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo” toả hơi thu
“lạnh lẽo”. Sương khói mùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại
trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên “lạnh lẽo”. Trên mặt nước hiện lên thấp
thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ - “bé tẻo teo”. Cái ao và chiếc thuyền câu là
hình ảnh trung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê


nhà. Theo Xuân Diệu cho biết vùng đồng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam có cơ man
nào là ao, nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo
teo”:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”.
Các từ ngữ: “lạnh lẽo”, “trong veo”, “bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình, màu
sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về.
Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài ba làm rõ thêm cái hồn của
cảnh thu:
“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”.
Màu “biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà
lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện, “lá vàng” với “sóng biếc”,
tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của sóng gợn. Nhà thơ Tản Đà đã
hết lời ca ngợi chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của
mình may ra mới có được một câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu”: “Vèo
trông lá rụng đầy sân”.
Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu
trời “xanh ngắt” với những tầng mây “lơ lửng” trôi theo chiều gió nhẹ. Trong chùm
thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là “xanh ngắt”:
- “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”.
(Thu vịnh)
- “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”.
(Thu ẩm)
- “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”.
(Thu điếu)
“Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (mây xám), mà xanh ngắt
một màu thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn


vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi, ông lơ đãng đưa mắt nhìn về
bốn phía làng quê. Hình như người dân quê đã ra đồng hết. Xóm thôn vắng lặng, vắng
teo. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại:
“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.
Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm
trong một giấc mộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến
“chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, từ “sóng biếc” đến “lá vàng”, từ “tầng mây lơ lửng”
đến “ngõ trúc quanh co” hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh,… có khi thoáng
chút bâng khuâng, man mác, nhưng rất gần gũi, thân thiết với mọi con người Việt
Nam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế!
Cái ý vị của bài thơ “Thu điếu” là ở hai câu kết:
“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”.
“Tựa gối ôm cần” là tư thế của người câu cá cũng là một tâm thế nhàn của một nhà
thơ đã thoát vòng danh lợi. Cái âm thanh “cá đâu đớp động”, nhất là từ “đâu” gợi lên
sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to
triều Nguyễn, yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm
làm tay sai cho thực dân Pháp đã cáo bệnh, từ quan. Đằng sau câu chữ hiện lên một
nhà nho thanh sạch trốn đời đi ở ẩn. Đang ôm cần đi câu cá nhưng tâm hồn nhà thơ
như đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu, bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi “Cá
đâu đớp động dưới chân bèo”. Cho nên cảnh vật ao thu, trời thu êm đềm, vắng lặng
như chính nỗi lòng của nhà thơ vậy - buồn cô đơn và trống vắng.
Âm thanh tiếng cá “đớp động dưới chân bèo” đã làm nổi bật khung cảnh tịch mịch
của chiếc ao thu. Cảnh vật như luôn luôn quấn quýt với tình người. Thiên nhiên đối
với Nguyễn Khuyến như một bầu bạn tri kỉ. Ông đã trang trải tình cảm, gửi gắm tâm
hồn, tìm lời an ủi ở thiên nhiên, ở sắc vàng của lá thu, ở màu “xanh ngắt” của bầu trời
thu, ở làn “sóng biếc” trên mặt ao thu “lạnh lẽo”…
Thật vậy, bài thơ “Câu cá mùa thu” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc của
Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu
đậm nhạt, những nét vẽ xa gần, tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa “vèo”
trong làn gió thu, tiếng cá “đớp động” chân bèo - đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc
của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất
nước.


Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất độc đáo. Vần “eo” đi vào bài thơ rất tự
nhiên thoải mái, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc; âm hưởng của những vần
thơ như cuốn hút chúng ta: trong veo - bé tẻo teo - đưa vèo - vắng teo - chân bèo. Thi
sĩ Xuân Diệu đã từng viết: “Cái thú vị của bài “Thu điếu” ở các điệu xanh, xanh ao,
xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của
chiếc lá thu rơi”…
Thơ là sự cách điệu tâm hồn. Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc
đồng quê với tất cả tình quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc
“Thu điếu”, “Thu vịnh”, “Thu ẩm”, chúng ta yêu thêm mùa thu quê hương, yêu thêm
xóm thôn đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng
là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị
vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

Bình giảng bài thơ "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến
Bài làm
Nguyễn Khuyến nổi tiếng với chùm thơ ba bài viết về mùa thu "Thu vịnh", "Thu
điếu", "Thu ẩm". Có lẽ Nguyễn Khuyến đã viết theo lối "chùm ba" của Đỗ Phủ (đại
thi hào Trung Quốc này nổi tiếng với "Tạm biệt", "Tam lại"...). Theo nhận xét của
Xuân Diệu thì trong ba bài thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến, bài thơ "Thu vịnh" mang
cái hồn của cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao. "Thu vịnh"
mang cái thần của cảnh mùa thu xứ Bắc và cả tâm sự u uẩn của thi nhân:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu,.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào ?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,


Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Bức tranh mùa thu được tác giả phác họa với không gian thoáng đãng. Nền trời xanh
chấm phá một nét nhẹ, mềm của cành trúc:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Mùa thu ở xứ Bắc có bầu trời cao, xanh trong đã hiện lên trong thơ Nguyễn Khuyến là
"trời thu xanh ngắt". Màu sắc ấy là màu của trời thu mà cũng là cái tình tha thiết của
thi nhân đối với mùa thu, đối với quê hương làng cảnh. Không gian mở ra thăm thẳm
"mấy từng cao", một cần trúc (trúc chứ không phải là tre) vươn lên trên nền trời thu
"xanh ngắt". Nét cong mềm của "cần trúc" vươn lên một cách thanh cao, không uỷ mị
như rặng liễu đìu hiu buông xuống trong thơ mùa thu của Xuân Diệu. Từ láy "lơ phơ"
gợ tả vẻ thưa thớt của những lá trúc lay động bởi gió heo may mùa thu. Từ láy " hắt
hiu" gợi được sự rung động của cành trúc, hay là sự rung động của tâm hồn thi nhân
trước cảnh thu, trời thu đượm buồn ?
Bức tranh mùa thu trong "Thu vịnh" cứ được thêm hòa sắc mới, đường nét, hình ảnh
mới:
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Hình ảnh mùa thu được pha thêm màu "nước biếc", thêm một sắc xanh tha thiết nữa,
màu của ao thu trong xanh, với "khói phủ" nhạt nhòa. "Khói" ở đây gợi nhớ "khói
sóng" trong thơ Thôi Hiệu "trên sông khói sóng cho buồn lòng ai". Cảnh đêm thu thật
là huyền diệu. Lại thêm có trăng. Thi nhân mở lòng ra đón trăng "Song thưa để mặc
bóng trăng vào". Trong đêm thu thanh tĩnh, trăng là người bạn tri kỉ của thi nhân. Có
ánh trăng thu, bức tranh mùa thu trong thơ thêm sáng. Mọi vật trong đêm thu được
pha thêm ánh trăng huyền ảo, mộng mơ.
Cảnh thu thêm huyền hoặc, từ màu hoa cho đến tiếng chim.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào.
Hoa mùa thu không đổi, không có màu sắc vì khói phủ nhạt nhòa hay nhà thơ mất hết
ý niệm về thời gian ? "Mấy chùm trước giậu" làm sao biết được đó là hoa gì, màu sắc


như thế nào. Chỉ biết đó là "hoa năm ngoài". Tứ thơ gợi nhớ một câu Kiều "Hoa đào
năm ngoái còn cười gió đông". Tứ thơ của Nguyễn Khuyến còn trừu tượng hơn, ở đây
chẳng có hoa đào, hoa cúc gì cả. Hình ảnh "hoa năm ngoái" thể hiện thời gian ngưng
đọng, tâm trạng bất biến của thi nhân. Câu thơ thể hiện một nỗi buồn man mác. Âm
thanh mùa thu là một tiếng ngỗng trời xa lạ "ngỗng nước nào". Tiếng ngỗng trời lạnh
cả không gian mùa thu đã làm thổn thức nỗi lòng của thi nhân.
Đêm thu huyền diệu đã gợi cảm hứng cho nhà thơ. Thi hứng cũng chọt đến trong nỗi
niềm u uẩn của thi nhân:
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Trước cảnh thu huyền diệu, nhà thơ đã bộc lộ trực tiếp nỗi lòng của mình. Theo quan
điểm của Nguyễn Khuyến mà cũng là quan điểm của các nhà thơ chân chính, thơ gắn
liền với nhân cách, nhân cách lớn thì thơ lớn.
Rụng động trước mùa thu, cất bút định làm thơ, Nguyễn Khuyến cảm thấy "thẹn với
ông Đào". Ông Đào ở đây tức là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh), một nhà thơ nổi tiếng ở
Trung Quốc thời Lục Triều. Ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan, ròi chán ghét cảnh quan
trường thối nát đã treo ấn từ quan, lui về ẩn dật và có bài "Quy khứ lai từ" rất nổi
tiếng. Sao cụ Nguyễn lại "thẹn" với ông Đào? Thái độ này chưa từng thấy đối với các
thi nhân cổ kim. Về khoa bảng, ông Đào đỗ tiến sĩ, cụ Nguyễn cũng đỗ tiến sĩ, cụ
Nguyễn lại còn có Tam nguyên, người đời gọi cụ là Tam nguyên Yên Đổ. Về tài hoa,
thơ của Nguyễn Khuyến kém gì thơ Đào Uyên Minh? Nguyễn Khuyến là một trong
những nhà thơ cổ điển lớn nhất ở nước nhà được Xuân Diệu phong là "Nhà thơ quê
hương làng cảnh Việt Nam" và hết lời ngợi ca. Có lẽ cụ Nguyễn "thẹn với ông Đào"
về khí tiết. Cụ Nguyễn thiếu cái dũng khí của ông Đào, người đã từ quan một cách dứt
khoát, trở thành một nhân vật lừng danh về khí tiết trong giới quan trường Trung Hoa.
Còn Nguyễn Khuyến thì lúng túng khi ra làm quan (thời đó ra làm quan tránh sao khỏi
là tay sai của giặc Pháp) và lừng khừng khi từ quan. "Thẹn với ông Đào" là một nỗi
đau nhân thế, muốn tìm sự đồng cảm của người đời. Đã về ẩn dật rồi, cụ Nguyễn vẫn
còn chưa nguôi ân hận về những năm tham gia guồng máy thối nát tàn bạo của bọn
thực dân phong kiến thời bấy giờ. Câu thơ của một tấm lòng chân thực, là nỗi niềm u
uẩn của một nhân cách lớn, của một nhà thơ lớn.
"Thu vịnh" là một bài thơ hay viết về mùa thu của Nguyễn Khuyến. Bức tranh mùa
thu với màu sắc thanh đạm, đường nét uyển chuyển, không gian cao rộng, cảnh vật
huyền ảo dưới ánh trăng trong thể hiện nỗi lòng tha thiết của nhà thơ đối với quê
hương đất nước. Nhân vẻ đẹp của đêm thu, nhà thơ cũng bộc bạch tâm sự sâu kín,
chân thật của mình hết sức cảm động.


Thiên nhiên mùa thu của quê hương làng cảnh Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của
Nguyễn Khuyến đẹp một cách thanh cao, gợi cảm, hồn hậu, khiến chúng ta càng thêm
yêu, thêm quý quê hương đất nước của mình.
Nguyễn Đức Quyền

Bình giảng bài thơ "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến
Bài làm
Nguyễn Khuyến có nhiều bài thơ thu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Thu vịnh là một
trong ba bài thơ Nôm nổi tiếng: Thu điếu, Thu ẩm và Thu vịnh. Chùm thơ này đã đưa
Nguyễn Khuyến lên vị trí hàng đầu trong các nhà thơ viết về mùa thu của quê hương,
làng cảnh Việt Nam.
Đáng lưu ý là các chi tiết trong bài thơ này đều rút ra từ cảnh vật quen thuộc nơi quê
hương tác giả. Vùng đồng chiêm trũng một năm chỉ làm được một mùa, còn toàn là
ngập nước. Trong làng vô số ao chuôm với những bờ tre quanh co bao bọc những mái
tranh nghèo. Mở đầu là cảnh bầu trời bao la, bát ngát:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao
Cần trúc lơ phớ gió hắt hiu.
Nền trời thu xanh ngắt là xanh mà có chiều sâu. Mấy từng cao là rất cao, tưởng như
có nhiều lớp, nhiều tầng. Trời thu không mây, xanh thăm thẳm và rộng không cùng.
Trên cái nền ấy nổi bật lên hình ảnh thanh tú của cần trúc (cây trúc non dáng cong
cong như chiếc cần câu) đang đong đưa khe khẽ trước gió thu. Gió hắt hiu là gió nhẹ
và như chứa chất gì đó bên trong. Tất cả đều như có một mối cảm thông thầm lặng,
sâu kín, rất êm, rất nhẹ, tinh tế và khó nắm bắt… Cái động của cần trúc càng làm tăng
thêm cái lặng thinh, sâu thẳm của màu trời. Màu trời lại như dồn tất cả cái sâu lắng
vào bên trong của một mình cần trúc, để cho nó vừa đủ đong đưa mà cũng vừa đủ
đứng yên. Đó là cái động và cái tĩnh của mùa thu.
Hai câu đề chấm phá hai nét cảnh thu đơn sơ, thanh thoát nhưng nhịp nhàng với tâm
hồn tác giả. Trong đó, mọi chi tiết, sắc màu, đường nét, cử động đều hài hòa, giao cảm
với nhau. Mới nói đến trời thu những đã chứa cả hồn thu trong đó.
Nước biếc trông như từng khói phủ


Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Nước biếc là màu nước đặc trưng của mùa thu. Khí trời mùa thu se lạnh. Lúc sáng
sớm hay lúc hoàng hôn, nước trong ao hồ thường được phủ lên một lớp sương mỏng
trông xa như khói. ở đây, cảnh mặt nước khói sương ấy qua tâm hồn Nguyễn Khuyến
đã thành một dáng thu ngâm vịnh. Từng khói phủ không như làn khói phủ. Khói đã trở
nên dày hơn, nhiều lớp hơn, có chiều cao, có độ sâu, như có gì chứa chất, và cái đó
được phủ lên, trùm lên, che khuất vào trong. Nước biếc có từng khói phủ là nước
không còn màu biếc nữa, lẫn vào làn khói lam mờ, hoá mông lung, huyền ảo. Đó là
dáng thu trên mặt đất, sau dáng thu ở bầu trời.
Song thưa gợi ý nhẹ, thanh, cởi mở. Bóng trăng vào qua song thưa để ngỏ thì bóng
trăng trở nên mênh mông hơn, thoải mái hơn. Nhưng tất cả đều lặng lẽ và bên trong
cái im lìm ấy lại là cái gì đang chờ đợi, đang sắp sửa. Nếu ở câu trên là một trạng thái
có chiều cao, có độ sâu, trùm lên, phủ lên thành một khối, một thể tích thì ở câu này
lại là một trạng thái mở ra, tràn vào, bày ra một bề rộng, một cái diện. Cái diện ấy mặc
dù hình như bị giới hạn bởi cửa sổ song thưa, vẫn có mênh mông, mênh mông ở bên
trong, ở tinh thần và âm điệu… Nhưng dù khối hay diện cũng đều lặng yên, chất chứa
suy tư.
Cảnh vật trong bốn câu thơ đầu dường như không cùng trong một thời điểm. Nhìn
thấy cảnh trời xanh, cần trúc lơ phơ là lúc đang trưa. Nước biếc có sương khói phủ là
lúc hoàng hôn và bóng trăng tràn qua song cửa là lúc trời đã vào đêm… Cảnh trí được
vẽ ra liên tục nhưng không cùng một thời điểm, một không gian. Có điều, mối dây
liên kết tất cả lại là tâm tình thống nhất của tác giả.
Ngòi bút theo chiều tâm tư nhà thơ mà chọn mấy nét cảnh vật kia. Tuy khác nhau
nhưng hình như đều cùng nhất trí gợi lên một trạng thái lặng yên, nhiều cảm thông và
ẩn giấu vào bên trong. Đó là tâm tư tác giả, là linh hồn của mùa thu.
Tâm trạng ấy chi phối tiếp cách nhìn, cách nghĩ của Nguyễn Khuyến:
Mấy chùm trước giậu, hoa năm ngoái
Một tiếng trên không, ngỗng nước nào ?
Sau khi nhìn mặt nước phủ sương, nhìn ánh trăng vào cửa sổ, nhà thơ trông ra bờ giậu
ngoài sân. ở đó, lác đác mấy chùm hoa. Và bỗng dưng, nhà thơi thấy đó là hoa năm
ngoái.
Trên kia cảnh vật mới là qua con mắt nhìn, chừng nào còn khách quan, đến đây trái
tim xúc cảm đã can thiệp vào cảnh vật và cảnh vật khoác thêm màu sắc chủ quan của


tác giả. Hoa trước mắt, năm nay hẳn hoi mà cảm thấy là hoa năm ngoái. Điều gì đã
xảy ra trong lòng người? Con người đang ở trong hiện tại mà như lùi về quá khứ hay
quá khứ hiện về trong thực tại?
Âm điệu câu thơ theo nhịp 4/1/2: Từ mấy chùm trước giậu đến hoa năm ngoái có một
đoạn ngẫm nghĩ trong lòng nhà thơ, một đoạn suy tư và sau đó đột nhiên xuất hiện
cảm giác hoa năm ngoái chứ không phải là hoa năm nay. Cảm giác ấy khiến nhà thơ
nghe tiếng ngỗng trên không vẳng xuống mà băn khoăn tự hỏi ngỗng nước nào ? Mặc
dù tiếng ngỗng ấy đã trở nên quen thuộc mỗi độ thu về.
Nếu như trong bốn câu thơ trên, cảnh vật hài hòa, cảm thông nhau trong một nỗi niềm
u uất thì ở đây, con người hài hòa, cảm thông với cảnh vật. Cảnh vật thể hiện tâm tư
con người và con người thể hiện trong cảnh vật. Như vậy, cảnh vật không chỉ ở con
mắt nhìn mà còn ở trái tim rung cảm của nhà thơ. Nhân mùa thu, nhìn hoa trước sân,
nghe tiếng chim trên trời vẳng xuống mà nổi dậy cả một niềm xót xa, lặng lẽ mà như
nẫu ruột, chết lòng. Chiều sâu của tâm hồn người thơ lắng vào chiều sâu của câu thơ
là vậy.
Trước cảnh thu, hồn thu, cảm hứng thơ trỗi lên khiến nhà thơ toan cất bút, nhưng nghĩ
đi nghĩ lại thấy thẹn với ông Đào nên đành thôi.
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Nhà thơ thẹn nỗi gì vậy? Thẹn vì tài thơ thua kém Đào Tiềm hay là mình chưa có
được nhân cách cứng cỏi, khí phách như ông?
Lôgíc bài thơ là từ cảnh đến tình, từ tình đến người. Lời thơ trong câu kết có cái gì đó
lửng lơ mà kín đáo. Câu thơ do đó càng làm tăng thêm chất suy tư, nhịp nhàng với cả
bài thơ.
Tác giả miêu tả cảnh thu ở quê hương mình, từ màu trời, ngọn trúc, mặt nước, ánh
trăng đến chùm hoa trước giậu, tiếng ngỗng trên không để đi đến cảm xúc đầy suy tư
chất chứa trong cảnh vật. Thông qua đó, ông gửi gắm tâm trạng xót xa trước cảnh đất
nước đã rơi vào tay giặc, quá khứ tốt lành không còn nữa mà mình thì thương đau, bất
lực.
Thu vịnh là một bài thơ hay. Nó góp phần làm nên tình yêu quê hương đất nước trong
thơ Nguyễn Khuyến, cụ thể là tình yêu thiên nhiên mộc mạc mà chất chứa ân tình.
Trình độ nghệ thuật của bài thơ đã đạt đến mức tinh vi, cổ điển, không dễ mấy ai sánh
được.


Trần Thị Thìn

Bình giảng bài thơ "Thu ẩm" của Nguyễn Khuyến.
Bài làm
Thu ẩm có nghĩa là mùa thu uống rượu (ẩm: uống, uống rượu). Nó là một trong ba bài
thơ Nôm về mùa thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến: Thu điếu (Mùa thu câu cá), Thu
vịnh (Mùa thu làm thơ), Thu ẩm. Cùng với nhiều bài thơ khác về mùa thu bằng chữ
Hán, ba bài này đều in đậm hai nét tiêu biểu cho tâm hồn thơ của tác giả: đó là dáng
thu, hồn thu của đồng bằng Bắc Bộ thời xưa và thấm đượm vào cảnh vật và tâm tư
của nhà thơ trước cảnh tình đất nước trước thời gian ông từ quan về sống ở quê nhà.
Tất nhiên, ở mỗi bài là những dáng thu riêng và nhứng nét tâm tình riêng.
Dáng thu trong Thu vịnh là cái gì cao, thăm thẳm, xa vời, quen mà hóa lạ. Trời thu thì
xanh ngắt những mấy từng; cây tre thu lại chỉ còn một cần trúc; khói phủ thành từng
trên mặt nước; song cửa để mặc ánh trăng vào; hoa năm nay giấu vào hoa năm ngoái,
tiếng ngỗng vang trong mơ hồ… Hồn thu như lắng chìm vào bên trong, ẩn chứa ở
chiều sâu. Dáng thu, hồn thu trong Thu điếu là cái gì cũng như thu mình cho nhỏ bé,
cho lặng im: chiếc thuyền câu bé tẻo teo, mặt ao chỉ gợn tí ti, mảnh lá vàng rơi vèo
không thành tiếng, cá quẫy chỉ động nhẹ dưới chân bèo. Tất cả cùng mọi vật khác đều
như im lìm trong một không khí yên lặng, tĩnh mịch của một sự đợi chờ, đợi chờ
tưởng như ông câu cũng hóa đá trong tư thế tựa gối ôm cần. Tâm tư cụ Tam nguyên
ngụ trong cái lắng chìm vào bên trong, cái đợi chờ mỏi mòn trong yên lặng như thế.
Với lên hai bài thơ thu kia mấy dòng như vậy là mượn chút so sánh để nhìn được rõ
hơn dáng thu, hồn thu và tâm tư nhà thơ trong bài Thu ẩm này. Dáng thu, hồn thu, cả
tâm tư nhà thơ có khác.
Cảnh vật vẫn là cảnh vật ở hai bài kia: Từ nhà cụ, vườn cụ nhìn ra đồng, cái ao, rặng
tre, hàng giậu, lối xóm quanh co, hun hút, trời xanh trên đầu, khói phủ mặt nước, bóng
trăng trong ao. Khác một chút là ở hai bài thơ trên kia, Nguyễn Khuyến là nhà thơ, là
ông câu cá, còn ở đây là ông khề khà li rượu. Nhưng cũng chính từ cái khác ấy mà
cảnh vật dường như biến dạng, đầy bất ngờ mà thú vị.
Hai câu đề:
Ba gian nhà cỏ thấp le te,


Ngõ tối đêm sâu, đóm lập loè.
Nhà tranh mà gọi là nhà cỏ thì giá trị đã hạ một bậc nhưng chữ nghĩa khác nhau chưa
mấy. Nhưng thấp le te thì đã rõ ra là thấp và chẳng còn lành lặn, mái tranh đã rách nát,
xác xơ đổi dạng. Tiếp theo: ngõ tối và đêm sâu là cảnh bình thường nhưng lại có ánh
lửa đom đóm lập loè làm cho ngõ tối và đêm sâu lúc tối, lúc sáng, thành ra cũng biến
dạng.
Hai câu thực cũng vậy:
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Sương thu lớt phớt như khói mỏng phủ lên bờ giậu khiến cho cây xanh cũng chẳng
còn sẫm màu đêm. Đặc biệt tài tình là: mặt ao cũng không còn phẳng lặng mà lăn tăn
gợn sóng và ánh trăng chiếu vào nên lóng lánh; bóng trăng chiếu xuống nước gợn
sóng cũng chẳng còn nguyên hình mà gặp sóng chao lại loe ra, dồn lại, biến dạng liên
tiếp.
Hai câu luận vẫn là cảnh:
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Cảnh trời và cảnh mình. Trời cũng như mình đều do ai đó làm cho biến đổi: Trời thì ai
nhuộm mà xanh ngắt, mắt nhìn không vầy sao cũng đỏ hoe? Người nghiên cứu bảo cụ
Tam Nguyên đau mắt, có lần mắt đỏ như máu. Hay là do rượu say? Say rượu cũng
thường đỏ mắt. Chữ ai lấp lửng một mối hoài nghi. Nghe lững lơ như chắc không vô
ý. Bỗng dưng lại lấy một thế lực nào đó bên ngoài tác động vào trời, nhuộm cả da
trời, rồi bỗng dưng mắt mình đỏ hoe nước mắt. Đây cũng là nét tâm tư của nhà thơ?
Nó cùng một mạch cảm thương như hoa năm nay mà nhìn ra hoa năm ngoái, và tiếng
ngỗng bay qua trời mình mà ngỡ là ngỗng nước nào. Tâm tư nhà thơ không ngoài nét
buồn đau trước cảnh nước mất, lũ giặc lũ gian giày xéo mà mình thì bất lực, bứt rứt
không nguôi.
Cuối cùng là tửu lượng cũng chẳng còn bình thường: Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng
mấy nên Chỉ dăm ba chén đã say nhè. Nhìn chung, tại sao lại có sự biến hình đổi
dạng này? Do rượu chăng? Say thì nhìn vật một hóa thành hai, ba, hoặc nhòa nhạt tất
cả. Dáng hình biến đổi, màu sắc, đường nét rối lên, nhoè ra, chập lại, lảo đảo như say.


Kì thật, âm thanh cũng theo điệu ấy, có vẻ say. Rõ nhất và cũng bất ngờ nhất, thú vị
nhất là ở tất cả các từ: le te, lập loè, le, đỏ hoe, say nhè, bởi tất cả dường như quy vào
âm chủ đạo là e: từ nhè, say nhè mà ra rồi nhoè ra thành nguyên âm đôi oè (lập loè),
oe (loe, hoe), các vần này cũng lảo đảo say theo, say mạnh hơn. Từ vần sẽ kéo theo cả
cảnh vật: con đóm hoá lập loè, bóng trăng không yên mà loe, mắt tự nhiên thành đỏ
hoe. Cả câu: Làn ao lóng lánh bóng trăng loe có đến bốn tiếng có phụ âm l, càng tăng
gấp đôi cảm giác ngửa nghiêng, chao đảo không chỉ ở bóng trăng dưới nước mà ở cả
mặt ao, làn ao. Từ đó mà cảm giác ngửa nghiêng, chao đảo ấy lan tỏa ra toàn bài để
rồi kết thúc bằng hai chữ say nhè ở chót câu cuối nhưng rồi âm thanh và ý nghĩa lại
dội ngược lên toàn bài.
Thế là nhà thơ một mình đối diện với bầu rượu trong đêm thu này. Sau dăm ba chén,
tâm tư đã nhòa ra, thẩm thấu vào cảnh vật, khiến cho dáng thu, hồn thu đều cùng biến
đạng, lảo đảo, say nhè. Cái hay, cái tài của bài thơ Thu ẩm (Mùa thu uống rượu) này là
ở đó. Nhà thơ say vì nỗi buồn trước vận nước bứt rứt khôn nguôi trong lòng mình.
Mượn vài chén rượu cho khuây nhưng uống vào lại thấy nỗi niềm ấy hiện ra rõ rệt
hơn, làm lảo đảo đến cả cảnh vật đêm thu. Có lúc không rượu và tâm trạng chừng vui
hơn, cụ Tam nguyên đã tự cười mình và cũng thấy người mình như say: Khấp khểnh
ba chân dở tỉnh say kia mà!
GS. Lê Trí Viễn

Phân tích bài “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến
Bài làm
Thu ẩm
Nguyễn Khuyến
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,


Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy,
Độ năm ba chén đã say nhè.
Rượu, hoa, trăng... là những thú tiêu khiển thanh cao của các tao nhân mặc khách xưa
nay. Bài thơ "Nâng chén, hỏi trăng" của Lý Bạch rất được nhiều người yêu thích:
"Người nay chẳng thấy trăng thời trước
Người trước, trăng nay soi đã từng
Người trước, người nay như nước chảy
Cùng xem trăng sáng đều thế đấy
Chỉ ước vui ca thưởng chén quỳnh
Be vàng, trăng sáng vào rọi mãi".
(Tương Như dịch)
Tam nguyên Yên Đổ cũng có nhiều câu thơ rất đậm đà, ý vị nói về rượu:
"Khi vui chén rượu say không biết,
Ngửa mặt lờ mờ ngọn núi xa".
(Cáo quan về ở nhà)
"Em cũng chẳng no mà chẳng đói,
Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu".
(Lụt, hỏi thăm bạn)
"Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua"...
Và còn có "Thu ẩm" - mùa thu uống rượu.


Hình ảnh trung tâm của bài thơ là "Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe". Câu thơ đã diễn
tả trạng thái ngà ngà say... đến "say nhè": "Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy - Độ
năm ba chén đã say nhè". "Say nhè" là say êm, say nhẹ, say rồi ngủ quên đi lúc nào
chẳng biết. Chẳng phải là say bét nhè, bê tha. Nguyễn Khuyến rất thanh cao, chỉ có
"năm ba chén" nhỏ, đúng là cái thú "Khi vui chén rượu say không biết" hoặc "Khi
hứng uống thêm năm chén rượu - Khi buồn ngâm láo một câu thơ" (Đại lão)
Trong sáu câu thơ đầu thì đã có đến năm câu đều có màu sắc thể hiện một cái nhìn
đêm thu lúc ngồi uống rượu một mình. Có màu đen thẫm mịt mùng của đêm sâu "ngõ
tối". Có ánh sáng "lập loè" của bầy đom đóm. Có sắc trắng nhờ của "màu khói nhạt"
nhẹ bay "phất phơ" trên lưng giậu cúc tần trước sân của năm gian nhà cỏ bình dị. Có
màu vàng của bóng trăng loe tan ra "lóng lánh" trên làn ao "sóng biếc theo làn hơi
gợn tí" trong veo. Có da trời màu "xanh ngắt" rất đẹp. Và sắc "đỏ hoe" của đôi mắt
ông lão, của thi nhân đang uống rượu âm thầm.
Cảnh vật có đường nét cao, thấp, xa, gần, mỏng và nhẹ. Độ "thấp le te" của ngôi nhà
cỏ năm gian. Độ sâu của đêm khuya và "ngõ tối" nơi làng quê vùng đồng chiêm trũng.
Độ nhẹ vờn bay "phất phơ" của màu khói nhạt. Chiều đo "thấp" của "lưng giậu", nét
gợi của "làn ao", vòng tròn của "bóng trăng loe" trên mặt "ao thu lạnh lẽo", độ xa,
cao, rộng của bầu trời, chân trời, độ hõm của đôi mắt "đỏ hoe" đã "say nhè".
Màu sắc ấy, đường nét ấy qua cái nhìn chập chờn, tỉnh say say tỉnh của nhà thơ. Màu
sắc đường nét ấy là màu sắc của tâm tưởng, là đường nét của tâm trạng. Còn đâu nữa,
chén rượu tri âm của đôi bạn "đăng khoa ngày trước?".
"Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân?".
Nay nhà thơ chỉ còn uống rượu trong đêm sâu, âm thầm, lặng lẽ và cô đơn. Cao Bá
Quát nửa đầu thế kỉ XIX chỉ uống rượu "tiêu sầu". Còn Nguyễn Khuyến "đêm thu
nay" uống rượu cho vơi đi nỗi buồn thế sự "Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu".
Uống rượu để thao thức, thao thức nên uống rượu để quên đi nỗi đau cuộc đời: " Có
phải tiếc xuân mà đứng gọi - Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ" (Cuốc kêu cảm hứng).
Vợ chết, con mất, bạn chí thân qua đời, tuổi già, ốm đau, Nguyễn Khuyến mượn "năm
ba chén rượu" để vợi đi ít nhiều nỗi buồn cô đơn:
"Đời loạn đi về như hạc độc,
Tuổi già hình bóng tựa mây côi".
Gửi bạn


Hình như chén rượu của nhà thơ đã tràn đầy nước mắt? Hai câu kết ý tại ngôn ngoại.
Thấm một nỗi buồn mênh mông. Người đọc vô cùng xúc động khi nhìn thấy nhà thơ
"say nhè" nằm ngủ:
"Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy,
Độ năm ba chén đã say nhè".
Cả bài thơ, ngoài đầu đề "Thu ẩm" ra, chẳng có một chữ thu nào nữa, thế mà câu thơ
nào cũng chứa đựng một tình thu, và hồn thu man mác, dào dạt. Đó là chất thi vị độc
đáo của bài thơ này. Các từ láy: le te, lập loè, phất phơ, lóng lánh... với các từ "rượu",
"chén", "say nhè" - cho thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến vô
cùng tinh luyện, hình tượng và biểu cảm.
Trước Nguyễn Khuyến gần 500 năm, Nguyễn Trái có câu thơ:
"Sách một hai phiên làm bầu bạn
Rượu năm ba chén đổi công danh".
(Tự thán - 10)
Sau khi Nguyễn Khuyến mất gần nửa thế kỉ, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng có câu thơ
nói về rượu: "Du kích quy lai tửu vị tàn". (Thu dạ, 1948)
Đó là những chén rượu một thời, cũng là những chén rượu một đời. Chén rượu của
các thi nhân - chén rượu thanh cao và sang trọng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×